Trong lời giới thiệu tác phẩm này, dịch giả nhà văn Bùi Văn Nam Sơn đã viết: “Vượt qua khoảng cách 250 năm, tưởng như Rousseau là người sống cùng thời với chúng ta, đang chia sẻ những nỗ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ VIỆT HÙNG
TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA J.J.ROUSSEAU TRONG
TÁC PHẨM: “ÉMILE HAY LÀ VỀ GIÁO DỤC”
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Đặng Hữu Toàn
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi dưới
sự giúp đỡ của người hướng dẫn khoa học (ngoài phần đã trích dẫn)
Tác giả luận văn
Vũ Việt Hùng
Trang 3Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS, TS Đặng Hữu Toàn - người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Triết học, Học viện Báo Chí và Tuyên Truyền, các thầy cô trong Ban quản lý đào tạo sau đại học cùng tất cả các thầy cô giáo của Học viê ̣n Báo chí và Tuyên truyền đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ rất nhiều về vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành chương trình học tập cũng như luận văn tốt nghiệp của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Việt Hùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: J.J.ROUSSEAU VỚI TÁC PHẨM “ÉMILE HAY LÀ VỀ GIÁO DỤC” 8
1.1 J.J.Rousseau cuộc đời và sự nghiệp 8
1.2 Bối cảnh và sự hình thành triết lý giáo dục của J.J.Rousseau 15
1.3 Tác phẩm “Émile hay là về giáo dục” 25
Chương 2: TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA J.J.ROUSSEAU QUA TÁC PHẨM “ÉMILE HAY LÀ VỀ GIÁO DỤC”: NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ 33
2.1 Mục tiêu và đối tượng của giáo dục 33
2.2 Giáo dục con người - công dân với tư cách một quá trình 39
2.3 Phương pháp giáo dục con người - công dân 66
2.4 Một số nguyên lý giáo dục 72
2.5 Giá trị, hạn chế và bài học rút ra từ triết lý giáo dục J.J.Rousseau đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 76
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngày xưa, cha ông ta đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và điều đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta Phát huy truyền thống đó, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những biện pháp cấp bách của Nhà nước ta lúc bấy giờ Trong đó,
Người đã nói: “…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ…” [28, tr.8] Và trong thư gửi các học sinh
nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người
đã khẳng định rằng: “…Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [28, tr.33] Quan điểm sáng suốt và đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về giáo dục đã phát huy tác dụng to lớn trong việc nhanh chóng nâng cao dân trí, thu hút tầng lớp trí thức tham gia phong trào cách mạng
Tiếp nối quan điểm này, giáo dục và đào tạo luôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò nhân tố quyết định để thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải có sự đổi mới căn bản, toàn diện
Nhận thức sâu sắc vấn đề mấu chốt trong sự nghiệp đổi mới giáo dục phù hợp với thực tiễn, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới
Trang 6căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo
và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp” Với mục tiêu: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa,
xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”
Tuy nhiên, dường như những cố gắng cho sự nghiệp đổi mới giáo dục vẫn nằm trong vòng luẩn quẩn, giáo dục Việt Nam đang đứng trước nguy cơ
“khủng hoảng” và “tụt hậu” so với các nước trên thế giới Đứng trước thực
trạng đó, trước yêu cầu phát triển và hội nhập, giáo dục Việt Nam buộc phải tìm cho được giải pháp để đổi mới giáo dục thành công
Trong lịch sử nhân loại đã có rất nhiều tư tưởng tiến bộ về giáo dục J.J.Rousseau - nhà triết học khai sáng Pháp là một trong những nhà tư tưởng
có quan điểm tiến bộ về giáo dục, có thể coi ông là nhà giáo dục xuất sắc nhất của thế kỷ XVIII Ông đã cho xuất bản tác phẩm tâm đắc nhất của cuộc đời
Trang 7mình “Émile hay là về giáo dục” Đây là tác phẩm được chính Rousseau xem
là “quyển sách hay nhất và quan trọng nhất trong mọi trước tác của tôi”, bởi
đây là một công trình triết luận đồ sộ về bản tính con người Ông đã đặt ra nhiều câu hỏi triết học và chính trị về mối quan hệ giữa cá nhân và xã
hội…“Trong Émile hay là về giáo dục, thông qua câu chuyện giả tưởng về
cậu bé Émile được người thầy giáo dục từ lúc mới chào đời cho đến khi lập gia đình và trở thành người công dân lý tưởng Rousseau đã phác hoạ một triết lý và phương pháp giáo dục giúp cho con người có đủ sức khoẻ thể chất, nghị lực tinh thần để đương đầu với những thử thách trong cuộc đời” [35, tr.8] Trong lời giới thiệu tác phẩm này, dịch giả nhà văn Bùi Văn Nam Sơn
đã viết: “Vượt qua khoảng cách 250 năm, tưởng như Rousseau là người sống cùng thời với chúng ta, đang chia sẻ những nỗi lo âu và bất bình của những người vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân của một nền giáo dục đang phạm nhiều sai lầm từ cơ sở triết lý, cách thiết kế cho đến phương pháp sư phạm với mọi hậu quả đáng sợ cho phụ huynh lẫn con cái” [35, tr.9] Có thể nói, Rousseau chính là người đặt nền móng cho triết lý giáo dục đầy nhân văn,
“với Émile hay là về giáo dục, Rousseau muốn phác hoạ một quan niệm khác
về giáo dục Quan niệm ấy vừa mới mẻ, tiến bộ, vừa có không ít những mâu thuẫn, nghịch lý như bản thân cuộc đời và toàn bộ học thuyết của ông Nó
“khiêu khích” và buộc ta phải suy nghĩ hơn là quá trình “trơn tru” để ta dễ dàng nhắm mắt nghe theo!” [35, tr.10]
Nghiên cứu tác phẩm “Émile hay là về giáo dục” không chỉ góp phần
làm sáng tỏ triết lý giáo dục của Rousseau, mà còn cho thấy, trong bối cảnh thực trạng giáo dục Việt Nam, trong quá trình hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng, quan điểm giáo dục của Rousseau mang ý nghĩa và
giá trị gợi mở Với tất cả những lý do trên, vấn đề: “Triết lý giáo dục của
J.J.Rousseau trong tác phẩm “Émile hay là về giáo dục” được tôi chọn làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 82 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thực tiễn, các công trình nghiên cứu triết lý tư tưởng và triết lý giáo dục của Rousseau còn rất ít, chủ yếu các nhà khoa học bàn đến tư tưởng triết học chính trị của ông Một số công trình nghiên cứu như:
Năm 1958, trong cuốn “Lịch sử giáo dục học thế giới”, tác giả Nguyễn
Luân đã luận bàn và đưa ra những nhận định, đánh giá sâu sắc về tư tưởng giáo dục của J.J.Rousseau, có những điểm tiến bộ và mới lạ và cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà giáo dục trong thời kỳ cách mạng tư sản Pháp
Trong cuốn “Lý luận giáo dục châu âu” của Nguyễn Mạnh Tường, xuất
bản năm 1994, đánh giá cao tư tưởng giáo dục của Rousseau, coi ông là người đặt nền móng cho “kỷ nguyên về sư phạm”; đặc biệt là sự ra đời cuốn tiểu
thuyết “Émile hay là về giáo dục”, trong bối cảnh châu Âu đang lên cơn sốt
về giáo dục, cuốn Émile của Roussau vẫn khiến cho dư luận bất ngờ về những
tư tưởng độc đáo của mình
Trong cuốn “Lịch sử triết học” của Nguyễn Hữu Vui chủ biên, cũng đã
có những nhận định đánh giá về tư tưởng triết học, chính trị, giáo dục của Rousseau trong hệ thống triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII Ngoài ra, đã
có một số công trình nghiên cứu về tư tưởng Rousseau như luận văn thạc sĩ
triết học của Nguyễn Thị Châu Loan “Tư tưởng cơ bản của Triết học chính trị Rousseau trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội”; luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Thanh Minh “Tư tưởng của J.J.Rousseau về quyền tự do, về bình đẳng và về nhà nước”; luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Thị Khuyên “Tư tưởng dân chủ của Rousseau trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội”;…
Sau khi tác phẩm “Émile hay là về giáo dục” được dịch và xuất bản ở
Việt Nam lần thứ hai Lần xuất bản thứ nhất là vào năm 1962 tại Sài Gòn do
Bộ quốc gia giáo dục phát hành Đã có nhiều bài báo và các cuộc hội thảo giới thiệu về tác giả và tác phẩm như: “Lê Hồng Sâm tọa đàm về sách của
Trang 9Rousseau” trong: http://vnexpress.net; “Rousseau và nghệ thuật đào tạo con người” trong: http://sachhay.org/; “Nỗ lực của J.J Rousseau trong việc kiến tạo mẫu người công dân cho một xã hội dân chủ lý tưởng” trong: http://tuoitre.vn;
Gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu phân tích đánh giá tư
tưởng giáo dục của Rousseau trong tác phẩm “Émile hay là về giáo dục”
