1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở thị xã gia nghĩa, tỉnh đắk nông hiện nay

125 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

CAO BÁ HOÀNG

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

Ở THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

CAO BÁ HOÀNG

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

Ở THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐắK NÔNG HIỆN NAY

Ngành: Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

Mã số: 60 31 02 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đặng Khắc Ánh

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2015

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Lưu Văn An

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đặng Khắc Ánh

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa

hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào

Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều chỉ rõ nguồn gốc

Nếu sau tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Đắk Nông, ngày tháng 5 năm 2015

HỌC VIÊN

Cao Bá Hoàng

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan (Sở Nội vụ; Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Các phòng, ban, xã, phường của thị xã Gia Nghĩa) và những người đã giúp tôi trả lời các câu hỏi khảo sát làm nguồn dự liệu cho luận văn Nhân dịp này tôi xin vày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể và cá nhân nói trên

đã giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo Khoa Xây dựng Đảng, Ban quản lý Đào tạo Học viện Báo chí & Tuyên truyền đã quan tâm giúp đỡ trong quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy giáo PGS TS Đặng Khắc Ánh đã nhiệt tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Chính trị tỉnh Đắk Nông đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi theo học lớp Cao học này và gia đình, đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

HỌC VIÊN

Cao Bá Hoàng

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT

CBCQ : Cán bộ chính quyền

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DTTS : Dân tộc thiểu số

ĐT, BD : Đào tạo, bồi dưỡng

HĐND : Hội đồng nhân dân

LLCT : Lý luận chính trị

QLNN : Quản lý nhà nước

QLHCNN : Quản lý hành chính nhà nước THPT : Trung học phổ thông

THCS : Trung học cơ sở

UBND : Ủy ban nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 9

1.1 Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò, nhiệm vụ, đặc điểm của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã 91.2 Khái niệm, tiêu chí đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã 20

Chương 2: CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP

XÃ Ở THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG HIỆN NAY– YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG……….41

2.1 Một số yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông 412.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông 47

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG HIỆN NAY 74

3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền ở thị xã Gia Nghĩa hiện nay 743.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp

xã ở thị xã Gia Nghĩa hiện nay 83

KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn luôn khẳng định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của đất nước, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng hiện nay Đồng thời, nước ta đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước

và hội nhập quốc tế, thì vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ ngày càng quan trọng, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới Vì vậy, trong thời gian qua Đảng ta rất quan tâm đến công tác cán bộ và có một quy trình lựa chọn cán bộ các cấp theo các bước: quy hoạch, ĐT, BD, sử dụng và đề bạt, Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”[10, tr.33]

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, ĐT, BD, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức

có tài dù là Đảng viên hay người ngoài Đảng”[13, tr.51] Đồng thời, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, chỉ rõ:

Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, QLNN Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người

Trang 9

không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân [14, tr.54]

Trong Văn Miếu Quốc Tử Giám có câu: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài, bồi đắp thêm nguyên khí” [23, tr.31], tức một dân tộc hùng cường, thịnh, suy cần phải có đội ngũ cán

bộ có trình độ và có đức: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt” [34, tr.68], điều đó có thể thấy rằng dù trong bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương có thực hiện tốt, đúng nhưng chỉ cần có một số cán bộ trong hệ thống đó thực hiện sai thì những chủ trương chính, sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước không đến được với nhân dân, sẽ làm cho người dân khổ, làm cho dân hoang mang mất niềm tin Vì: “Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”[34, tr.68]

Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị Cấp xã giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân

Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố chính quyền cấp xã vững mạnh Đồng thời, muốn xây dựng và củng cố chính quyền cấp xã vững mạnh thì phải xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ

sở, với mục tiêu là:

Trang 10

Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và có tiền lương, thu nhập bảo đảm cuộc sống[15, tr.114]

Thị xã Gia Nghĩa là đơn vị hành chính cấp huyện mới được thành lập

từ năm 2005, nhưng đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh Số đông đã giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân, năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngày càng được nâng lên, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội ở địa phương phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện

Bên cạnh những mặt đã đạt được, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã (CBCQ) cơ sở vẫn còn những hạn chế nhất định, một bộ phận thoái hoá, biến chất về chính trị, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu Về số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế, do đó chưa khai thác hết nguồn lực của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội

Vì vậy, nghiên cứu chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã ở thị xã Gia Nghĩa hiện nay, trở thành một vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm khắc phục kịp thời những tồn tại yếu kém của đội ngũ cán bộ, trên cơ sở đó củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ

sở ngày càng vững mạnh, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội, dân chủ, công bằng, văn minh”

Trong bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về đội ngũ CBCQ cấp xã để có giải pháp nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ CBCQ

Trang 11

cấp xã ở thị xã Gia Nghĩa Từ những phân tích nêu trên tôi xin lựa chọn đề

tài: “Chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở thị xã Gia Nghĩa,

tỉnh Đắk Nông hiện nay” để làm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng

Đảng và Chính quyền Nhà nước Đây là vấn đề cấp bách, phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, phù hợp với thực tiễn của địa phương

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề cán bộ, công chức chính quyền cấp xã đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu Liên quan trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp

Ths Phạm Đức Thăng, “Mấy suy nghĩ về việc củng cố tổ chức Đảng và chính quyền cấp xã hiện nay”, Thông tin Chính trị học, số 1(8)/2001

PGS, TS Nguyễn Phú Trọng – PGS, TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Nxb CTQG, HN 2003

TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông (chủ biên), “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội 2003

GS TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị ở cơ sở Nông thôn nước ta hiên nay” (sách tham khảo), Nxb CTQG, Hà Nội 2004

Trang 12

PGS.TS Bùi Tiến Hùng – Dương Danh My (đồng chủ biên), “Một số vấn

đề về hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương hiện nay”, Nxb CTQG,

Những công trình nghiên cứu trên đây chừng mực nhất định đã đề cập, góp phần làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn về đội ngũ cán bộ, công chức, như khái niệm cán bộ, một số nội dung về xây dựng, nâng cao chất lượng cán

bộ và củng cố bộ máy chính quyền địa phương cả nước nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể tới vấn đề nghiên cứu của Luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trang 13

Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã ở Thị

xã Gia Nghĩa, luận văn xác định các phương hướng chủ yếu và đề xuất một số giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã của Thị xã Gia Nghĩa trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Phân tích cơ sở lý luận về CBCQ cấp xã và chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã

- Khảo sát, đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ chính quyền (Cán bộ chủ chốt cấp xã HĐND, UBND) của Thị xã Gia Nghĩa về số lượng, chất lượng, phẩm chất và năng lực công tác

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp cụ thể nhằm xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã trên địa bàn Thị xã Gia Nghĩa về trình độ, năng lực đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ CBCQ cơ sở trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa (cán bộ HĐND, UBND cấp xã)

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đề tài được thực hiện trên địa bàn Thị xã Gia Nghĩa với số liệu phân tích từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai bao gồm:

+ Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp;

Trang 14

+ Phương pháp thống kê;

+ Phương pháp tổng hợp, phân tích, quy nạp, so sánh;

+ Phương pháp lôgic và lịch sử;

+ Phương pháp điều tra xã hội học

6 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp mới của luận văn

6.1 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả công trình có thể được sử dụng vào việc quy hoạch, ĐT, BD,

bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ cơ sở ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

hiện nay

Luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cấp ủy, chính quyền và trung tâm bồi dưỡng chính trị thị xã trong báo cáo, giảng dạy

và nghiên cứu về cán bộ chính quyền cơ sở

6.2 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng

và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã Đặc biệt làm rõ đặc điểm của đội ngũ CBCQ cấp xã ở một đô thị vùng Tây Nguyên như Thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông hiện nay

Đối với việc xây dựng đường lối, pháp luật, chính sách: Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những căn cứ lý luận, thực tiễn và kiến nghị để cơ quan làm công tác cán bộ của Thị xã Gia Nghĩa tham mưu cho lãnh đạo sớm có những

cơ chế, chính sách phù hợp trong việc quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng và

đề bạt cán bộ ở xã, phường hiện nay

Đối với phát triển kinh tế - xã hội: Kết quả nghiên cứu đề tài được áp dụng có ý nghĩa tác động trực tiếp tới việc kiện toàn hệ thống chính trị ở xã,

phường của thị xã trong thời gian tới

Trên cơ sở đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã của thị xã Gia Nghĩa, luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng hiện nay

Trang 15

đối với một thị xã ở miền núi Tây Nguyên, có nhiều dân tộc, đa dạng các loại hình kinh tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

1.1 Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò, nhiệm vụ, đặc điểm của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

1.1.1 Khái niệm chung về chính quyền cấp xã

Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền xã - phường - thị trấn (gọi chung là cấp xã) là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã

Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phát sinh từ khái niệm hệ thống các cơ quan Nhà nước ở địa phương Trên thực tế, thuật ngữ

“chính quyền địa phương” đã được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ở Trung ương và địa phương Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệm chính quyền địa phương bao gồm những thiết chế nào, mối quan hệ và cơ chế hoạt động cụ thể của các bộ phận cấu thành Xuất phát từ góc độ nghiên cứu lý luận, thực tiễn hay cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứu của các nhà khoa học và quản lý, tập trung vào 3 quan niệm như sau: Chính quyền địa phương là khái niệm chung

để chỉ tất cả các cơ quan Nhà nước đóng trên địa bàn địa phương; Cấp chính quyền địa phương gồm hai phân hệ cơ quan – cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương là Hội đồng nhân dân (HĐND) và cơ quan hành chính Nhà nước

ở địa phương là Uỷ ban nhân dân (UBND) (theo Hiến pháp 2013)

Tính đến 31 tháng 12 năm 2013, nước ta có 11.148 đơn vị hành chính

xã, phường, thị trấn, trong đó có 8.991 xã, 612 thị trấn, 1.545 phường Dưới xã

có các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, làng, ấp, bản, buôn Dưới

Trang 17

phường, thị trấn có tổ dân phố, ở một số thành phố, thị xã giữa phường và tổ dân phố có cụm dân cư Số lượng xã, phường, thị trấn trong những năm qua không ổn định Cùng với quá trình chia tách các tỉnh, huyện, việc thành lập mới các xã, phường, thị trấn diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương “Theo số liệu thống kê của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ trước đây và

Bộ Nội vụ hiện nay, từ tháng 12/1996 đến tháng 31/12/2012, số lượng đơn vị hành chính xã, phương, thị trấn tăng từ 10.264 lên 11.027”[27, tr.68]

Tính đến tháng 12-2013, trong 5 tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Nông và Lâm Đồng) có 722 đơn vị hành chính cấp xã (77 phường, 48 thị trấn và 597 xã) Tổng số cán bộ, công chức cơ sở có 15.125 người; trong đó nữ 2.767 (chiếm 18,3%); là người dân tộc thiểu số (DTTS) 3.957 (26,2%) Cán bộ chuyên trách có 7.952 người, trong đó 1.272 nữ (16%); là người DTTS 2.575 (32,4%) Công chức chuyên môn có 7.173 người, trong đó nữ 1.392 (19,3%); là người DTTS 1.382 (19,3%) [61]

Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể QLHCNN trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp

xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động QLNN và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân

Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhằm cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư

Trang 18

Chính quyền được hiểu là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của Nhà nước và hoạt động của nó mang tính chất quyền lực của Nhà nước, bằng phương thức tác động của Nhà nước Cấp xã là đơn vị cấp dưới cùng, vì thế Chính quyền cấp xã chỉ bao gồm HĐND và UBND Qua đó có thể hiểu, chính quyền cấp xã là một cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, thực hiện việc QLHCNN trên địa bàn

Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát khái niệm chính

quyền cấp xã như sau: Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực Nhà nước ở địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân địa phương quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên

Là đơn vị hành chính cơ sở, cấp xã là địa bàn cư trú cơ bản của đa số nhân dân, nơi diễn ra cuộc sống sinh hoạt của dân và các mối quan hệ khác Ở cấp xã, chính quyền trong dân, quan hệ trực tiếp với dân, là nơi chính quyền và các đoàn thể tổ chức cuộc sống, hoạt động và các phong trào trong đời sống dân cư, thể hiện rõ nhất, trực tiếp nhất ý thức và năng lực dân chủ của dân bằng

cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Xã và phường là những

đơn vị hành chính vi mô (xét trong hệ thống quản lý hành chính 4 cấp), nhưng

tồn tại như những thực thể xã hội trong đời sống hiện thực của xã hội Cấp xã được cấu thành từ các đơn vị dân cư tự quản (thôn, bon), do đó trên địa bàn xã

diễn ra sự “giao thoa” của hoạt động quản lý (hành chính Nhà nước) với hoạt động tự quản (của cộng đồng cư dân) Chính quyền cấp xã là nơi thể hiện trực

tiếp nhất việc tổ chức và phát huy khả năng sáng tạo, mọi tiềm năng trong dân, khai thác và phát triển những khả năng đó tại địa bàn để giải quyết tại chỗ

Trang 19

những yêu cầu phát triển của cộng đồng, đáp ứng nhu cầu chính đáng của dân, đem lại lợi ích thiết thực nhất cho đời sống vật chất và tinh thần của dân, đánh giá trên có thể nhận thấy, đặc điểm chung của chính quyền cấp xã

Một là, chính quyền cấp xã có HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở

địa phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương Chính quyền cấp xã được tổ chức theo hình thức phân quyền, một mô hình tổ chức hành chính tự quản, phi tập trung Theo hình thức này, chính quyền cấp xã có quyền quyết định những vấn đề có tính địa phương, có ngân sách riêng, có đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công vụ, có quyền tạo lập và phát mại tài sản riêng, có thiết chế dân chủ, có năng lực quản lý công việc của địa phương, nhưng nó vẫn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của chính quyền cấp huyện

Hai là, tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền

lực Nhà nước là HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, không có các cơ quan tư pháp (Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân)

Ba là, chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, CBCQ

cấp xã là người hàng ngày trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến mọi quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân đảm bảo theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật của cấp trên UBND còn có trách nhiệm rất nặng nề phải quản lý mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương cho nên trong hoạt động mang nhiều tính chất hành chính địa phương

Bốn là, trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và UBND

khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế vượt trội Nội dung các nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết định biện pháp, còn UBND tổ chức

Trang 20

thực hiện Trong khi đó, tổ chức bộ máy của HĐND không đủ sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo các nghị quyết Theo Điều 52, Luật tổ chức HĐND và UBND (2003): “Thường trực HĐND cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND”[33, tr.38]

Năm là, đơn vị hành chính cấp xã, được hình thành trên nền tảng những

địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích Nhà nước, dân cư và giữa các cộng đồng dân cư với nhau Chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan cai trị - quản lý mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư

1.1.2 Khái niệm cán bộ cấp xã

Cán bộ cấp xã là người thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội…và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”

Theo quy định này, tiêu chí xác định cán bộ xã gắn với cơ chế bầu cử,

bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chuẩn mà được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thì được xác định là cán bộ

Theo quy định tại Điều 61, Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ, cán bộ cấp xã có các chức danh sau đây:

Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND;

Trang 21

Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn

có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Nghị định số 107/2004/NĐ-CP, ngày 01/4/2004 quy định thành viên

Ủy ban của từng địa phương được bầu theo các mức sau đây:

UBND xã miền núi, hải đảo có dân số từ 5.000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trở lên và xã biên giới, có 05 thành viên gồm có 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch, 02 ủy viên Thành viên UBND được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc như sau: Chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xã; 01 Phó Chủ tịch UBND phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên – môi trường; 01 Phó Chủ tịch UBND phụ trách khối văn hóa – xã hội và các lĩnh vực xã hội khác; Các ủy viên UBND (một ủy viên phụ trách công an và một ủy viên phụ trách quân sự)

UBND xã còn lại có 03 thành viên gồm có 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và 01 ủy viên Căn cứ vào những lĩnh vực công việc được quy định tại Điều 11 Nghị định 107/2004/NĐ-CP, Chủ tịch UBND xã phân công các thành viên phụ trách cho phù hợp với địa phương

Trong nhiệm kỳ HĐND xã có thể ấn định thêm số lượng thành viên UBND cấp mình nhưng tổng số không vượt quá 05 thành viên và phải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn

UBND phường, thị trấn có 05 thành viên gồm có 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch, 02 ủy viên Thành viên UBND được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc, như sau Chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quản lý

Trang 22

công tác quy hoạch đô thị; 01 Phó Chủ tịch UBND phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, khoa học – công nghệ, nhà đất và tài nguyên – môi trường; 01 Phó Chủ tịch UBND phụ trách khối văn hóa – xã hội và các lĩnh vực xã hội khác Các ủy viên UBND (một ủy viên phụ trách công an và một ủy viên phụ trách quân sự)

Việc quy định số lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã tính theo quy mô dân số, diện tích và đặc thù là chủ yếu, và quy định mức tối thiểu là

21 người và mức tối đa không quá 25 người là tương đối phù hợp với tình hình thực tế Theo Nghị định 155/2005/CP, ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ, quy định về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, thì đối với xã, phường, thị trấn quá ít dân cư (khoảng 1.000 nhân khẩu) thì biên chế cho 21 người; còn đối với xã, phường, thị trấn có quá đông dân cư (khoảng 10.000 nhân khẩu) và mà lại có địa hình tự nhiên và tình hình kinh tế

- xã hội phức tạp thì biên chế tối đa theo quy định là 25 người Từ thực tiễn quy định trên, dẫn đến phát sinh tư tưởng muốn chia tách thêm đơn vị hành chính để giảm nhẹ công việc, lại được tăng thêm biên chế cán bộ Điều đó được thể hiện:

Năm 2005, tổng số cán bộ, công chức cấp xã trên cả nước là 192.438 người, trong đó cán bộ chuyên trách là 111.124 người, công chức chuyên môn

là 81.314 người Tính đến tháng 6/2013, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường trên cả nước có 256.608 người, trong đó số cán bộ chuyên trách là 145.112 người và công chức chuyên môn là 111.596 người[27, tr.68]

