Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban biên tập Báo Bạc Liêu, Ban Giám đốc Đài PT-TH Bạc Liêu, Ban giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch Bạc Liêu, lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh Bạc
Trang 1HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN VĂN QUỐC
BÁO CHÍ BẠC LIÊU VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC
KHMER HIỆN NAY (Khảo sát Báo Bạc Liêu, Đài PT-TH Bạc Liêu năm 2014)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ NHÃ
CẦN THƠ - 2015
Trang 2Hà Nội, ngày tháng năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Học viên
Nguyễn Văn Quốc
Trang 4Để hoàn thành chương trình cao học Báo chí và viết luận văn này, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy giáo, cô giáo Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trước tiên, tôi chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo chuyên ngành Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tâm dạy bảo tôi trong thời gian học tập
Tôi xin tỏ lòng tri ân TS Lê Thị Nhã đã nhiệt tâm hướng dẫn tôi nghiên cứu đề tài này
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban biên tập Báo Bạc Liêu, Ban Giám đốc Đài PT-TH Bạc Liêu, Ban giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao &
Du lịch Bạc Liêu, lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh Bạc Liêu, Ban quản trị các chùa Khmer trong tỉnh, quý đồng nghiệp, bạn bè, người quen đã hết lòng giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Học viên
Nguyễn Văn Quốc
Trang 5Trang
Chương 1: VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC
TUYÊN TRUYỀN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA
1.1 Khái niệm văn hóa và đặc trưng văn hóa dân tộc Khmer 9 1.2 Tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân
1.3 Vai trò của báo chí trong công tác thông tin tuyên truyền về vấn
Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO CHÍ BẠC LIÊU THÔNG TIN TUYÊN
TRUYỀN VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA
2.4 Thành công và hạn chế của công tác tuyên truyền 57
Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ
CỦA BÁO CHÍ BẠC LIÊU TRONG TUYÊN TRUYỀN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
3.1 Xây dựng chiến lược tuyên truyền về vấn đề bảo tồn và phát huy
3.2 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho
3.3 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho cơ quan báo chí 75 3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí tuyên truyền
về bảo tồn và phát huy văn hóa Khmer trên báo chí Bạc Liêu 78
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước xác định mục tiêu:
Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [6, tr.2]
Bước vào thời kỳ hội nhập đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan
hệ giữa dân tộc và quốc tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề xây dựng nền văn hóa mới đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước, hòa nhập với khu vực và quốc tế lại càng có ý nghĩa quan trọng Tiến trình hội nhập tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển, nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam Do vậy khẳng định hệ giá trị văn hóa các dân tộc đang là vấn đề cấp thiết, vừa có tính thời sự, vừa lâu dài bảo đảm cho tiến trình hội nhập mà không bị hòa tan Quan điểm của Đảng là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học
Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có những sắc thái, bản địa riêng, chúng bổ sung cho nhau làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng
cố sự thống nhất dân tộc, tạo nên nền văn hóa nước ta là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng Trong cộng đồng đa dân tộc, dân tộc Khmer là dân tộc có dân số cao thứ hai trong vùng Tây Nam bộ (đồng bằng sông Cửu Long), sau
Trang 7dân tộc Kinh Dân số của dân tộc Khmer khoảng 1,3 triệu người, chiếm gần 7% dân số đồng bằng sông Cửu Long Người Khmer là cư dân lúa nước, họ
cư trú ở các tỉnh, thành phố: An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu,… Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer Tây Nam bộ đã được triển khai thực hiện và đi vào cuộc sống Nổi bật là các chương trình, chính sách: chương trình 135, chương trình 134, chính sách cử tuyển đi đào tạo bậc cao đẳng, đại học,… Nhờ đó đã tạo nên chuyển biến tích cực về sản xuất, đời sống, sinh hoạt trong đồng bào dân tộc Khmer Tây Nam bộ
Trước sự vận động và biến đổi của thế giới diễn ra không ngừng, sự tác động của cơ chế thị trường, của mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa hiện nay, điều đó không thể không ảnh hưởng tiêu cực đến bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long Việc giữ gìn bản sắc văn hóa từng dân tộc đang là chuyện thời sự của thời đại và cũng đang là vấn
đề được đặt ra với nước ta, trong đó báo chí chiếm một vai trò vô cùng quan trọng, bao gồm Báo Bạc Liêu, Đài phát thanh - truyền hình (PT-TH) Bạc
Liêu Luận văn thạc sỹ "Báo chí Bạc Liêu với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer hiện nay" khảo sát thực trạng, đề xuất giải
pháp nhằm góp phần nâng cao vai trò của báo chí Bạc Liêu trong hoạt động thông tin về vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc Khmer
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề này đã được nhiều người nghiên cứu ở những phạm vi và góc
Trang 8Hoàng Nam "Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người, văn hóa Việt Nam", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1998;
Ngô Đức Thịnh "Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam"; Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006;
Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004
Kể từ khi Đảng ta chủ trương thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (năm 1986), vấn đề về văn hóa dân tộc thiểu số được chú ý đặc biệt Liên quan đến vấn đề này đã có nhiều tạp chí, nhiều cuốn sách, luận văn, luận án nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau Đó là đề tài:
"Nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam", Ban chấp hành Hội Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hà Nội, 1992;
Nguyễn Thanh Thủy, luận án tiến sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 "Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long";
Phạm Thị Phương Hạnh (chủ biên), 2012, "Văn hóa Khmer Nam bộ - Nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam" (tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Cuốn sách giới thiệu những nét văn hóa đặc trưng của người Khmer Nam bộ, gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Qua tiến trình cộng cư lâu đời cùng với các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm,… trên mảnh đất Nam bộ, người Khmer đã có sự giao thoa văn hóa với các dân tộc anh em Nhưng cơ bản, người Khmer vẫn giữ được những nét văn hóa đặc sắc, những cốt cách, tinh hoa của dân tộc mình Thể hiện rõ nét nhất qua các ngôi chùa Khmer và sinh hoạt ở mỗi phum, sóc, gắn liền với Phật giáo Nam tông Tiểu thừa, qua tiếng nói, chữ viết, các lễ hội truyền thống, các hình thức nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, sân khấu, ca múa,… Những bản sắc vô cùng độc đáo đó của đồng bào Khmer Nam bộ đã đóng góp
Trang 9lớn vào sự đa dạng, phong phú của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, Nam
bộ nói riêng và của văn hóa Việt Nam nói chung
Thạch Voi "Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam bộ", Nxb Tổng hợp Hậu Giang, 1998;
Trần Thanh Nam, luận án tiến sỹ Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 "Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay";
GS.TS Trần Văn Bính (chủ biên) " Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ - Thực trạng và những vấn đề đặt ra", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Trong công trình nghiên cứu này, tập thể tác giả cho rằng công cuộc đổi mới của Đảng đã làm bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước thay đổi đáng kể, đời sống bà con các dân tộc thiểu số thực sự được cải thiện Công cuộc đổi mới cũng khẳng định các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc anh em trong đại gia đình văn hóa Việt Nam Bằng thái độ khoa học nghiêm túc, nhìn thẳng thực trạng đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nam bộ trong đó chủ yếu là văn hóa truyền thống của bà con các dân tộc Chăm, Khmer, Hoa, các tác giả công trình cố gắng vẽ lên bức tranh về thực trạng văn hóa để đề xuất những kiến nghị và những giải pháp nhằm nâng cao, phát triển đời sống văn hóa các dân tộc trên địa bàn các tỉnh Tây Nam bộ Đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế phát triển cao hơn nhiều vùng trong nước, như Tây Bắc, Tây Nguyên, nhưng tỷ lệ học sinh nhập học của vùng này thấp hơn mức trung bình toàn quốc (59,6% so với 69,8%) Sự phát triển dân trí còn thấp đó đã tác động rất lớn đến việc thực hiện các chính sách xã hội Tất nhiên tình hình đó chắc chắn còn diễn ra ở mức nặng nề hơn đối với bà con dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long Vấn đề này ngoài tâm lý dân tộc, còn có lý do lịch
sử và địa lý khá lâu đời để lại Tập thể tác giả nhận định "Nguy cơ giải thể các gia đình, cùng các tệ nạn xã hội trong đạo đức, trong lối sống đang đe dọa sự tồn tại của các quốc gia "
Trang 10Huỳnh Thanh Quang (luận án tiến sỹ triết học) "Giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Văn hóa Khmer đồng bằng sông Cửu Long bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, với nhiều lĩnh vực đa dạng, phản ánh rõ nét đặc điểm nền văn hóa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước cổ truyền, in đậm dấu ấn Bàlamôn giáo và Phật giáo Tiểu thừa Luận án tiến sỹ này tập trung nghiên cứu một số giá trị
cơ bản của văn hóa Khmer đồng bằng sông Cửu Long, thực trạng việc phát huy giá trị văn hóa Khmer thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng
và một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng
sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay Tác giả nhận định: "(…) trên nhiều
mặt, các giá trị văn hóa dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa được bảo tồn, giữ gìn và phát huy tốt; tính định hướng trong phát huy chưa cao, hiệu quả còn thấp" [53, tr.224] Trong phần kết luận của luận án, tác giả
đưa ra sáu giải pháp cơ bản để phát huy giá trị văn hóa Khmer vùng sông nước Cửu Long Tuy nhiên, chưa thấy tác giả đề cập đến vai trò của báo chí đối với việc bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc Khmer Tây Nam bộ
Về vấn đề báo chí với văn hóa, có nhiều luận văn thạc sỹ đề cập
Nguyễn Thu Liên (1997), Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam, luận văn thạc sỹ báo chí, Học viện Báo chí và tuyên truyền quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Nguyễn Xuyên An Việt (2001), Thông tin về miền núi và dân tộc trên sóng VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam, luận văn thạc sỹ khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội
Đỗ Thanh Phúc (2005), Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hòa Bình, luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng
Trịnh Liên Hà Quyên (2006), Báo Văn hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng, Hà Nội
Trang 11Nhìn chung, các công trình, tác phẩm đều đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa dân tộc Khmer ở nước ta Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu về vai trò của báo chí Bạc Liêu (gồm Báo Bạc Liêu (chữ Việt), Báo Bạc Liêu chữ Khmer và Đài PT-TH Bạc Liêu) đối với việc bảo tồn văn hóa dân tộc Khmer Do vậy,
đề tài của luận văn là một hướng nghiên cứu mới
3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Báo chí Bạc Liêu thực hiện công tác tuyên truyền về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Khmer hiện nay như thế nào ? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác này ? Cần làm gì để công tác này của báo chí Bạc Liêu hiệu quả hơn ?