Như: “Tư tưởng của J.J.Rousseau về quyền con người” của tác giả Nguyễn
Thị Thanh Huyền, trên Tạp chí Triết học số 6(277), tháng 6 - 2014 Dựa trên
các tác phẩm của Rousseau, tác giả đi sâu nghiên cứu tư tưởng của Rousseau
về quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền tư hữu tài sản và quyền được giáo dục
Luận văn Thạc sĩ Triết học của Nguyễn Thị Tuyết Thanh, năm 2010
nghiên cứu “Tư tưởng của J.J.Rousseau về giáo dục qua tác phẩm Émile hay
là về giáo dục” Tác giả nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng triết
học của Rousseau, đối với tư tưởng giáo dục tác giả tiếp cận vấn đề một cách tổng thể về ba mặt thể chất, trí dục và đức dục Từ đó rút ra phương pháp giáo dục, giá trị, hạn chế và ý nghĩa trong tư tưởng giáo dục của Rousseau
Luận văn Thạc sĩ Triết học của Tạ Thị Thìn, năm 2010, nghiên cứu
“Quan niệm của J.J.Rousseau về giáo dục trong tác phẩm Émile hay là về giáo dục” Tác giả nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Rousseau theo một quá
trình, mỗi giai đoạn có mục đích giáo dục và phương pháp giáo dục riêng Từ
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ triết lý giáo dục của Rousseau trong tác
phẩm “Émile hay là về giáo dục” để trên cơ sở đó, đánh giá giá trị và hạn chế
trong tư tưởng giáo dục của ông
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, làm rõ cơ sở hình thành quan niệm của Rousseau về giáo dục Hai là, phân tích một số nội dung cơ bản trong triết lý giáo dục của Rousseau trong tác phẩm: “Émile hay là về giáo dục”
Ba là, đánh giá giá trị, hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Rousseau
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là triết lý giáo dục của Rousseau Với mục đích nghiên cứu là làm rõ triết lý giáo dục của Rousseau trong
tác phẩm: “Émile hay là về giáo dục”, nên luận văn chỉ tập trung vào những
tư tưởng giáo dục của Rousseau trong tác phẩm đó
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa trên phương pháp luận mácxit trong nghiên cứu lịch sử triết học, đồng thời kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài đã được công bố
Luận văn sử dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgic - lịch sử
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm phong phú thêm khối lượng những công trình nghiên cứu về tư tưởng của Rousseau nói chung và tư tưởng giáo dục của ông nói riêng
Trang 11Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành triết học và giáo dục học, hay những người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ một số nội dung trong triết lý giáo dục của
J.J.Rousseau trong tác phẩm “Émile hay là về giáo dục”, đánh giá giá trị, hạn
chế và rút ra bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương 8 tiết:
Trang 12Chương 1
J.J.ROUSSEAU VỚI TÁC PHẨM “ÉMILE HAY LÀ VỀ GIÁO DỤC”
1.1 J.J.Rousseau cuộc đời và sự nghiệp
Trong lịch sử nhân loại, J.J.Rousseau được biết đến không chỉ là một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà khai sáng lỗi lạc của Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, mà ông còn được biết đến với tư cách là nhà chính trị học, nhà nghệ thuật học, nhà văn, nhà giáo dục học
Jean-Jacques Rousseau, phiên âm tiếng việt là Giăng Giắc Rút-xô, ông sinh ngày 28 tháng 6 năm 1712 trong một gia đình thợ thủ công làm nghề sửa chữa đồng hồ ở Geneve, Thụy Sỹ Ông nội của J.J.Rousseau vốn là người Pháp, khi J.J.Rousseau mới ra đời được 9 ngày thì mẹ ông, bà Suzanne Bernard đã qua đời Mồ côi mẹ từ nhỏ, nên tuổi thơ của ông sống trong sự chăm sóc, nuôi nấng của người cha là Issac Rousseau Ngay từ nhỏ, ông đã được cha cho đọc nhiều sách truyện lý thú, những cuốn sách viết về các nhân vật lịch sử Trong số những truyện mà Rousseau đã đọc, tác phẩm Plutarque -
kể sự tích các nhân vật lịch sử thời Hy Lạp và La Mã cổ đại đã để lại trong ông nhiều ấn tượng Sau này, khi nhớ lại thời thơ ấu của mình Rousseau đã nói rõ, sở dĩ ông thích các tác phẩm của nhà văn Hy Lạp cổ đại bởi: “Nó cho tôi một tinh thần tự do và cộng hoà, một tính nết bất khuất và kiêu căng, không chịu đeo ách và nhận số phận nô lệ” [45, tr 418]
Năm 1722, cuộc sống gia đình khó khăn và do xung đột với một thuyền trưởng người Pháp, lo sợ bị tống giam, nên cha ông, Issac Rousseau đã vĩnh viễn rời bỏ Geneve đi kiếm sống ở miền xa, gửi Rousseau lại cho người chú ruột nuôi dưỡng Trong 5 năm sống cùng chú ruột, ban đầu J.J.Rousseau được gửi vào một trường nội trú và tại đây theo lời ông kể trong tập hồi ký - Tự bạch, “chúng tôi học… tất cả cái rác rưởi vớ vẩn từng được coi là sự giáo
Trang 13dục” [37, tr.235] Sau 2 năm, ông thôi học ở đây để theo học nghề chạm khắc
vỏ đồng hồ Trong những năm tháng này, mặc dù cuộc sống không đến nỗi vất vả, nhưng Rousseau luôn cảm thấy cuộc sống của mình tù túng, bản thân
bị bạc đãi, coi khinh Vốn được sinh ra và lớn lên ở Geneve, thủ đô của Thụy
Sĩ, nơi mà trong lòng chế độ phong kiến đã có sự xuất hiện của bầu không khí dân chủ tư sản, điều đó đã ít nhiều ảnh hưởng và khơi dậy trong ông khát vọng tự do Chính vì vậy, ngày 14 tháng 3 năm 1728, Rousseau đã bỏ nhà đi, trốn khỏi Geneve khi mới 16 tuổi, bắt đầu cuộc sống lưu lạc vất vả nay đây mai đó trên con đường kiếm sống và mưu tìm sự nghiệp ở Pháp và Italia
Năm 1742, Rousseau đến Paris - thủ đô của nước Pháp, ở đây ông làm nhiều công việc để kiếm sống, từ thư ký sở địa chính, chép nhạc thuê đến gia
sư Nhưng khó khăn của cuộc sống luôn vây quoanh ông, khiến ông không hài lòng với công việc của mình và phải chứng kiến những cảnh bất công phi
lý trong xã hội Để ổn định cuộc sống đã có lúc ông buộc phải bỏ từ bỏ đạo Tin lành mà ông vốn là một tín đồ ngay từ nhỏ để trở thành một tín đồ Giatô giáo theo ý muốn của người khác Mặc dù phải lo kiếm sống hàng ngày, song J.J.Rousseau vẫn không từ bỏ thói quen đọc sách Với ông, đọc sách bao giờ cũng là công việc hứng thú và là cách tốt nhất để tự trang bị kiến thức
Sự nghiệp sáng tạo lý luận của J.J.Rousseau thực sự bắt đầu trong những
năm 1742, với tác phẩm đầu tay - Kiến nghị lập bản ký âm mới cho âm nhạc
Năm 1743 - 1744, Rousseau làm thư ký riêng cho De Montaigu - Đại
sứ Pháp tại Vinise Với công việc này, ông đã có thêm những hiểu biết về chính trị Song, với bản tính của một con người phóng khoáng, yêu tự do, ông không chịu nổi cách đối xử keo kiệt, bủn xỉn và thái độ trịnh thượng của viên đại sứ này Do vậy, ông đã xin thôi việc
Năm 1746, Rousseau làm thư ký riêng cho bà Dupin, giúp bà chép bản thảo cuốn sách về vấn đề phụ nữ Ngoài ra, ông còn làm nghề chép nhạc thuê
Trang 14để kiếm sống Cũng trong thời gian này, ông làm quen và kết bạn với D.Diderot - một nhà văn, nhà triết học người Pháp, cùng với Diderot và một
số nhà tư tưởng khác biên soạn Từ điển bách khoa toàn thư Đồng thời, ông
còn viết một số bài báo nhằm truyền bá kiến thức khoa học, nghệ thuật, tuyên truyền tư tưởng tự do, bình đẳng, chống giáo hội và chế độ quân chủ chuyên chế đương thời
Năm 1749, Viện Hàn lâm Khoa học Dijon - Pháp tổ chức cuộc thi với chủ đề: “Việc chấn hưng khoa học và nghệ thuật có góp phần làm cho phong
tục thuần khiết hay không?” Rousseau đã viết luận văn Luận về khoa học và nghệ thuật để tham dự cuộc thi Với luận văn này Rousseau đã được Viện
Hàn lâm khoa học Dijon trao giải thưởng và làm cho ông trở nên nổi tiếng hơn Trong luận văn, ông đã khẳng định sự tiến bộ của khoa học và nghệ thuật là cái mà nhân loại luôn cần đến, song tội lỗi là ở chỗ, do khoa học lấn
át tôn giáo, tính nhục cảm chiếm ưu thế trong nghệ thuật và sự phóng đãng tràn ngập văn chương đã để cho con người lợi dụng khoa học, văn học và nghệ thuật thực hiện những mục đích bất chính Với quan điểm này, ông còn cho rằng, do tầng lớp thượng lưu quý tộc chỉ biết sống xa hoa trên đầu những người dân lao động, nên khoa học, văn học và nghệ thuật càng phát triển thì
xã hội quý tộc càng lún sâu vào con đường trụy lạc và những người lao động ngày càng nghèo khổ Và để phân biệt những nhà khoa học, nghệ thuật chân chính với những kẻ áp bức, bóc lột nhân dân, ông đã dành những trang cuối của luận văn này để ca ngợi công lao của các nhà khoa học, nhà triết học, như Bacon, Descartes, Newton Song khi được công bố vào năm 1750, nó đã gây nên nhiều phản ứng trái ngược nhau trong xã hội Pháp đương thời: giới quý tộc Pháp thì lên tiếng chê bai, thậm chí công kích, còn đông đảo quần chúng nhân dân thì hoan nghênh cả nội dung lẫn tác giả của nó [Xem: 42, tr 172]