1.1.3 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

Trong 70 năm qua, cùng với sự lớn mạnh của Nhà nước, chính quyền địa phương không ngừng được củng cố, tăng cường và phát triển, đáp ứng kịp thời yêu cầu cách mạng của mỗi thời kỳ, đóng góp chung vào sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc

Trang 23

Trong hệ thống các cơ quan QLHCNN, CBCQ cấp xã có vị trí hết sức quan trọng Họ là những người quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, biến chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực Do phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân CBCQ cấp

xã, ngoài phẩm chất chính trị, cần phải có trình độ, năng lực nhất định và cần nhất là phải tạo dựng được uy tín trong cộng đồng dân cư

Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với Nhà nước, trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã Do tính chất công việc của cấp xã, họ vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, lại phải nắm tình hình thực tiễn ở địa phương để từ đó đề ra kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng đắn, thiết thực, phù hợp Nhiệm vụ của họ rất nặng nề, vai trò của họ có tính then chốt xét trong mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Sức mạnh của hệ thống chính trị, sự ổn định của xã hội, sự phát triển sâu rộng và hiệu quả của phong trào cách mạng của quần chúng luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ này

Họ có khả năng tổ chức, tập hợp và huy động mọi nguồn lực ở địa phương để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở Do vậy, đội ngũ CBCQ cấp xã phải thực sự là “thủ lĩnh”, có khả năng tổ chức, quản lý, kiểm tra và biết khai thác tối đa nguồn lực vật chất, tinh thần nội lực ở cơ sở để lãnh đạo kinh tế - xã hội địa phương phát triển

Trang 24

Tuy nhiên, đứng trước những nhiệm vụ to lớn của thời kỳ CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế, đội ngũ CBCQ cấp xã cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập cần phải nghiên cứu khắc phục Điều đó được thể hiện, phần lớn các

Bộ, Ngành đều muốn có chân rết của mình xuống tận cơ sở để tiện cho việc chỉ đạo, liên hệ Xuất phát từ đó luôn yêu cầu cần có thêm chức danh trong

cơ cấu chính quyền và hợp thức hóa các chức danh đó Ý muốn này bắt gặp

sự yếu kém về năng lực của CBCQ cấp xã, sự lúng túng trong chỉ đạo của bộ máy chính quyền đã dẫn tới sự tăng nhanh số lượng cán bộ ở cấp xã trong những năm qua, làm cho cơ cấu đội ngũ CBCQ cấp xã phình to, tạo gánh nặng cho ngân sách và làm giảm hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã Thực tế đó làm cho “đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn quá đông, số cán bộ được hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp, bồi dưỡng từ ngân sách Nhà nước trong cả nước là hơn 1,2 triệu người (cả chuyên trách và không chuyên trách), bình quân 114 người/xã” [55, tr.6]

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng và hăng hái thực hiện, đã thu được những thành tựu rất quan trọng Tại Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Hội nghị nhận định “Công tác cán bộ vẫn là một khâu yếu Đội ngũ cán bộ nhìn chung chưa ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ” [7, tr.21] Vì vậy, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ luôn được Đảng ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ trong tình hình mới

1.1.4 Nhiệm vụ của cán bộ chính quyền cấp xã

CBCQ cấp xã được quy hoạch, bầu cử, bổ nhiệm theo quy trình, quy định của pháp luật, nhằm thực thi quyền lực Nhà nước được giao theo thẩm quyền Ngoài những nhiệm vụ chung được quy định tại Điều 62, Luật cán

bộ, công chức năm 2008 và Luật tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND năm 2003, thì theo quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV, ngày

Trang 25

16/01/2004 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Cụ thể đối với từng chức danh CBCQ cấp xã như sau:

Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND

Chức trách: Là cán bộ chuyên trách của HĐND xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND cấp xã, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn

Nhiệm vụ của Chủ tịch HĐND

Triệu tập, chủ toạ các kỳ họp của HĐND, phối hợp với UBND trong việc chuẩn bị kỳ họp HĐND; chủ trì trong việc tham gia xây dựng nghị quyết của HĐND

Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của HĐND

Tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Giữ mối quan hệ với đại biểu HĐND, phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, thông báo hoạt động của HĐND với

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Báo cáo hoạt động của HĐND lên HĐND và UBND cấp huyện

Chủ trì và phối hợp với UBND trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại biểu HĐND theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp

Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch HĐND:

Căn cứ vào nhiệm vụ của Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do Chủ tịch HĐND phân công cụ thể và thay mặt Chủ tịch HĐND giải quyết công việc khi Chủ tịch HĐND vắng mặt

Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND

Chức trách: Là cán bộ chuyên trách lãnh đạo UBND cấp xã, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của UBND và hoạt động QLNN

Trang 26

đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng đã được phân công trên địa bàn xã, phường, thị trấn

Nhiệm vụ của Chủ tịch UBND

Lãnh đạo phân công công tác của UBND, các thành viên UBND, công tác chuyên môn thuộc UBND cấp xã, gồm

Tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đối với côngtác chuyên môn thuộc UBND trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND và các quyết định của UBND xã, phường, thị trấn

Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp xã, tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể UBND

Áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ máy hành chính ở xã, phường, thị trấn hoạt động có hiệu quả

Ngăn ngừa, đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong cán bộ công chức Nhà nước và trong bộ máy chính quyền địa phương cấp xã; tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật; giải quyết và trả lời các kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn

Trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quy định của pháp luật

Tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của trưởng, phó thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật

Báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên

Triệu tập và chủ toạ phiên họp của UBND xã, phường, thị trấn

Thực hiện việc bố trí sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức

cơ sở theo sự phân cấp quản lý

Đình chỉ hoặc bãi bỏ quy định trái pháp luật của trường thôn và tổ dân phố

Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân

Trang 27

Tổ chức quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo khối công việc (khối kinh tế - tài chính, khối văn hoá – xã hội) của UBND do Chủ tịch UBND phân công và những công việc do Chủ tịch UBND ủy nhiệm khi Chủ tịch UBND đi vắng

1.2 Khái niệm, tiêu chí đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

1.2.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân – Thanh Nghị - Xuân Lãm, do Nxb Thanh Hóa, xuất bản năm 1999 định nghĩa: “Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”[59, tr.178]

