Lựa chọn đề tài: “Quảng bá chương trình truyền hình trên Tạp chí truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, người viết mong muốn chỉ ra cho độc
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THU THỦY
QUẢNG BÁ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
TRÊN TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH VÀ BÁO ĐIỆN TỬ
ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THU THUỶ
QUẢNG BÁ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
TRÊN TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH VÀ BÁO ĐIỆN TỬ
ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(Khảo sát từ 6/2012 đến 6/2013)
Chuyên ngành: Quan hệ công chúng
Mã số : 60 32 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẬU NGỌC ĐẢN
HÀ NỘI, 01 - 2014
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 3Tôi xin cam đoan: Luận văn “Quảng bá chương trình truyền hình trên Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam (khảo sát từ
tháng 6/2012 đến tháng 6/2013)” do chính tác giả nghiên cứu và viết dưới sự
hướng dẫn của TS Đậu Ngọc Đản Kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả, chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Mọi số liệu trong luận văn này đều trung thực, các thông tin trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn đảm bảo tuân thủ quy định về bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2014
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Quan hệ công chúng và Quảng cáo - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn TS Đinh Thị Thúy Hằng - giáo viên chủ nhiệm, nguyên Trưởng khoa Quan hệ Công chúng và Quảng cáo, TS Đỗ Chí Nghĩa - Trưởng khoa Quan hệ Công chúng và Quảng cáo cùng các thầy cô giáo đã dạy bảo tận tình và chỉ dẫn tôi trong 2 năm học vừa qua
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Đậu Ngọc Đản đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này Tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức bổ ích về lĩnh vực truyền thông, truyền hình cũng như tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc của thầy
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp Quan hệ công chúng K17 đã gắn bó, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, tôi mong nhận được sự đánh giá, góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn
Trang 51 Đài Truyền hình Việt Nam: ĐTHVN
2 Báo Điện tử Đài truyền hình Việt Nam: Vtv.vn
3 Trung tâm Internet Việt Nam: VNNIC
4 Học viện Báo chí và Tuyên Truyền: HVBCTT
5 Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: ĐHKHXH&NV
6 Đại học Quốc gia Hà Nội: ĐHQGHN
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1
Biểu đồ 1.2
Quy hình sản xuất chương trình truyền hình
Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ tin bài quảng bá trên Báo điện tử
Vtv.vn (2014)
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ tin bài quảng bá trên Tạp chí
Truyền hình (2014)
Biểu đồ 2.3 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ thể loại tác phẩm trong Tạp chí
Truyền hình và báo điện tử Vtv.vn
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hình ảnh ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng trong phim
Hình 2.2 Thống kê từ khóa và lượng truy cập của Alexa
Hình 2.3 Bài viết “Tặng vé Ai là triệu phú tháng 1”
Hình 2.4 Một số hình ảnh minh họa trong bài viết “Top 12
VNTM khoe dáng trên lưng đà điểu”
Hình 2.5 Bài viết viết “U19 Châu Âu bắt đầu hành trình tập huấn
Châu Âu tại Anh Quốc”
Hình 2.6 Bài viết “Bí mật trong chiếc xe màu VTV”
Hình 3.1 Bìa Tạp chí Truyền hình số 277/ 2014
Hình 3.2 Bìa Tạp chí Truyền hình số 282/ 2014
Trang 7MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM VÀ TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH ……… …36
2.1 Khái quát về Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam ……… 39 2.2 Các hoạt động quảng bá chương trình truyền hình trên Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam … 39 2.3 Hình thức quảng bá chương trình truyền hình……… 61
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG
BÁ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH
VÀ BÁO ĐIỆN TỬ ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM……… 69
3.1 Đánh giá hoạt động quảng bá chương trình truyền hình trên Tạp chí truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam… 69
Trang 8truyền hình trên Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam 78
KẾT LUẬN……… ………90 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………92 PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề quảng bá sản phẩm hiện không còn xa lạ trên thế giới và tại Việt Nam Quảng bá không chỉ giúp công chúng biết tới sản phẩm, nhận dạng được sản phẩm, mà còn góp phần lớn tác động vào quyết định sử dụng sản phẩm đó của người tiêu dùng
Từ những sản phẩm hữu hình như trang sức, máy tính, đồ gia dụng tới những sản phẩm vô hình như dịch vụ du lịch, bảo hiểm, âm nhạc đều rất chú trọng vào quảng bá và sử dụng nhiều cách thức quảng bá đa dạng, phong phú Ngoài hình thức quảng bá trên truyền hình, phát thanh, banner, poster, thì xuất bản báo/ tạp chí/ ấn phẩm ngành và website riêng là 2 hình thức quảng
bá sản phẩm hiệu quả và được hầu hết các công ty, doanh nghiệp sử dụng
Để quảng bá cho du lịch Việt Nam, tổng cục Du lịch Việt Nam có một
số ẩn phẩm ngành như Tạp chí Du lịch, Website, và cả kênh truyền hình du lịch Mọi thông tin về tour, hoạt động du lịch, lễ hội địa phương được thông tin cập nhật đầy đủ và chính thống trên các ẩn phẩm này Nhờ đó mà đông đảo công chúng biết đến các hoạt động du lịch của Việt Nam
Với Tập đoàn FPT, nội san Chúng ta, website www.cocdoc.fpt.edu.vn
là công cụ đắc lực giúp phổ biến rộng rãi các sự kiện, câu chuyện của nhân vật tiêu biểu trong tập đoàn Qua đó tăng sự gắn kết của nhân viên, nâng cao hình ảnh của FPT trong lòng công chúng
Quảng bá sản phẩm trên các phương tiện truyền thông trong đó có truyền hình đã rất quen thuộc Song, chính Đài truyền hình cần quảng bá các sản phẩm của mình là các chương trình truyền hình thì chưa nhiều người nhận thức đầy đủ
Với sự phát triển hiện đại và tính cạnh tranh mạnh mẽ, tại nước ngoài, các kênh truyền hình đã chú trọng vào quảng bá chương trình từ hàng chục
Trang 11năm nay BBC, CNN đều chú trọng xây dựng website, các ấn phẩm cùng những cuộc khảo sát ý kiến công chúng nhằm nâng cao chất lượng các chương trình Theo thống kê của CNN và BBC, hàng tháng lượt người truy cập website www.cnn.cn và www.bbc.co.uk vào khoảng 18 triệu đến 21 triệu chỉ tính trên toàn nước Mỹ và Vương quốc Anh Các kênh truyền hình nước ngoài sống bằng kinh phí bán quảng cáo Bởi vậy cần có uy tín riêng trong lòng công chúng thì các kênh truyền hình mới có tỉ suất xem cao và sống tốt Điều này mang lại lợi ích cho người xem khi chất lượng các kênh ngày một tăng lên
Tại Việt Nam những năm gần đây, vấn đề quảng bá chương trình truyền hình đã được chú trọng Tạp chí truyền hình cùng Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam ra đời trở thành 2 kênh thông tin quan trọng góp phần quảng bá chương trình truyền hình Những thông tin về hậu trường, lịch phát sóng, câu chuyện của người trong nghề mang lại hơi thở mới cho công chúng truyền hình Tuy nhiên, việc quảng bá chương trình truyền hình tại Việt Nam vẫn còn thiếu chuyên nghiệp Điều này được thể hiện qua cách xây dựng những điều giản đơn nhất như đồ họa, thiết kế màu sắc, giao diện của báo điện tử và Tạp chí cho đến những vấn đề về nội dung chưa làm nổi bật được đặc trưng của Đài truyền hình Việt Nam, để người đọc chỉ cần nhìn qua, có thể dễ dàng nhận biết được đây là Tạp chí và trang báo điện tử của Đài truyền hình Việt Nam Điều này vừa làm giảm hình ảnh, ấn tượng của Đài truyền hình Việt Nam trong lòng khán giả và tất nhiên giá trị đem lại từ các chương trình của Đài cũng giảm theo
Đài truyền hình Việt Nam quen với tư duy độc quyền, là đài truyền hình quốc gia, ra đời đầu tiên của cả nước, nếu công chúng không xem thì sẽ
không có lựa chọn nào khác Bắt đầu từ năm 2004, hàng loạt các hình thức
truyền hình xuất hiện: Truyền hình kỹ thuật số VTC, truyền hình K+… Công
Trang 12chúng từ chỉ có 1 sự lựa chọn là Đài Truyền hình Việt Nam, có thêm nhiều lựa chọn hơn Thậm chí, không chỉ giữa các đơn vị truyền hình, mà số kênh truyền hình tăng lên, dẫn đến chính các kênh truyền hình cũng buộc phải cạnh tranh với nhau Việc công chúng có nhiều lựa chọn hơn trong khi quỹ thời gian của mỗi người có hạn đã tạo nên sức ép rất lớn đối với Đài Truyền hình Việt Nam.