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Báo chí Bạc Liêu đã quan tâm công tác tuyên truyền về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Khmer hiện, tuy nhiên, hiệu quả tuyên truyền chưa cao Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác này là: chủ trương, quan điểm lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bạc Liêu, cách điều hành, chỉ đạo của lãnh đạo các cơ quan báo chí Bạc Liêu, chất lượng và tâm huyết của đội ngũ người làm báo về lĩnh vực này (phóng viên, biên tập viên, biên dịch viên,
kỹ thuật viên, phát thanh viên), phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ làm báo, sự tham gia của những chuyên gia, cộng đồng người Khmer Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này, những yếu tố trên cần được sửa, bổ sung, như cần quan tâm hơn công tác này, thu nhận người Khmer có đủ điều kiện vào làm báo ở mảng này, người làm báo ở mảng này cũng cần được bồi dưỡng kiến thức văn hóa Khmer, nhất là tiếng nói, chữ viết Khmer, các cơ quan báo chí cần đầu tư trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, đủ
số lượng và tập huấn cho người sử dụng chúng, có chính sách khuyến khích cộng tác viên tham gia viết báo về đề tài này
Trang 124 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Qua khảo sát nội dung, hình thức và hiệu quả thông tin, đánh giá vai trò của báo chí Bạc Liêu trong tuyên truyền về vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc Khmer; từ đó đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm góp phần nâng cao hơn nữa vai trò của báo chí Bạc Liêu trong công tác thông tin, truyên truyền
- Đánh giá vai trò của báo chí Bạc Liêu qua điều tra nội dung, hình thức
và hiệu quả thông tin về vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc Khmer
- Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm góp phần nâng cao hơn nữa vai trò của báo chí Bạc Liêu trong công tác thông tin, tuyên truyền về vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc Khmer
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Báo chí Bạc Liêu đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát Đài PT-TH Bạc Liêu và Báo Bạc Liêu (gồm: Báo Bạc Liêu và Báo Bạc Liêu chữ Khmer) Thời gian khảo sát từ tháng 01 đến hết tháng 12 năm 2014
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn sử dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 13- Đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa và vấn đề tuyên truyền việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tư liệu đề cập đến các lĩnh vực văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đồng bào Khmer và văn hóa nói chung
- Phương pháp phân tích nội dung đối với các tác phẩm báo chí có đề tài về vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đồng bào Khmer trên báo chí Bạc Liêu nhằm nêu ra ưu điểm và hạn chế
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với 200 độc giả nhằm lấy ý kiến về hiệu quả, chất lượng thông tin trên báo chí Bạc Liêu về vấn đề bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa đồng bào Khmer
- Phương pháp phỏng vấn sâu đối với Ban Biên tập, Ban Giám đốc, nhà báo, phóng viên Báo Bạc Liêu và Đài PT-TH Bạc Liêu, trụ trì chùa Khmer để tìm hiểu tình hình hoạt động, đánh giá của họ trong thông tin về vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đồng bào Khmer
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ thêm những nét đặc sắc của dân tộc Khmer, phân tích thực trạng việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer, đóng góp của báo chí Bạc Liêu đối với công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Khmer
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý luận báo chí về chức năng của báo chí đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách về văn hóa hoặc báo chí, cán bộ quản lý báo chí, văn hóa và người làm báo ở tỉnh Bạc Liêu; đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những tác giả nghiên cứu hoặc quan tâm về vấn đề này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 11 tiết
Trang 14Chương 1 VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TUYÊN TRUYỀN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER
TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY
1.1 Khái niệm văn hóa và đặc trưng văn hóa dân tộc Khmer
1.1.1 Khái niệm và một số nét về bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
- Văn hóa: Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất
cả những gì do con người sáng tạo ra Giáo sư Nguyễn Lân định nghĩa “văn
hóa” là “toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần loài người sáng tạo ra
trong quá trình lịch sử và tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt được trong từng giai đoạn về các mặt học vấn, khoa học, kĩ thuật, văn học, nghệ thuật, triết học, đạo đức, sản xuất…” [42, tr.2010-2011]
Kể từ khi xuất hiện đến nay, loài người với sự có mặt và tác động của mình, đã làm cho diện mạo của trái đất và cuộc sống con người có nhiều biến đổi sâu sắc, từng bước chuyển từ hoang sơ lên văn minh, hiện đại Đây là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ trước sức mạnh của tự nhiên cũng như trước các thế lực đen tối trong xã hội Là một bộ phận của giới tự nhiên, nhưng nhờ có tri thức, năng lực và kinh nghiệm tích lũy được trong tiến trình lao động và đấu tranh mà con người đã biết chế ngự giới tự nhiên và cải biến
xã hội, đã tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, làm giàu cuộc sống của mình và thúc đẩy xã hội phát triển Bằng hoạt động thực tiễn, con người đã biết “nhào nặn” giới tự nhiên và cải biến xã hội theo nhu cầu cuộc sống và
“quy luật của cái đẹp”, đã tạo ra một “thiên nhiên thứ hai theo hình ảnh của mình” Có thể nói, toàn bộ những sáng tạo đó chính là văn hóa Sức mạnh văn hóa đã làm cho con người có thêm khả năng chinh phục thiên nhiên, phục vụ tiến bộ xã hội, hạnh phúc con người, tương lai nhân loại
Trang 15Hồ Chí Minh đã viết trong bản thảo “Nhật ký trong tù”:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn
Còn Federico Mayo - Tổng giám đốc UNESCO đã viết trong tạp chí Người đưa tin UNESCO (số 11 năm 1989), như sau:
Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise
Quan niệm của người đứng đầu Tổ chức Văn hóa - Khoa học & Giáo dục của Liên hiệp quốc tương đồng với các nhà văn hóa Việt Nam nêu trên, tức cũng bao gồm cả vật chất và tinh thần do con người tạo nên, có sự chắt lọc qua thời gian, dần trở thành nét đặc trưng của mỗi tộc người, dân tộc, quốc gia
Theo các cách hiểu này, văn hóa là một phạm trù rất rộng Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta hiện nay, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
Trang 16đà bản sắc dân tộc” khi đề cập đến phạm vi của văn hoá đã cụ thể thành 8
lĩnh vực lớn, đó là: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; di sản văn hoá; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hoá với thế giới; thể chế và thiết chế văn hoá Đảng ta, ngay từ khi ra đời
đã ý thức rõ về vai trò và sức mạnh to lớn của văn hóa, đã coi văn hóa là một trong những mục tiêu và động lực cơ bản của cách mạng Việt Nam
1.1.1.2 Khái niệm bản sắc văn hóa
Trong thế giới có vô vàn sự vật và hiện tượng, mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính chung và riêng Nhờ các đối tượng có những thuộc tính chung mà chúng ta thấy được sự giống nhau giữa sự vật này với sự vật khác Và cũng nhờ mỗi đối tượng có những thuộc tính riêng mà chúng ta phân biệt được sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác
Theo nghĩa ban đầu, “bản của một sự vật” là cái gốc, cái căn bản, cái
cốt lõi, cái hạt nhân, của sự vật; còn “sắc của một sự vật” là cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật đó Một số tác giả cho rằng, bản sắc là màu sắc, tính chất
riêng tạo thành đặc điểm chính của đối tượng, sự vật hoặc là tính chất đặc biệt vốn có tạo thành phẩm cách riêng của đối tượng, sự vật ấy Như vậy, theo các
ý kiến này, bản sắc của một sự vật là những đặc điểm riêng biệt chỉ có ở đối tượng, sự vật ấy
Mỗi sự vật có nhiều đặc điểm, trong đó có những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng, những đặc điểm cơ bản và những đặc điểm không cơ bản Những đặc điểm cơ bản của một sự vật chính là bản sắc của sự vật ấy Nói đến bản sắc của mỗi sự vật trước hết là nói đến đặc điểm riêng của sự vật
ấy, song đặc điểm riêng gắn bó chặt chẽ với đặc điểm chung Do đó, “bản sắc
của một đối tượng, sự vật nào đó cần được hiểu là tập hợp những đặc điểm
cơ bản của sự vật ấy mà qua đó ta biết được sự giống nhau và khác nhau giữa sự vật ấy với các sự vật khác trong thế giới”
Còn tác giả Hoàng Xuân Lương lại đưa ra định nghĩa “Bản sắc văn
hóa dân tộc là những giá trị vật chất tinh thần cô đọng nhất, bền vững nhất,
Trang 17tinh túy nhất, là sắc thái gốc, riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho dân tộc này không thể lẫn với dân tộc khác” [43, tr.13] Bản sắc văn hóa dân tộc không
phải là cái gì quá trừu tượng, khó thấy Bản sắc văn hóa dân tộc được hiển lộ
ra trong đời sống hằng ngày của cộng đồng dân tộc Qua những “bản sắc văn hóa dân tộc”, chúng ta có thể nhận diện được cộng đồng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác Tuy nhiên, không dễ dàng để kể ra đầy đủ mọi đặc điểm của bản sắc văn hóa của một dân tộc; do vậy khó có thể quy bản sắc văn hóa của một dân tộc nào đó vào “một cái gì đó”
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, “bản sắc dân tộc bao
gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước” Bản sắc dân tộc cũng có thể được hiểu là bản sắc văn hóa dân tộc nếu
văn hóa được hiểu theo nghĩa là: “Ở đâu có con người là ở đó có văn hóa, ở
đâu có hoạt động của con người là có nhân tố văn hóa hiện đại, biểu hiện hoặc ẩn tàng bản sắc dân tộc”
Từ cách tiếp cận trên cho thấy, bản sắc văn hóa của một dân tộc bao gồm những đặc điểm cơ bản của dân tộc ấy, qua đó chúng ta có thể biết được dân tộc đó giống và khác thế nào với các dân tộc khác trong một thế giới đa dân tộc
Theo quan niệm trên, bản sắc văn hóa của một dân tộc nào đó không chỉ bao gồm những đặc điểm riêng có ở dân tộc ấy mà còn gồm những đặc điểm chung của nhiều dân tộc khác Trong bản sắc văn hóa dân tộc có nhiều đặc điểm tiếp tục được khẳng định, bổ sung phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển, song cũng có những đặc điểm không còn phù hợp sẽ bị loại bỏ Theo quy luật phát triển, những đặc điểm tích cực, phù hợp của bản sắc văn hóa dân tộc sẽ ngày càng nhiều hơn về số lượng và có ý nghĩa sâu sắc hơn về chất lượng
1.1.1.3 Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ « bảo tồn » và « phát huy » Bảo tồn di sản, tinh hoa văn hóa được hiểu là các nỗ lực nhằm bảo vệ
Trang 18và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó Khái niệm
« bảo vệ » được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động
tổ chức, quản lý, giữ gìn, đặc biệt là xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực bảo vệ của các di sản Bảo tồn cũng bao hàm các hoạt động khác như tu sửa, tôn tạo, bảo quản, gia cố, nhằm duy trì tính nguyên gốc và sự toàn vẹn của các di sản
« Phát huy » trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản, tinh hoa văn hóa trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm ; đồng thời, khái niệm « phát huy » cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác, tuy nhiên, nếu sử dụng từ « khai thác » thay cho « phát huy » di sản văn hóa thì sẽ
bị hiểu quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng
Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản, tựu trung trên thế giới
có 2 quan điểm: bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa Những
người theo quan điểm bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá
khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi
môi trường xã hội đương đại Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì
được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản Quan điểm này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian
cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa – xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ
đi những gì không phù hợp với xã hội ấy
1.1.2 Đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc Khmer
Về vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, châu thổ này có diện tích trên 40.000 km2, chiếm 12% diện tích cả nước, dân số gần 18 triệu người, chiếm 20% so với dân số cả nước (tính đến tháng 3 năm 2015) Đồng bào dân
Trang 19tộc thiểu số ở vùng Tây Nam bộ khoảng 1,4 triệu người, trong đó dân tộc Khmer đông nhất, với hơn 1,3 triệu người Cộng đồng dân tộc Khmer Nam bộ
có một tiến trình hình thành và phát triển hết sức độc đáo, riêng biệt Hoàn cảnh
xã hội, điều kiện tự nhiên và những bước thăng trầm lịch sử xã hội đã hun đúc, tinh luyện nên những giá trị văn hóa đặc sắc của người Khmer Đó là những phong tục, tập quán, truyền thống hàng ngày của mỗi người dân, biểu hiện rất cụ thể trong cuộc sống sinh hoạt, văn thơ, điệu múa, lời hát, công trình, kiến trúc, trang phục, nhà ở,… tạo nên một sắc thái riêng, bản lĩnh riêng, phong cách riêng của người Khmer được khái quát thành bản sắc văn hóa dân tộc Khmer Nói một
cách khác, " bản sắc văn hóa Khmer là những biểu hiện cơ bản nhất, đặc sắc
nhất về tinh thần, về vật chất của người Khmer"
- Văn hóa vật thể:
+ Người Khmer sống trên những dải đất cát phù sa chạy dài (đất giồng) hoặc gò, tạo thành những phum, sóc Ở những gò nhỏ, số dân định cư có thể chục hộ hoặc vài chục, trên dưới khoảng một ấp; còn những giồng lớn số dân
có thể nhiều hơn, đến cả xã hoặc vài xã Để tránh nước lên trong mùa nước
đổ, nước lụt, diễn ra hằng năm khoảng tháng bảy âm lịch kéo dài cho đến tháng mười, mười một, những cư dân người Khmer có mặt sớm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long buộc phải chọn những vùng đất cao để định cư, cất nhà;
họ không thể trụ được ở vùng đất thấp Vả lại, họ cũng cần trú ngụ ở những nơi cao ráo có những rừng cổ thụ phát triển lâu năm trên những giồng, gò giúp họ có môi trường sống tốt nhằm chống chọi với nắng gió phương Nam Ngoài ra, họ còn chọn định cư ven hai bên bờ sông, kinh, rạch, gần núi thì ven chân núi, gần đường thì hai bên lộ Một số ít, định cư tại ruộng rẫy của mình Người Khmer trước đây thường ở nhà sàn Thậm chí, dù định cư trên đất giồng, gò, họ cũng chọn hình thức cất nhà trên mặt sàn được kê trên những đầu trụ cao, vừa tránh nước đổ của sông Mêkông chảy
từ thượng nguồn về biển hằng năm, vừa tránh thú dữ có trên những giồng
Trang 20cây cối rậm rạp lại sạch sẽ và thoáng mát hơn Lâu dần, khuynh hướng này trở thành tập quán Như vậy, đặc điểm “nhà” (nhà sàn) là nét đặc trưng đầu tiên cần ghi nhận nơi đồng bào người Khmer Ngày nay, loại nhà sàn (cao cẳng) ít thông dụng