Khi đánh giá chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ Chất lượng của đội ngũ cán bộ cần được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau

Chất lượng của đội ngũ cán bộ được thể hiện thông qua hoạt động của

bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã Được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ

Chất lượng của đội ngũ cán bộ là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán bộ Đối với đội ngũ CBCQ cấp xã, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức, cần phải có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ năng, QLNN, LLCT v.v…; độ tuổi; thâm niên công tác v.v…

Chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người CBCQ đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý được giao

Trang 28

Lãnh đạo, quản lý là một hoạt động gắn liền với CBCQ cấp xã nói riêng, là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ QLNN, thi hành pháp luật – đưa pháp luật vào đời sống, quản lý và sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách Nhà nước nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị ở địa phương

Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất

lượng đội ngũ CBCQ cấp xã như sau: Chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ lãnh đạo, QLNN được giao của đội ngũ cán bộ cấp xã, bao gồm cả năng lực của từng cán bộ cấp xã và năng lực của cả đội ngũ

Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCQ cấp xã cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng của đội ngũ CBCQ cấp xã hiện nay

1.2.2 Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xác định trên cơ sở tiêu chí về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực phù hợp với vị trí, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ CBCQ cấp xã, về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao Căn

cứ Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV, ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; tại Điều 3 Tiêu chuẩn chung:

1 Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương

2 Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý

Trang 29

thức kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm

3 Có trình độ hiểu biết về LLCT, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực

và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

Theo khoản 4, Điều 7 (Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV) Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp xã:

Tuổi đời: Tuổi của Chủ tịch HĐND và Phó Chủ tịch HĐND do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ

Theo khoản 4, Điều 8 (Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV), tiêu chuẩn đối với Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND cấp xã:

Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch UBND và Phó chủ tịch UBND do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ

Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp THPT

LLCT: Có trình độ trung cấp LLCT trở lên đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng LLCT tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Trang 30

Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Với miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình

độ Trung cấp chuyên môn trở lên Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Đã được bồi dưỡng nghiệp vụ QLHCNN, quản lý kinh tế

Từ quy định trên, chúng ta có thể đưa ra tiêu chí đánh giá chất lượng của cán bộ chính quyền cấp xã thuộc các mặt sau

1.2.2.1 Về phẩm chất đạo đức

Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây: Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liên”[34, tr.223] Đồng thời:

Mỗi cán bộ, Đảng viên phải đặt lợi ích cách mạng của Đảng, của nhân dân lên trên hết Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỹ luật Phải đi sâu, đi sát thực tế, gần giũ quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ[38, tr.439] Người cán bộ tốt ở đây phải là người có đủ cả năng lực trình độ lẫn đạo đức cách mạng Để nhấn mạnh tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ cách mạng, Bác viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức; không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[34, tr.252-253] Và muốn có đạo đức cách mạng, mỗi người cán bộ - theo

Bác, phải có được các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, theo Bác:

Trang 31

Trước hết là cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ là công tác gì; Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình

và của nhân dân; Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân; Chính tức là việc phải

thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh [35, tr.392] Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người CBCQ cấp xã và hình thành

ở họ các phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ

là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay Thêm vào đó, công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với nhân dân nói chung, bộ máy chính quyền nói riêng

Hiện nay Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế và cải cách thể chế, bộ máy hành chính Nhà nước, yêu cầu đặt ra

là xây dựng đội ngũ CBCQ cấp xã đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân Họ phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tận tụy phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng được lòng tin trong nhân dân, cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực không cơ hội, không tham nhũng, quan liêu và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có trình độ văn hóa, sức khỏe để làm việc, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mà tổ chức và nhân dân giao phó Đặc biệt

là đối với các cán bộ giữ cương vị chủ chốt trong chính quyền cấp xã

1.2.2.2 Về kiến thức (trình độ)

Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân – Thanh Nghị - Xuân Lãm, do Nxb Thanh Hóa, xuất bản năm 1999 định nghĩa: “Kiến thức là những hiểu biết có được, hoặc do trừng trải, hoặc nhờ học tập”[59, tr.624] Kiến thức con người nói chung được đánh giá qua rất nhiều tiêu chí, trong đó có những tiêu

Trang 32

chí có thể lượng hóa và cũng có những tiêu chí không thể lượng hóa và nó được thể hiện qua trình độ của người cán bộ

Một cán bộ có chuyên môn giỏi, có trình độ lý luận vững vàng, khẩu khí tốt, sẽ có lợi thế lớn trong công tác lãnh đạo, quản lý, nhất là khi trình độ dân trí ngày càng cao Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, trình độ của cán bộ

cả về chuyên môn và chính trị đang là vấn đề làm trăn trở dư luận Không ít cán bộ có bằng cấp chuyên môn, chính trị đầy đủ nhưng lại không có đủ năng lực công tác, không phát huy được khả năng Nguyên nhân có một phần là do cung cách đào tạo, một phần là do bản thân từng cán bộ Trong đào tạo, nhất

là đào tạo tại chức, từ xa còn chạy theo thành tích, phong trào, không đảm bảo chất lượng Đó là chưa kể có những tấm bằng dỏm có được bằng nhiều cách

Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đòi hỏi đầu tiên của người cán bộ phải có trình độ Muốn có trình độ tất yếu người cán bộ phải được ĐT,

BD qua trường lớp và tự đào tạo, rèn luyện qua thực tế công tác, cả về chuyên môn và trình độ chính trị Người cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi, sẽ thuận lợi trong việc chỉ đạo, điều hành, không bị cấp dưới coi thường Ngược lại, người đó sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ

Hiện nay, “tính đến 2013, cả nước đã có 32.142 cán bộ chuyên trách có trình độ đại học, chiếm 22,15%; 6.095 cán bộ chuyên trách có trình độ cao đẳng, chiếm 4, 20%; đối với trình độ trung cấp, sơ cấp và chưa qua đào tạo, số liệu lần lượt là 52.429 chiếm 36.13%; 9,375 chiếm 6,46%; 45.071 chiếm 31,06% đối chiếu với quy định hiện hành về tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn, thì

có đến 20,88% đội ngũ cán bộ xã chưa đạt chuẩn, theo quy định”[27, tr.68]