TS Trần Đăng Tuấn, Tổng Giám đốc AVG có nhận xét: “Để nổi bật và
thu hút được nhiều công chúng, thì việc quảng bá mạnh mẽ chương trình truyền hình là yếu tố hết sức quan trọng nhằm nâng cao vị thế ĐTHVN trong lòng công chúng Bản thân kênh truyền hình ở môi trường phát sóng truyền thống (không qua internet) có tính tương tác rất yếu với người xem Điều này
là một thực tế Tính một chiều khá mạnh của việc phát tín hiệu truyền hình theo cách thông thường khiến mối liên hệ ngược từ khán giả đến người sản xuất chương trình khá mờ nhạt.” [phụ lục 1]
Việc có quảng bá ở môi trường tính tương tác mạnh hơn như trang Web, Fanpage hay cách phát sóng qua Internet cho phép phản ứng của người xem đến với nhà sản xuất và phát sóng diễn ra song song Điều này rất cần thiết cho mối quan hệ lâu dài và là cơ sở để có "khán giả trung thành"
Hai phương tiện tham gia trực tiếp vào quá trình quảng bá các chương trình truyền hình VN là Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam Lựa chọn đề tài: “Quảng bá chương trình truyền hình trên Tạp chí truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, người viết mong muốn chỉ ra cho độc giả nhận thấy những nét cơ bản
về lý luận, thực tiễn, vai trò, tác dụng của việc quảng bá chương trình truyền hình, từ đó nâng cao chất lượng của Tạp chí truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam, thu hút đông đảo công chúng xem truyền hình hơn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 13Trong hoạt động nghiên cứu về báo chí, truyền hình, hoạt động quan hệ quốc tế… đã có một số đề tài có liên quan đến vấn đề quảng bá tạp chí, có thể
kể đến là:
- “Vai trò của PR đối với việc xây dựng và phát triển thương hiệu” –
Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Mai Chi, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
- “Giao diện báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay” – Khóa luận tốt
nghiệp của Đào Bích Ngọc, HVBCTT
- “Thực trạng và giải pháp xử lý thông tin trong tòa soạn báo mạng điện
tử Việt Nam hiện nay (Khảo sát Vietnamnet, VNExpress, Tuổi Trẻ” – Khóa
luận tốt nghiệp của Trần Hồng Vân, HVBCTT
- “Sử dụng PR trực tuyến trong xây dựng và phát triển thương hiệu” – Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Phương Anh, HVBCTT
- “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tạp chí ban Đảng trong thời kì
đổi mới và hội nhập quốc tế” – Luận án Tiến sĩ của Phạm Thị Thu Huyền,
HVBCTT
- “Xây dựng mô hình thông tin cho Tạp chí Thông tin khoa học chính trị
- hành chính” – Luận văn Thạc sĩ của Lò Thị Phương Nhung, HVBCTT
- “Tương tác giữa tòa soạn và công chúng báo mạng điện tử” – Luận
văn Thạc sĩ của Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương, HVBCTT
- “Khảo sát loại hình tạp chí công cụ qua ấn phẩm Tạp chí truyền hình”
– Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Ngọc Vinh Hạnh, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Các đề tài nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập đến nhưng vấn đề chung nhất về lý luận và thực tiễn của việc quảng bá, phát triển và xây dựng thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các tạp chí tròng thời kì đổi mới và hội nhâp Tuy nhiên, chưa có hoạt động nghiên cứu nào về đề tài quảng bá các chương trình truyền hình trên 2 ấn phẩm là Tạp chí Truyền hình và Báo
Trang 14điện tử Đài truyền hình Việt Nam với tất cả những nét đặc thù của nó Đây cũng là cái mới của luận văn mà tác giả hi vọng sẽ nghiên cứu trình bày cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Đề tài luận văn đi sâu vào việc yêu cầu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc quảng bá các chương trình truyền hình và tính cấp thiết của yêu cầu nâng cao chất lượng quảng bá các chương trình truyền hình trên Tạp chí Truyền hình và báo điện tử Vtv.vn, từ đó đi sâu vào các giải pháp hữu hiệu, thiết thực nhằm đáp ứng nhu cầu này
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Đưa ra những kiến thức cơ bản nhất, khái quát nhất về truyền hình, quảng bá chương trình truyền hình
Nghiên cứu về sự hình thành, phát triển và việc quảng bá của các chương trình truyền hình
Phân tích điểm mạnh, điểm tồn tại và hạn chế của Tạp chí Truyền hình
và Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam trong việc quảng bá các chương trình Truyền hình
Phân tích tầm quan trọng của việc quảng bá các chương trình Truyền hình Việt Nam để độc giả, đặc biệt là độc giả là cán bộ công tác tại Đài truyền hình Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của việc quảng bá chương trình truyền hình, để từ đó có thể tìm ra hướng quảng bá một cách chuyên nghiệp, hiệu quả nhất
Đề xuất một số giải pháp tăng cường hoạt động quảng bá chương trình truyền hình thông qua các kênh truyền thông của Đài truyền hình Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 15Hoạt động quảng bá chương trình truyền hình qua Tạp chí truyền hình
và báo điện tử đài truyền hình Việt Nam
5 Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của triết học duy vật lịch sử, triết học duy vật biện chứng
Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các sách mang tính lý
luận, các văn bản mang tính tổng kết và đánh giá về kết quả thực hiện các hoạt động quảng bá chương trình truyền hình, nghiên cứu tạp chí, các trang website, phân loại thu thập thông tin, xử lý dữ liệu, quan sát thực tế quá trình triển khai các hoạt động quảng bá chương trình truyền hình qua các phương tiện truyền thông Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống các khái niệm về quảng bá chương trình truyền hình, vai trò – chức năng – nhiệm vụ của hoạt động quảng bá chương trình truyền hình; đồng thời kế thừa những kết quả đã được công nhận về thực trạng và hiệu quả của các hoạt động quảng bá chương trình truyền hình qua phương tiện truyền thông để làm cơ sở cho việc so sánh, đánh giá các kết quả khảo sát, tìm được những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Được sử dụng nhằm thu thập các
ý kiến đánh giá về thực trạng hoạt động quảng bá chương trình truyền hình qua tạp chí và báo điện tử của Đài truyền hình Việt Nam với dung lượng là
600 đơn vị trong mẫu Trong đó: 300 đơn vị dành cho bạn đọc Tạp chí Truyền
Trang 16hình thuộc 3 nhóm lứa tuổi thiếu nhi, thanh niên và trung niên; 300 đơn vị dành cho bạn đọc Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam thuộc 3 nhóm lứa tuổi thiếu nhi, thanh niên và trung niên
Bảng hỏi xoay quanh chất lượng, mức độ quan tâm, chú ý của công chúng đối với Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử đài Truyền hình Việt Nam
- Phương pháp quan sát: Qua thực tiễn và quá trình nghiên cứu, người làm