Trang 15Năm 1753, Rousseau viết luận văn Về nguồn gốc của sự bất bình đẳng cũng lại để tham dự cuộc thi do Viện Hàn lâm khoa học Dijon tổ chức
với chủ đề “Nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa người và người là gì? Nó có phù hợp với luật tự nhiên hay không?” Trong luận văn này, ông đã vạch rõ nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong xã hội là ở chế độ tư hữu tài sản, ông đã kịch liệt phản đối chế độ tư hữu và lên án mạnh mẽ những kẻ quyền thế đã ra sức bênh vực, biện minh cho sự bất bình đẳng đó Ông viết: “Những kẻ quyền thế luôn tìm mọi cách để bênh vực cho sự bất bình đẳng Họ giải thích rằng, bất bình đẳng là một quy luật tự nhiên, cũng như bàn tay có ngón ngắn, ngón dài Nhân dân rên rỉ dưới sự áp bức của họ thì họ lại dẫn Kinh thánh ra để bịt miệng thiên hạ” [42, tr.206] Theo ông, bất bình đẳng không phải là một quy luật tự nhiên, mà là sản phẩm của xã hội loài người; nó tồn tại và phát triển từ khi xuất hiện chế độ tư hữu; rằng con người đã tạo ra sự bất bình đẳng thì con người cũng có thể xóa bỏ nó
Với luận văn Về nguồn gốc của sự bất bình đẳng, Rousseau đã thực sự
dấn thân vào một cuộc đấu tranh chính trị Trong những năm 1754 – 1755, ông đã phải chịu sự công kích mãnh liệt từ giới thượng lưu quý tộc Paris, từ Vua Louis XV đến những người được Rousseau ca ngợi là nhà thông thái đáng kính, lên án và đả kích Vua Louis XV, khi gọi J.J.Rousseau là “gã dân đen khốn nạn”, “tên ngoại kiều Geneve”, đã chất vấn ông với tư cách đó mà
“dám trổ tài múa chữ, tự cho mình cái quyền công khai nói về tự do ngay giữa Paris ư?” Hầu tước D’Argenson - một chính khách Pháp, bạn của các nhà Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, người được J.J.Rousseau ca ngợi là nhà thông thái đáng kính - lên án ông về tội đã lăng mạ, phỉ báng xã hội Pháp, bác bỏ chế độ tư hữu tài sản, phê phán lối sống của giới quý tộc thượng lưu và coi những quan niệm mà ông đưa ra là “hết sức quá đáng” Ngay cả F.M.Voltaire (1694 - 1778) - nhà Khai sáng Pháp hàng đầu, người được coi là thần tượng
Trang 16của tầng lớp thị dân Pháp đương thời và là bạn cao niên của J.J.Rousseau, khi nhận được sách tặng của J.J.Rousseau đã viết thư phê phán ông và gọi triết lý của ông là thứ “triết lý của bọn khố rách áo ôm”, là lời lẽ của kẻ chuyên “xui bọn nhà nghèo cướp lại tài sản của nhà giàu” mà khi đọc nó, “người ta thấy ngứa ngáy” Không thể chấp nhận được sự công kích ấy, J.J.Rousseau đã viết thư đáp trả và công khai phản kích lại trên báo chí với những lời lẽ còn cay độc, sâu sắc hơn nữa [Xem 37, tr.218-223] Trước sự công kích dữ dội của giới thượng lưu Paris, Rousseau đã buộc phải trở về quê hương Geneve Tại
đây, ông cho tái bản luận văn Về nguồn gốc của sự bất bình đẳng với lời tựa
mới và đề tặng nền cộng hòa Geneve
Năm 1756, Rousseau rời bỏ Geneve đến sống ẩn dật ở Montmorency - một vùng quê nghèo hẻo lánh ở phía Bắc Pari, trong một ngôi nhà nhỏ bỏ hoang của một ẩn sĩ đã quá cố từ lâu
Tháng 1/1761, Rousseau đã cho ra mắt công chúng Pháp cuốn tiểu
thuyết July hay nàng Heloise mới Trong tiểu thuyết này, thông qua câu
chuyện tình éo le, trắc trở giữa nàng July - con gái một nam tước với chàng gia sư Xanh - Prơ, ông đã đưa ra một quan niệm mới về tình yêu và hết lòng
ca ngợi tình yêu chân thật, ngợi ca những con người dám đấu tranh cho tự do hôn nhân, tự do luyến ái, đồng thời lên án gay gắt kiểu cưỡng ép hôn nhân của chế độ phong kiến đương thời Chính vì thế mà tiểu thuyết này đã được đông đảo công chúng Paris, nhất là các bậc mệnh phụ và lớp trẻ nồng nhiệt tiếp nhận
Tháng 4/1762, Rousseau cho ra mắt công chúng tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, đây được coi là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của
Rousseau, có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình cách mạng dân chủ tư sản Pháp thế kỷ XVIII; những tư tưởng của tác phẩm còn có ý nghĩa to lớn và sức ảnh hưởng cho đến tận ngày nay
Trang 17Chỉ sau một tháng, Rousseau tiếp tục cho ra mắt công chúng Pháp cuốn
tiểu thuyết thứ hai của ông - Émile hay là về giáo dục (5/1762) Trong tiểu
thuyết này, thông qua câu chuyện hư cấu về cách dạy dỗ của anh gia sư Jean Jacques đối với cậu học trò Émile, Rousseau đã đưa ra một quan niệm mới về giáo dục: hãy để cho trẻ được phát triển theo quy luật tự nhiên, bố mẹ không nên cưỡng chế con cái theo ý mình Quan điểm giáo dục này của ông tuy có đôi chỗ thái quá, nhưng nhìn chung, hoàn toàn trái ngược với nền giáo dục gò
bó của chế độ phong kiến và Giáo hội đương thời Cái bao trùm toàn bộ quan điểm giáo dục này là nêu cao tinh thần dân chủ và tự do, hướng sự nghiệp giáo dục vào việc đào tạo ra những công dân kiểu mới trong một xã hội mới
Chính vì lý do này mà ngay sau khi ra mắt công chúng Pháp, tiểu thuyết Émile hay bàn về giáo dục đã bị thu hồi và tác giả của nó bị truy nã
Với tư tưởng triết lý sâu sắc, cùng với lập trường chính trị cấp tiến, Rousseau đã đấu tranh cho tự do, bình đẳng và dân chủ, cho nền cộng hòa Tuy nhiên, trước sự công kích mạnh mẽ của giới thượng lưu, tác phẩm của ông bị thu hồi và ông bị các nhà chức trách truy nã ráo riết hơn Trong bối cảnh đó, giữa tháng 6 năm 1762, ông rời Paris về Geneve Nhưng tại Geneve - quê hương ông, chính quyền và Giáo hội Geneve cũng ra lệnh đốt sách của ông và truy nã ông, khiến ông phải lẩn tránh khắp nơi
Năm 1765, Rousseau buộc phải đi ẩn náu ở Motier - một địa phương nhỏ thuộc vùng Neuchatel (Thụy Sĩ) Nhưng ở đây, ngôi nhà nhỏ mà ông đang sống đã thường xuyên bị những người dân quá khích trong vùng ném gạch đá theo sự xúi giục của các giáo sĩ
Năm 1766, J.J.Rousseau được nhà triết học Anh - D.Hume tạo điều kiện cho cùng đi sang Anh Nhưng tại Anh, ông vẫn cảm thấy bất ổn, trong
tập hồi ký Tự bạch, ông viết: “Những kẻ khốn khổ thì ở đâu cũng bị khốn
khổ Ở Pháp người ta hạ lệnh bắt giam, ở Thụy Sĩ người ta ném đá vào nhà, ở
Trang 18Anh người ta làm nhục Người ta đã bán cho mình mảnh đất dung thân bằng giá quá đắt” [42, tr.365] Không thể sống mãi trong tình cảnh đó, đầu năm
1768, ông trở lại Pháp ẩn náu tại một vùng gần biên giới Pháp - Italia cho đến giữa năm 1769 thì trở lại Paris, khi việc truy lùng ông không còn gay gắt như trước nữa
Năm 1768, Rousseau kết hôn và sống trọn đời với cô gái nghèo Therese Levasseau - người đã chia sẻ với ông mọi nỗi buồn trong cuộc sống, cùng ông nếm trải mọi đắng cay, gian khổ cũng như niềm hạnh phúc giản dị.[42, tr 155]
Năm 1770 - 1771, theo lời đề nghị của nhà quý tộc Ba Lan, Rousseau
viết xong tập Nhận định về chính phủ Ba Lan Trong đó bàn nhiều đến vấn đề
nhà nước, xây dựng kinh tế quốc dân, bảo đảm bình đẳng, tự do và giáo dục phổ cập tinh thần yêu nước trong nhân dân
Trong những năm 1772 - 1773, J.J.Rousseau tập trung viết tập Đối thoại với tiêu đề Rousseau - người phán xét Jean Jacques nhằm mục đích
thanh minh để công chúng đương thời và đời sau hiểu rõ con người thực của ông, tư tưởng của ông và tâm địa độc ác của những kẻ từng làm hại ông
Năm 1776, ông bắt đầu viết tập ký sự Những điều mơ mộng của một người lãng du cô đơn để nói lên tâm sự và những suy nghĩ của mình về tương
lai Tập ký sự này hoàn thành thì cũng là lúc ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 2 tháng 7 năm 1778 Thi hài ông được chôn cất tại một hòn đảo nhỏ có tên gọi Dương Liễu, nhưng vào ngày 9 tháng 11 năm 1794, nhân dân Pháp đã rước di hài của ông từ đảo Dương Liễu vào điện Pantheon - nơi chôn cất các danh nhân đã làm rạng rỡ nước Pháp Nhưng sau năm 1814, di hài Rousseau lại bị trục xuất và tiêu hủy sau khi triều đình Bourbons được khôi phục
Nhìn lại trang sử cuộc đời và sự nghiệp của Rousseau, giúp chúng ta hiểu được vì sao, ông được nhân dân Pháp và nhân loại loại tiến bộ trên toàn
Trang 19thế giới tôn vinh, ngợi ca Vượt lên trên khó khăn tủi nhục của cuộc sống, bằng lý tưởng và khát vọng tự do, bình đẳng; cùng với lập trường cấp tiến, ông đã đứng lên đấu tranh phê phán gay gắt các quan hệ đẳng cấp phong kiến
và chế độ chuyên chế, ủng hộ mạnh mẽ nền dân chủ tư sản, các quyền tự do công dân, tán thành sự bình đẳng của con người bất chấp nguồn gốc xuất thân,…Những tư tưởng này của ông đã trở thành khẩu hiệu của giai cấp tư sản Pháp trong cuộc cách mạng (1789 - 1794)
1.2 Bối cảnh và sự hình thành triết lý giáo dục của J.J.Rousseau
1.2.1 Bối cảnh nước Pháp thế kỷ XVIII