Đối với người Khmer, tập hợp các “nóc gia” hay các hộ gia đình lại tùy vào số lượng lớn nhỏ mà có không gian “làng, xã” (phum, sóc) Người Khmer
đa phần theo Phật giáo Tiểu thừa, nên nói tới không gian phum, sóc không thể thiếu không gian chùa
Chùa Khmer thường nằm trên một khu đất rộng, có cây cối lớn bao quanh Chùa thường là một tổng thể kiến trúc, có hàng rào bao quanh Qua hàng rào có cổng vào Cổng chùa ngày nay được làm to lớn, có mái che, có tháp, tượng, hoa văn, tên chùa bằng tiếng Phạn, tiếng Khmer Trong khuôn viên nhà chùa có chánh điện, sala, tăng xá, liêu, nhà thiêu và tháp để cốt,… Nhìn chung, “không gian chùa là tập hợp công trình có tính mỹ thuật văn hóa
mà người Khmer góp vào kho tàng văn hóa chung của người Nam bộ”
+ Y phục: đặc thù của họ là chiếc váy - “xàm pốt” cho nữ và “xà rông” cho nam Đây là một loại quần được vấn từ thắt lưng xuống đến ống chân, có nhiều hoa văn, họa tiết, màu trông sặc sỡ Trong sinh hoạt, chiếc “khăn rằn” là một sản phẩm đặc biệt được ba dân tộc Khmer, Kinh, Hoa ở Nam bộ yêu thích
+ Về món ăn, người Khmer góp vào nhóm món ăn Nam bộ được nhiều người ưa thích có “bún nước lèo”, được nấu từ mắm bồ hóc (pro hóc), canh
Trang 21“xiêm-lo” - canh chua được nấu từ các loại khô, “cốm dẹp” được chế biến như một món xôi ăn sáng độc đáo,…
- Văn hóa phi vật thể của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có một số nội dung đặc trưng:
+ Về phong tục - tập quán, có lễ cưới, lễ tang ma Ngày nay, lễ cưới của người Khmer cũng đã giản lược đi nhiều Nhưng nếu là một lễ cưới truyền thống thì có các bước rất chi tiết cho từng giai đoạn hôn lễ Giai đoạn tiền hôn nhân có các phần việc: viếng thăm, đặt vấn đề hôn nhân, tìm hiểu gia đình, tuổi tác,…, chọn ngày tổ chức lễ hỏi, lễ cưới Giai đoạn hôn lễ có các nghi thức: nhà trai đưa lễ vật sang nhà gái, lễ mở cổng rào, các lễ phụ mang yếu tố tín ngưỡng dân gian, lễ cầu phúc, lễ cắt bông cau, lễ buộc chỉ tay, lễ chia nước dừa,…
Lễ tang ma của người Khmer cũng có nhiều tục lệ phức tạp Để tổ chức tang lễ, thông thường nhà người quá cố phải mời một “Achar” thành thạo nghi thức tang lễ, gọi là “Achar Yuki” đứng ra chỉ bảo, làm các nghi thức: tẩn liệm, cúng bái, cầu siêu, cầu phúc, di quan,… Người Khmer chọn hình thức “hỏa táng”, là hình thức chôn người chết mà hiện nay do nhiều yêu cầu xã hội đặt ra, hình thức này lại đang được khuyến khích
+ Về văn hóa tâm linh, người Khmer theo hai tôn giáo chính là Bàlamôn giáo, trước đây và hiện nay là Phật giáo Nam tông Có 87% người Khmer theo Phật giáo, còn lại theo Công giáo, Tin lành và các tôn giáo khác
Ngoài ra, người Khmer còn hình thức tín ngưỡng dân gian được lưu giữ qua một số hình thức lễ ở các ngày vào năm mới - Tết Chôl Chnăm Thmây như: ngày Chôl Sâng-kran Thmây, ngày Vônabat, ngày Lơng Sak… Tết Chôl Chnăm Thmây như Tết Nguyên đán của người Kinh, diễn ra vào các ngày 13,
14, 15 tháng 4 dương lịch Thường có 3 ngày tết nhưng năm nhuận thì tết 4 ngày Đây là tết chịu tuổi của người Khmer nên những ngày này, người Khmer cũng tổ chức tết trang trọng như tết người Kinh
Trang 22Lễ cúng trăng (lễ đút cốm dẹp) - Óoc Ombóc vào ngày 15/10 âm lịch hằng năm, thời điểm chia hai mùa trong năm để làm ruộng Lễ cúng ông bà (lễ Sen Đôn Ta) là lễ hội mang đậm chất dân gian, được tổ chức vào 3 ngày,
từ 29/8 đến 1/9 âm lịch để tưởng nhớ đến công ơn ông bà, cha mẹ, dòng họ; tạ
ơn những người còn sống và cầu phước cho những người đã mất; tạo tình đoàn kết trong xóm làng, bạn bè thân thích
Trong các lễ lớn, thường có hai cuộc hội thu hút không chỉ đồng bào Khmer mà còn cả đồng bào các dân tộc khác như Kinh, Hoa là “đua ghe ngor” (ngo) và đua bò Đây là hai cuộc đua đã góp phần làm cho các ngày lễ thêm phần sôi động và hai cuộc đua này đã đi vào kho tàng văn hóa Nam bộ như một nét bản sắc trong lễ hội của đồng bào Khmer
+ Đua ghe ngo thường được tổ chức vào dịp lễ Óoc Ombóc trên các sông, kinh thuộc các tỉnh, thành phố Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ,… Thường các cuộc đua có nhiều ghe ngo từ các địa phương trong tỉnh hoặc nhiều tỉnh về tham dự Đua ghe ngo đã
ăn sâu những ấn tượng đẹp vào tiềm thức của nhiều người dân Nam bộ, không riêng gì người Khmer
+ Về đua bò ở vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang, những người đua bò ngoài sự dũng cảm, mưu trí, còn đòi hỏi họ cả năm trời phải chăm sóc, và tập luyện đôi bò đua của mình hết sức chu đáo, cẩn thận Từ xa xưa, đa phần người Khmer ở An Giang sống dưới các chân núi, làm ruộng, con bò gắn bó chặt với nghề nông của họ
+ Về sân khấu, Rôbăm là loại hình sân khấu cổ truyền của người Khmer còn lưu truyền đến ngày nay Rôbăm diễn những vở chuyện cung đình hoặc truyền thuyết mang màu sắc thần thoại từ anh hùng ca Ramayana và Mahabharata của Ấn Độ Rôbăm lấy ngôn ngữ múa làm phương cách diễn đạt nội dung Yukê (dù kê) của người Khmer còn gọi là kịch hát vùng Bassac (sông Hậu), là loại hình kịch hát có sự “tiếp thu” tổng hợp từ sân khấu Rôbăm
Trang 23đã được dân gian hóa kết hợp với hát tiều, hát Quảng của người Hoa với hát Bội, hát Cải lương của người Kinh Nhận định Yukê, ông Nguyễn Mạnh
Cường viết: “Hầu hết các vở tuồng Yukê thấm nhuần tính luân lý, đề cao
quan điểm “ở hiền gặp lành”, thể hiện rõ giá trị nhân bản và tính nhân văn của một cộng đồng người với tâm thế luôn luôn hướng thiện…” [15, tr.217]
1.2 Tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Việt Nam
Thấm nhuần tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nam Bộ nói riêng Hơn một năm rưỡi sau ngày đất nước thống nhất, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng (12/1976) đã ra Nghị quyết có đề cập đến vấn đề văn hóa dân tộc
Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam (…) Để thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, vấn đề mấu chốt là đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và văn hóa ở các vùng dân tộc (…) Giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, những truyền thống văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của các dân tộc ít người; lãnh đạo, hướng dẫn đồng bào các dân tộc xây dựng nếp sống mới [22, tr.25]
Nhận thức rõ vấn đề trên, đã có rất nhiều Chỉ thị, Nghị quyết,… về lĩnh vực văn hóa được ban bố và thực hiện, nhất là từ khi Đảng ta khởi xướng và thực hiện công cuộc đổi mới đã có những chính sách cụ thể về lĩnh vực này:
- “Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số”
- “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”
Trang 24- “Tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hoá các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hoá Việt Nam”
- “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu
số phù hợp với tình hình thực tế (…) Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc”
Do tính đặc thù của đồng bào Khmer, ngày 18/4/1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer Các Bộ, ngành và địa phương thực hiện Chỉ thị số 68-CT/TW liên quan đến Phật giáo Nam tông Khmer đạt được kết quả như: Thành lập Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước 03 cấp từ tỉnh đến cơ sở tại 8/9 tỉnh, thành phố vùng Tây Nam Bộ có chùa Phật giáo Nam tông và có đông đồng bào Khmer sinh sống; công nhận 5 chùa di tích cấp quốc gia, 11 chùa di tích cấp tỉnh; ghi công, khen thưởng 139 chùa và nhiều chức sắc, chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer có công với cách mạng qua các thời kỳ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; hỗ trợ 150 chùa sửa chữa, trùng tu khang trang hơn trước