luận văn tiếp cận và tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, hoạt động quảng bá chương trình truyền hình qua Tạp chí truyền hình và báo điện tử của Đài truyền hình Việt Nam
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn người tham
gia quảng bá chương trình truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam để có cái nhìn rõ nét hơn về hoạt động này
6 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO HOẠT ĐỘNG
QUẢNG BÁ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 1.1 Cơ sở lý luận cho hoạt động quảng bá chương trình truyền hình
1.1.1 Khái niệm Quảng bá chương trình truyền hình:
Cho đến nay, thuật ngữ “quảng bá” được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các tài liệu nghiên cứu gắn liền với quảng bá hình ảnh, quảng bá thương hiệu; song vẫn chưa có một định nghĩa
cụ thể, thống nhất về quảng bá “Quảng bá” là một từ Hán Việt được ghép từ chữ “quảng”, có nghĩa là rộng lớn và chữ “bá”, có nghĩa là làm lan rộng Vì vậy, có thể hiểu quảng bá là tuyên truyền rộng rãi
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Quảng bá là phổ biến rộng rãi bằng các
phương tiện thông tin” Quảng bá cũng được hiểu là “những hoạt động nhằm tạo ra hoặc thúc đẩy lợi ích, lợi nhuận cho một cá nhân, một sản phẩm, một
tổ chức”
Một cách khái quát, quảng bá có thể hiểu là hoạt động truyền bá rộng rãi hình ảnh của một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia tới một đối tượng nào đó nhằm đạt được một mục đích cụ thể mà chủ thể quảng bá mong muốn
Có nhiều người nhầm lẫn giữa “quảng bá” và “quảng cáo” Quảng
cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí để thực hiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng Quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin, thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin
Như vậy, điểm khác biệt rõ nhất giữa “quảng bá” và “quảng cáo” đó
là “quảng cáo” liên quan nhiều đến kinh tế Các doanh nghiệp, tổ chức muốn
nhiều người biết đến sản phẩm, dịch vụ của mình sẽ phải mua quảng cáo trên
Trang 18các phương tiện truyền thông Đổi lại, nhiều người sẽ biết đến sản phẩm và dịch vụ của họ khi theo dõi trên các phương tiện truyền thông này, từ đó có thể họ sẽ mua và sử dụng sản phẩm, góp phần giúp các doanh nghiệp, tổ chức tăng lợi nhuận Còn quảng bá không nhất thiết phải liên quan đến kinh tế mà đơn thuần là việc tuyên truyền rộng rãi một vấn đề, sự kiện nào đó
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tôc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình đã thực sự rất phổ biến trên toàn thế giới Từ những nước phát triển tới các nước kém phát triển đều có các kênh truyền hình, các chương trình truyền hình riêng biệt Trong tác phẩm Truyền thông và đại chúng, TS Tạ Ngọc Tấn đã viết: “Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [37]
Thuật ngữ chương trình “program” trong chương trình truyền hình được hiểu gồm các chương trình như: chương trình “Thời sự”, “Vì an ninh Tổ quốc”, chương trình “Kinh tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”, “Phụ nữ”, “Thiếu nhi”, “Trò chơi (game-show)”,… được phân bổ theo các kênh chương trình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình
Chương trình truyền hình đề cập tới các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như tự thân nó có, mà nó thường chuyển tải các loại thông tin từ chương trình này đến chương trình khác, từ ngày này qua ngày khác nhằm phục vụ đối tượng công chúng xác định Nội dung của nó làm sâu sắc thêm một cách trực tiếp những tư tưởng, chủ đề dần dần tạo thói quen trong ý thức công chúng
Trang 19Chương trình theo cách hiểu của truyền thông như là một thế giới phong phú, vô tận những biểu hiện trong bản chất vốn có của nó [11]
Từ vấn đề trên có thể có các cách tiếp cận:
Thứ nhất, từ phương diện kỹ thuật truyền tải thông tin nhiệm vụ của chương trình là làm sao để đưa ra được lời đáp, lời hướng dẫn cho thực tế khi xây dựng chương trình truyền hình, quy đinh được nguyên tắc phối hợp tin, bài Đây hoàn toàn là khuynh hướng nghề nghiệp, được nghiên cứu một mặt của việc phản ánh từ sự tiếp xúc xã hội rộng lớn, đến mối quan hệ nhân quả
Thứ hai, khuynh hướng quan tâm đến ưu thế và biểu hiện ở hiệu quả
tác động của hoạt động giao tiếp đại chúng tới hiệu lực của nó Tuy chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện nhưng cách tiếp cận này cũng đưa ra khái niệm chỉ về phần giao tiếp cũng như đặt ra nhưng vấn đề, sự kiện
mà nó ảnh hưởng tới cơ cấu, khuynh hướng của chương trình
Thứ ba, chương trình là hình thức thể hiện thực tế, hình thức vật chất
hóa sự tồn tại của truyền hình trong xã hội để truyền tải thông tin đến công chúng truyền hình Có thể nói nếu không có chương trình thì không còn truyền hình Nhưng mặt khác, chương trình truyền hình là kết quả hoạt động,
là sản phẩm của tập thể cơ quan đài: bộ phận lãnh đạo, bộ phận kỹ thuật, bộ phận nội dung chương trình, bộ phận hậu cần,… tạo nên thuật ngữ chương trình truyền hình cả về mặt sáng tạo và sản xuất chương trình Cũng như việc sản xuất các sản phẩm khác, có người sản xuất, có người tiêu dùng Người tiêu dùng sản phẩm báo chí cũng có tác động chi phối tới người làm ra sản
phẩm, trong báo chí mối quan hệ đó được thể hiện: nhà báo – tác phẩm -
công chúng Chương trình truyền hình tạo thành chu kỳ khép kín các mắt
xích trong chuỗi mắt xích giao tiếp truyền hình
Tóm lại, chương trình truyền hình là kết quả truyền hình Trong đó bao gồm các quá trình sáng tạo ra nó từ nhiều công đoạn và tồn tại ở nhiều mức
Trang 20độ khác nhau Quá trình tạo dựng kế hoạch và xắp xếp chương trình được gọi
là chương trình truyền hình
Quy trình này có thể được hiểu như sau:
Biểu đồ 1.1: Quy hình sản xuất chương trình truyền hình
Với sự thể hiện sinh động kết hợp giữa âm thanh, hình ảnh nên truyền
hình tác động đến công chúng thông qua ngôn ngữ ở cấp độ xem Lấy một ví
dụ rất đơn giản đưa tin về một đám cháy ở một trung tâm thương mại lớn,
những lời miêu tả cùng ảnh tĩnh trên báo in hay qua giọng đọc của phát thanh
viên trên đài phát thanh sẽ không sống động bằng những hình ảnh lửa cháy
cùng tiếng la hét của nhân dân ngay tại hiện trường trên màn ảnh nhỏ Đó là
một lợi thế và cũng chính là một đặc trưng bổi bật của truyền hình Truyền
Duyệt
Phát sóng
Kịch bản truyền hình
Trình diễn thu băng hình
Trang 21hình có vai trò, vị trí, ảnh hưởng và tác động của đối với công chúng nói chung, cũng như quá trình hình thành và định hướng dư luận xã hội nói riêng Đến nay Đài Truyền hình Việt Nam phát với tổng số thời lượng là 200 giờ/ ngày trên 5 kênh VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5 cùng với 4 kênh truyền hình cáp hữu tuyến và 64 đài phát thanh - truyền hình địa phương Số lượng các chương trình truyền hình cũng ngày một tăng cao
