1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng khmer nam bộ của đài tiếng nói việt nam hiện nay (khảo sát chương trình do cơ quan thường trú đài tiếng nói việt nam khu vực đbscl thực hiện từ tháng 092014 – 022015)

158 13 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Chương Trình Phát Thanh Tiếng Khmer Nam Bộ Của Đài Tiếng Nói Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Trương Thanh Tùng
Người hướng dẫn TS. Trương Thị Kiên
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ do Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long thực hiện là một trong 12 chương trình phát thanh tiếng dân tộc th

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRƯƠNG THANH TÙNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG KHMER NAM BỘ

CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát chương trình do Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực ĐBSCL thực hiện từ tháng 09/2014 – 02/2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

CẦN THƠ - 2015

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRƯƠNG THANH TÙNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG KHMER NAM BỘ

CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát chương trình do Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực ĐBSCL thực hiện từ tháng 09/2014 – 02/2015)

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG THỊ KIÊN

CẦN THƠ - 2015

Trang 3

XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày … tháng 10 năm 2015

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Phạm Huy Kỳ

Trang 4

và các số liệu, dẫn chứng được trích dẫn trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực, khách quan Các kết luận trong luận văn đưa ra chưa được công

bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Trang 5

Danh mục các bảng, biểu đồ

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN VỀ

1.2 Thực tiễn việc đánh giá năng lực, nhu cầu tiếp nhận thông tin

của đồng bào và tiêu chuẩn đánh giá chương trình phát thanh

1.3 Vai trò của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với đồng

Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT

THANH TIẾNG KHMER NAM BỘ TRÊN SÓNG ĐÀI TIẾNG

2.1 Sơ lược về chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ trên

2.2 Đánh giá chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ 36 2.3 Nguyên nhân thành công, hạn chế của chương trình phát thanh

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG

Trang 6

Chữ viết tắt Chữ đầy đủ

CTV : Cộng tác viên

CQTT : Cơ quan thường trú

DTTS: Dân tộc thiểu số

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

Đài TNVN: Đài Tiếng nói Việt Nam

PT-TH: Phát thanh – Truyền hình

Trang 7

Trang

Biểu đồ 2.1: Khảo sát tổng hợp những tiết mục mà thính giả

thích nghe từ tháng 9-2014 đến 02-2015 38 Biểu đồ 2.2: Tổng hợp ý kiến thính giả về mức độ nghe

chương trình phát thanh tiếng Khmer trên sóng

Biểu đồ 2.3: Khảo sát tổng hợp mức độ quan tâm những nội

dung thông tin từ tháng 9-2014 đến 02-2015 57 Biểu đồ 2.4: Khảo sát tổng hợp về đánh giá mức độ hấp dẫn

trong nội dung thông tin từ tháng 9-2014 đến

Biểu đồ 2.5: Tổng hợp ý kiến thính giả đánh giá việc sử dụng

tiếng nói của đồng bào dân tộc Khmer trên sóng

Biểu đồ 2.6: Tổng hợp ý kiến về hình thức nghe của thính giả 71 Biểu đồ 2.7: Tổng hợp ý kiến về mức thời lượng thính giả yêu

cầu chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ 72 Biểu đồ 2.8: Tổng hợp ý kiến thính giả về thời điểm nghe

chương trình phát thanh tiếng Khmer 73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, đồng bào Khmer ở ĐBSCL có khoảng 1,3 triệu người, là dân tộc có dân số cao thứ hai trong khu vực này Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer Tây Nam bộ đã được triển khai thực hiện và đi vào cuộc sống

Tuy nhiên, dù được đầu tư phát triển, song hiện nay, vùng Tây Nam Bộ vẫn còn nhiều bất cập trước yêu cầu mới về phát triển kinh tế - xã hội Tình hình an ninh chính trị cơ bản ổn định, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp Các tổ chức phản động “Khmer Campuchia Krom” vẫn đang lợi dụng tranh chấp đất đai, những sơ hở trong chính sách và thực hiện chính sách

về dân tộc, tôn giáo trong thời gian qua để kích động khiếu kiện đông người Bên cạnh đó, so với các dân tộc khác trong khu vực, đồng bào Khmer có trình

độ kinh tế - xã hội và dân trí thấp hơn, khoảng cách phát triển có xu hướng giãn rộng Chính vì thế, việc đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc không để cho các thế lực phản động lợi dụng kích động, phá hoại chiến lược đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Trong bối cảnh đổi mới toàn diện của Đài Tiếng nói Việt Nam nói riêng và ngành phát thanh Việt Nam nói chung, việc nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số - một kênh thông tin quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng là yêu cầu khách quan Trên thực tế, bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, phát thanh tiếng dân tộc thiểu số chậm đổi mới so với các chương trình phát thanh khác của Đài Tiếng nói Việt Nam, từ nội dung cho đến hình thức, phương thức thể hiện Phát thanh tiếng dân tộc thiểu số sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ nếu như không thu hút được thính giả đến với chương trình

Trang 9

Chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ do Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long thực hiện là một trong 12 chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số của Hệ Phát thanh Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV4) tính đến thời điểm này Chương trình phát thanh tiếng Khmer có thuận lợi là được phát sóng từ năm 1962 Đây là một trong những chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số sớm nhất của Đài Tiếng nói Việt Nam cũng như một số Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương ở khu vực miền Tây Nam bộ Thời gian qua, chương trình phát thanh tiếng Khmer luôn được Lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam, Hệ Phát thanh Dân tộc (VOV4) và thính giả người dân tộc đánh giá cao về chất lượng nội dung và hình thức Tuy nhiên, chương trình cũng có những điểm hạn chế, mà nổi bật trong số đó là tính gần gũi, tương tác, hấp dẫn thính giả chưa cao, đôi khi chưa sát với nhu cầu và tâm lý tiếp nhận của đồng bào…

Thời gian qua, Đài Tiếng nói Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo nghiệp vụ về nâng cao hiệu quả tuyên truyền của phát thanh tiếng dân tộc Cũng đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu về phát thanh tiếng dân tộc thiểu số Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu tìm hiểu thực trạng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer ở cả phương diện nội dung, hình thức,

từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường tính gần gũi, hấp dẫn, phù hợp của các chương trình phát thanh tiếng dân tộc Khmer, đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào dân tộc Khmer vùng Tây Nam Bộ