Thế kỷ XVIII là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cận đại, khi chế độ phong kiến phát triển lên đỉnh cao và dần trở nên lạc hậu, không những không còn phù hợp với sự tiến triển của kinh tế xã hội mà còn trở nên kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, tất yếu nó sẽ bị thay thế bởi một xã hội khác tiến bộ hơn, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với quy luật của lịch sử - đó là chế độ tư bản chủ nghĩa
Chủ nghĩa tư bản phát sinh ở Pháp cuối thế kỷ XVI, tuy nhiên phát triển một cách chậm chạp trong lòng xã hội phong kiến, đến cuối thế kỷ XVIII mới có bước phát triển mạnh mẽ, đầy đủ và chín muồi Chính vì vậy, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Pháp thế kỷ XVIII có nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp:
Về kinh tế, trong khi nước Anh tiến mạnh trên con đường công nghiệp
hóa tư bản chủ nghĩa, thì nước Pháp vẫn còn là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao động thấp kém, với 90% dân số Pháp là nông dân Công nghiệp có bước phát triển hơn so với nông nghiệp, nhiều ngành công nghiệp mới được ra đời và nhanh chóng được mở rộng phát triển, máy móc được cải tiến, số lượng công nhân tăng lên và có sự chuyên môn hóa cao Nhìn chung, so với nông nghiệp, các ngành công thương nghiệp đã phát triển
Trang 20mạnh mẽ và yếu tố tư bản chủ nghĩa ngày càng biểu hiện rõ rệt Tuy nhiên, chế độ phong kiến bảo thủ và lạc hậu vẫn còn giữ địa vị thống trị trong xã hội
Về chính trị, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
đã đưa đến sự bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản với quy mô rộng lớn như cách mạng tư sản Hà Lan (1560 - 1570), cách mạng tư sản Anh (1642 - 1648), tuy nhiên các cuộc cách mạng đó còn mang tính thỏa hiệp, chưa triệt
để Riêng nước Pháp, khi lực lượng giai cấp tư sản đã lớn mạnh, cùng với những điều kiện riêng của mình, nước Pháp đã trở thành trung tâm của cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu, trở thành vũ đài của cuộc đấu tranh gay gắt giữa chế độ phong kiến đã trở nên lỗi thời và chủ nghĩa tư bản đang hình thành, phát triển trong lòng nó Giai cấp tư sản Pháp đã trở thành lực lượng đại diện cho lợi ích những người bị áp bức, với mục đích thủ tiêu quan hệ sản xuất phong kiến và thiết lập chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa
Về xã hội, xã hội Pháp thế kỷ XVIII có sự phân chia thành những đẳng
cấp với quyền và nghĩa vụ khác nhau Tầng lớp quý tộc và tăng lữ chỉ chiếm một phần nhỏ dân số nhưng lại được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi Trong khi đó những tầng lớp còn lại như: nông dân, thợ thủ công, bình dân thành thị, công nhân, tri thức,… chiếm đa số trong xã hội lại bị tước đoạt mọi quyền chính trị, không được tham gia vào các cơ quan nhà nước, bị phụ thuộc và phải phục vụ cho các đẳng cấp có đặc quyền Cùng với sự phát triển của công thương nghiệp, đến cuối thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản Pháp ngày càng lớn mạnh, thế lực chính trị, kinh tế, xã hội của họ ngày càng tăng lên chiếm vị trí quan trọng trong xã hội Sự phát triển ấy cũng làm cho ý thức giai cấp của họ ngày càng bộc lộ rõ rệt
Về tư tưởng, lý luận, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Pháp đã sản
sinh ra một số nhà tư tưởng, đại biểu cho giai cấp tư sản đang lên Những nhà triết học, sử học, văn học, những người có tư tưởng tiến bộ đã liên tục
Trang 21tấn công vào thành trì quân chủ chuyên chế bằng những học thuyết mới tiến
bộ và cách mạng Đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII như LaMetri, Banis Diderot, Holbach, J.J.Rousseau, Montesquie,… không những góp phần phát triển chủ nghĩa duy vật, mà còn công kích mạnh mẽ chủ nghĩa kinh viện, đấu tranh chống lại những quan niệm đã lỗi thời lạc hậu
1.2.2 Sự hình thành triết lý giáo dục của J.J.Rousseau
1.2.2.1 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời triết lý giáo dục của J.J.Rousseau
Trước bối cảnh thế giới và đặc biệt là tình hình kinh tế - xã hội nước Pháp đã đưa đến sự khích lệ những tư tưởng vượt thời đại trước và cùng thời với Rousseau Đặc biệt, Rousseau đã kế thừa tư tưởng của các nhà triết học tiến bộ khác để phát triển những tư tưởng của mình như triết học duy vật Anh thế kỷ XVII, các nhà triết học tiền khai sáng và Khai sáng Pháp
Nói đến tư tưởng giáo dục, trong lịch sử nhân loại không thể không
nhắc đến I.A.Comenxki, ông là một trong những nhà giáo dục vĩ đại, tư tưởng
của ông ít nhiều đã ảnh hưởng đến Rousseau
I.A.Comenxki (1592 - 1670) là nhà giáo dục, nhà dân chủ lớn nhất, nhà
hoạt động xã hội xuất sắc của thế kỉ 17 Ông sinh ra trong một gia đình thợ xay bột mồ côi cha mẹ từ hồi nhỏ, nên sớm ra lao động thủ công Ông đã viết và
cho xuất bản nhiều tác phẩm nổi tiếng về giáo dục như tác phẩm: “Ngữ pháp nhập môn”; “Lý luận dạy học vĩ đại”;“Tri thức bách khoa”;“Đường đời ngoắt ngoéo”… Comenxki hết sức tin tưởng vào tác dụng của giáo dục Theo
ông chỉ có giáo dục mới làm cho người ta trở nên một con người đáng là con người Ông cho rằng: giáo dục cần cho tất cả mọi người, đặc biệt là thanh niên Comenxki đặc biệt đề cao vị trí của người thầy giáo, đặt ra cho thầy giáo những yêu cầu về lòng nhân ái, về phẩm chất đạo đức để làm gương sáng cho học sinh, người thầy phải đối xử với học sinh công bằng, ân cần và hòa nhã
Trang 22Theo ông, trong quá trình giáo dục ở nhà trường chia ra làm 4 giai đoạn phù hợp với 4 thời kỳ của tuổi học: giai đoạn 1, khi trẻ từ 0 đến 6 tuổi, trẻ vào học trường mẫu giáo, chủ yếu là tạo điều kiện cho trẻ phát triển mọi khả năng và rèn luyện các giác quan để trẻ có thể nhận thức được thế giới bên ngoài Giai đoạn 2, từ 6 đến 12 tuổi, trẻ đến trường quốc ngữ, bắt đầu được học những tri thức cơ bản như học đọc, học viết, học làm tính, Giai đoạn 3, từ 12 đến 18 tuổi, trẻ vào học ở trường La tinh, ở đây thiếu niên được học nâng cao về tự nhiên, xã hội nhằm trao dồi óc phán đoán, trí thông minh,…Giai đoạn 4, từ 18 đến 24 tuổi, là giai đoạn cuối cùng của đời học trò nhằm hoàn thiện con người, học sinh vào đại học với các môn học như triết học, y học, luật học,…Ngoài ra, Comenxki rất quan tâm đến ảnh hưởng của môi trường đến hoạt động giáo dục, chú trọng đến việc giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ, phản đối những hình thức kỷ luật bằng roi vọt Ông đã khái quát kinh nghiệm dạy học của loài người và nâng lên đỉnh cao bằng cách đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác dạy học như: Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học vừa sức, đảm bảo tính trực quan, đảm bảo độ vững bền của tri thức, dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, liên tục…Cho đến nay, nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị lý luận của nó Những cống hiến quý báu của ông cho sự nghiệp giáo dục, là người đặt nền móng, cơ sở cho nền giáo dục tiên tiến của nhân loại, tư tưởng của ông được nhiều triết gia kế thừa và phát triển, trong đó có J.J.Rousseau
Chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII - có thể nói là một trong những cội nguồn tư tưởng quan trọng cho sự ra đời triết học của Rousseau Ở đây, không
thể không nói đến ảnh hưởng tư tưởng của nhà triết gia John Locke
Jokn Locke (1632 - 1704) là đại biểu duy cảm của chủ nghĩa duy vật
Anh thế kỷ XVII Ông được đánh giá là nhà tư tưởng dân chủ lập hiến hàng đầu của Anh Các tác phẩm của ông đề cập tới nhiều lĩnh vực như bàn về
Trang 23nhận thức, chính trị, giáo dục, khoan dung tôn giáo,…Trước hết cũng giống Comenxki, ông rất tin vào tác dụng của giáo dục đối với xã hội, đối với con người Chính vì vậy, ông luôn đánh giá cao vai trò của giáo dục nhưng do ảnh hưởng của tư tưởng của giai cấp tư sản, ông lại cho rằng, mỗi tầng lớp xã hội cần sự giáo dục khác nhau Ông chia giáo dục thành hai hệ thống: Giáo dục cho con quí tộc và giáo dục cho thường dân Mục đích của giáo dục là đào tạo những con người phong nhã, có tài năng, hoạt bát, lanh lợi, lịch thiệp, có những đức tính của một thương gia tư sản Cơ sở của giáo dục là hạnh phúc
và lợi ích của mỗi cá nhân Trong lý luận giáo dục Locke đặt ra mục tiêu là
xây dựng hình ảnh gentlemen, hiểu theo nghĩa “người lịch sự”, hay “quân tử”,