Năm 1994, Nhà nước thành lập Trường Bổ túc văn hóa - trung cấp Pali Nam Bộ đặt tại tỉnh Sóc Trăng Đến nay trường đã đào tạo được 17 khóa với trên 1.500 tăng sinh, cơ sở vật chất đảm bảo dạy và học Từ một cơ sở nhỏ ban đầu, nay trường đã có cơ ngơi khang trang, hệ thống trường lớp sạch đẹp trong khuôn viên chùa Khléang (phường 6, TP Sóc Trăng), với các hạng mục như: khu hiệu bộ, các phòng học, phòng thí nghiệm, nhà ăn, ký túc xá,… để phục vụ công tác đào tạo hàng trăm tăng sinh, học viên đáp ứng yêu cầu công việc ở mỗi địa phương
Ngày 05/02/2008, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số TTg “về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã
Trang 2526/2008/QĐ-hội đối với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010”, trong đó có nội dung: (1) hỗ trợ kinh phí để giáo viên, kể cả các vị sư trực tiếp giảng dạy chữ Khmer, (2) hỗ trợ các chùa Phật giáo Nam tông Khmer xây dựng lò hỏa táng vừa đúng với phong tục tập quán, vừa đảm bảo
vệ sinh môi trường Chính sách dạy và học chữ Khmer trong hệ thống trường công lập tại các điểm trường có đông học sinh dân tộc Khmer Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn, phổ biến sách giáo khoa từ lớp 3 đến lớp 9 Ngoài ra, hàng năm trong dịp hè, ngành giáo dục phối hợp với Hội đoàn kết
sư sãi yêu nước tổ chức dạy chữ Khmer tại hầu hết các điểm chùa Tổ chức bồi dưỡng giáo viên dạy chữ Khmer tại trường cao đẳng sư phạm ở một số tỉnh có điều kiện (Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang) Hình thành Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ cấp cao đẳng tại Trường Đại học Trà Vinh
Nhiều chương trình giải trí, truyền hình tiếng Khmer được xây dựng
và hoạt động có hiệu quả như: Chương trình truyền hình tiếng Khmer thuộc Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ; chương trình phát thanh tiếng Khmer thuộc Cơ quan Thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực ĐBSCL; chương trình phát thanh, truyền hình tiếng Khmer cấp tỉnh, thành phố gồm: Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang Bên cạnh đó, còn có các tờ báo Khmer ngữ ở các tỉnh: Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang
Bên cạnh các chính sách đặc thù trên, trong thời gian qua có nhiều chính sách áp dụng trong phạm vi cả nước, đồng bào dân tộc Khmer cũng được thụ hưởng Các Bộ, ngành và địa phương đã và đang triển khai thực hiện đạt được một số kết quả nhất định Một số chính sách cụ thể như:
- Chính sách cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn
Trang 26- Chính sách đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh thuộc miền Bắc và miền Trung, vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyển
- Chính sách cử tuyển vào cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
- Chính sách dự bị đại học dành cho học sinh dân tộc thiểu số có điểm thi tuyển cấp quốc gia thấp hơn điểm sàn, qua 1 năm dự bị, sẽ được bố trí vào các trường đại học theo ngành học mà học sinh thi tuyển Chính sách này áp dụng từ năm 1991, mỗi năm, học sinh dân tộc Khmer được tham gia các lớp
dự bị đại học trung bình 1.000 học sinh
- Chính sách đối với trường phổ thông dân tộc nội trú Đây là chính sách chung trong vùng dân tộc thiểu số áp dụng trong phạm vi cả nước từ năm
1993, đến nay đã 22 năm Đối với vùng dân tộc Khmer, theo số liệu năm học
2010 - 2011, cả vùng có 26 điểm trường, với 220 lớp học và 6.917 học sinh
- Chính sách phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010
- Chính sách phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011 - 2015
Nhìn chung, thời gian qua đã có nhiều chính sách của Nhà nước nhằm góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới đối với đồng bào Khmer vùng Tây Nam bộ Các chính sách này bước đầu đã mang lại những hiệu quả thiết thực, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, dân tộc Khmer vùng Tây Nam bộ vẫn còn đối mặt với những khó khăn thách thức Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có nơi còn yếu kém, có mặt chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp Đời sống của một bộ nhân dân còn gặp khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer còn cao (chiếm 24,48% so với tổng số hộ dân tộc Khmer) Mặt bằng dân trí còn
Trang 27thấp so với các vùng miền trong cả nước Chất lượng nguồn nhân lực có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là những nhân tố cản trở lớn trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới của đồng bào Khmer vùng Tây Nam bộ
1.2.2 Ý nghĩa của vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer
Từ hoàn cảnh xã hội và lịch sử tộc người xa xưa, có thể thấy một số đặc trưng nổi bật của văn hóa Khmer như sau: để tránh họa “diệt tộc” bởi những cuộc chiến tranh giữa các vương triều phong kiến đương thời, người Khmer
đã phải trôi dạt, lưu tán về những vùng đất chưa có dấu chân người, chưa có chủ quyền để tiếp tục tồn tại,… Vùng đất đó chính là đồng bằng sông Cửu Long Chính từ nơi đây, đời sống của người Khmer đã gắn liền với hoạt động nông nghiệp, với đồng ruộng, sông rạch và hình thành nên những giá trị văn hóa tiêu biểu của cư dân nông nghiệp, bao gồm: văn hóa của sự thích nghi hoàn cảnh, văn hóa của sự ứng phó với những biến động của tự nhiên, văn hóa của sự tận dụng môi trường chung quanh, văn hóa của sự khai thác điều kiện sống,… Tất cả cô đọng lại, tạo nên: Sự gắn bó, thích nghi với môi trường thiên nhiên - được phản ánh qua tinh thần yêu thiên nhiên, các làn điệu dân
ca, múa hát, cách ăn, mặc, ở, hoạt động kinh tế và cả trong những lễ thức, phong tục tập quán tộc người Đó là sự thể hiện những đặc trưng rất cơ bản của tộc người Khmer và văn hóa Khmer
Một yếu tố khác cũng đặc sắc không kém và đủ để khái quát lên thành giá trị bản sắc dân tộc thứ hai, là đời sống tâm linh gắn liền với cuộc sống hiện hữu - có thể nói Phật giáo Nam tông là tôn giáo duy nhất chi phối toàn
bộ đời sống văn hóa của cộng đồng, đó là chất keo gắn kết mọi thành viên trong cộng đồng lại với nhau, cùng hướng đến những giá trị chân, thiện,
mỹ ở cõi “vĩnh hằng” Lòng hướng thiện là nét đặc trưng rất nhân bản đã tồn tại và phát triển trong cộng đồng Khmer từ xưa cho đến nay Cái đa
Trang 28dạng, phong phú của đời sống tâm linh với niềm tin và hệ thống giáo lý răn dạy con người ăn ngay, ở thẳng với đời để được siêu thoát đã trở thành thuần phong, mỹ tục, có sức mạnh cố kết cộng đồng theo suốt chiều dài lịch sử Tâm lý và tập tục của người Khmer được sản sinh từ những giá trị văn hóa tôn giáo và trở thành bản sắc của người Khmer Những phẩm chất, đức tính quý báu đó, chúng ta có thể tìm thấy ở bất cứ đâu trong đời sống
xã hội Khmer hay trong bất kỳ tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc,… trong kho tàng văn hóa dân gian Khmer Người ta có thể nhận biết ngay cả triết lý sống trong phong tục, tập quán, lối sống, các mối quan hệ hàng ngày của người Khmer Nam bộ
Cho nên cần “có kế hoạch bảo tồn, khai thác và phát huy vốn văn hóa dân tộc Khơ me” Để làm tốt công tác này phải huy động sức mạnh của toàn
xã hội nhằm phát triển văn hóa dân tộc Khmer, góp phần để văn hóa thực sự
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào Khmer, đi cùng với đó là khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa
Xây dựng và phát triển, giữ gìn và phát huy văn hóa Khmer gắn bó chặt chẽ nhau trong chiến lược văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là để tiếp cận với thế giới một cách nhanh hơn, học tập điểm mạnh của các nền văn hóa khác một cách tốt hơn, tiếp thu văn hóa nhân loại, thông qua tính dân tộc để thu lượm, sàng lọc tính thời đại, tính thế giới Trong công cuộc này, phải để người Khmer là chủ thể văn hóa của chính
họ Chủ thể văn hóa, cộng đồng kế thừa và thực hành văn hóa có một vai trò
to lớn và là nhân tố quyết định trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Trang 291.3 Vai trò của báo chí trong công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề bảo tồn văn hóa Khmer hiện nay
1.3.1 Vai trò, nhiệm vụ của báo chí nói chung
Báo chí là một hình thái có tính xã hội cao, tính tư tưởng và khuynh hướng rõ rệt Cũng như tất cả các hình thái ý thức - xã hội khác, báo chí có những đặc trưng riêng Chính những đặc trưng ấy đã quy định tính chất, mức
độ và chức năng phản ánh hiện thực của nó Đứng trước một thế giới hiện
thực chứa đầy thông tin, báo chí có những cách thức riêng với mục đích nhằm
tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu không giống nhau Hiện nay, báo chí là một hoạt động thông tin đại chúng nhất, năng động nhất
Sinh thời, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều xem báo chí là vũ khí, là tiền đồn của trận địa tư tưởng mà giai cấp vô sản cần phải nắm và sử dụng có hiệu quả trong đấu tranh Lý luận báo chí ở thời kỳ hoạt động của C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh đến chức năng phê phán xã hội do yêu cầu chính trị cần lật đổ chế độ tư bản
Trong hy vọng và lo lắng, có điều gì báo chí nghe được ở cuộc sống, báo chí sẽ lớn tiếng loan tin cho mọi người đều biết, báo chí tuyên
bố sự phán xét của mình đối với những tin tức đó - một cách gay gắt, hăng say, phiến diện, như những tình cảm và tư tưởng bị xúc động thầm bảo nó vào lúc đó [45, tr.237]
Đến thời kỳ của Lênin, khi cách mạng vô sản đã thành công, thì nhiệm
vụ xây dựng xã hội mới lại trở nên bức thiết Không chỉ phê phán mà phải biết góp phần xây dựng xã hội mới Những luận điểm mới về lý luận báo chí được bổ sung thêm, vai trò tờ báo không chỉ đóng khung ở chỗ phổ biến tư tưởng, giáo dục chính trị và thu hút những bạn đồng minh chính trị Tờ báo không những chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể Ý tưởng đó có cơ sở ở thời kỳ lịch sử mới, giai cấp vô sản đã nắm chính quyền và có trách nhiệm tổ chức xã hội
Trang 30Ở Việt Nam, nền báo chí cách mạng hình thành từ năm 1925 khi tờ Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc lập ra đời Dưới chế độ thực dân phong kiến, báo chí cách mạng phải hoạt động trong điều kiện bị cấm đoán nhưng đã phát huy tinh thần phê phán, đấu tranh chống lại chế độ thống trị Từ sau cách mạng Tháng Tám, báo chí phục vụ cho dân tộc trong hai cuộc chiến tranh cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cứu nước Báo chí chính là khâu xung yếu nhất của trận địa đấu tranh tư tưởng nên luôn được xem là vũ khí tiến công Ngòi bút là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà
Bước sang thời kỳ đổi mới, báo chí cách mạng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Đảng
một lần nữa xác định: “Báo chí của ta là vũ khí sắc bén của Đảng để làm
công tác tư tưởng và công tác tổ chức, là công cụ để thực hành chuyên chính
vô sản, thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân” Báo chí nước ta đã
không phụ niềm tin của Đảng, Nhà nước Báo chí (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử) đã thông tin nhanh, phong phú, đang dạng, nhiều chiều theo định hướng chính trị của Đảng, đã phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Đồng thời phản ánh nguyện vọng chính đáng và ý kiến xây dựng của nhân dân Báo chí đã giới thiệu những nhân tố tích cực, khẳng định những thành tựu đổi mới và con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn, chống những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, buôn lậu, những hành vi ức hiếp nhân dân, phê phán những quan điểm sai trái, chống những luận điệu thù địch
Vài thập niên trở lại đây, tiếng nói của nhân dân xuất hiện trên báo chí thêm nhiều Cách đưa tin một chiều không còn hợp nữa Báo chí không chỉ nói “ý Đảng” mà còn phản ánh “lòng dân”, tâm trạng xã hội, là kênh thông tin
“ngược” giúp Đảng, Nhà nước lãnh đạo, điều hành quốc gia hữu hiệu hơn Trong Quyết định số 87-QĐ/TW ngày 13/7/1994, Ban Bí thư Trung ương xác định báo chí:
Trang 31Là diễn đàn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phản ánh trung thực ý chí và nguyện vọng chính đáng của đông đảo nhân dân; từ những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, góp phần vào việc kiểm nghiệm, bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Báo chí đã phục vụ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Báo chí có tính chiến đấu cao, động viên, cổ vũ toàn dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chống sự chệch hướng, phê phán kịp thời các quan điểm sai trái, đấu tranh kiên quyết chống tham nhũng, buôn lậu,…, chống các âm mưu và thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch
Vừa qua, Ban cán sự đảng Chính phủ trình Ban chấp hành Trung ương khóa XI xem xét tại Hội nghị lần thứ mười (từ 5-12/01/2015 tại Hà Nội) Đề
án quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 Đề án đánh giá trong 10 năm qua, hệ thống báo chí nước ta phát triển nhanh về số lượng và loại hình Nội dung thông tin báo chí ngày càng phong phú, đa dạng Các cơ quan báo chí đã cơ bản làm tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân; tuyên truyền và động viên toàn
xã hội ủng hộ, tham gia tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đồng thuận xã hội, góp phần nâng cao dân trí, đời sống văn hóa, tinh
thần của nhân dân “Báo chí đã phản ánh kịp thời diễn biến mọi mặt của đời
sống xã hội; phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; phát hiện và cổ vũ các nhân tố mới, điển hình tiên tiến và những thành tựu của công cuộc đổi mới”
Trang 321.3.2 Báo chí có vai trò quan trọng trong thông tin tuyên truyền về vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Khẳng định việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, “đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định “Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng
và sự kiên trì thận trọng” Trong sự nghiệp cách mạng này, báo chí giữ vai trò quan trọng “Các cơ quan truyền thông phải (…) nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Truyền thông về chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một phần của nhiệm vụ này của báo chí Báo chí còn giới thiệu quảng bá các sản phẩm văn học - nghệ thuật và các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc thiểu số, đặc biệt chú trọng nêu gương nghệ nhân, nghệ sỹ, nhà hoạt động văn hóa tiêu biểu là người dân tộc thiểu số
Việt Nam hiện đã hội nhập sâu rộng vào các tổ chức khu vực và quốc
tế Nước ta không còn đứng ngoài dòng chảy chung của thế giới - có tên gọi toàn cầu hóa Toàn cầu hóa là tiến trình tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sản phẩm tinh thần và vật chất của các quốc gia khác nhau, tạo nên một giá trị hoặc hệ thống giá trị chung, có tính phổ quát mang tính toàn cầu
Văn hóa Việt Nam “xuất” sang nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, được bạn
bè năm châu biết đến Ngược lại, văn hóa các nước khác cũng “nhập” vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau Sự giao thoa, tiếp biến, va chạm, xung đột giữa văn hóa nội và văn hóa ngoại là chuyện không thể đảo ngược