Vì vậy, đề tài “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng

Khmer Nam bộ của Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay” sẽ có giá trị thực tiễn

không chỉ đối với những người thực hiện các chương trình phát thanh tiếng Khmer mà còn có ý nghĩa đối với những người thực hiện chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số nói chung của Đài Tiếng nói Việt Nam và các Đài Phát thanh - Truyền hình có chương trình phát thanh tiếng dân tộc ở các địa

Trang 10

phương khác Vì thế, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này làm đề tài cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành báo Phát thanh của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những năm gần đây đã có một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài

về phát thanh dân tộc thiểu số Đáng chú ý có các đề tài sau:

- Trong cuốn “Sổ tay công tác dân tộc và miền núi” của Ủy ban Dân

tộc và miền núi – Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Hà Nội -2000, trong quyển sách đã nêu những quan điểm đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về công tác dân tộc trong tình hình mới Trong đó có đề cập khá sâu về công tác thông tin tuyên truyền trên sóng phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số trong tình hình mới

- Đặng Thị Huệ (Ban phát thanh tiếng Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt

Nam) với đề tài: Nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền vấn đề dân

tộc thiểu số trên sóng phát thanh quốc gia” (2005) Đề tài này nghiên cứu 8

chương trình tiếng dân tộc thiểu số của đài như chương trình phát tiếng Mông, Thái, Ba Na, Ê Đê, Cơ Ho v.v., qua đó đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng chương trình

- Với đề tài “Phát thanh Dân tộc với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc” (Ban phát thanh tiếng Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt Nam)

(2006), Thạc sĩ Đặng Thị Huệ chủ yếu nghiên cứu một vấn đề thuộc phạm vi hẹp, đó là việc tuyên truyền những giá trị văn hoá truyền thống, vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong 3 chương trình tiếng phổ thông

và 8 chương trình tiếng dân tộc của Đài Tiếng nói Việt Nam

- Kim Ngọc Anh (Ban tổ chức cán bộ- Đài Tiếng nói Việt Nam) với đề

tài: “Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực làm phát thanh tiếng dân tộc ở

nước ta hiện nay” (2007) với đối tượng nghiên cứu là nguồn nhân lực làm

phát thanh tiếng dân tộc ở Việt Nam Đề tài đã đề xuất các giải phát phát triển nguồn nhân lực cho phát thanh tiếng dân tộc thiểu số

Trang 11

- Ba đề tài “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Cơ

Tu” (2010) do Cơ quan Thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại miền Trung

chủ trì, đề tài “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Êđê”

(2010) do Cơ quan Thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Tây Nguyên chủ

trì và đề tài “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Thái”

(2009) do Cơ quan Thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Tây Bắc chủ trì đều giới hạn phạm vi nghiên cứu 1 chương trình phát thanh cụ thể, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình đó

- Còn với đề tài: “Nâng cao chất lượng chương trình tiếng Khmer của

các Đài PT-TH tỉnh ở khu vực ĐBSCL” do tác giả Thạch Tùng Linh, công tác

tại Đài PT-TH tỉnh Cà Mau thực hiện năm 2010 với phạm vi khảo sát tại 3 Đài PT-TH là Cà Mau, Sóc Trăng và Trà Vinh cũng đã đề cập một phần thực trạng và đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng chương trình

- Đề tài: “Nâng cao chất lượng tuyên truyền các vấn đề dân tộc của

Đài TNVN trong giai đoạn hiện nay”, thực hiện năm 2011 do Hệ Phát thanh

Dân tộc, Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện tiếp tục mở ra một hướng nghiên cứu mới, nghiên cứu một vấn đề thuộc phương diện nội dung ở các chương trình tiếng phổ thông và 12 chương trình tiếng dân tộc thiểu số của Đài, gắn với thực tế quản lý điều hành việc tuyên truyền vấn đề dân tộc của Đài trong giai đoạn hiện nay

- Gần gũi nhất với đề tài của chúng tôi là đề tài “Đổi mới chương trình

tiếng Khmer Nam Bộ (2004)” do tác giả Tô Ngọc Trân (Cơ quan thường trú

Đài Tiếng nói Việt Nam tại Đồng Bằng Sông Cửu Long) Tuy nhiên, do được thực hiện cách đây đã trên 10 năm, vào thời điểm mà số lượng các tiết mục của chương trình còn rất ít và số giờ phát sóng trong ngày ở mức thấp, mặt khác, mục tiêu đưa ra của đề tài là tìm cách giảm nguy cơ mất dần thính giả

Trang 12

chứ chưa ở thế chủ động trong việc nâng cao chất lượng để thu hút sự quan tâm nhiều hơn của thính giả nghe đài như hiện nay, vì vậy, mặc dù có giá trị tham khảo về phương thức thực hiện đề tài, nhưng những kết quả nghiên cứu của đề tài phần lớn đã lạc hậu so với thực tiễn hiện nay

Qua những đề tài đã thực hiện nêu trên, cho thấy, những đề tài này chủ yếu nghiên cứu về phát thanh dân tộc nói chung, hoặc những vấn đề cụ thể của từng dân tộc thiểu số ở những vùng miền khác trong cả nước Cho đến thời điểm này, chưa có công trình nào nghiên cứu nào khảo sát, phân tích, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer trong bối cảnh hiện nay Chính vì thế, việc kế thừa những kết quả của các đề tài trên, đồng thời, tiến hành đề tài nghiên cứu sâu về thực trạng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ, từ đó, tìm kiếm các giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng các chương trình phù hợp với năng lực sản xuất và đối tượng thính giả trong tình hình mới là đề tài mới,

có giá trị lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer ở Đài Tiếng nói Việt Nam ở khía cạnh nội dung, hình thức của các tác phẩm, chương trình, tác giả tìm kiếm những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng chương trình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiếp nhận của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực ĐBSCL

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu định hướng thông tin, tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước và của Đài Tiếng nói Việt Nam

Trang 13

- Trên cơ sở lý luận chung về chương trình phát thanh và tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình phát thanh, khảo sát thực trạng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer trên phương diện nội dung, hình thức, phương thức sản xuất, đánh giá nguyên nhân thành công, hạn chế

- Từ các kết quả nghiên cứu trên, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer của Đài Tiếng nói Việt Nam trên các yếu tố nội dung, hình thức thể hiện chương trình

4.2 Phạm vi khảo sát

- Khảo sát các chương trình phát thanh tiếng Khmer của Đài Tiếng nói Việt Nam dành cho đồng bào khu vực đồng bằng Sông Cửu Long trong khoảng thời gian 6 tháng, từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này là quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng và định hướng tuyên truyền của Đảng, Nhà nước về các vấn đề của đồng bào dân tộc thiểu số trên báo chí