Về kiến thức của đội ngũ CBCQ cấp xã được xem xét dưới các góc độ sau

Trang 33

- Trình độ học vấn: là chương trình giáo dục quốc dân mà cán bộ đã

được trang bị Là tổng thể những kiến thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để

từ đó hình thành nên kỹ năng, kiến thức chuyên môn và nhân cách của người cán bộ Trình độ học vấn được đánh giá bằng bằng cấp thực tế mà cán bộ được học trong hệ thống giáo dục quốc dân Tuy nhiên, cũng cần phải chú trọng một cách thức đánh giá rất quan trọng là trình độ thực tế của cán bộ, vì trong nhiều trường hợp trình độ học vấn và bằng cấp không tương xứng với nhau Nói một cách khác, trình độ học vấn được phản ánh không chỉ thông qua bằng cấp của hệ thống giáo dục phổ thông mà cán bộ có được, mà nó còn được phản ánh sinh động bằng chất lượng thực sự mà cán bộ lĩnh hội được để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và công tác tại cơ sở, “thực tế cho thấy, không phải ai có học vấn cao (thể hiện ở văn bằng đào tạo) cũng đều là người có tài năng Đó mới chỉ là khả năng, năng lực tiềm tàng của mỗi người về kiến thức, trình độ đào tạo”[57, tr.35] Vì vậy, trình độ học vấn chỉ

là cách tương đối, để đánh giá kiến thức, kỹ năng, phẩm chất quản lý làm việc của mỗi con người, vì “tiêu chí để xác định tài năng chính là phẩm chất, trình độ và năng lực sáng tạo của cán bộ, công chức và thể hiện trong hoạt thực tiễn là có thành tích, luôn hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được giao trong một lĩnh vực cụ thể ”[58, tr.35]

Theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV, ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội vụ, thì yêu cầu về học vấn đối với cán bộ cấp xã phải tốt nghiệp THPT, riêng đối với các xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì tiêu chuẩn này do UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương mình ban hành cho phù hợp Trình độ học vấn đạt chuẩn theo quy định là tốt nghiệp THPT, cũng sẽ là

cở sở để cán bộ tham gia thi tuyển, xét tuyển để đào tạo chương trình cao hơn theo quy định của Luật Giáo dục

Trang 34

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: được phản ánh thông qua kiến thức chuyên môn mà cán bộ đã được trang bị Đó là sản phẩm của đào tạo, là kết quả của quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ chính quyền Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được phản ánh thông qua hai khía cạnh:

Thứ nhất, bằng cấp chuyên môn mà cán bộ có được tính từ chứng chỉ,

bằng sơ cấp về chuyên môn nghiệp vụ trở lên

Thứ hai, khả năng vận dụng có hiệu quả kiến thức chuyên môn vào

trong thực tế công tác, phát huy được hiệu quả, mang lại giá trị thực tế

Đây chính là một khâu còn rất nhiều hạn chế của CBCQ cấp xã nói riêng, cán bộ nói chung Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó có việc đánh cán bộ theo bằng cấp chuyên môn, và bằng cấp là một tiêu chí quan trọng để quy hoạch, đề bạt, bầu cử, bổ nhiệm, luân chuyển CBCQ cấp xã hiện nay Theo quy định hiện hành thì CBCQ xã phải có trình độ Trung cấp chuyên môn nghiệp vụ trở lên Riêng đối với các xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên) Tiêu chuẩn này do UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương mình ban hành cho phù hợp

- Trình độ LLCT: được hiểu là khả năng tư duy LLCT của cán bộ Nó phản ánh nhận thức thế giới quan của cán bộ về sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trình độ LLCT được phản ánh đồng thời thông qua hai khía cạnh:

Thứ nhất, đó là chương trình LLCT mà cán bộ đã được ĐT, BD theo

quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam (theo Quyết định số 54/QĐ-TW, ngày

Trang 35

12/5/1999 của Bộ Chính trị về chế độ học tập LLCT trong Đảng)

Thứ hai, đó là khả năng tư duy lý luận thực tế của cán bộ Có nghĩa là

chất lượng lý luận thực sự của cán bộ, là khả năng thực tế của cán bộ trong việc vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta vào từng vấn đề, từng nhiệm vụ cụ thể tại địa phương, giải quyết một cách có cơ sở khoa học, chính xác, mang lại hiệu quả cao Theo quy định thì CBCQ xã phải đạt trình độ LLCT từ sơ cấp trở lên

- Trình độ QLNN: trình độ chuyên môn nghiệp vụ quan trọng đối với

mỗi cán bộ nói chung, nhưng trong hoạt động QLHCNN, thì CBCQ cấp xã còn cần phải có trình độ, kiến thức về QLNN Điều này, giúp cho cán bộ đạt kết

quả tốt trong lĩnh vực mình giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong bộ máy chính

quyền Trình độ QLNN là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng của cán bộ về

Nhà nước, pháp luật, QLHCNN và khả năng vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả những kiến thức đó vào trong thực tiễn công tác Nó được hình thành chủ yếu trong quá trình hoạt động công vụ của cán bộ và bổ nhiệm trong

cơ quan hành chính Nhà nước Đối với CBCQ xã, do mỗi vị trí chức danh đều

có những đặc thù riêng, cho nên trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn rất

cần đến kiến thức QLNN theo một mối quan hệ cơ hữu với nhau (Trình độ chuyên môn tương ứng với vị trí đảm nhận + kiến thức QLNN) Có như thế,

những kiến thức chuyên môn của cán bộ khi được áp dụng trong QLNN ở cấp

xã mới mang lại kết quả thực tế Kiến thức QLNN của CBCQ cấp xã được hình

thành chủ yếu thông qua các lớp bồi dưỡng nghiệp ngắn hạn theo vị trí chức danh được quy định bởi Bộ Nội vụ, Học viện Hành chính quốc gia, Trường chính trị tỉnh biên soạn, giảng dạy và đào tạo chương trình Trung cấp QLHCNN Cũng giống như trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ LLCT, trình độ QLNN cũng được đánh giá bởi hai khía cạnh là:

Thứ nhất, bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn về QLNN mà cán bộ có