ngầm hiểu là giới quý tộc và tư sản Tuy nhiên, xét theo cách triển khai tư tưởng của ông, thì đó là lý luận giáo dục phù hợp với nước Anh hậu phong kiến, đang trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa; nó mang tính thiết thực, hữu ích, chú trọng rèn luyện tính nhạy bén của con người trong công việc, đề cao tính cá nhân, trong đó có tự do cá nhân, và sau cùng, lấy lý trí làm nguyên tắc tối cao Ngoài ra, trong giáo dục, ông coi trọng thể dục hơn trí dục, giáo dục trước hết phải đảm bảo cho mỗi người có một thân thể khỏe mạnh J.Locke coi nghệ thuật giáo dục là phải kích thích học trò bằng khêu gợi lòng tự ái, tự trọng, chân thực và tin ở chúa Giáo dục chủ yếu bằng việc làm, chú trọng quan sát và thực hành, chú ý ảnh hưởng của môi trường, đối tượng, gương mẫu của người lớn, xen kẽ vui chơi và học tập Ông kịch liệt phản đối giáo dục bằng roi vọt, mà giáo dục cần phải thích ứng những cá tính của trẻ, chứ không được nhồi nhét điều gì vào trí nhớ của trẻ vốn chúng không thích Đứng trên lập trường giai cấp, tư tưởng của ông còn có những hạn chế nhất định như xây dựng hệ thống giáo dục cho con nhà nghèo, nhưng
tư tưởng giáo dục của Locke cũng đã góp phần đấu tranh chống lại giáo lý của giáo hội, những tư tưởng thế tập của phong kiến, ông phủ nhận tư tưởng tiên
Trang 24thiên, coi trọng tác dụng của giáo dục, đề ra những nguyên tác giảng dạy hợp với tâm lý của trẻ em
Kế thừa những yếu tố hợp lý từ quan điểm giáo dục của Locke, Rousseau đã vận dụng để xây dựng học thuyết giáo dục của mình như nội dung giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục lao động, phản đối giáo dục bằng roi vọt,…
Sẽ là không đủ khi luận bàn về tiền đề tư tưởng, lý luận cho sự ra đời quan niệm giáo dục của Rousseau mà lại không đề cập đến ảnh hưởng của triết học khai sáng Pháp Trong thế kỷ XVIII, nước Pháp trở thành trung tâm phát triển và truyền bá chủ nghĩa duy vật và tư tưởng vô thần Các nhà tư tưởng vĩ đại thời kỳ này như Montesquieu, D Diderot, F Voltaire, Helvetius,
P Holbach…đã dùng ngòi bút của mình thu hút và tập hợp đông đảo mọi tầng lớp tiến bộ trong xã hội hướng tới cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ phong kiến, bác bỏ chủ nghĩa kinh viện, phê phán các quan niệm lỗi thời về văn hóa giáo dục và con người
Các nhà tư tưởng Khai sáng Pháp đã có sự tác động mạnh mẽ đến sự hình thành tư tưởng triết học và triết lý giáo dục của Rousseau Trong đó
không thể không nói đến Helvétius - nhà triết học duy vật Pháp, nhà giáo dục
học, ông cho rằng giáo dục là vạn năng, bằng giáo dục, người ta có thể cải tiến tư tưởng của con người và nhờ đó cải biến được xã hội Giáo dục sẽ đào tạo ra những con người yêu nước, đào tạo ra những nhân tài, Helvétius rất coi trọng tính tích cực và tính tự giác của trẻ em, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống ảnh hưởng của tôn giáo trong nhà trường Bên cạnh những yếu tố tiến
bộ, ông cũng không thể tránh được những cái nhìn lệch lạc về giáo dục trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ
Có thể nói, triết học Khai sáng trở thành cái nôi cho các nhà tư tưởng
thời kỳ này Các nhà triết học “ánh sáng” đã đưa triết học thoát khỏi cái
Trang 25bóng thần học, vứt bỏ cái siêu hình học, không còn chấp nhận toán học như
là một mô hình duy nhất của khoa học mà quan tâm đến quan sát và kinh nghiệm, đề cao con người Hòa chung tiếng nói, Rousseau đã dùng ngòi bút của mình tiếp thêm sức mạnh bảo vệ dân chủ, đòi quyền tự do, bình đẳng cho con người
Bên cạnh những yếu tố khách quan, đã góp phần cho sự hình thành quan niệm giáo dục của Rousseau, không thể không nói đến tiền đề chính, đó
là những quan điểm, tư tưởng của ông về giáo dục, đó là nền tảng để Rousseau xây dựng triết lý giáo dục của mình
1.2.2.2 Nền tảng nhân học trong triết lý giáo dục của J.J.Rousseau
Bằng ngòi bút và tư duy lý luận sắc bén, Rousseau đã khái quát triết lý
giáo dục của mình qua nhiều tác phẩm như Bàn về khế ước xã hội, Émile hay
là về giáo dục,…Trong những tác phẩm đó, ông luôn xuất phát từ con người,
nghiên cứu con người, để xây dựng phát triết tư tưởng giáo dục của mình
Trong nền tảng nhân học của mình, ông đưa ra quan niệm về con người
ở trạng thái tự nhiên, quan niệm về quyền tự nhiên của con người, hay bước chuyển biến của con người từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội…Qua
đó, làm sáng tỏ bản chất của con người, quyền tự do bình đẳng của con người
Quan niệm của Rousseau về con người ở trạng thái tự nhiên
Trạng thái tự nhiên là trạng thái xuất hiện trước trạng thái xã hội, đó là trạng thái nguyên sơ, chưa chịu bất kỳ sự tác động hay yếu tố nào khiến nó thay đổi Theo ông, con người ở trạng thái tự nhiên là con người vẫn giữ được trong mình đức tính trong sạch, cao quý, bởi vì “thiên nhiên, vốn làm mọi điều mỹ mãn” [35, tr.90]
Theo Rousseau, bản chất tự nhiên của con người là “thiện”, bởi vì ở trạng thái này, con người không phải là lý trí mà là tình cảm Tình cảm là đặc tính chung cho loài người, từ tình cảm phát sinh lòng yêu thương giữa con
Trang 26người với con người, mà ở trạng thái tự nhiên không hề có sự bất bình đẳng
xã hội giữa con người với con người, do đó mỗi con người được tự do khỏi ách thống trị Tuy nhiên, Rousseau lại nhấn mạnh một điều: “Mọi thứ từ bàn tay Tạo hóa mà ra đều tốt: mọi thứ đều suy đồi, biến chất trong tay con người” [35, tr.31] Điều ấy có nghĩa rằng, con người ở trạng thái tự nhiên là tốt, con người tự nhiên là cái sinh ra đã thế, là khuynh hướng nguyên sơ trước khi bị các thói quen của con người hay các yếu tố xã hội đã làm thay đổi, biến chất Ông viết: “chúng ta sinh ra có cảm giác, và khi ra đời, chúng ta chịu ảnh hưởng theo nhiều cách, từ những đối tượng bao quoanh ta Ngay khi nói rằng
ta ý thức được cảm giác của mình, là ta có khuynh hướng tìm kiếm hoặc trốn chạy những đối tượng sản sinh ra các cảm giác ấy, thoạt tiên tùy theo những cảm giác này dễ chịu hay khó chịu với ta…Các khuynh hướng này dần mở rộng và củng cố tương xứng với việc chúng ta trở nên mẫn cảm và sáng suốt hơn; nhưng bị thói quen của chúng ta câu thúc, chúng biến chất đi ít hay nhiều
do các ý kiến của chúng ta Trước khi có sự biến chất đó, chúng là cái mà tôi gọi là bản tính tự nhiên ở ta” [35, tr 34]
Rousseau cho rằng cần phải cải tạo lại và có thể cải tạo lại con người bằng giáo dục Giáo dục để phát triển bản tính tự nhiên của con người, loại bỏ con ngưởi khỏi những ảnh hưởng xấu của xã hội
Quan niệm của Rousseau về quyền tự nhiên của con người
Quyền tự nhiên của con người, theo Rousseau mỗi con người khi sinh
ra có các quyền tự nhiên cơ bản sau: Quyền sống, quyền tự do và bình đẳng Rousseau cho rằng, quyền được sống là quyền thiêng liêng của mỗi con người Đó là quyền mà không ai có thể tước bỏ hay xâm phạm nó Những luận giải của Rousseau trong học thuyết chính trị - xã hội của ông đều nhằm đến mục tiêu cao nhất là đảm bảo quyền sống cho con người Đó là quyền được sống xứng đáng với con người, sống trong hòa bình, trong cộng đồng xã
Trang 27hội Trong Bàn về khế ước xã hội, Rousseau viết: “Tôi muốn tìm xem trong
trật tự dân sự có chẳng một số quy tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết đối đãi với con người như con người; và có chăng những luật pháp đúng với ý nghĩa chân thực của nó” [34, tr.51] Trong số các quyền tự nhiên của con người thì quyền sống được xem là quyền cao quý, thiêng liêng nhất, là cơ sở cho mọi quyền khác của con người
Cùng với quyền sống, Rousseau coi tự do, bình đẳng là những quyền tự nhiên của con người Quyền tự do xuất phát từ chính bản chất của con người:
“Tự do là từ bản chất con người mà có Luật đầu tiên của tự do là mỗi người phải được chăm lo sự tồn tại của mình…và do đó tự mình làm chủ lấy mình” [34, tr 53] Và, do vậy, không ai lại từ bỏ quyền làm người của mình, bởi từ
bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa vụ làm người…
Quyền tự do tự nhiên của con người gắn liền với quyền bình đẳng
Trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” Rousseau đã khẳng định: bản chất
của con người là tự do, nhưng “Người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích” Bênh vực quyền sống, quyền tự do, bình đẳng của con người, Rousseau đi đến tìm hiểu tình trạng bất bình đẳng, trái với quy luật tự nhiên với bản chất tự nhiên của họ như vậy Theo Rousseau, “Trong trạng thái tự nhiên, có một sự bình đẳng về thực chất mang tính hiện thực và không thể xóa bỏ được, vì trong trạng thái ấy, sự khác biệt duy nhất từ người này đến người kia không thể đủ lớn để làm cho kẻ này phụ thuộc vào kẻ kia” [35, tr.319] Trong trạng thái đó con người chỉ có sự bất bình đẳng về tuổi tác