Tác giả cũng căn cứ vào những công trình nghiên cứu lý luận của các nhà nghiên cứu báo chí nói chung, báo phát thanh nói riêng về báo chí, báo phát thanh, chương trình phát thanh, chương trình phát thanh tiếng dân tộc…

để làm tiền đề lý thuyết cho đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phải thực hiện những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

Trang 14

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tập trung nghiên cứu một số tư liệu sách, báo về chương trình phát thanh dành cho đồng bào dân tộc; hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc tuyên truyền các vấn đề dân tộc; tài liệu về văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh

đó, sẽ nghiên cứu trực tiếp các tác phẩm văn bản thực hiện chương trình phát thanh tiếng Khmer (bản tiếng Việt) để nhằm trình bày những phác thảo mới nhằm góp phần nâng cao nội dung chương trình phát thanh tiếng Khmer mà

Cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL đang phát sóng

- Thống kê: Tiến hành thống kê các tác phẩm, các Chương trình phát thanh tiếng Khmer đã phát sóng từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015 làm căn cứ

để phân tích, đánh giá chung về chất lượng chương trình

- Điều tra thính giả bằng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp, trong đó, tập trung điều tra bạn nghe đài (Nông dân, công nhân, trí thức, cán bộ, học sinh, nhà tu hành và các đối tượng khác) là người dân tộc khmer ở các địa phương trong khu vực Tây Nam Bộ thuộc địa bàn 4 tỉnh, thành phố: Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và Cần Thơ Đồng thời với đó, sẽ tiến hành các cuộc phỏng vấn trực tiếp với một số nhà quản lý vấn đề tôn giáo, dân tộc để

họ trình bày quan điểm và suy nghĩ về nội dung và hình thức tuyên truyền trên sóng chương trình phát thanh tiếng Khmer và những vấn đề đặt ra để tiếp tục đổi mới chương trình ngày càng chất lượng hơn

- Phân tích, tổng hợp:

Tác giả sẽ tập trung phân tích các yếu tố thuộc nội dung, hình thức của các tác phẩm, chương trình phát thanh dành cho đồng bào Khmer Nam Bộ; đồng thời, phân tích những số liệu thu thập được từ việc phát phiếu điều tra nhu cầu thính giả là người dân tộc nghe đài ở 4 địa phương có đông đồng bào dân tộc sinh sống Qua đó, sẽ đưa ra những số liệu về thói quen nghe đài cao nhất/thấp nhất trong ngày; tỷ lệ người nghe đài thích hoặc chưa thích với các

Trang 15

tiết mục v.v đồng thời, sẽ có những bảng biểu tổng hợp các số liệu theo cụm nội dung liên quan Từ đó, những con số này sẽ có ý nghĩa cao trong việc đưa

ra những nhận định, đề xuất, kiến nghị mang tính khoa học về việc nên hay không nên tiếp tục những tiết mục đã xây dựng

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Đây là đề tài đầu tiên khảo sát, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer của Đài Tiếng nói Việt Nam căn cứ trên việc đánh giá toàn diện các yếu tố thuộc nội dung, hình thức chương trình;

- Đề tài góp phần đưa ra những giải pháp cụ thể để nâng cao hơn nữa chất lượng nội dung thông tin, hình thức thể hiện tác phẩm, chương trình phù hợp nhu cầu, năng lực tiếp nhận của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tình hình hiện nay

- Đề tài cũng là đề tài đầu tiên nghiên cứu và chỉ ra nhu cầu, sở thích, thói quen và xu hướng tiếp nhận thông tin của thính giả cộng đồng dân tộc Khmer, cung cấp thêm các căn cứ cần thiết cho nhà báo phát thanh, Đài phát thanh trong

tổ chức thực hiện các chương trình cho đồng bào dân tộc thiểu số…

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận:

Nếu được thực hiện thành công, đề tài sẽ đóng góp thêm một số kiến thức lý thuyết về việc xây dựng khung chương trình và thực hiện các chương trình phát thanh tiếng dân tộc phù hợp với năng lực, nhu cầu, tâm lý tiếp nhận của đồng bào dân tộc

7.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Nếu được thực hiện thành công, luận văn có thể trở thành nguồn tham khảo cho nhà báo đã và đang trực tiếp tham gia thực hiện các chương trình phát thanh, đặc biệt là phát thanh bằng tiếng dân tộc tại đài phát thanh Trung

Trang 16

ương và các Đài phát thanh địa phương trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc

- Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các giảng viên, cán

bộ làm công tác giảng dạy, đào tạo, tập huấn các chương trình đào tạo báo phát thanh

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ

Chương 2: Thực trạng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN

VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG KHMER NAM BỘ

là tờ báo bằng âm thanh (nhìn từ góc độ phương tiện chuyển tải) Phát thanh

là tiếp nhận thông tin bằng tai (nhìn từ góc độ tiếp nhận) Phát thanh là sử dụng âm thanh để chuyển tải thông tin (nhìn từ góc độ sáng tạo)

Trên cơ sở đó, Báo phát thanh được định nghĩa như sau: “Báo phát

thanh là một loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, truyền đi ngôn ngữ âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác của đối tượng tiếp nhận”.[20, tr.32]

1.1.1.2 Chương trình phát thanh

Báo phát thanh bao gồm các chương trình phát thanh, với phương thức thu trước và các chương trình phát thanh trực tiếp Thạc Vũ Thúy Bình có viết

“Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, âm nhạc

trong một thời lượng nhất định, được mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất với người nghe” [48, tr.216]

Cùng quan điểm đó, Tiến sĩ Đinh Thị Thu Hằng nêu định nghĩa

“Chương trình phát thanh là một chỉnh thể trong đó các thành phần tin bài,

âm nhạc, lời dẫn … được bố trí, sắp xếp một cách một hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của một cơ quan truyền thông và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [20, tr.153]

Trang 18

Có nhiều dạng chương trình phát thanh Nếu lấy tiêu chí là lĩnh vực phản ánh sẽ có chương trình kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng Theo tiêu chí lứa tuổi sẽ có các chương trình thiếu nhi, thanh niên, câu lạc bộ người cao tuổi Phân chia theo giới có chương trình thanh niên, phụ nữ Còn theo nhu cầu thính giả lại có: câu lạc bộ bạn yêu âm nhạc, câu lạc bộ bạn yêu sân khấu