Tuy nhiên, cuộc sống của con người hết sức phong phú và đa dạng nên việc đáp ứng nhu cầu thông tin trên sóng truyền hình cũng phải rất đa dạng và phong phú Đời sống tinh thần của con người ngày càng phát triển,
do đó không chấp nhận cách đưa tin đơn điệu, nghèo nàn Điều này yêu cầu thông tin trên truyền hình phải cực kỳ phong phú, phản ánh mọi mặt, mọi khía cạnh trong đời sống xã hội, đáp ứng một cách tối đa nhu cầu thông tin của công chúng Quảng bá các chương trình truyền hình chính là hoạt động truyền
bá rộng rãi thông tin, hình ảnh, nội dung sẽ phát trong chương trình để đưa thông tin tới đông đảo công chúng hơn, góp phần định hướng dư luận xã hội, định hướng nhận thức, hành vi của công chúng
Để có thể quảng bá các chương trình truyền hình, cần phải thông qua các kênh quảng bá đó là phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài, hoặc phương tiện truyền thông mới như mạng xã hội Những kênh này sẽ giúp thông điệp quảng bá đến với nhiều người nhờ độ phủ sóng rộng lớn
1.1.2 Cách thức quảng bá hiệu quả
Một chương trình, một sản phẩm quảng bá tốt được dựa vào những yêu cầu sau:
- Thể hiện được những những nét nổi trội, những nét riêng có của sản phẩm, của chương trình
- Phải có nội dung, hình thức hấp dẫn, đảm bảo tính mỹ thuật, sự thuyết phục với khán giả
Trang 22- Có sự kết nối chặt chẽ với công chúng
1.1.2.1 Định hướng tính cách sản phẩm và nhu cầu nơi công chúng
Xác định tính cách sản phẩm và khơi dậy các nhu cầu là việc cần thiết giúp khách hàng nhận diện được sản phẩm Để làm cho sản phẩm mới trở nên thiết yếu đối với công chúng, sản phẩm phải thực sự phục vụ một mục đích cụ thể trong đời sống và khách hàng cần thấy đựơc vai trò, mục đích cụ thể của sản phẩm Xác định mục tiêu sản phẩm sẽ tùy thuộc vào chức năng của từng sản phẩm
Với các chương trình truyền hình, cần phải chứng tỏ cho khán giả thấy chương tình có mục đích gì, sẽ mang tới điều gì cho công chúng như giải trí, kiến thức, phần thưởng, cơ hội gặp gỡ người nổi tiếng… và khiến khán giả thấy mình nên theo dõi chương trình này, mình cần những kiến thức từ chương trình này
1.1.2.2 Tập trung mô tả công dụng và tính năng sản phẩm
Một khi bạn xác định được vai trò của sản phẩm, bước tiếp theo là giới thiệu ra công chúng
Tìm được từ ngữ chính xác, phương tiện thích hợp để mô tả sản phẩm mới và truyền đạt đến công chúng là một quá trình rất gian nan Xây dựng hiểu biết cho công chúng từ con số không đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và là giai đoạn không thể bỏ qua trong quá trình giới thiệu
Để quảng bá hiệu quả các chương trình truyền hình, thì việc lựa chọn hình ảnh, ngôn từ, thể loại là vô cùng quan trọng Bởi mỗi loại hình, mỗi góc
độ hình ảnh, ngôn từ đều có những thế mạnh riêng, kết hợp hoàn hảo nhất những yếu tố này sẽ khiến công chúng yêu mến các chương trình truyền hình
1.1.2.3 Chứng minh sản phẩm thực sự hấp dẫn
Trang 23Thông tin không chỉ được phổ biến rộng mà còn giúp sản phẩm mới của bạn trực tiếp chứng minh công chúng Bằng những con số, những dẫn chứng cụ thể về sự hấp dẫn của sản phẩm đối với những khách hàng từng sử dụng sẽ là cách tốt nhất để thuyết phục công chúng
Với các chương trình truyền hình, các bộ phim nổi tiếng Việt Nam mua lại từ nước ngoài, đây là một cách thức hữu hiệu để quảng bá Bởi con số thống kê về những giải thưởng, lượng người xem, số người hâm mộ, chi phí thu về sau khi công chiếu… là những con số có thể xác định và vô cùng thuyết phục về sức ảnh hưởng của những chương trình đó Việc sử dụng những thống kê này một cách hợp lý sẽ chứng minh cho khán giả thấy sức hấp dẫn của chương trình, từ đó, thu hút người xem
1.1.2.4 Kết nối chặt chẽ với khách hàng
Khách hàng đem lại sức sống cho thương hiệu Luôn kết nối với khách hàng, giao tiếp và hợp tác là chiến lực để xây dựng thương hiệu vững mạnh Kết nối chặt chẽ với khách hàng, luôn lắng nghe khách hàng, sẽ giúp đảm bảo nhận được những phản hồi, những ý kiến nhận xét của khách hàng
về sản phẩm, từ đó, có những thay đổi phù hợp với thị hiếu của công chúng Với các chương trình truyền hình, công chúng vừa là đối tượng được phản ánh, vừa là đối tượng hướng đến, bởi vậy, việc ghi nhận các yêu cầu của khán giả, điều tra mong muốn, thị hiếu khán giả, sẽ giúp nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình, và việc quảng bá cũng sẽ dễ dàng thực hiện hơn
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc quảng bá chương trình truyền
hình
Kế hoạch và các yếu tố xây dựng chương trình truyền hình
Chương trình truyền hình là chương trình tổng hợp của nhiều loại chương trình đề cập đến các vấn đề chính trị- kinh tế - văn hóa – xã hội Bởi
Trang 24vậy việc xây dựng chương trình phải có khoa học, có kế hoạch mới đảm bảo
sự thống nhất trong quá trình truyền thông truyền hình
Nếu xét về mức độ cơ cấu thì nội dung chương trình truyền hình trước tiên phải hướng tới tư tưởng, chủ đề Có thể nói tư tưởng là điểm xuất phát để xác định cách thức và khuynh hướng của chương trình Làm sao để chương trình hay và có tác dụng thiết thực, hiệu quả là vấn đề cần được chú ý Sự tác động về mặt tư tưởng được biểu hiện trong toàn bộ những yếu tố cơ cấu của chương trình từ thông tin, lựa chọn, bố cục sự kiện, thông qua sự phân tích đánh giá về mặt tư tưởng đến tất cả các thể loại, từ thông báo tin tức đến phân tích, tổng hợp, đánh giá,…
Mục tiêu tư tưởng của chương trình là hình thành được thế giới quan khoa học, tập hợp và thống nhất các thành viên của xã hội, được thể hiện một cách trực tiếp mang tính hệ thống trong các chương trình truyền hình
Yếu tố chính trị tồn tại dựa trên tư tưởng, thể hiện trực tiếp trong sự cụ thể của những mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn cụ thể Khi xây dựng chương trình truyền hình phải bám sát những mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển đất nước và chức năng, nhiệm vụ của truyền hình phải làm sao hoàn thành những công việc đó
Để xây dựng một chương trình truyền hình cần qua các bước:
- Lập kế hoạch tuyên truyền cho từng kênh, từng chương trình từ tổng thể đến cụ thể
- Bố cục chương trình là sự phân bố và sắp xếp tin bài vào các vị trí xác định, trình bày sao để công chúng theo dõi một cách thuận lợi, nhanh nhất và
rõ nét trong việc tiếp cận thông tin
- Những chương trình truyền hình dựa vào thời gian phát sóng phân ra các chương trình riêng biệt thường có thời lượng được xác định; vào lịch cố