được

Trang 36

Thứ hai, khả năng vận dụng kiến thức QlLNN vào trong thực tế công

tác, mang lại hiệu quả thực tế

1.2.2.3 Về kỹ năng

Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân – Thanh Nghị - Xuân Lãm, do

Nxb Thanh Hóa, xuất bản năm 1999 định nghĩa: “Kỹ năng là khả năng vận

dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”[59, tr.619] Kỹ năng nghề nghiệp bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể, như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng quản lý, kỹ năng giải quyết khiếu nại, tố cáo Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích luỹ kinh nghiệm thông qua ĐT, BD, rèn luyện, công tác Vì thế, khi cho rằng quản lý là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật, thì kỹ năng chính là nghệ thuật của hoạt động quản lý cũng như tác nghiệp chuyên môn của người cán bộ

Nếu như trình độ là thứ được đào tạo, được tiếp thu, thì kỹ năng là cái vốn có, được chắt lọc qua thực tiễn công tác, được kế thừa từ thế hệ này qua thế hệ khác truyền lại và cộng với khả năng tư duy, năm tình hình, biết vận dụng sáng tạo vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của người cán bộ Người

có năng lực về kỹ năng công tác, nếu được đào tạo tốt sẽ phát huy được kỹ năng Trong thực tế không ít cán bộ, tuy không được đào tạo đầy đủ những trong quá trình công tác họ tự rút ra nhiều kinh nghiệm hay, chịu khó tổng kết thực tiễn nên có được phương pháp, kỹ năng làm việc hiệu quả Để xây dựng đội ngũ CBCQ xã có năng lực, kỹ năng công tác, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm đòi hỏi công tác cán bộ cần khách quan, công tâm trong đánh giá, bố trí

và phải tạo mọi điều kiện cho họ phát huy

Kỹ năng lãnh đạo, là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực CBCQ cấp xã trong quản lý điều hành bộ máy hành chính Nhà nước ở địa phương Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi cán bộ và có những kỹ năng không thể thiếu đối với từng chức danh cán bộ nhất định và phụ thuộc vào

Trang 37

tính chất công việc mà CBCQ đảm nhận Đối với cán bộ chính quyền cấp xã những kỹ năng cơ bản cần có là:

+ Kỹ năng ban hành văn bản;

+ Kỹ năng ra quyết định về phát triển kinh tế - xã hội;

+ Kỹ năng quản lý, điều hành công việc;

+ Kỹ năng phối hợp trong công tác;

+ Kỹ năng lập kế hoạch công tác cá nhân;

+ Kỹ năng giao tiếp và thuyết trình;

+ Kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong công tác;

+ Kỹ năng phân tích và giải quyết công việc;

+ Kỹ năng tiếp dân;

+ Khả năng nói tiếng dân tộc phù hợp với địa bàn công tác

Tất cả các kỹ năng nêu trên, đều chịu ảnh hưởng quan trọng của trình

độ chuyên môn, khả năng cá nhân và kinh nghiệm công tác của CBCQ cấp xã trong quá trình lãnh đạo, quản lý Đây là nội dung phức tạp trong quá trình đánh giá CBCQ cấp xã, dễ gây nhầm lẫn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Vì vậy, khi đánh giá theo tiêu chí này cần xác định các kỹ năng tốt phục vụ cho hoạt động, các kỹ năng chưa tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu, các kỹ năng cần thiết mà cán bộ xã chưa có, để có kế hoạch ĐT, BD phù hợp

1.2.2.4 Về thái độ

Thái độ là những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, hành động) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc đối với sự việc nào đó Thái độ là một trong ba bộ phận cấu thành nên năng lực của cán bộ Trong nhiều trường hợp chính thái độ là nhân tố quyết định năng lực chuyên môn và kết quả thực nhiệm

vụ của CBCQ cấp xã trong thực tế Đánh giá thái độ là một việc khó, vì các tiêu chí gần như chỉ định tính mà khó có thể định lượng bằng các con số cụ thể Xuất phát từ đặc điểm yêu cầu, nhiệm vụ của CBCQ cấp xã, trong luận văn này

đề cập đến các tiêu chí sau đây:

Trang 38

- Ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế làm việc

CBCQ cấp xã nói riêng, cán bộ nói chung là những người đem chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào nhân dân, giải thích và hướng dẫn cho nhân dân thực hiện, do đó cán bộ cấp xã phải là những người đi tiên phong trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Ý thức chấp hành ở đây cũng có thể được xem là phẩm chất chính trị, đạo đức, trung thành với lý tưởng cách mạng Nói một cách khác cán bộ xã không được làm những gì

mà Đảng và Nhà nước cấm Và điều này được đánh giá bằng việc hàng năm cán bộ có vi phạm các quy định của Đảng về những điều Đảng viên không được làm và vi phạm những quy định của Nhà nước về những điều cấm cán

bộ không được làm Tuy nhiên, khó khăn hiện nay ở công tác quản lý và thông thường chúng ta chưa thể phát hiện những việc làm sai trái của cán bộ

để đánh giá chính xác

Bên cạnh đó CBCQ cấp xã cũng được đánh giá bằng lãnh đạo, quản lý đội ngũ cán bộ chính quyền về ý thức chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan Việc chấp hành tốt nội quy, quy chế của cơ quan phản ánh tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính trong việc thực thi công vụ, phục vụ nhân dân

- Tinh thần hợp tác, cầu thị, sự cởi mở trong giao tiếp với nhân dân

Tiêu chí này cũng được phản ánh thông qua một số biểu hiện bên ngoài của cán bộ, như sự sẵn sàng hợp tác, tinh thần học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức, lối sống và nhất là quan hệ giao tiếp với nhân dân Sự đánh giá của nhân dân đối với CBCQ cấp xã bao giờ cũng là khách quan và chính xác hơn so với sự đánh giá của chính cơ quan quản lý cán bộ, vì cơ sở quan trọng nhất để nhân dân đánh giá đó chính là sản phẩm quản lý, điều hành bộ máy chính quyền xã mà cán bộ đã tạo ra cho họ