Và nếu chia theo tính chất của thông tin và năng lực phản ánh sẽ có chương trình thời sự, chương trình chuyên đề

1.1.1.3 Chất lượng

Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), chất lượng là “cái tạo

nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” Ví dụ: Đánh giá chất lượng sản phẩm Nâng cao chất lượng giảng dạy…” [27, tr.139]

Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000

đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính

của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”

Tóm lại: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con

người, một sự vật, sự việc, một hệ thống, một quá trình Chất lượng phải được

đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng Việc đánh giá chất lượng phải thông qua các quy định, tiêu chuẩn rõ ràng và qua những cảm nhận của người

sử dụng

1.1.1.4 Chất lượng chương trình phát thanh

Lý thuyết truyền thông đã chỉ ra quy trình và cơ chế tác động của truyền thông như sau: xuất phát từ thực tiễn các sự kiện, sự việc trong cuộc sống, tác động vào chủ thể truyền thông (các nhà báo, nhà khoa học, nhà tuyên truyền, nhà quảng cáo…), bằng tri thức và kỹ năng của mình chủ thể truyền thông nhận biết thực tiễn sự việc, vấn đề, sự kiện, xác định đối tượng

và mục tiêu truyền thông để thiết kế, xây dựng thông điệp Một thông điệp

Trang 19

hoàn chỉnh chính là một sản phẩm truyền thông Căn cứ vào tính chất, nội dung, mục tiêu, đối tượng của truyền thông mà các chủ thể truyền thông lựa chọn phương tiện truyền thông phù hợp để chuyển tải sản phẩm của mình đến công chúng Các sản phẩm này khi đến với công chúng sẽ trực tiếp tác động vào ý thức của công chúng, làm thay đổi thái độ, hành vi của công chúng Sự thay đổi ấy dẫn đến chuyển biến xã hội về mặt ý thức cũng như việc quản lý, điều hành và hoạt động xã hội phù hợp với ý đồ, mục tiêu mà chủ thể truyền thông mong muốn Những chuyển biến này chính là hiệu quả của truyền thông [36, tr.121-126]

Chính vì thế, hiệu quả tác động của chương trình phát thanh với công chúng được coi là thước đo quan trọng nhất để đánh giá chất lượng của một tác phẩm báo chí nói chung và của một chương trình phát thanh nói riêng

Chất lượng chương trình phát thanh được quyết định bởi các yếu tố thuộc nội dung và hình thức của chương trình Nói cách khác, nó được đo đếm bằng chất lượng của từng yếu tố cấu thành nên chương trình đó Đó là đối tượng thính giả - với khả năng đáp ứng nhu cầu, năng lực tiếp nhận của công chúng, là chủ đề chương trình, nội dung thông tin trong từng tác phẩm, chương trình; là kết cấu chương trình, là ngôn ngữ, cách sử dụng tiếng động,

âm nhạc, là giọng nói, giọng đọc, là hệ thống thể loại với năng lực chuyển tải nội dung thông tin phù hợp nhất; là chất lượng âm thanh, phương tiện kỹ thuật đồng bộ; là trình độ, năng lực đội ngũ nhân lực

Từ sự phân tích này, chúng ta thấy rằng chất lượng chương trình phát thanh được đo bằng khả năng thực hiện tốt nhất nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đáp ứng cao nhất nhu cầu của bạn nghe đài Chất lượng chương trình phát thanh luôn luôn biến động theo cuộc sống

và nhu cầu người nghe

Trang 20

1.1.2 Các yếu tố quyết định chất lượng chương trình phát thanh nói chung

Hiệu quả tác động của chương trình phát thanh với công chúng được coi là thước đo quan trọng nhất để đánh giá chất lượng của tác phẩm báo chí nói chung và của một chương trình phát thanh nói riêng

Chất lượng của chương trình phát thanh phụ thuộc rất nhiều vào khâu sản xuất chương trình Nó được đo bằng khả năng thực hiện tốt nhất nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đáp ứng cao nhất nhu cầu của bạn nghe đài Tiêu chí chung của các chương trình phát thanh là không ngừng đổi mới và cải tiến để đem đến cho thính giả những thông tin “nhanh, đúng, trúng và hấp dẫn” Do đó, có thể xác định những yếu tố quyết định chất lượng chương trình phát thanh nói chung:

- Đối tượng thính giả: đối tượng nào, nội dung hình thức ấy Các

chương trình phát thanh phải xây dựng nội dung và hình thức chương trình phù hợp với năng lực tiếp nhận, nhu cầu, sở thích, thói quen tiếp nhận của thính giả Có như vậy, chương trình mới đảm bảo chất lượng phục vụ công chúng cao nhất, đạt được hiệu quả như mong muốn

- Chủ đề chương trình: Mỗi chương trình đều được xác định chủ đề cụ

thể Ngoài các chương trình thời sự có nhiệm vụ phản ánh các vấn đề, sự kiện thời sự tổng hợp về mọi lĩnh vực, thì các chương trình chuyên đề - ở mỗi số phát sóng, thường lựa chọn một chủ đề cụ thể Chủ đề càng đảm bảo tính thời

sự, tính hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của công chúng chuyên biệt, càng có chất lượng cao, đem lại hiệu quả tiếp nhận tích cực Ví dụ, chương

trình Diễn đàn giáo dục có các chủ đề cụ thể: Có nên gộp 2 kỳ thi làm một;

Hạn chế bạo lực học đường; Làm thế nào để học sinh yêu thích môn lịch sử

- Nội dung thông tin: Tùy theo dạng chương trình phát thanh, các nhà

sản xuất lựa chọn phạm vi nội dung phản ánh phù hợp Ví dụ với chương trình phát thanh nông thôn, nội dung có khả năng hấp dẫn người nông dân là

Trang 21

các chính sách, phương hướng đầu tư phát triển cây trồng vật nuôi và ngành nghề phụ trong nông nghiệp, nói chung là những vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Ngoài ra, họ còn chú ý tới kinh nghiệm và những kiến thức cần thiết trong thâm canh lúa, hoa màu, tác dụng và giá cả của một loại phân hóa học hoặc một loại thuốc diệt cỏ dại, diệt trừ sâu bệnh phá hoại mùa màng v.v Nhưng cũng chính những người nông dân ấy khi nghe chương trình phát thanh thời sự lại biết được giá dầu hỏa, diezel sẽ tăng bởi chiến tranh vùng Vịnh hoặc nạn hạn hán gay gắt ở Brazil làm cho giá cà phê tăng đột biến, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của họ