và sức khỏe, còn lại họ hoàn toàn ngang nhau, chưa có sự phân biệt địa vị, đẳng cấp Rousseau lý giải nguồn gốc sự bất bình đẳng giữa người với người, ông gắn bất bình đẳng xã hội với sự xuất hiện tư hữu nảy sinh trong quá trình hoàn thiện công cụ sản xuất cũng như với những lầm lạc của con người
Trang 28Theo Rousseau, người thực sự tự do chỉ muốn cái gì mình có thể đạt được và làm cái gì mình thích Và con người không ai sinh ra là vua, là vĩ nhân hay là người giàu có “Tất cả đều sinh ra trần truồng và nghèo nàn, tất cả đều có thể bị nỗi cơ cực của cuộc sống, các nỗi buồn, các tai ương, các nhu cầu, các nỗi đau đủ loại, sau hết tất cả đều phải chết Đó là thực trạng của con người, đấy là cái không người nào được miễn trừ” [35, tr.279]
Với Rousseau, con người ai sinh ra cũng đã có quyền tự do và quyền bình đẳng, tất cả đều ngang nhau trên mọi phương diện, không có sự bắt bớ,
sự phục tùng vô điều kiện như những kẻ nô lệ Chính từ quan điểm đó, ông đưa ra quan niệm mới về giáo dục, đó là “giáo dục tự nhiên và tự do” Nghĩa
là, xuất phát từ tâm sinh lý của từng lứa tuổi, qua các giai đoạn phát triển, để xây dựng nền giáo dục với phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp
Quan niệm của Rousseau về bước chuyển của con người từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội
Khi con người sống ở trạng thái tự nhiên được tự do và bình đẳng, thì bước sang trạng thái xã hội, con người lại phải chịu đầy rẫy những bất công
và áp lực, các mối quan hệ xã hội hoàn toàn bị biến mất, đối lập với bản chất
tự nhiên của con người Với Rousseau, bản chất tự nhiên của con người đối lập với bản chất xã hội, loài người tốt về bản chất nếu sống ở trạng thái tự nhiên và bị tha hóa bởi chính xã hội
Theo Rousseau, chính sự phát triển tư duy, nhận thức của con người, và
sự xuất hiện sở hữu tư nhân đã dẫn đến phá vỡ trạng thái tự nhiên, dẫn đến xuất hiện xã hội công dân Sự phát triển của sản xuất với việc phát hiện ra nhiều công cụ lao động mới, hoàn thiện hơn đã dẫn đến sự ra đời của xã hội công dân dựa trên sở hữu tư nhân Kéo theo sau quyền tư hữu là tình trạng chiếm đoạt tài sản, người bóc lột người, nhà nước ra đời, tạo điều kiện cho giai cấp thống trị đàn áp giai cấp khác, khiến con người bị tha hóa, thiên
Trang 29nhiên ngày càng kiệt quệ Tuy nhiên, “quá trình chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội tạo ra trong con người một sự chuyển biến kỳ diệu, trong cách cư xử, tính công bằng thay thế bản năng, hành động trước đây vô thức nay đượm màu đạo đức…Từ một con vật ngu hèn phát sinh ra một người biết suy nghĩ” [41, tr.449] Như vậy, sở hữu tư nhân xuất hiện từ khả năng tự hoàn thiện của con người nhằm phát triển sản xuất, làm cho con người văn minh hơn, đồng thời lại trở thành nỗi bất hạnh cho con người, là nhân tố chính tạo bước chuyển của con người từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội
1.3 Tác phẩm “Émile hay là về giáo dục”
1.3.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm “Émile hay là về giáo dục”
Tác phẩm “Émile hay là về giáo dục” ra đời tháng 5 năm 1762, được công bố cùng năm với tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” Nếu như “Bàn về khế ước xã hội” đã trở thành biểu tượng của cách mạng Pháp thời kỳ đỉnh cao
với lý luận về việc cần thiết phải xây dựng một xã hội dân chủ lý tưởng và
những phương pháp để thực thi mô hình Nhà nước “hợp lý tính" trong xã hội
đó, đề cao tự do và bình đẳng chính trị cho mọi công dân, thì “Émile hay là về giáo dục” chính là "tuyên ngôn giải phóng tuổi trẻ " với lý luận đòi tự do cho
con người cá nhân ở lứa tuổi thiếu niên Xuyên suốt năm quyển - tương ứng với năm giai đoạn phát triển khác nhau của thời kỳ niên thiếu, từ lúc mới sinh
ra cho đến khi trở thành một công dân trong xã hội - tư tưởng của Rousseau đều nhằm vào một mục đích duy nhất là tạo ra mẫu người công dân tự do cho một xã hội dân chủ lý tưởng, chống lại chủ trương giáo dục nhằm tạo ra mẫu người nô lệ của giáo hội và tay sai của Nhà nước phong kiến [Xem: 2]
Trong lời nói đầu của tác phẩm Rousseau viết: “Người ta không hề hiểu biết tuổi thơ: dựa trên những ý tưởng sai lầm của ta về tuổi thơ, thì càng đi, càng lạc lối Những bậc hiền minh nhất chuyên chú trọng vào những điều con người cần biết, mà không coi trọng những điều trẻ con có thể học được Họ
Trang 30luôn tìm kiếm người lớn trong đứa trẻ, mà không nghĩ về hiện trạng của đứa trẻ trước khi nó là người lớn Đó là điều tôi đã chuyên tâm nghiên cứu hơn cả,
để nếu như toàn bộ phương pháp tôi đề xuất có sai lầm và hão huyền, thì mọi người vẫn có thể lợi dụng được các quan sát của tôi.” [35, tr.26] Phê phán nền giáo dục hiện hành, đồng thời nhấn mạnh sự khác biệt giữa lý luận giáo dục của ông so với các bậc tiền bối, với phương pháp giáo dục mà Rousseau đưa ra "hoàn toàn trái ngược lại", nghĩa là phải căn cứ theo sự tiến triển của tự nhiên, "luật tự nhiên", "quyền tự nhiên" và lấy bản chất con người trong
"trạng thái tự nhiên" làm điểm xuất phát Nói cách khác, do thiên nhiên đã tạo
ra con người là trẻ em trước khi trở thành người lớn, nên phải để cho trẻ em được hưởng những quyền của trẻ em và chăm sóc, giáo dục trẻ em cũng có những cách riêng, phù hợp với thể trạng và khả năng nhận thức trong từng giai đoạn của lứa tuổi
Cuốn “Émile hay là về giáo dục” được Rousseau xem là “quyển sách
hay nhất và quan trọng nhất trong mọi trước tác của tôi” [35, tr.8] Tác phẩm được dịch giả Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương dịch, Bùi Văn Nam Sơn
giới thiệu, được ấn hành bởi nhà xuất bản Tri Thức năm 2008 Tác phẩm là sự
hòa quyện giữa văn chương và triết luận, đó là một chuyên luận về giáo dục,
hay đúng hơn là một chuyên luận về nghệ thuật hình thành con người
Để có thể phân tích một cách chi tiết và có hệ thống quan niệm giáo dục của Rousseau, cần phải phác họa những nét cơ bản về kết cấu và nội
dung tác phẩm nhằm đưa ra một bức tranh khái quát nhất về “Émile hay là
Trang 31Sơn; Lời nói đầu của J.J.Rousseau về tác phẩm, phần còn lại là toàn bộ tác phẩm
“Émile hay là về giáo dục” Nội dung tác phẩm được chia thành 5 phần:
Quyển I: Kể về giai đoạn bé Émile từ lúc ra đời đến lúc tập nói, tức là
khoảng từ 0 đến 2 tuổi Theo Rousseau, ngay ở giai đoạn này, đứa trẻ vừa sinh ra đã không được tự do, “đứa trẻ sơ sinh có nhu cầu duỗi chân tay và động đậy chân tay, để kéo chân tay ra khỏi trạng thái tê độn do chúng đã co cắp quá lâu…” [35, tr.40] Tuy nhiên, đứa trẻ vừa ra khỏi bụng mẹ, vừa mới được tự do động đậy và duỗi chân duỗi tay, là người ta cho nó những rằng buộc mới Người ta bó chặt nó trong tã nịt, người ta để nó nằm đầu cố định còn chân duỗi ra, hai cánh tay buông xuôi cạnh thân hình; đủ loại quần áo và vải vóc quấn quoanh nó, không cho nó thay đổi tư thế…[35, tr.40-41] Theo ông, những điều đó làm ảnh hưởng đến đứa trẻ, cho chúng cảm giác đầu tiên
là một cảm giác đau đớn, khổ sở và ông coi đó là lối giáo dục dã man, “hy sinh hiện tại cho một tương lai mơ hồ, gong cùm đứa trẻ bằng các xiềng xích
đủ loại và bắt đầu làm cho nó khổ sở để chuẩn bị trước cho nó một thứ hạnh phúc nào đó mà thiết tưởng nó sẽ không bao giờ được hưởng thụ” [35, tr.53] Ngụ ý, Rousseau muốn nói đến sự tự do như bản tính tự nhiên của con người, cách giáo dục trẻ không bắt ai làm nô lệ cho nó ngay từ thuở lọt lòng, để trẻ thích nghi dần với điều kiện tự nhiên nguyên thủy, có như vậy mới tạo cho trẻ sức đề kháng tốt, thích nghi tốt với môi trường xung quoanh
Theo Rousseau, việc quan trọng trong giai đoạn này là đứa trẻ cần được chăm sóc tốt về sức khỏe, thể trạng và hãy để trẻ được phát triển một cách tự nhiên theo tiến trình phát triển sinh lý của một con người, để trẻ được trải nghiệm trong mọi sự việc, tình huống có khả năng xảy ra đối với nó, dù là đau đớn Các bậc cha mẹ chỉ nghĩ đến sự bảo tồn con mình, phòng ngừa để nó không bị chết, nhưng Rousseau đã chỉ ra điểu đó là chưa đủ, mà cần dạy cho
nó tự bảo tồn khi là người trưởng thành, dạy nó chịu đựng các đòn của số
Trang 32phận, dạy nó không sợ giàu sang hay nghèo khổ, dạy nó sống nếu cần, trên băng giá miền Islande hay trên núi đá nóng bỏng vùng Malte…Rousseau viết:
“Con người đã sống nhiều nhất không phải là người đã đếm được nhiều năm nhất, mà là người đã cảm nhận cuộc đời được nhiều nhất Có kẻ sống đến trăm tuổi, mà đã chết từ khi ra đời Giá như người đó xuống mồ ở tuổi thanh xuân lại hơn, nếu như người đó sống ít ra là cho tới lúc ấy.” [35, tr.39] Con người mà Rousseau muốn nói đến, đó là con người công dân xã hội, con người hành động, biết sống vì người khác, không ganh đua, không ghen tị mà bằng lòng với thực tế, biết gạt bỏ hạnh phúc riêng của bản thân vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng
Quyển II: Giáo dục trẻ trong giai đoạn từ 2 đến 12 tuổi Trong giai đoạn
này, cậu bé Émile đang ở lứa tuổi nhi đồng, sự phát triển của cậu bé gắn với các trò chơi giáo dục, chơi mà học, các hình thức giải trí, trò chơi vận động,…Theo Rousseau, chính độ tuổi này đứa trẻ được học những bài học đầu tiên về lòng dũng cảm và bằng cách chịu đựng không hoảng sợ những đau đớn nhẹ và tập chịu đựng dần từng mức độ những nỗi đau đớn Chính vì vậy, “thay vì để nó bị giam hãm trong không khí tù đọng của một căn phòng, hãy dẫn nó hàng ngày ra giữa cánh đồng Ở đó, cho nó chạy, nó nô đừa nhảy nhót, cho nó ngã hàng trăm lần mỗi ngày, càng hay; nó sẽ học được sớm hơn cách đứng dậy Trạng thái khoan khoái dễ chịu khi được thoải mái tự do bù đắp được rất nhiều thương tích” [35, tr.87] Hay khi trẻ nghịch ngợm làm vỡ cửa kính, thay vì la mắng chúng, hãy để cho chúng một lần bị rét trong chính căn phòng đó, vì hình phạt duy nhất có thể ảnh hưởng đến trẻ là hình phạt xuất hiện dưới mắt nó như kết quả của hành động xấu xa của nó, việc học chữ cũng đừng gượng ép làm gì, cứ để cho trẻ tự cảm nhận được rằng những cơ hội được mời đi chơi, đi ăn tiệc sẽ qua đi vì lý do nó không đọc được chữ trong các thiệp mời đó, nó sẽ tự khắc tìm cách học đọc, học viết… Như vậy,
Trang 33trong hoạt động giáo dục, Rousseau muốn trẻ con được tự do trong hành động của nó, song đó là “tự do đúng mực thước", tự do theo luật định, chứ không phải tự do vô độ Đứa trẻ không bị ép buộc hành động theo mệnh lệnh của người khác, song hành động của nó lệ thuộc vào sự vật khách quan Việc lệ thuộc vào sự vật khách quan, vào quy luật tự nhiên không làm sứt mẻ sự tự do vốn có của con người, mà chỉ có sự lệ thuộc vào ý muốn bất thường của kẻ khác mới biến con người thành nô lệ của con người mà thôi
Trong giai đoạn này, Rousseau đưa ra phương pháp giáo dục “học mà chơi, chơi mà học” Theo ông, việc để cho trẻ khó nhọc tự tìm tòi, khám phá thế giới giữa thiên nhiên hoang dã sẽ kích thích ở nó óc sáng tạo và tinh thần
tự chủ, đồng thời thông qua đó, trẻ tự tạo được sự tráng kiệt về thể chất, thích ứng với mọi điều kiện của thiên nhiên - điều kiện quan trọng giúp cho trẻ sống và làm việc sau này
Quyển III: Giáo dục trẻ trong giai đoạn từ 12 tuổi đến 15 tuổi Trong
giai đoạn này, Émile được giáo dục qua sách vở, qua kinh nghiệm cuộc sống, được học kiến thức thực nghiệm hướng nghiệp cho tương lai Cậu được học toán học, tự nhiên học, khoa học thực nghiệm, lịch sử nhân loại, tâm lý học để
có thể nắm vững các tri thức và ứng dụng vào đời sống Cậu bé Émile đang đi vào tuổi trưởng thành cho nên việc phát triển tư duy logic, tư duy lý luận, phân tích và tổng hợp được các nhà giáo dục coi trọng
Ở lứa tuổi này, trẻ bắt đầu có sự phát triển nhanh chóng hơn rất nhiều
so với các nhu cầu của nó Nên nguyên tắc căn bản của giáo dục trong giai đoạn từ mười hai đến mười lăm tuổi là dẫn cho trẻ đến với ý niệm về "lợi ích"
- những điều hữu ích với chúng Để từ đó, khi làm việc gì, câu hỏi "Cái đó có ích gì?" luôn là tiếng nói quyết định cho các hành vi trong đời sống của chúng, nó khơi dậy lòng hiếu kỳ, làm nảy nở sự thèm muốn nơi trẻ và trẻ có bổn phận tự tìm thấy điều đó, nó tránh cho trẻ sự nhạt nhẽo, ngu ngốc khi
Trang 34chọn môn học Nói cách khác, giáo dục phải xuất phát từ quyền lợi của trẻ chứ không phải vì mục đích cao siêu nào khác Rousseau cũng đã chọn cho Émile nghề mộc, một nghề lao động chân tay vất vả nhưng lại "kiếm được ít tiền hơn hết" Cái chính trong việc chọn nghề này là ở chỗ ông muốn Émile được "học nghề làm người" Bởi lẽ, theo ông, nếu gạt bỏ mọi thành kiến thông thường thì nghề mộc là một nghề quan trọng và đáng kính, nó làm cho con người yêu lao động, biết vượt qua được những khó khăn và nhất là xây dựng được nơi họ sự đồng cảm với người nghèo - thành phần đông đảo nhất trong xã hội Có lẽ đây là phần mà Rousseau hứng thú nhất, bởi ông đã gợi lại nỗi gian truân của đời mình qua những trang giáo huấn nghiêm túc về vị trí của người lao động trong xã hội
Quyển IV: Giáo dục trẻ trong giai đoạn từ 15 đến 20 tuổi Đây là độ
tuổi của lý trí và những đam mê Lúc Émile đã trở thành chàng trai trẻ và giáo dục trang bị cho cậu những kiến thức về đạo đức, giới tính, thẩm mỹ,…và giáo dục tôn giáo để bước vào thế giới của người lớn mà không ngỡ ngàng
Nguyên tắc giáo dục trong giai đoạn này là phát triển bản tính tự nhiên của con người, loại bỏ khỏi con người những ảnh hưởng xấu của xã hội Theo Rousseau, mọi người sinh ra đều bình đẳng và theo bản tính tự nhiên thì không ai sinh ra là vua, là vĩ nhân, là đình thần, là giàu có, "tất cả sinh ra đều trần truồng và nghèo nàn, tất cả đều có thể bị nỗi cơ cực của đời sống, các nỗi buồn, các tai ương, các nhu cầu, các nỗi đau đủ loại, sau hết tất cả đều phải chết Đó là thực trạng của con người, đấy là cái mà không người nào được miễn trừ" [35, tr.297]
Émile được giáo dục về đạo đức và tôn giáo theo những tình cảm tự nhiên của nó, kích thích ở nó lòng từ bi, lòng trắc ẩn, lòng từ thiện và tất cả những tính cách hấp dẫn, dịu dàng mà con người tự nhiên ưa thích, ngăn cản những thói ghen tị, tham lam, độc ác có thể bị ảnh hưởng từ xã hội Rousseau
Trang 35muốn hướng thanh niên đến lòng nhân đạo, cần phải chỉ cho họ thấy được khía cạnh đau buồn của số phận ấy và dạy cho họ hiểu rằng họ cũng có thể sa vào số phận của những kẻ vô phúc đó Phải dạy cho trẻ để nó luôn nhớ rằng, con người đều như nhau trong tất cả các giai cấp, "chính nhân dân cấu thành nhân loại, cái gì không phải là nhân dân thì không mấy quan hệ đến nỗi không đáng kể đến những giai cấp đông đảo nhất đáng được kính trọng nhiều nhất" [35, tr.169] Do đó, tình thương yêu con người không nên chỉ bó hẹp trong một cộng đồng nhỏ bé, mà phải mở rộng ra tinh thần nhân loại trung, nghĩa là phải dạy cho trẻ em yêu mến tất cả mọi người Cuối cùng, Émile cũng đã tự lựa chọn theo "tôn giáo tự nhiên" (luật tự nhiên theo cách lý giải của Rousseau) sau khi được tự do nghe Đức Cha trình bày ý kiến về Thượng đế Đây cũng là điểm đặc biệt trong quan niệm về giáo dục tôn giáo của Rousseau, nó đối lập với kiểu nhồi nhét những thuyết giáo, những tín điều buộc con người phải chấp nhận
Quyển V: Giai đoạn Émile từ 20 đến 25 tuổi, độ tuổi khôn lớn và hôn
nhân, Rousseau kể chuyện về Sophie, vị hôn thê tương lai của Émile Rousseau dành riêng quyển cuối cùng này để nói về giáo dục các em gái
Khi Émile đã trưởng thành, cậu là hiện thân của mẫu người như Rousseau mong muốn: tự chủ trong hành động của mình, từ điệu bộ, dáng vẻ, ánh mắt đều biểu lộ sự tự tin chứ không phải sự phục tùng hèn hạ của một tâm hồn nô lệ, cũng như không có thái độ hách dịch của một chủ nhân, nó không làm nô lệ cho ai, song cũng không bắt ai làm nô lệ cho mình, nó yêu hòa bình, đau khổ khi người khác đau khổ, mong muốn hạnh phúc và có thể góp phần tạo ra hạnh phúc, chia sẻ hạnh phúc ấy với mọi người, nó quan tâm đến những
kẻ khốn cùng và không bao giờ hờ hững đối với những phương cách để chấm dứt những nỗi khổ của họ Émile được giới thiệu với Sophie - một cô gái cũng được giáo dục bằng phương pháp như Émile và ở họ có sự đồng điệu về tâm
Trang 36hồn, tình yêu nảy nở và dẫn tới hôn nhân Cả Sophie và Émile sẵn sàng bước vào xã hội mà không sợ bị xã hội làm thay đổi Hơn thế nữa, họ có thể trở thành những tác nhân quan trọng trong quá trình cải tạo xã hội
Để viết nên tác phẩm “Émile hay là về giáo dục”, đó là sự tổng hợp, sự
tích lũy, mà Rousseau đã trải qua trong một cuộc đời đầy sóng gió, gian truân, với tâm huyết, cùng với khát vọng giải phóng con người, tư tưởng của ông đều nhằm một mục đích duy nhất là tạo ra một mẫu người công dân tự do cho một xã hội dân chủ lý tưởng Và xuyên suốt tác phẩm là 5 quyển - tương ứng với 5 giai đoạn phát triển của một con người từ lúc sinh ra cất tiếng khóc chào đời cho đến lúc trưởng thành, trở thành một công dân lý tưởng trong xã hội
Kết luận chương 1