Việc đánh giá tinh thần trách nhiệm của cán bộ cũng không phải dễ

Trang 39

dàng vì nó có những tiêu chí mang tính định tính, mà khó có thể định lượng được, do đó rất khó khăn để xác định những tiêu chí cụ thể Dư luận xã hội phản ánh tinh thần trách nhiệm của cán bộ, thông qua đánh giá bởi sự tán thành hay không tán thành, đồng tình hay phản đối, mức độ hài lòng, sự khen ngợi, cảm ơn hay những phản ứng gay gắt

- Tinh thần, ý thức học tập, rèn luyện về đạo đức, kỹ năng lãnh đạo

Ngày nay, tình hình kinh tế - chính trị xã hội trong nước và trên thế giới đang có những biến động mới, sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường,

sự giao lưu, hội nhập quốc tế càng mở rộng Cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hoà bình” với các thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn, đang đặt ra cho cách mạng nước ta những yêu cầu, nhiệm vụ và thách thức mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ CBCQ cấp xã phải

có những nhận thức mới cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn mới, phải nêu cao ý thức tự học tập, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện, kỹ năng lãnh đạo trong thực tiễn, để nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tri thức khoa học cần thiết và tác phong công tác đáp ứng đòi hỏi ngày một cao hơn của tình hình, nhiệm vụ mới

Một CBCQ cấp xã có thái độ tốt cũng chính là người có ý chí vươn lên trong công tác, có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, tinh thần, ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân chu đáo, tận tình Ý thức học tập, rèn luyện ở đây được đánh giá chủ yếu

là tinh thần tự học tập, tự rèn luyện cả trong công tác và đời sống

- Thái độ phục vụ người dân

Đây là một tiêu chí đặc biệt quan trọng trong đánh giá thái độ của CBCQ cấp xã Khi nền hành chính đang chuyển dần từ nền hành chính quản

lý thuần túy sang nền hành chính phục làm trọng tâm Nền hành chính phục

vụ là nền hành chính mà trong đó Nhà nước phải điều chỉnh cách quản lý sao cho thích ứng với xu thế chung của sự phát triển Đó là nền hành chính mà

Trang 40

Nhà nước một mặt phải xã hội hóa, tư hữu hóa, chấp nhận sự tham gia của dân chúng vào công việc quản lý của Nhà nước, mặt khác phải can thiệp ngày càng sâu vào công các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cải tiến mô hình nền hành chính công và nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người dân Thì mức độ hài lòng của người dân trở thành tiêu chí quan trọng hàng đầu để đánh giá tính chuyên nghiệp và mức độ phục vụ của nền hành chính đó Chính thái

độ điều hành đội ngũ công chức cấp xã phục vụ người dân của CBCQ cấp xã

là cơ sở quan trọng để đánh giá sự hài lòng của công dân không chỉ đối với bộ máy chính quyền, do cán bộ xã quản lý, điều hành thực thi công vụ mà còn đối với cả nền hành chính và bản chất của chế độ

Sự hài lòng của người dân đối với CBCQ cấp xã được đánh giá thông

sự phản ánh trực tiếp với cán bộ về hài lòng hay không hài lòng, thông qua khiếu nại, tố cáo những hành vi mà nhân dân cho là của cán bộ đã lạm dụng quyền hạn, thông qua dư luận xã hội Do đó, thái độ thực thi công vụ của bộ máy chính quyền là ân cần, cởi mở, chu đáo, thân thiện hay phiền hà, sách nhiễu, thiếu thận trọng, thiếu chu đáo đều tác động trực tiếp đến người dân và

có ảnh hưởng lớn đến hiệu lực, hiệu quả QLNN ở xã

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

1.2.3.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng

Chất lượng của CBCQ cấp xã được hình thành và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi công tác ĐT, BD Có thể nói qua ĐT, BD mà mỗi người tiếp thu được tri thức, kinh nghiệm, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy để vận dụng vào thực tiễn, nhận thức được cái đúng, cái sai để từ đó đề ra phương hướng, mục tiêu trong hành động, tự hoàn thiện bản thân và để phấn đấu vươn lên ĐT, BD có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực quản lý, điều hành

và thực thi nhiệm vụ của CBCQ cấp xã nói chung Nếu nội dung chương trình

ĐT, BD được xây dựng phù hợp, giảng viên truyền đạt là người có chuyên

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Minh Anh, “Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam”, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam”
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
2. Phạm Ngọc Anh (chủ biên), “Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị ở cơ sở Nông thôn nước ta hiện nay”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ thống chính trị ở cơ sở Nông thôn nước ta hiện nay”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
4. “Công tác giám sát góp phần ngăn ngừa nguy cơ của Đảng cầm quyền”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác giám sát góp phần ngăn ngừa nguy cơ của Đảng cầm quyền”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5. Trương Minh Dục, “Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
6. Phạm Ngọc Dũng, “chảy máu chất xám từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “chảy máu chất xám từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII”
Nhà XB: Nxb Sự thật
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII”
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tài liệu học tập nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu học tập nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002): Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
15. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI”, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI”
16. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 -2015)”, Nhà in tỉnh Đắk Nông, tháng 11/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 -2015)”
17. Nguyễn Trọng Điều, “Về chế độ Công vụ Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về chế độ Công vụ Việt Nam”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
18. Nguyễn Minh Đoan –Bùi Thị Đào – Trần Ngọc Định – Trần Thị Hiền – Lê Vương Long – Nguyễn Văn Năm – Bùi Xuân Phái, “Một số vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
19. Phan Thanh Giản, “Uy tín của CT. UBND xã trong hoạt động QLNN, (qua nghiên cứu thực tiễn ở Tây Nguyên)”, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Uy tín của CT. UBND xã trong hoạt động QLNN, (qua nghiên cứu thực tiễn ở Tây Nguyên)”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
20. Phạm Hảo –Trương Minh Dục (đồng CB), “Một số vấn đề xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, Nxb. Chính trị quốc gia, HN. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Một số vấn đề xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê trình độ học vấn của CBCQ xã, phường của thị xã  Gia Nghĩa hiện nay - Chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở thị xã gia nghĩa, tỉnh đắk nông hiện nay
Bảng 2.1 Thống kê trình độ học vấn của CBCQ xã, phường của thị xã Gia Nghĩa hiện nay (Trang 58)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w