Một chương trình có kết cấu chặt chẽ giữa các phần, mục sẽ tạo ra được tính hấp dẫn lôi cuốn người nghe Chính vì thế, trong chương trình phát thanh muốn tạo được sự cuốn hút khán giả thì phải có sự sắp xếp hợp lý giữa các tin, bài, chuyên mục, kết hợp giữa lời nói, tiếng động và âm nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của Đài phát thanh và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe

- Thời điểm phát sóng: Việc chọn đúng thời điểm phát sóng cũng là yếu

tố tăng hiệu quả tiếp nhận Bên cạnh đó, thời điểm phát cũng rất quan trọng bởi qua đó sẽ tạo sự cộng hưởng hiệu quả mang lại hoặc tạo sự phản cảm trong suy nghĩ người nghe Ví dụ thời điểm mưa lũ đang hoành hành liên tục nhưng trên loa phát thanh lại phát những bài viết làm cách nào dẫn nước về đồng ruộng, giải pháp chống khô hạn, hay phát những bài hát sôi động, ồn ào v.v sẽ giảm đi hiệu quả của chương trình

Trang 22

- Thời lượng phát sóng: Thời lượng của chương trình phát thanh ổn

định và có thời hạn Độ dài chương trình được thiết kế dựa trên nhu cầu và khả năng tiếp nhận của thính giả

- Thể loại: Theo PGS.TS Tạ Ngọc Tấn: “Thể loại là sự thống nhất mang tính quy luật, lặp đi lặp lại của các yếu tố trong một tác phẩm báo chí”

[51, tr.167]

Một chương trình phát thanh hướng tới mục tiêu chất lượng luôn đòi hỏi có sự cố gắng tạo ra bản sắc riêng Trong đó, việc chọn thể loại phù hợp với sự tiếp nhận của thính giả v.v

- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong sáng, gần gũi với đối tượng tiếp nhận v.v

sẽ tạo được ấn tượng tốt Đặc trưng của phát thanh là sử dụng ngôn ngữ âm thanh tổng hợp Một chương trình phát thanh chỉ chú ý đến nội dung bằng lời nói mà không chú ý đến phần âm nhạc, tiếng động thì vẫn sẽ gây cảm giác căng thẳng cho thính giả Người xây dựng chương trình phát thanh phải như người đầu bếp, có thể chế biến những tư liệu lấy từ thực tế thành những món

ăn có mùi vị thơm ngon, hấp dẫn Trong thời đại công nghiệp hóa, thính giả đòi hỏi ở radio những bài hát, đoạn nhạc để giải trí nhưng họ lại cũng muốn được tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, rõ ràng v.v

- Giọng nói, cách đọc, nói của phóng viên, người dẫn chương trình: Có

thể nói, phương tiện mà phát thanh viên, người dẫn chương trình phát thanh sẵn

có là giọng nói và cách nói Một chất giọng giàu tính nhạc điệu sẽ làm cho người nghe bị cuốn hút vào nội dung bức thông điệp mà phát thanh viên truyền tải Cùng với đó, trên sóng phát thanh, khác với lời dẫn của người dẫn chương trình, giọng đọc của phóng viên khi trực tiếp trình bày một nội dung thông tin luôn gây sự chú ý bởi có yếu tố mới, thực tế và tạo sự chú ý cho thính giả

- Nguồn nhân lực nói chung: Cùng với các yêu cầu đặt ra về nội dung

trong một chương trình phát thanh, có thể nói, vai trò của đội ngũ thực hiện

Trang 23

cũng rất quan trọng, góp phần quyết định sự được mất trong lòng thính giả Vì thế, nhân lực tham gia sản xuất, biên tập chương trình phát thanh là một khâu quan trọng trong quy trình sản xuất chương trình phát thanh

Biên tập chương trình phát thanh là người sáng tạo lần thứ hai các tác phẩm phát thanh Biên tập viên phát thanh làm việc cẩn trọng theo phương châm: “phải kiểm tra những gì có thể, trước khi phát sóng tới hàng triệu người nghe” Tuy nhiên, để nguồn nhân lực đáp ứng được cho việc nâng cao chất lượng chương trình thì các cơ chế, chính sách của đơn vị chủ quản phải tạo điều kiện để đội ngũ thực hiện sống được với nghề

1.1.3 Một số vấn đề lý luận truyền thông về lĩnh vực dân tộc

1.1.3.1 Sơ lược về đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số Các thành phần dân tộc thiểu số (DTTS) có số dân gần 12,3 triệu người, chiếm hơn 14,27% dân số cả nước Các dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng đồng tại các thôn, bản, buôn, làng, phum, sóc thuộc 5.453 xã, 463 huyện, 56/63 tỉnh, thành phố của cả nước (Báo cáo của Hội đồng Dân tộc Quốc hội năm 2013) Do các yếu tố lịch sử, văn hóa, tập quán và đặc điểm dân cư, đa phần các DTTS ở Việt Nam chủ yếu sống tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới là địa bàn quan trọng; có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng

Các DTTS có quy mô dân số không đồng đều Có những dân tộc với dân

số trên một triệu người, như dân tộc: Tày, Thái, Mường, Khmer Nhưng lại có những dân tộc dân số rất ít, đặc biệt là 5 dân tộc có dân số dưới 1.000 người: Sila (840) PuPéo (705), Rơ Măm (352), Brâu (313) và Ơ đu (301) Các dân tộc

ở nước ta cư trú xen kẽ nhau, không có dân tộc nào ở vùng lãnh thổ riêng Tính chất cư trú đó đã tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển

Trang 24

Nhìn chung văn hóa các DTTS Việt Nam rất phong phú Bà con vẫn giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc, tạo nên một vị thế đặc điểm văn hóa riêng, có những đóng góp quan trọng vào tiến trình văn hóa dân tộc

Tuy nhiên, do đời sống của đa số đồng bào DTTS vẫn còn nhiều khó khăn, địa bàn cư trú cách biệt, nên nhận thức phần lớn còn hạn chế Dù Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm phát triển vùng đồng bào DTTS, trong những năm gần đây, đời sống của đại đa số người DTTS đã được cải thiện đáng kể, nhưng do xuất phát điểm còn thấp nên những thay đổi trong đời sống ở các vùng nông thôn vẫn chưa thực sự tương xứng Trên tổng thể, vùng đồng bào DTTS kinh tế phát triển còn chậm, khoảng cách chênh lệch còn lớn so với các vùng miền khác trong cả nước; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn nhiều bất cập, đời sống đồng bào dân tộc và miền núi còn nhiều khó khăn Phong tục, tập quán của một số DTTS còn lạc hậu; trình độ sản xuất kém; năng suất, hiệu quả lao động thấp; phần lớn sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa chậm phát triển hoặc quy mô nhỏ, lẻ, tự phát…

Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao (khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên

và Tây Nam bộ cao gấp 2 đến 3 lần tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước) Chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực đạt thấp; còn tình trạng người DTTS trong

độ tuổi đi học chưa biết đọc, biết viết chữ phổ thông Đa số người trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, đội ngũ cán bộ y tế, cơ sở và trang thiết bị vừa thiếu, vừa yếu Bên cạnh đó, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ

cơ sở, cán bộ người dân tộc ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu

1.1.3.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác thông tin, tuyên truyền cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

Đảng, Nhà nước ta luôn coi công tác dân tộc là vấn đề có tính chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng Chính vì thế, bên cạnh việc chăm lo đời sống vật chất, việc thông tin, tuyên truyền

Trang 25

nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào các DTTS là việc vô cùng cần thiết

và cấp bách

Thực trạng đang diễn ra hiện nay cho thấy trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, sự bùng nổ thông tin có những tác động không nhỏ đến đời sống xã hội, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhiều nguy cơ thách thức Các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo Hiện có hàng chục đài phát thanh của nước ngoài, phát thanh bằng tiếng Việt và cả các thứ tiếng dân tộc có nội dung phản động, xuyên tạc, kích động đồng bào dân tộc đi chệch đường lối đổi mới, gây mất ổn định an ninh chính trị đất nước

Chính vì thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước luôn thực thi chính sách bình đẳng giữa các dân tộc, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần

của cộng đồng Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 “Về

chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi” đánh dấu bước

chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; đồng thời đưa ra các quan điểm chủ trương, đường lối phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc và miền núi Thể chế hóa Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã có Quyết định số

72/QĐ-HĐBT ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát

triển kinh tế xã hội miền núi”

Trên lĩnh vực văn hóa – thông tin tuyên truyền, nội dung bao trùm là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Trong Nghị quyết TW5 (Khóa VIII), nội dung về văn hóa trong chính sách dân tộc bao gồm: giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc; nâng cao trình độ dân trí; xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp; phát triển văn hóa các dân tộc trong mối quan hệ kết hợp truyền thống và hiện đại; đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ văn hóa; nâng cao công tác thông tin tuyên truyền báo chí; đấu tranh chống

tệ nạn xã hội, chống diễn biến hoàn bình trên mặt trận tư tưởng – văn hóa

Trang 26

Trong báo cáo Chính trị trình Đại hội XI của Đảng nêu rõ: Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Trong các biện pháp tổng thể, toàn diện phát triển vùng đồng bào dân tộc, Đảng, Nhà nước cũng rất chú ý tới công tác thông tin, tuyên truyền:

Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (1990) (nay là Chính phủ) có

ghi: “Trước mắt giúp đỡ các tỉnh, các huyện miền núi kinh phí xây dựng các

trạm tiếp sóng Đài tiếng nói Việt nam và Đài truyền hình trung ương Các địa phương cần có kế hoạch tăng thêm các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc, đồng thời chú trọng cải tiến nâng cao chất lượng các chương trình Tổ chức sản xuất và bán rộng rãi các loại radio, loa thông dụng, cung ứng đủ pin cho nhân dân miền núi.”

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

IX về Công tác dân tộc trong thời kỳ mới, Đảng ta chỉ đạo: Tiếp tục thực hiện

có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, tăng cường các hoạt động văn hoá thông tin tuyên truyền hướng về cơ sở, tăng thời lượng

và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh truyền hình bằng các tiêng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hoá các dân tộc

Thực hiện nhiệm vụ này, thời gian qua, lực lượng báo chí đã và đang tham gia có hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời chuyển tải nhiều thông tin thiết thực đến với đồng bào DTTS, đã nâng cao nhận thức

tư tưởng chính trị cho cán bộ đảng viên và nhân dân

Trang 27

Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương lớn của Đảng, các chính sách của Nhà nước, các cơ quan truyền thông, trong đó có Đài Tiếng nói Việt Nam (Đài TNVN) đã dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác thông tin, tuyên truyền tới đồng bào DTTS; đầu tư thích đáng từ các nguồn vốn của Nhà nước cho mảng này để nâng cao chất lượng tuyên truyền các vấn đề dân tộc trên làn sóng phát thanh quốc gia

Có thể thấy rất rõ, tuy có sự quan tâm đầu tư nhưng vùng đồng bào DTTS còn rất khó khăn về mọi mặt kinh tế - xã hội Tuy nhiên, qua từng giai đoạn, công tác thông tin, tuyên truyền và vận động thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với vùng có đông đồng bào sinh sống ngày càng được thực hiện sâu rộng Từ đó, đồng bào các dân tộc, trong đó có đồng bào Khmer ngày càng tiếp thu cái mới, tạo sự chuyển biến tích cực về kinh tế-xã hội, ổn định quốc phòng an ninh vùng đồng bào dân tộc Qua đó, củng cố và tăng cường niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc; giúp đồng bào xây dựng, ổn định cuộc sống ở phum sóc, bản làng Từ đó góp phần nâng cao dân trí, xây dựng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.2 Thực tiễn việc đánh giá năng lực, nhu cầu tiếp nhận thông tin của đồng bào và tiêu chuẩn đánh giá chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ

1.2.1 Đặc điểm của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ

Vùng ĐBSCL (hay cách gọi thông thường là miền Tây Nam Bộ) gồm

13 tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang

và thành phố Cần Thơ Khu vực này có diện tích tự nhiên gần 4 triệu héc ta, dân số khoảng 18 triệu người (chiếm 21%) dân số cả nước ĐBSCL có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, đặc biệt là trong quan hệ với nước láng giềng Campuchia và các nước ASEAN

Trang 28

Đồng bào Khmer Nam bộ đồng tộc, đồng tôn và cùng ngôn ngữ với người Khmer ở Campuchia Người Khmer Nam bộ là dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Người Khmer gắn chặt với sự phát triển của vùng đất Nam bộ; đồng thời nhạy cảm với diễn biến tình hình của Campuchia

Hiện nay, đồng bào Khmer ở ĐBSCL có khoảng 1,3 triệu người, nhiều nhất ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, thành phố Cần Thơ… Dân tộc Khmer Nam bộ có tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn – Khmer