Trang 25định và có tín hiệu, nhạc hiệu riêng Việc phân bố chương trình trở thành phương pháp thu hút sự chú ý của công chúng truyền hình
- Kế hoạch của cơ quan đài truyền hình là sự tạo lập kế hoạch tác phẩm báo chí dựa theo các thể loại để sáng tạo tác phẩm mà truyền hình cần chuyển tới công chúng Nhưng nếu kế hoạch quý hay tháng còn là giai đoạn tổ chức trong nội bộ đài, thì chương trình truyền hình tuần luôn là hệ thống mở Chương trình tuần - hình thức và nội dung của truyền hình là vật chất hóa nội dung theo chức năng của nó trong xã hội Kế hoạch tuần đó là hình thức mà kết quả hoạt động phải đạt tới Giai đọan quan trọng trong chương trình là phân bố chương trình
- Mối quan hệ qua lại giữa màn ảnh nhỏ và công chúng là cơ sở để xây dựng các chương trình truyền hình, thông qua các chuyên mục, thể loại cùng với hoàn cảnh thực tế của người xem, tạo nên việc phân bố chương trình một cách hợp lý Phương pháp phân bố chương trình là xuất phát từ mục tiêu đảm bảo cho sự tác động của chương trình vào công chúng một cách mạnh mẽ nhất
- Cách phân bố chương trình phải hướng tới đông đảo công chúng, được bắt đầu từ việc lựa chọn thông tin theo cấp độ ý nghĩa chính trị xã hội của các thông tin đó (phân bố theo nội dung, các giai đoạn chính của nội dung được phát sóng)
- Tính liên tục của các chương trình được tính bằng đặc điểm tâm lý tiếp nhận của công chúng, tức là vấn đề thời gian tối ưu để xem chương trình
và qua nó giáo dục thói quen cho công chúng
Truyền hình không có khả năng chuyên sâu vào các lĩnh vực, không có khả năng lựa chọn thông tin như ở báo in Từ đó xuất hiện nhiều kênh truyền hình cùng một lúc đồng thời là để công chúng lựa chọn
Trang 26Để thu hút sự chú ý của công chúng vào những chương trình có cùng chủ đề, trong điều kiện nhiều kênh phát sóng cùng lúc, khi phân bổ chương trình phải vận dụng nguyên tắc loại trừ, đó là đặc điểm chủ đề của chương trình đồng thời phát sóng trên nhiều kênh khác nhau hay còn gọi là nguyên tắc tác động ngoại trừ
Tất nhiên, trên thực tế không có sự thống nhất hoàn toàn các chương trình phát sóng trong điều kiện nhiều kênh cùng phát sóng, cũng như không
có và không bao giờ có sự nhất trí hoàn toàn về sở thích của con người, thậm chí ngay trong cùng một gia đình Do vậy, việc quảng bá các chương trình sẽ
có ảnh hưởng rất lớn tới sự lựa chọn của công chúng xem truyền hình
Để thông điệp đến được với người nhận cần thông qua phương tiện truyền, hay còn gọi là kênh Ở đây, kênh truyền thông được sử dụng đó là Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam
Ngày nay, với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là sự lên ngôi của Facebook thì việc có một trang Facebook riêng vô cùng cần thiết Trang này có thể là công cụ hiệu quả để giới thiệu Tạp chí truyền hình và báo Vtv.vn
Truyền thông
Truyền thông là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc quảng bá các chương trình truyền hình bởi thông tin được chuyển tải nhanh nhất đến cộng đồng cư dân chính là nhờ vào quá trình truyền thông Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Xuất bản – Báo chí thế giới (WAN-IFRA), hơn 3 tỷ người, hoặc 72% số người lớn biết chữ trên toàn thế giới đọc, theo dõi thường xuyên
các phương tiện thông tin đại chúng Trong tác phẩm “Sức mạnh của tin tức
truyền thông”, Michael Schudson đã nhận định rằng “nhiều thông tin đến với người dân nói chung qua truyền thông chứ không qua chuyên gia trung gian”
[31]
Trang 27Vậy truyền thông là gì? Truyền thông (communication) là quá trình chia
sẻ thông tin; là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung Qua quá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành vi
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin [10]
Về mô hình truyền thông thì mô hình của Shannon được dùng phổ biến
vì đây nó mang tính khái quát và tổng hợp
Biểu đồ 1.2: Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver
Nhìn vào mô hình có thể thấy rõ 6 yếu tố trong truyền thông Đó là nguồn, thông điệp, phương tiện truyền (hay còn gọi là kênh), người nhận, đích (hay còn gọi là hiệu quả và phản hồi), nhiễu
Thứ nhất, về nguồn thông tin Ở đây, với bối cảnh truyền thông chương trình truyền hình thì nguồn phát sẽ là cán bộ truyền thông của Đài truyền
Trang 28hình Hẹp hơn trong khuôn khổ của đề tài thì đó là những phóng viên, biên tập viên của Tạp chí Truyền hình và báo điện tử vtv.vn Đây là những người quyết định việc đưa ra những thông điệp gì, cách thức đưa thông điệp như thế nào Bởi nhiệm vụ của những cá nhân này rất quan trọng nên họ cần có chuyên môn và nghiệp vụ vững chắc Chỉ có hiểu về truyền hình thì mới có thể đưa khai thác thông tin và đưa thông tin chính xác và hữu hiệu đến với độc giả
Thông điệp là yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình truyền thông Ở đây, thông điệp truyền thông được chuyển tải qua các bài báo trên Tạp chí Truyền hình và báo điện tử vtv.vn
Nội dung của các bài báo tương đối đa dạng như bài viết giới thiệu về các chương trình sắp khởi chiếu, những câu chuyện phía sau màn ảnh sân khấu, chân dung người nổi tiếng ; thông tin về giải trí trên thế giới… Tất cả đều nhằm mục đích cung cấp những thông tin cần thiết và hữu ích cho độc giả
Thông điệp truyền thông trong bài báo cần phải được truyền tải một cách
dễ hiểu, đúng quy tắc và hấp dẫn Ví dụ như một gameshow sắp lên sóng, thì cần được nguồn phát (ở đây là đội ngũ phóng viên, biên tập viên) khai thác, biên tập sao cho hấp dẫn, sao cho độc giả có thể hiểu và bị thu hút, tìm xem chương trình
Thông điệp truyền thông cần chính xác Bởi thông điệp được truyền tải tới nhiều người nên một khi sai lầm sẽ dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng Ví
dụ như thông tin về dàn xếp kết quả của chương trình Giọng hát Việt nhí mùa đầu tiên (2012) đã khiến lượng người xem mùa thứ hai sụt giảm Như vậy có thể thấy, việc đưa thông tin không chính xác sẽ khiến rất nhiều người đã phải chịu ảnh hưởng tiêu cực
Trang 29Thông điệp truyền thông phải phù hợp, tùy từng đối tượng khác nhau mà tạo ra những thông điệp khác nhau Ví dụ như muốn truyền tải thông điệp đến người lớn tuổi thì nên hạn chế dùng những từ ngữ quá thời thượng, giới trẻ hay dùng như “đình đám” “khó đỡ”… sẽ gây phản cảm và tạo nên hiệu ứng ngược, khiến người đọc không có thiện cảm tốt với chương trình
Thông điệp truyền thông cũng cần phải hấp dẫn Với số lượng những trang tin, trang báo điện tử và báo viết tăng nhanh như hiện nay, việc lôi kéo độc giả đọc tin tức trên báo của mình đã khó, việc giữ vững lượng độc giả này còn khó hơn rất nhiều Nếu như thông tin mà độc giả tiếp nhận quá nhạt, họ sẽ không nhớ được thông điệp trong đó cũng như không có hứng tìm hiểu tiếp