Vì vậy, báo chí ngày càng thể hiện vai trò lớn trong công tác tuyên truyền về thời cơ và thách thức của văn hóa dân tộc trước xu hướng toàn cầu hóa
Trang 33Toàn cầu hóa mang đến cho các quốc gia những giá trị văn minh có tính phổ quát của nhân loại, với các nước kém phát triển thì góp phần giúp nâng cao trình độ văn minh, làm hiện đại hóa nền văn hóa Đồng thời cũng chính toàn cầu hóa đưa văn hóa các dân tộc vượt khỏi biên giới, giới thiệu và khẳng định những nét bản địa không trộn lẫn, làm phong phú nền văn hóa thế giới Ngày nay, khi mà xa lộ Internet đã xóa bỏ mọi giới hạn về không gian địa lý, việc đưa những tác phẩm văn học, nghệ thuật, di sản văn hóa,… lên mạng và số hóa đã là một phương thức mà các quốc gia triệt để sử dụng
Toàn cầu hóa cũng đặt ra nhiều thách thức cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, trong đó có Việt Nam Đó là nguy cơ phân hóa giàu nghèo sâu sắc, sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa, nhân cách bị bào mòn, bản lĩnh dân tộc bị nhào nặn, bản sắc văn hóa dân tộc bị biến tướng, những mặt trái của đời sống ích kỷ, thực dụng, phi nhân tính hoành hành,… Gần đây, những cuộc chiến tranh, xung đột giữa các quốc gia, dân tộc, tôn giáo nổ ra gay gắt có những nguyên nhân sâu xa từ sự xung đột của nền văn hóa, văn minh, của sự đối đầu quyết liệt về văn hóa Có thể nói, với toàn cầu hóa, thế giới dường như không còn phân biệt rõ ràng biên giới, mà thế giới cởi mở và liên kết hơn, nhưng thế giới lại cũng dễ xảy ra xung đột hơn với các biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tệ phân biệt chủng tộc và sự thiếu khoan dung
Như vậy, tỉnh táo nhận thức những gì là tinh hoa văn hóa nhân loại, những gì là phản giá trị, nỗ lực gạn đục, khơi trong, để các dân tộc vững bước trên con đường hội nhập sâu rộng là điều vô cùng cần thiết Báo chí sẽ góp sức giúp người dân, nhà quản lý, điều hành quốc gia nhận thức những điều này Hơn bao giờ hết, trên chuyến tàu tăng tốc của thế kỷ XXI này, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều ý thức được việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nếu không muốn nói là sống còn, quyết định sự phát triển bền vững của dân tộc, quốc gia đó, bên cạnh nhiều hành trang khác (nguồn nhân lực, trí tuệ, cơ chế chính sách, điều hành vĩ mô
Trang 34của nhà nước,…) Văn hóa không chỉ làm nên động lực cho sự phát triển kinh
tế - xã hội, mà còn là vấn đề chính trị và sự tồn vong của một đất nước Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc chính là tạo ra liều thuốc đề kháng hữu hiệu trước những phản văn hóa, giá trị từ bên ngoài
Ngoài ra, báo chí còn nêu cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc, đi đôi với đó là mạnh dạn, cương quyết phê phán, đấu tranh với những hành vi tiêu cực đối với việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã làm rõ hệ thống các khái niệm được đề cập tới trong đề tài luận văn, đồng thời tìm hiểu về các giá trị văn hóa Khmer Nam bộ, những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bạc Liêu về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Khmer hiện nay Cũng trong chương này, chúng tôi có tìm hiểu khái quát về 2 cơ quan báo chí là Báo Bạc Liêu và Đài PT-TH Bạc Liêu mà chúng tôi khảo sát trong năm 2014 Đây là những thông tin cần thiết phục vụ cho việc khảo sát thực trạng công tác tuyên truyền về bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa Khmer trên báo chí tỉnh Bạc Liêu mà chúng tôi triển khai ở chương 2
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO CHÍ BẠC LIÊU THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN
VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER HIỆN NAY
2.1 Giới thiệu về báo chí Bạc Liêu
Báo chí cách mạng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Báo chí Bạc Liêu là một bộ phận không thể tách rời của nền báo chí cách mạng Việt Nam và chảy cùng dòng chảy lịch sử chung đó Ông La Thanh Việt, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Bạc Liêu tại Hội thảo 68 năm báo chí Bạc Liêu hình thành và phát triển (1947 – 2015) đã đánh giá: báo chí Bạc Liêu xứng đáng với vai trò là cơ quan thông tin, là tiếng nói của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân, thời gian qua đã làm tốt việc chuyển tải thông tin nhiều chiều đáp ứng nhu cầu nhận thức của xã hội, thực hiện quyền được thông tin của công dân mà pháp luật ghi nhận
Tỉnh Bạc Liêu có 3 cơ quan báo chí: Báo Bạc Liêu, Đài PT-TH Bạc Liêu và Tạp chí Văn hóa - Văn nghệ Bạc Liêu (thuộc Liên hiệp Các hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh) Trong luận văn này, chúng tôi giới thiệu khái quát về 2
cơ quan báo chí thuộc phạm vi khảo sát
Về Báo Bạc Liêu
Báo Bạc Liêu có lịch sử phát triển lâu đời, ra đời rất sớm so với nhiều
tờ báo trong nước Tiền thân của Báo Bạc Liêu là tờ báo Chiến, số ra đầu tiên vào ngày 01/01/1947 tại làng Tân Duyệt, quận Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu (nay là
xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau) Hiện nay Báo Bạc Liêu có 45 cán bộ, phóng viên, nhân viên Từ ngày 15/4/2007, xuất bản thêm ấn phẩm Báo Bạc Liêu chữ Khmer, phát hành mỗi tháng 2 kỳ phục vụ đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh Ngày 01/9/2011, khai trương đưa vào hoạt động trang
Trang 36thông tin điện tử Báo Bạc Liêu online (www.baobaclieu.vn) Năm 2010, Báo Bạc Liêu được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba
Báo Bạc Liêu chữ Khmer chính thức phát hành số báo đầu tiên vào tháng 4/2007 Năm đầu, mỗi tháng báo ra 1 kỳ, vào ngày 30 hàng tháng Kể
từ tháng 7/2008 đến nay, mỗi tháng báo ra 2 kỳ, vào ngày 15 và 30 hàng tháng
Số lượng báo 1.000 tờ/kỳ, phát hành miễn phí đến các cơ quan cấp tỉnh, huyện
có cán bộ dân tộc Khmer, cán bộ hưu trí, trường Phổ thông Dân tộc nội trú Bạc Liêu và 22 chùa Khmer trong tỉnh (trong đó có độc giả là sư sãi, Ban quản trị chùa và đồng bào phật tử mỗi khi đến chùa sinh hoạt tôn giáo)
Về Đài PT-TH Bạc Liêu
Đài PT-TH Bạc Liêu được lập vào ngày 01/01/1997 cùng với sự tái lập tỉnh Bạc Liêu Đài PT-TH Bạc Liêu hiện tại quản lý thống nhất 3 loại hình báo chí: phát thanh, truyền hình và báo điện tử (website www.thbl.vn) Tổng
số cán bộ, viên chức và người lao động hiện có là 127 người, trong biên chế là
107 người, nhân viên hợp đồng lao động là 20 người
Bắt đầu từ năm 2014, Đài PT-TH Bạc Liêu đầu tư nâng cao hệ thống thiết bị để chuyển từ truyền hình analog (truyền hình tương tự) sang truyền hình kỹ thuật số Theo đề án của Chính phủ, đến năm 2018, Đài sẽ chuyển sang truyền hình kỹ thuật số
Tổ Khmer thuộc phòng Thời sự sản xuất chương trình tiếng Khmer cộng tác cho kênh VTV5 thuộc Đài truyền hình Việt Nam (thời lượng 30 phút/chương trình) và sản xuất 04 chương trình thời sự tổng hợp tiếng Khmer (thời lượng 50 phút/chương trình) cho Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Ngày 20/6/1999, chương trình tiếng Khmer chính thức được lập Ngày 08/2/2005, chính thức phát chương trình Khmer trên sóng phát thanh và sóng truyền hình hàng ngày, vào buổi sáng (6g45’) và buổi chiều (16g40’), thời lượng 30 phút Đây là thời điểm đánh dấu bước tiến nhiều mặt của Đài PT-
Trang 37TH Bạc Liêu trong việc thực hiện chương trình phát thanh, truyền hình chuyên biệt cho đồng bào dân tộc thiểu số Và sau 10 năm ra mắt, ngày