Sự giao thoa giữa người Khmer với các cộng đồng người trên đất Nam Bộ; sự gắn bó cố kết giữa người Khmer Nam Bộ với người Khmer ở Campuchia đã tạo nên một nền văn hóa Khmer Nam Bộ vừa kế thừa và phát huy những giá trị tinh hoa truyền thống của dân tộc Khmer, vừa có sự tiếp thu với những giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em

Người Khmer sinh cơ lập nghiệp lâu đời trên vùng đất sông nước, chủ yếu bằng kinh tế sản xuất lúa nước, trồng rẫy và khai thác thuỷ sản, tạo giống lúa mới thích hợp với nhiều loại đất phèn, đất nước lợ, đất bồi phù sa và nghề thủ công truyền thống

Là một dân tộc mộ đạo nên phần lớn các phum, sóc đều có chùa để dân chúng đến tụng kinh, thờ Phật Chùa đối với người Khmer là sự gắn bó thiêng liêng cả đời người Hiện khu vực ĐBSCL có khoảng 600 chùa ở những nơi có người Khmer sinh sống

Ngày nay, từ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cuộc sống của đồng bào Khmer được đổi mới, đời sống ngày càng sung túc Nhiều hộ người Khmer đã vươn lên đủ ăn, có thu nhập khá Theo Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer giảm bình quân hàng năm khoảng 3%

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực giáo dục, số lượng và tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng ở vùng này còn ít nhưng có sự tăng dần theo từng năm do Nhà nước có những chính sách quan tâm Việc nâng số lượng và chất lượng giáo

Trang 29

viên dạy tiếng dân tộc có bước chuyển biến tốt Việc học chữ Pali, chữ Khmer

và Bổ túc văn hóa được tạo điều kiện

1.2.2 Năng lực và nhu cầu tiếp nhận thông tin của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ

Cùng với nỗ lực chung của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân, những đóng góp của các cơ quan báo chí thời gian qua đã tạo nên những chuyển biến tích cực về đời sống, sản xuất trong vùng đồng bào Khmer Tây Nam Bộ Tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy ban Dân tộc, kinh tế - đời sống của đồng bào Khmer ở nhiều địa phương trong vùng hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ giảm nghèo hàng năm tuy ở mức 3-4%, nhưng nếu xét tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 thì tỷ lệ hộ Khmer nghèo vẫn còn cao (trên 28%, có nơi trên 30%)

Đa phần đồng bào Khmer sinh sống ở khu vực vùng sâu, vùng núi, vùng còn nhiều khó khăn nên việc học hành, giáo dục cũng gặp những điều kiện bất lợi Mặt khác, kinh tế gia đình còn khó khăn nên việc sản xuất mang lại cái ăn, cái mặc là yêu cầu bắt buộc mang tính hàng đầu Cho nên không ít

hộ gia đình Khmer chưa chú trọng việc học hành cho con em mình Chính vì thế, nhiều trẻ em dân tộc Khmer lớn lên mà không biết đọc chữ viết quốc ngữ cũng như không biết chữ viết của chính dân tộc mình Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, dân số của vùng Tây Nam bộ trong độ tuổi 15 trở lên mù chữ còn chiếm tỷ lệ cao: 8,1% (toàn quốc là 6%), đặc biệt người Khmer độ tuổi từ 15 trở lên không biết chữ chiếm 25,6% (tỷ lệ người dân tộc thiểu số độ tuổi 15 trở lên không biết chữ trong toàn quốc chiếm 21,5%) Do vậy, việc thụ hưởng những món ăn tinh thần trong đồng bào từ đó cũng chưa được chú trọng thật sự Từ đó, đã dẫn tới khả năng tiếp nhận thông tin của đồng bào cũng gặp những khó khăn nhất định Những minh chứng từ thực tế mà chúng tôi tiếp cận được với đồng bào Khmer ở các phum sóc vùng Bảy Núi của tỉnh

Trang 30

An Giang là người dân tộc rất ít khi đọc những bài báo dài, những bình luận sâu, những bài viết mang tính khoa học cao Thay vào đó, đồng bào thích đọc, nghe những thông tin ngắn mang tính thông tin nhưng câu chữ đơn giản, dễ nghe, dễ nhớ; đồng thời, với chương trình phát thanh tiếng Khmer thì xen kẻ thông tin là âm nhạc luôn được thính giả người Khmer đón nhận nồng nhiệt

Chị Neang Soc Khone ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang cho rằng: “Ở đây đời

sống còn khó khăn lắm Đồng bào Khmer mình quen làm ruộng, làm rẫy suốt ngày nên không có thời gian đi mua báo đâu Những khi có đi đến chùa thì mới đọc báo, xem hình nhưng cũng khó lắm vì đọc chữ không quen Còn ở đây khi buổi trưa hay chiều thì nghe đài, xem ti vi thôi Nếu không nghe tin tức thì mình nghe văn nghệ, nghe những bài hát mà các đoàn nghệ thuật

Khmer thể hiện hay lắm” [Phụ lục 3b]

Thật vậy, trong quá trình thực tế nghiên cứu đề tài cho thấy, do việc trao đổi bằng tiếng mẹ đẻ diễn ra hàng ngày nên người dân tộc Khmer vẫn có thể nghe, giao tiếp thuận lợi bằng tiếng nói của dân tộc mình Do vậy, tuy không có thói quen đọc báo, tạp chí v.v nhưng đồng bào vẫn hàng ngày tiếp cận với radio, ti vi, nhất là chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc Đây là điều kiện để các chương trình phát thanh bằng tiếng Khmer của địa phương

và Chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ có điều kiện phục vụ nhu cầu thông tin trong đồng bào

Trong khoảng thời gian tiếp cận và tìm hiểu thói quen tiếp nhận thông tin của đồng bào Khmer ở một số địa phương như An Giang, Trà Vinh, chúng tôi nhận thấy đồng bào không quan tâm đến những thông tin quá cao siêu mà những gì gần gũi, thiết thực với cuộc sống thường ngày của họ Đây là đặc điểm tâm lý chung của đồng bào Bởi do cuộc sống thường ngày làm ruộng vườn, lao động vất vả để mưu sinh nên tư duy trực diện, cụ thể và cần những thông tin phù hợp với khả năng tiếp nhận của mình

Trang 31

Do vậy, hiện nay tại khu vực Tây Nam bộ, báo ảnh Dân tộc và Miền núi của Thông tấn xã Việt Nam; Báo Khmer ngữ khu vực Tây Nam bộ v.v