Tờ báo cũng mất khách nếu không có những bài viết hay Do đó, thông điệp cần phải cuốn hút, hấp dẫn độc giả
Để thông điệp đến được với người nhận cần thông qua phương tiện truyền, hay còn gọi là kênh Kênh truyền thông có thể mang tính chất đại chúng hoặc mang tính cá biệt
Truyền thông đại chúng được hiểu là một quá trình truyền đạt thông tin đến các nhóm cộng đồng đông đảo trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng
Các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại bao gồm: báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, sách, phim và video, các phương tiện truyền thông mới
Các phương tiện truyền thông mới là khái niệm ra đời sau và được hiểu bao gồm việc truyền đạt thông tin thông qua internet, bao gồm các loại hình như: website, báo điện tử
Ở đây, kênh truyền thông được sử dụng đó là Tạp chí Truyền hình và Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam www.vtv.vn
Trang 30Kênh truyền thông có tính chất cá biệt là loại kênh mà phía nguồn phát
và nguồn nhận trao đổi hai chiều với nhau, có thể giao tiếp mặt đối mặt qua điện thoại, thư từ, nối mạng
Các kênh truyền thông cá biệt có hiệu lực cao bởi vì nó tạo cơ hội giao tiếp và phản hồi cá nhân, phía nguồn phát có thể đưa ra những giải pháp kịp thời để đáp ứng lại những phản ứng của người nhận
Kênh truyền thông cá biệt có ba loại chính đó là:
- Kênh có tính chất biện hộ Là các nhân viên truyền thông tiếp xúc với đối tượng chính
- Kênh có tính chất chuyên gia Là việc các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao phát biểu với các đối tượng chính
- Kênh có tính chất xã hội Là những người bạn, thành viên trong gia đình, đoàn thể nói chuyện với nhau, loại kênh này có tác dụng rất rộng rãi vì
nó có tính chất truyền miệng
Loại kênh truyền thông cá biệt có hạn chế là phạm vi tiếp cận không lớn Trong khi đó, mục tiêu của việc quảng bá chương trình truyền hình cần được tiếp cận đến càng nhiều người càng tốt Do vậy, việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng là một giải pháp đúng đắn Ngày nay, với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là sự lên ngôi của Facebook thì việc có một trang Facebook riêng vô cùng cần thiết Trang này có thể là công cụ hiệu quả để giới thiệu Tạp chí truyền hình và Báo điện tử ww.vtv.vn Người nhận là đối tượng tiếp nhận thông điệp Ở đây chính là độc giả của Tạp chí truyền hình và Báo điện tử www.vtv.vn Độc giả có thể chia làm nhiều đối tượng, tùy từng đối tượng mà có những thông điệp và cách thức truyền tải khác nhau Có thể sắp xếp độc giả theo độ tuổi, giới tính,
sở thích, Ví dụ như muốn hướng đến độc giả trẻ thì ngôn ngữ cần trẻ
Trang 31trung nhưng không quá lố, có thể sử dụng một số thuật ngữ tiếng Anh trong bài viết mà không cần Việt hóa
Người nhận là nhân tố quan trọng trong quá trình truyền thông Phải xác định được người nhận là ai thì việc tạo thông điệp của nguồn phát mới hiệu quả Bên cạnh đó, người nhận cần phải có một phông kiến thức nhất định để
có thể giải mã được thông điệp và điều chỉnh hành vi của mình
Đích đến của quá trình truyền thông chính là hiệu quả của quá trình và việc phản hồi của người nhận Trước đây, báo chí thường truyền thông một chiều, nghĩa là chỉ có phóng viên, biên tập viên viết bài cho độc giả đọc và không có công cụ phản hồi cho độc giả Hiện tại, báo chí đã phát triển với độ tương tác cao, độc giả có thể bày tỏ quan điểm của mình ngay dưới bài viết (đối với tác phẩm online) hoặc gửi thắc mắc về hòm thư điện tử của tạp chí
Để nâng cao độ tương tác giữa tòa soạn báo và độc giả, Báo điện tử www.vtv.vn cũng đã có phần bình luận, gửi thư thắc mắc về tòa soạn Điều này khiến sợi dây liên kết giữa tòa soạn và người đọc trở nên bền vững hơn Những phản hồi của độc giả dù là đồng thuận hay phản ứng trái chiều thì cũng tạo điều kiện để phóng viên kiểm định, xem xét sự chính xác của thông tin, từ đó tòa soạn cũng có thể đề nghị bạn đọc cung cấp thêm thông tin Hoạt động tương tác giúp tạo ra sự gần gũi với cơ quan báo chí, bày tỏ dữ liệu khá đầy đủ về đặc điểm nhu cầu, trình độ, sở thích của từng nhóm đối tượng công chúng Rất nhiều bài báo được ra đời nhờ những phát hiện của người đọc Có thể nói, độc giả chính là kho tin tức khổng lồ
Ngoài ra trong quá trình truyền thông còn có thể có nhiễu Đó là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng thông tin, thông điệp sai lệch Nhiễu ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình truyền thông, càng qua nhiều khâu chuyển tiếp trong thông tin thì nhiễu càng lớn
Trang 32Ví dụ như tháng 7/2012, trang thông tin điện tử www.kenh14.vn bị hacker đánh sập trong 6 tiếng, khiến thông tin đến với người đọc chậm trễ Đây là nhiễu
về kỹ thuật mà người tham gia quá trình truyền thông không thể lường trước được Để tránh gặp phải điều này thì trang web cần có đội ngũ kỹ thuật xây dựng chương trình bảo vệ chặt chẽ Trang web càng lỏng lẻo, có độ an toàn thấp thì càng dễ bị xâm nhập
1.1.4 Các phương tiện truyền thông quảng bá chương trình truyền
hình
Những đổi mới trong công nghệ thông tin đã đưa thế giới đến với một kỷ nguyên của các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó hầu như tất cả mọi người đều được tiếp cận tin tức và thông tin một cách nhanh chóng Với
sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông đại chúng như: báo in, tạp chí, truyền hình, phát thanh, internet, việc quảng bá trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết Mỗi loại hình đều có thế mạnh riêng phù hợp với từng kế hoạch quảng bá
và từng đối tượng nhất định
1.1.4.1.Báo in, tạp chí
Ưu điểm của báo in, tạp chí là công chúng có thể dễ dàng tìm ở bất kì sạp báo và bưu điện nào trên toàn quốc với chi phí hợp lý Hơn nữa, báo in, tạp chí có ưu điểm là tiện lợi, dễ mang theo, có thể đọc đi đọc lại nhiều lần Những thông tin cập nhật và những bài bình luận chuyên sâu về các chương trình truyền hình luôn được đăng tải thường xuyên trên các chuyên trang văn hóa, giải trí của các tờ báo lớn
Hiện nay tuy nhiều các báo, tạp chí có chuyên mục về văn hóa, giải trí trong đó đưa các thông tin, hình ảnh của các chương trình song ấn phẩm chuyên về truyền hình lại chỉ có số lượng ít ỏi (duy nhất có Tạp chí Truyền hình)
1.1.4.2.Phát thanh, truyền hình
Trang 33Với thế mạnh là việc truyền tải thông tin kèm hình ảnh, âm thanh; phát thanh truyền hình trở thành kênh thông tin không thể thiếu trong các chiến lược quảng bá thương hiệu