Là một trong những nhà triết học tiên phong của phong trào khai sáng Pháp, Rousseau đã dành chọn tâm huyết và cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh đòi tự do, bình đẳng, với triết lý giải phóng con người và thủ tiêu sự bất bình đẳng trong xã hội Trước những biến cố của cuộc sống, Rousseau đã trải qua một cuộc đời đầy thăng trầm, với khát vọng tự do, bình đẳng và khát khao mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, ông đã thực sự dấn thân vào cuộc đấu tranh chính trị và chịu sự công kích mạnh liệt của giới thượng lưu quý tộc, chịu một cuộc sống ẩn giật…Nhưng điều đó không làm thay đổi lập trưởng tư tưởng của ông Ông tiếp tục viết và công khai phản kích đấu tranh chống lại sự bất bình đẳng
Một trong những đóng góp lớn lao đó là tư tưởng của ông về giáo dục, giáo dục con người, hình thành những con người công dân lý tưởng, điều đó
đã được ông đúc kết qua nhiều tác phẩm, trong đó tác phẩm Émile hay là về giáo dục là lý luận độc đáo về vai trò của giáo dục, những nguyên lý, nguyên
tắc trong giáo dục để xây dựng nên mẫu người công dân cho một xã hội dân chủ lý tưởng
Trang 37Chương 2 TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA J.J.ROUSSEAU QUA TÁC PHẨM
“ÉMILE HAY LÀ VỀ GIÁO DỤC”: NỘI DUNG CƠ BẢN,
GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
2.1 Mục tiêu và đối tượng của giáo dục
2.1.1 Mục tiêu của giáo dục
Rousseau lên án nền giáo dục trong xã hội đương thời, ông gọi đó là sự giáo dục man rợ: “Vậy phải nghĩ gì đây về sự giáo dục man rợ hy sinh hiện tại cho một tương lai vô định, sự giáo dục bắt đứa trẻ mang đủ loại xiềng xích, và khởi đầu bằng việc làm nó khốn khổ, để chuẩn bị từ xa cho nó một thứ hạnh phúc gì chẳng biết mà có lẽ nó sẽ chẳng bao giờ thụ hưởng” [35, tr.87]
Trong xã hội đương thời, ông không khỏi công phẫn “khi nhìn những
kẻ bất hạnh tội nghiệp phải mang cái ách không chịu nổi, bị buộc làm việc liên miên như tù khổ sai, mà không được chắc chắn rằng bao nhiêu chăm sóc
ấy liệu có khi nào hữu ích cho chúng! Tuổi của sự vui chơi trôi qua giữa những khóc lóc, trừng phạt, dọa nạt, tình trạng nô lệ Người ta làm kẻ khổ bất hạnh vì điều tốt cho hắn; và người ta không nhìn thấy cái chết mà người ta vời gọi, và nó sắp tóm lấy hắn giữa bộ máy buồn thảm họ Ai biết được bao nhiêu trẻ em bị tiêu vong, là nạn nhân của sự khôn ngoan điên cuồng vô lý ở một người cha hay một người thầy? Sung sướng vì thoát khỏi sự tàn ác của người
đó, điều lợi duy nhất chúng rút được từ những nỗi nhọc nhằn họ đã bắt chúng chịu là chết đi không nuối tiếc cuộc đời mà chúng chỉ biết có dằn vặt khổ đau
mà thôi.” [35, tr 87-88]
Theo Rousseau, ở xã hội đó con người luôn bị động khi chạy theo xã hội, chính nền giáo dục đương thời đã vô tình tạo nên những con người như vậy, bởi sự giáo dục trong xã hội đương thời chỉ tập chung vào những điều
Trang 38con người cần biết, không coi trọng những điều trẻ con có thể học được, những điều mà chúng yêu thích Họ luôn tìm người lớn trong những đứa trẻ
mà không nghĩ về hiện trạng của đứa trẻ trước khi nó là người lớn…Từ những hạn chế của nền giáo dục đương thời, lên án nền giáo dục đó, Rousseau đã xây dựng nền giáo dục mới, với mục tiêu giáo dục là tạo ra những công dân lý tưởng cho một xã hội dân chủ lý tưởng
Nếu phần lớn các nhà giáo dục trước đó đều coi mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những công dân mẫu mực cho xã hội thì Rousseau lại cho rằng việc giáo dục nên một con người kép (con người và công dân) là “sự nhọc công uổng phí” Bởi vì, sự giáo dục này hướng về hai mục đích tương phản mà lỡ
cả hai, sự giáo dục hòng tạo nên một con người kép luôn ra vẻ đem lại tất cả cho người khác, song bao giờ cũng chỉ mang lợi cho riêng mình mà thôi Rousseau đề xuất một nền giáo dục hướng con người tới sự phát triển tự nhiên chứ không phải giáo dục để con người thực hiện một chức năng nhất định nào đó trong xã hội Ông viết: “nếu một cá nhân được đào tạo cho vị trí của anh ta mà ra khỏi vị trí ấy, anh ta không còn thích hợp cho việc gì nữa hết” [35, tr.38]
Theo Rousseau, mục tiêu đầu tiên của giáo dục, trước hết là tạo ra mẫu người công dân tự do cho một xã hội lý tưởng Điều đó, được ông phác họa trong tác phẩm “Émile hay là về giáo dục”, cậu bé Émile sau khi đã trải qua 5
giai đoạn phát triển, để trở thành một mẫu người lý tưởng Mẫu người lý tưởng này, do đã được giáo dục nên có khả năng chống lại các tật xấu để đến khi trưởng thành gia nhập xã hội sống chung với người khác, vẫn luôn giữ được bản thân trong sạch đúng như bản chất vốn có của thiên nhiên Rousseau viết: “Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận con người Theo tôi ai trong chúng ta biết chịu đựng tốt hơn cả các điều hay điều dở của cuộc đời này là người được giáo dục tốt hơn cả; từ đó mà thấy rằng sự giáo dục đích thực” [35, tr.38]
Trang 39Mục tiêu giáo dục là dạy đứa trẻ làm người tự do chứ không đào tạo đứa trẻ thành ông này bà khác trong xã hội, hay làm công dân của một chế độ nào đó nhất định Con người tự do là con người khi tư duy, khi hành động không bị ràng buộc bởi vật chất, thành kiến hay dư luận, không bị những đam
mê nhục dục khống chế Tức là con người trưởng thành và độc lập trong tư duy trong phán đoán, biết sử dụng lý trí của mình để suy xét, quyết định và hành động một cách hợp lẽ trong sự tôn trọng “tự nhiên” và sự thật, tôn trọng người khác chứ không chịu lụy thuộc bất cứ thứ gì
Ông viết: “Cho đến giờ tôi chưa hề phân biệt các địa vị, các đẳng cấp, các tài sản; và sau này tôi cũng không phân biệt nhiều hơn là mấy, vì con người vẫn là như thế ở mọi địa vị; vì người giàu chẳng có dạ dày to hơn người nghèo và chẳng tiêu hóa tốt hơn người nghèo; vì ông chủ chẳng có cánh tay dài hơn cũng như mạnh hơn cánh tay người nô lệ của mình; vì một người quyền quý chẳng cao quý hơn một người bình dân; và cuối cùng do các nhu cầu tự nhiên ở khắp nơi đều giống nhau, nên các phương sách để cũng ứng cho các nhu cầu ấy ắt phải như nhau ở khắp nơi Hãy làm cho sự giáo dục con người phù hợp với con người, chứ không phải với cái gì không hề là anh ta Các vị không thấy rằng trong khi ra sức đào tạo con người chỉ chuyên cho một địa vị, là các vị khiến cho anh ta thành vô dụng với bất kỳ địa vị nào khác, và nếu như tùy vận rủi may, là các vị chỉ ra sức khiến cho anh ta thành bất hạnh?” [35, tr 256] Theo Rousseau, giáo dục một con người không phải
để người đó đạt đến một địa vị hay đứng ở một đẳng cấp nào đó trong xã hội, hay để người đó có được nhiều tài sản Mục tiêu giáo dục không phải là tạo ra người giàu hay người nghèo, hay là để phân biệt giữa giữa người giàu người nghèo, mà trong trật tự tự nhiên, tất cả mọi người đều bình đẳng, mà theo ông,
ở đó con người chỉ có một nghề duy nhất được phép học đó là học “làm người” Ông khẳng định: “trong trật tự tự nhiên, nơi mọi người đều bình
Trang 40đẳng, thì làm người là nghề nghiệp chung của họ Và hễ ai đã được giáo dục
để làm người, ắt không thể thất bại trong việc hoàn thành mọi nhiệm vụ đặt ra cho mình…Ra khỏi vòng tay tôi - và tôi tán thành, học trò tôi sẽ không phải là quan chức, không phải là người lính, không phải là tu sĩ, nó trước hết sẽ thành người” [35, tr.19-20]
Rousseau viết: “Sống, chính là nghề nghiệp mà tôi muốn dạy cho học trò mình” [35, tr.20] Sống như thế nào, sống làm sao để con người thấy được hết ý nghĩa của cuộc sống, cảm thấy tự do và hạnh phúc trong những năm tháng mà mình sống, đấy là điều Rousseau muốn dạy học trò của mình, sống không phải là sống được bao lâu, mà quan trọng chúng ta sống thế nào và cảm nhận cuộc đời được bao nhiêu Ông viết: “Sống, không phải là hít thở, đó là hành động, đó là sử dụng các khí quan của chúng ta, sử dụng các giác quan, các năng lực, mọi bộ phận của bản thân chúng ta, chúng cho ta cảm giác về sự tồn tại của mình Con người đã sống nhiều nhất không phải là người đã đếm được nhiều năm nhất, mà là người đã cảm nhận cuộc đời được nhiều nhất Có
kẻ sống đến trăm tuổi, mà đã chết từ khi ra đời.” [35, tr.39] Đây cũng chính
là mục tiêu giáo dục, muốn con người hướng đến
Để có được mẫu người công dân lý tưởng, thì ngay từ lúc sinh ra, hãy
để đứa trẻ được sống tự do, hãy để tự nhiên rèn luyện chúng, thay vì bao bọc chúng, nâng niu chúng, hay một sự gò bó quá mức Nên theo ông: “thay vì để
nó bị giam hãm trong không khí tù đọng của một căn phòng, hãy dẫn nó hàng ngày ra giữa cánh đồng Ở đó, cho nó chạy, nó nô đừa nhảy nhót, cho nó ngã hàng trăm lần mỗi ngày, càng hay; nó sẽ học được sớm hơn cách đứng dậy Trạng thái khoan khoái dễ chịu khi được thoải mái tự do bù đắp được rất nhiều thương tích” [35, tr.87] Hay khi trẻ nghịch ngợm làm vỡ cửa kính, thay
vì la mắng chúng, hãy để cho chúng một lần bị rét trong chính căn phòng đó,
vì hình phạt duy nhất có thể ảnh hưởng đến trẻ là hình phạt xuất hiện dưới