17/01/2009, chương trình Khmer trở thành chuyên đề, phát 2 kỳ/tháng
Qua khảo sát Báo Bạc Liêu, Báo Bạc Liêu chữ Khmer, chuyên đề Khmer Đài PT-TH Bạc Liêu năm 2014, chúng tôi có số liệu sau: Báo Bạc Liêu
có 22 bài, 12 tin viết về văn hóa dân tộc Khmer Con số này trên ấn phẩm Báo Bạc Liêu chữ Khmer lần lượt là 36, 6 và 2 mục Chủ trương mới - Chính sách mới (CTM-CSM) Cụ thể:
Nguồn: Khảo sát báo chữ Việt và báo chữ Khmer năm 2014
Số bài trên Báo Bạc Liêu được biên dịch, đăng lại trên Báo Bạc Liêu chữ Khmer: 9 (chín) Số bài báo đăng nhiều kỳ trên ấn phẩm Báo Bạc Liêu chữ Khmer: 7, gồm:
1 Món ăn truyền thống của dân tộc Khmer: số báo 147 đến 150
2 Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật sân khấu dù kê Khmer Nam bộ trước ngưỡng cửa mới: số 158 và 159
3 Vài nét văn hóa về trang phục, trang sức truyền thống dân tộc Khmer: số 151 đến 161
4 Đào tạo nguồn nhân lực cho sân khấu: số 161 và 162
5 Hồn chữ Khmer cổ trên sách lá buông: 162, 163 và 164
6 Sân khấu dù kê: Những nút thắt cần được tháo gỡ: số 164 và 165
7 Những điều kỳ thú về ghe ngo: số 165 đến 168
Còn với Đài PT-TH Bạc Liêu, chuyên đề tiếng Khmer có thời lượng 30 phút Kết cấu chuyên mục gồm: 15 phút là phần tin, bài (phóng sự hoặc
Trang 38gương/ghi nhanh/lược ghi) và thời gian còn lại dành cho phần văn nghệ Tùy theo thông tin thời sự chủ lưu mà chuyên đề uyển chuyển tin, bài Tin thời sự của chuyên đề chủ yếu lấy từ tin tiếng Việt, biên dịch sang tiếng Khmer Còn chương trình văn nghệ tiếng Khmer do Đài tự sản xuất, hoặc thu từ Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), hợp tác, trao đổi với các đài trong khu vực Trong năm
2014, chuyên mục Khmer đã phát 24 kỳ trên sóng PT-TH Bạc Liêu, cộng tác VOV 1 tuần 1 kỳ, cộng tác kênh VTV5 của Đài truyền hình Việt Nam 1 tháng
1 kỳ Dịp Tết Nguyên đán, Tết Chôl Chnăm Thmây và lễ Đôn ta, Tổ Khmer còn thực hiện 15 phóng sự và gương
2.2 Về nội dung tuyên truyền
2.2.1 Thông tin quảng bá tinh hoa văn hóa Khmer
Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền về văn hóa nói chung, văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số Khmer nói riêng được các cơ quan báo chí trong tỉnh Bạc Liêu thực hiện thường xuyên, liên tục, đạt hiệu quả cao dưới nhiều hình thức Đó là xây dựng các bản tin, mục, chuyên mục, chuyên trang, chuyên đề, tạp chí Ngoài việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, các cơ quan báo chí trong tỉnh còn liên kết với các kênh truyền thông của trung ương và địa phương khác
Cũng chính nhờ sự tích cực tuyên truyền của báo chí mà những giá trị đặc sắc của văn hóa Khmer được quảng bá trong tỉnh và ngoài tỉnh, đồng thời nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân về hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa
của cộng đồng dân tộc này, góp phần thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy: “Bạc Liêu
chú trọng yếu tố văn hóa trong tiến trình phát triển” Các giá trị văn hóa của đồng
bào Khmer đã được đưa vào quy hoạch, khai thác, phục vụ du lịch
Trên Báo Bạc Liêu và Báo Bạc Liêu chữ Khmer
Ở nội dung thông tin quảng bá văn hóa Khmer, Báo Bạc Liêu đăng 10 bài, 7 tin, Báo Bạc Liêu chữ Khmer đăng 21 bài, 4 tin
Đối với đồng bào Khmer, Phật giáo là tôn giáo chính, ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là “nhà văn hóa”, “trường học” chung
Trang 39cho cả cộng đồng Đời sống của người Khmer gắn bó mật thiết với ngôi chùa,
ba lễ hội lớn trong năm là Chôl Chnăm Thmây, Sel Đôn ta, Oóc Om bok đều diễn ra nơi đây Chính vì vậy ngôi chùa chứa đựng hầu hết tinh hoa văn hóa, giá trị lịch sử của Khmer Giới thiệu về ngôi chùa cũng là giới thiệu về bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số này Ở Bạc Liêu, có 3 ngôi chùa Khmer được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia (1 chùa) và cấp tỉnh Chùa Kro-pum Men-chey Kos-Thum (chùa Kos Thum) ở xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo quyết định số 46/2008/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh có chùa Se-rey Vong-sa Chek-meas (chùa Đìa Chuối, xếp hạng năm 2010), xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình, và chùa Kom-phi Sa-kor Prek-chroub (chùa Xiêm Cán, xếp hạng năm 2000), xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu
Ngày 21/8/2014, trên Báo Bạc Liêu có bài “Huyện Hồng Dân: Đặc sắc
nét văn hóa chùa Khmer” của tác giả Hữu Thọ Huyện Hồng Dân là địa
phương có đông đồng bào Khmer sinh sống, với 5 ngôi chùa Khmer đều trên
100 tuổi, gồm: chùa Đầu Sấu (xã Lộc Ninh), chùa Ngan Dừa (thị trấn Ngan Dừa), chùa Chệt Xỉa (xã Ninh Quới A), chùa Kos Thum (xã Ninh Thạnh Lợi)
và chùa Dì Quán (xã Ninh Quới) Tác giả viết: “Mỗi ngôi chùa có một lịch sử, đặc điểm hình thành khác nhau, nhưng đều là những công trình kiến trúc cổ kính, có giá trị nghệ thuật độc đáo” Vào “những ngày diễn ra lễ hội, từ thanh niên đến cụ già, trẻ em đều lên chùa cúng bái, nhảy múa, tham gia trò chơi dân gian Khi đêm xuống cũng là lúc những điệu múa lâm thôl đặc trưng của dân tộc làm rộn ràng cả phum sóc”
Nhưng đọc toàn bài, nhận thấy tác giả chỉ dừng lại mở mức mô tả, nêu lên sự việc mà chưa đi sâu phân tích chùa Khmer đặc sắc văn hóa ở những chi tiết nào, phần văn hóa vật thể hay văn hóa phi vật thể Đây là dạng bài phản ánh, không đi vào phân tích, bình luận làm toát lên cái đẹp cụ thể, thiếu chi
Trang 40tiết đắt giá Bức ảnh đi cùng bài viết cũng thiếu sinh động Bức ảnh minh họa
chụp cổng chùa Đầu Sấu với dòng chú thích “Chùa Đầu Sấu (xã Lộc Ninh) có
kiến trúc rất độc đáo”, nhưng nó đơn thuần là bức ảnh chụp cảnh vật, không
có hoạt động của con người Nhìn vào bức ảnh, và cả bài viết, ngôi chùa Đầu Sấu cũng giống như 21 ngôi chùa Khmer còn lại trên địa bàn Bạc Liêu, không toát lên tính chất đặc biệt, riêng có
Trên Báo Bạc Liêu, tác giả Hữu Thọ còn có bài “Nhạc ngũ âm: “Linh hồn”
bản sắc văn hóa đồng bào Khmer” (trang 8, số 2457, ngày 4/10/2014) Tác giả
nhận định nhạc ngũ âm là “tài sản” quý giá nhất của văn hóa Khmer Nhận định này có chuẩn hay không, phải chờ ý kiến của chuyên gia về văn hóa học, dân tộc học Bài báo có 2 tít phụ Nội dung tít phụ thứ nhất: “Đặc sắc nhạc ngũ âm”, tác giả giới thiệu về bộ nhạc cụ này như sau: “Nhạc ngũ âm là tập hợp của 5 loại nhạc
cụ được làm từ những chất liệu: đồng, sắt, gỗ, da và hơi (…) Do cấu tạo khác nhau nên mỗi loại nhạc cụ đều có đặc trưng về âm thanh riêng biệt Nhưng khi dàn nhạc ngũ âm cùng hòa hợp thì lại hỗ trợ cho nhau, tạo thành một bản nhạc vô cùng độc đáo” Vào những ngày lễ hội, nhạc ngũ âm làm cho không khí phum, sóc thêm rộn ràng; còn khi đám tang thì âm nhạc mang nỗi tiếc thương Cái hay, cái đẹp của dàn nhạc truyền thống này được miêu tả khái quát, phần nào giúp người đọc hiểu sơ lược và có thể mường tượng được những âm thanh với các cung bậc cảm xúc khác nhau của loại nhạc cụ này Không gian diễn xướng của nhạc ngũ âm cũng đa dạng, vừa thể hiện được không khí vui tươi vừa nói lên được nỗi lòng bi ai Đời sống tinh thần của người Khmer có thể nhận diện qua tiếng nhạc này Được biết, hơn 50% ngôi chùa Nam tông ở tỉnh Bạc Liêu đã được trang
bị dàn nhạc ngũ âm và nhiều loại nhạc cụ khác
Tác giả Huỳnh Hiếu thì có bài “Đặc sắc các điệu múa Khmer”, số báo
2459, thứ Năm ngày 9/10/2014 Trong bài này có viết: “Người Khmer Nam
bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng vốn có nền văn hóa - nghệ thuật phong phú, nhưng nổi bật nhất là sự đa dạng và độc đáo của các điệu múa (…) Nghệ