Với việc xây dựng chương trình giới thiệu những công việc hậu trường các chương trình truyền hình như ‘ Với khán giả VTV3’, ‘Chat với VTV6’, ‘Với khán giả VTV2’, ‘ VTV kết nối’ phát sóng trên VTV3, VTV2, VTV6 các ngày trong tuần, công chúng có cơ hội hiểu thêm về sự vất vả của các biên tập viên, đạo diễn… khi thực hiện các chương trình Thông qua đó công chúng sẽ cảm thông, yêu quý và trân trọng hơn những món ăn tinh thần
mà VTV mang tới cho họ hàng ngày và giúp “nhà Đài” thu thập ý kiến góp ý của khán giả để điều chỉnh theo hướng “ngày càng tốt hơn”
Thay vì chấp nhận những thứ có sẵn, đơn giản, không tốn nhiều thời gian công sức, ê-kíp thường cố gắng tìm tòi cách thể hiện sao cho những thông tin kiểu “thông báo” trở thành những tin tức hấp dẫn
Đơn cử, thay vì thông tin có một phóng viên của VTV4 vừa đạt giải quốc tế, VTV Kết nối sẽ có thêm thông tin về cách thức để làm ra sản phẩm được giải quốc tế đó, sau đó xâu chuỗi thêm thông tin đây không phải trường hợp duy nhất bởi VTV vẫn gửi thường xuyên tin bài ra nước ngoài và được đánh giá cao
1.1.4.3.Blog, internet
Ngày 27/7/2012, sau 1 thời gian ngắn hoạt động, trang thông tin điện tử www.vtvnews.vn đã chính thức trở thành Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam www.vtv.vn trực thuộc Ban thư kí biên tập Đài truyền hình Việt Nam Hiện nay, Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam đã trở thành “ kênh thông tin chính thống, có độ tin cậy cao về mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, đời sống, xã hội, thể thao, công nghệ, giúp độc giả thuận lợi hơn trong việc tiếp cận tin tức trong nước và quốc tế”
Trang 34Các kênh truyền hình nước ngoài như CNN, BBC, KBS đang khai thác rất hiệu quả các kênh quảng bá trực tuyến để tăng lượng người xem Theo trang web www.alexa.com, trong cuộc chiến giành thị phần giữa kênh truyền hình CNN và Fox, thì trang tin tức online của CNN đứng thứ 19 trong bảng xếp hạng những trang web được truy cập nhiều nhất tại Mỹ, trong khi trang tin tức của Fox chỉ đứng thứ 41 Số người theo dõi tài khoản twitter của CNN
là 13.8 triệu người, gấp hơn 3 lần Fox là 4.18 triệu người theo dõi Tài khoản Facebook của CNN có 14.7 triệu người theo dõi, vượt xa đối thủ Fox chỉ có 8.7 triệu người theo dõi Như vậy, các kênh truyền hình quốc tế đều rất chú trọng vào các phương tiện truyền thông mới
Rõ ràng, Đài truyền hình Việt Nam cũng cần chú trọng đầu tư cho những hình thức quảng cáo trực tuyến như, tối ưu hóa website (SEO), mạng
xã hội, online banner để tận dụng những ưu thế của online marketing để quảng bá rộng rãi các chương trình truyền hình
Có thể thấy, nhu cầu tìm hiểu thông tin qua internet tại Việt Nam không hề nhỏ Theo số liệu tháng 12/2010 từ VNNIC, có tới ¼ dân số Việt Nam đang sử dụng internet, tương đương 27 triệu người Theo báo cáo toàn cảnh 15 năm của Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA), đến tháng 9/2012, số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam đã đạt trên 31 triệu, chiếm 35,49% dân số Người sử dụng Internet Việt Nam dành khá nhiều thời gian để lên mạng với trung bình là 142 phút/ngày trong tuần Việc truy cập Internet chủ yếu qua máy tính để bàn (84%), máy tính xách tay (38%) và thiết bị di động (27%) Trong đó, việc truy cập Internet để đọc tin tức chiếm 94%, tìm kiếm 92% Về đối tượng sử dụng, lực lượng học sinh, sinh viên chiếm đông đảo với 33%, tiếp sau là điều hành các cấp/nhân viên cấp dưới chiếm 15% Như vậy,
rõ ràng tiềm năng quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam rất lớn
Trang 35Một lợi ích có thể nhìn thấy rõ nhất khi thực hiện các kế hoạch quảng cáo online là có thể thống kê được gần đúng khách hàng tiềm năng (nếu dùng quảng cáo truyền thống, con số này chỉ là ước lệ với sai số lớn)
Nhờ tính cá nhân hóa, đồng thời giúp người xem có thể tương tác với thông điệp quảng cáo một cách gần gũi và thiện cảm nên quảng bá trực tuyến
rõ ràng là cách quảng bá tiết kiệm được nhiều chi phí hơn cho ngành truyền hình
Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam cũng liên tục đầu tư đổi mới hình thức, giao diện, nâng cao chất lượng từ khi thành lập Tháng 10/2014, Báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam đã ký kết hợp tác toàn diện với Công
ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VCCorp) trên phương diện ứng dụng công nghệ và quảng cáo trực tuyến Thông qua đó, tính ổn định về đường truyền, trang thiết bị kĩ thuật của báo sẽ được đảm bảo chất lượng
Mặc dù, đài truyền hình Việt Nam trong những năm qua cũng đã có các chương trình giới thiệu trong và ngoài nước trên nhiều phương tiện truyền thống Trên internet hiện nay đài truyền hình đã bắt đầu sử dụng youtube như một kênh chính thống để phát lại các chương trình, tuy nhiên, đài truyền hình Việt Nam vẫn chưa phát huy được tiềm năng của loại hình quảng cáo hết sức hiệu quả này
1.1.4.4 Các phương tiện Multimedia
Cuối năm là thời điểm đài truyền hình Việt Nam phát hành rất nhiều những DVD về các chương trình giải trí, nổi tiếng nhất phải kể đến DVD Gặp nhau cuối năm Nội dung sẽ bao gồm 1 số tiểu phẩm sẽ diễn ra trong chương trình, hoặc những tiểu phẩm hài do các diễn viên hài tham gia chương trình diễn xuất
Trang 36Hình 1.1: Bìa DVD “Gặp nhau cuối năm 2011”
Người xem sẽ bị thu hút bởi những tiểu phẩm hài hước, thú vị song mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, phản ánh các thực trạng xã hội Đây chính là lý
do chương trình “Gặp nhau cuối năm” luôn có lượng rating cao và các công
ty, doanh nghiệp cần book trước ít nhất 2 tháng để được quảng cáo trong chương trình Đơn cử trong chương trình “Táo Quân 2014”, chi phí để doanh nghiệp xuất hiện 10 spot 30s và 15 spot 5s là 1.2 tỉ đồng
1.2 Khái quát chương trình truyền hình và vai trò, xu hướng quảng bá các chương trình truyền hình
1.2.1 Khái quát về chương trình truyền hình Việt Nam
Ngày 7/9/1970, chương trình truyền hình thử nghiệm đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được phát sóng Chương trình này do Đài tiếng nói Việt Nam thực hiện
Trước đó, ngày 4/1/1968, phó thủ tướng Lê Thanh Nghi ký quyết định
số 01/TTG-VP cho phép tổng cục thông tin (trực thuộc Chính Phủ) thành lập
Trang 37"Xưởng phim vô tuyến truyền hình Việt Nam" Đây là một xưởng phim nhựa
16 ly, có nhiệm vụ làm phim thời sự tài liệu truyền hình gửi ra nước ngoài nhờ đài truyền hình các nước xã hội chủ nghĩa phát trên sóng của họ để tuyên truyền đối ngoại, đồng thời hướng dẫn và hợp tác với các đoàn làm phim vô tuyến truyền hình nước ngoài đến quay phim ở Việt Nam Năm 1971, Chính Phủ đã quyết định chuyển xưởng phim vô tuyến truyền hình tử tổng cục thông tin sang Đài tiếng nói Việt Nam, tăng cường cho truyền hình một đội ngũ làm phim thời sự tài liệu có kinh nghiệm thực tế và có một số vốn tư liệu quý
Giữa năm 1966, Mỹ đưa truyền hình vào miền Nam Khi nhận được thông tin này, bộ biên tập và đội ngũ cán bộ kỹ thuật Đài tiếng nói Việt Nam quyết tâm lao vào cuộc đua chuẩn bị cho được truyền hình để có thể tiếp quản
và điều hành các Đài truyền hình miền Nam ngay sau khi giải phóng Nhiều đoàn cán bộ, kỹ thuật viên được gửi ra nước ngoài học truyền hình
Sau một thời gian làm thử, tối 30 tết Tân Hợi (27/1/1971), nhân dân Thủ đô Hà Nội được xem chương trình truyền hình đầu tiên Chương khá phong phú: 30 phút thời sự trong nước và quốc tế do các phát thanh viên nam
nữ thay nhau đọc trước micro, thu vào camera điện tử chuyển thẳng lên sóng, chương trình ca nhạc 30 phút dùng phương pháp playlack; chương trình phim truyện, phim tài liệu được chiếu lên tường, dùng camera điện tử thu lại và phát lên sóng qua máy phát
Sau khi thử nghiệm phát sóng thành công, chương trình thử nghiệm được phát hai tối mỗi tuần, mỗi tối 2h30' rồi tăng lên ba tối, bốn tối một tuần Kéo dài đến tháng 4 năm 1972 khi Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không gian đánh phá ác liệt vào Hà Nội Trong thời gian này các phóng viên, biên tập viên của Đài truyền hình vẫn tiếp tục làm việc nhằm ghi lại những hình ảnh chiến đấu dũng cảm của quân và dân Thủ đô Những bộ phim tài liệu được
thực hiện trong thời gian này như: Hà Nội - Điện Biên Phủ, Hà Nội 5 ngày đọ
Trang 38sức, Tiếng Trống Trường đã giành được nhiều giải thưởng Bông Sen Bạc
quốc tế và trong nước
Các chương trình của đài lần lượt được ra mắt công chúng như: Vì an ninh Tổ quốc (27.1.1973) (Buổi phát sóng đầu tiên của chương trình này là tối 16-8-1972), Câu lạc bộ nghệ thuật (21.2.1976) văn hoá xã hội (21.3.1976) Quân đội nhân dân (24-4-1976), thể dục thể thao (26.5.1976), Kinh tế (9.5.1976) Tới khi chuyển về trung tâm truyền hình Giảng Võ, từ 16/6/1976 mới phát chính thức hàng ngày Tại đây đã có một trung tâm hoàn chỉnh với 3 trường quay (S1, S2, S3), tổng khống chế (master control room), máy phát 1kW kênh 6 và cột ăngten cao 60m
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đài truyền hình Sài Gòn được đổi tên thành Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Đã có các đài phát lại chương trình truyền hình ở Cần Thơ, Nha Trang, Quy Nhơn và Huế
Năm 1976, Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm phát hình màu Một năm sau, 1977, Đài truyền hình Trung ương cũng bắt đầu phát thử nghiệm truyền hình màu vào các sáng Chủ nhật
Ngày 1/8/1986, Đài truyền hình Trung ương chuyển hẳn sang phát màu
Ngày 31/3/1998, Đài truyền hình Việt Nam chính thức tách kênh VTV1, VTV2, VTV3 Đây là một bước nhảy vọt của Đài truyền hình Việt Nam về cả nội dung chương trình lẫn thời lượng phát sóng VTV1 lấy nội
Trang 39dung trọng tâm là chính trị - kinh tế - xã hội với thời lượng 11,5h/ngày trên kênh 9 và phủ sóng qua vệ tinh VTV2 chú trọng phần khoa học - giáo dục, phát sóng 13h/ngày trên kênh 9 và phủ sóng qua vệ tinh VTV3 là kênh giải trí - văn hoá thể thao, kinh tế, thời lượng 12h/ngày trên kênh 22 UHF và cũng được phủ sóng qua vệ sinh Ngoài ra, đài truyền hình Việt Nam còn có chương trình MMDS (9 kênh) và chương trình VTV4 dành cho cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài, phát sóng qua vệ sinh, 4 giờ/ngày
Từ 10-12-2002 kênh VTV5 truyền hình tiếng dân tộc thiểu số của Trung ương đã phát chính thức qua vệ tinh 3 lần/tuần và phát các 3 lần/tuần với thời lượng 2 giờ để các đài địa phương thu lại và phát sóng phục vụ đồng bào vào thời lượng thích hợp Ngày 29-4-2007, kênh truyền hình dành cho thanh - thiếu niên - nhi đồng tập trung vào những đời sống văn hóa trẻ, cuộc sống đời thường, các vấn đề xã hội cập nhật, số phận và vấn đề cá nhân, hướng dẫn kỹ năng sống, văn hóa thế giới và Việt Nam đã được phát sóng thử nghiệm trên hệ thống DTH và VTVCab Hiện nay, VTV6 đã phát sóng quảng bá trên hệ thống Analog và phủ sóng toàn quốc từ 7/9/2010
Đến nay, hệ thống truyền hình Việt Nam đã có 1 Đài truyền hình quốc gia, 5 đài truyền hình khu vực (Huế, Đà Nẵng, Cần thơ, Phú Yên, Sơn La) và
64 đài phát thanh - truyền hình đại phương; 4 kênh truyền hình cáp hữu tuyến CATV; tổng thời lượng 200 giờ/ngày được phủ sóng 80% toàn quốc
1.2.2 Xu hướng quảng bá các chương trình truyền hình tại Việt Nam
Trước đây việc quảng bá chương trình truyền hình rất đơn giản, theo phương thức kết nối một chiều: nhà quảng bá phát sóng, khách hàng xem, lịch trình là nội dung chương trình được in sẵn; các thông tin phát sóng được đưa tới khán giản thông qua chạy chữ trên truyền hình vào 12h trưa và 18h tối hàng ngày hay trên một số báo, tạp chí có lượng phát hành cao
Trang 40Ngày nay, số lượng các kênh truyền hình cùng các chương trình truyền hình ngày một tăng Khán giả ngày càng bị phân mảnh, thời gian của họ bị chia cắt bởi vô số lựa chọn Với vốn thời gian eo hẹp, khán giả chỉ lựa chọn theo các chương trình hấp dẫn, phù hợp với mình Điều này đặt ra bài toán với ĐTH và các cơ sở sản xuất truyền hình phải làm thế nào để khán giả lựa chọn chương trình này mà không phải chương trình khác Các kênh truyền hình trả tiền liên tục đưa ra các gói khuyến mại hấp dẫn nhằm thu hút công chúng Các chương trình truyền hình dần được xã hội hóa, có sự tham gia của các đơn vị tư nhân, tích cực thăm dò ý kiến khán giả nhằm xây dựng những kịch bản gần gũi với sở thích, nhu cầu của công chúng nhất Từ chỗ công chúng buộc phải theo dõi những gì nhà Đài phát sóng, thì hiện nay, công chúng đã trở thành trung tâm của quá trình sản xuất chương trình truyền hình Theo đó,
để việc quảng bá các chương trình truyền hình một cách hiệu quả, thì giờ đây, thay vì chỉ quảng bá theo cách đơn giản, một chiều thì các đơn vị đã dựa vào thị hiếu, nhu cầu của khán giả để quảng bá Có thể chia ra thành những nhu cầu chính như sau:
Tìm hiểu những nội dung đặc sắc của chương trình truyền hình
Theo khảo sát có tới 76% khán giả tìm hiểu trước các thông tin về các chương trình truyền hình sắp phát sóng, và 66% cho rằng các thông tin tìm hiểu được sẽ quyết định tới việc họ có theo dõi chương trình đó hay không Như vậy, việc quảng bá sẽ chú trọng tới việc “bật mí” các thông tin hấp dẫn liên quan tới nội dung chương trình sắp phát sóng
Có thể lấy ví dụ như trước khi chương trình “Bố ơi mình đi đâu thế” phiên bản Việt Nam chính thức lên sóng vào tháng 11/2014, đội ngũ ekip thực hiện chương trình đã có chiến dịch quảng bá trước đó 5 tháng với những nội dung giới thiệu về các nhân vật sẽ tham gia chương trình, những thử thách và trải nghiệm các nhân vật sẽ đối mặt Trong bài viết “Dàn sao nhí Bố ơi! Mình