đã đến được với các phum sóc, của đồng bào, các chùa Khmer, các đồn biên phòng Thông tin được chuyển ngữ thành chữ Khmer đã và đang giúp đồng bào Khmer Nam bộ kịp thời nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, cũng như giúp đồng bào Khmer Nam bộ hiểu biết thêm văn hóa các vùng miền khác trong cả nước

Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên, do đời sống còn khó khăn, tỷ

lệ người Khmer biết đọc, biết viết thấp nên khả năng tiếp nhận thông tin từ báo viết còn ở một chừng mực nhất định Nhưng đối với các chương trình phát thanh tiếng Khmer đã phát huy tích cực, hiệu quả, góp phần giúp đồng bào nắm bắt thông tin nhanh chóng và được người dân tộc đánh giá cao

Về vấn đề này, Ông Sơn Song Sơn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng,

nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân tộc nêu rõ: “Chương trình

phát thanh tiếng Khmer đã và đang góp phần đáng kể cho sự ổn định về tư tưởng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát huy quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc và tôn giáo; nâng cao hơn nữa lòng tin của đồng bào đối với

Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa” [Phụ lục 3b]

Chính vì thế, qua nắm bắt tâm lý tiếp nhận thông tin của đồng bào Khmer, chúng tôi nhận thấy nhu cầu cần hưởng thụ thông tin của đồng bào là rất lớn Bởi ở những khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng núi còn gặp nhiều khó khăn, cách trở nên các loại báo in, tạp chí đến với đồng bào còn hạn chế Nhưng đối với sóng phát thanh, do được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước nên đã phủ đến khắp các vùng miền Những thông tin có chủ đích phát trên làn sóng đã đáp ứng nhu cầu của thính giả người dân tộc Tuy nhiên, trên thực tế, các chương trình phát thanh vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục:

+ Trong nhiều chương trình phát thanh tiếng Khmer tuyên truyền về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vẫn còn nặng văn

Trang 32

phong nghị quyết, văn phong hành chính, chưa được phóng viên, biên tập viên chuyển đổi thành những câu từ đơn giản, dễ hiểu

+ Chất lượng một số chương trình phát thanh, truyền hình còn hạn chế, đơn điệu Nhiều chương trình chủ yếu là phát lại, dịch và đăng lại bằng tiếng Khmer các chương trình, bài viết từ tiếng Việt nên chưa tạo sức hút mạnh mẽ đối với đồng bào Khmer

+ Ở một số cơ quan báo chí, vẫn còn thiếu những phóng viên, biên tập viên giỏi là người dân tộc Khmer Vì thế, trong nhiều bài viết, chương trình, tuy có nhiều cố gắng nhưng hiệu quả thông tin, tuyên truyền chưa cao vì người viết, người biên tập chưa thấu hiểu văn hóa, phong tục, tập quán, lối sống, cách suy nghĩ của đồng bào Khmer

+ Nhiều cơ quan báo, đài địa phương còn hoạt động theo cơ chế bao cấp toàn bộ hoặc một phần trong hoạt động nên thiếu kinh phí, thiếu nhân lực được đào tạo để làm truyền thông chuyên biệt dành cho nhóm công chúng có tính đặc thù là đồng bào dân tộc Khmer

+ Trong tuyên truyền về công tác xóa đói, giảm nghèo, một số cơ quan báo chí vẫn còn nặng về tuyên truyền thành tựu, thành tích mà chưa chú trọng nhiều đến việc phân tích, lý giải, chỉ ra những nguyên nhân sâu xa của tình trạng luẩn quẩn đói nghèo của đồng bào Khmer Từ đó, chưa thể nêu lên những giải pháp, đề xuất, kiến nghị có tính căn cơ, khả thi từ cơ sở, nhằm giúp các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân chủ động tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, xóa bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cấp trên để vươn lên thoát nghèo bền vững

+ Tình trạng đại bộ phận đồng bào Khmer cư trú ở vùng sâu, vùng xa cũng là một khó khăn cho hoạt động thông tin, truyền thông dành cho đối tượng này Khó khăn về kinh phí của nhiều tòa soạn báo cũng hạn chế điều kiện khảo sát đối tượng bạn đọc là người dân tộc Khmer, hạn chế điều kiện đi công tác, nắm bắt thông tin…

Trang 33

Từ những thực trạng như vừa nêu, qua tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của đồng bào Khmer, chúng tôi nhận thấy cần có sự nhìn nhận một cách toàn diện và có những nghiên cứu sâu về khả năng và nhu cầu tiếp nhận thông tin của đồng bào

Trên thực tế cho thấy, đồng bào Khmer vẫn sản xuất theo thói quen truyền thống như trồng lúa, trồng khoai; nuôi gia súc, gia cầm nhưng không nắm được đầu ra Hay trong nhiều lĩnh vực khác như kinh tế - văn hóa – xã hội, đồng bào còn chịu nhiều thiệt thòi do điều kiện sinh sống, do thiếu thông tin cập nhật Trên tổng thể, thực tế diễn ra trong vùng đồng bào Khmer đã và đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến vai trò, trách nhiệm của những người làm báo chí nói chung, báo phát thanh nói riêng trong việc làm thế nào để nâng cao hiệu quả truyền thông về xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở những địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống

1.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ

Từ các yếu tố quyết định chất lượng chương trình phát thanh nói chung

đã trình bày ở trên, có thể nói, các yếu tố quyết định chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer nói riêng cũng được xác định như sau:

- Đối tượng thính giả: Bám sát đối tượng phục vụ là đồng bào dân tộc

Khmer Nam bộ với những đặc điểm riêng về nhu cầu, năng lực tiếp nhận, trình độ dân trí, sở thích, thói quen, chương trình phát thanh dành cho đồng bào dân tộc Khmer phải đảm bảo thông tin phục vụ đến các đối tượng theo từng độ tuổi để xây dựng chương trình truyền thông phù hợp Trong đó, là người dân lao động trên các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản…; cán bộ, công chức người dân tộc đang công tác tại các cơ quan ban ngành địa phương; sư sãi, à cha tại các điểm chùa; đồng bào người Việt Nam tại Campuchia v.v

Trang 34

- Chủ đề chương trình: Thông tin đến đồng bào nên chủ đề về dân tộc

là chủ đề mang tính bao quát Trong đó, cùng với các thông tin thời sự cập nhật diễn biến tình hình trong nước và quốc tế thì các chuyên đề luôn hướng đến các lĩnh vực mà đồng bào quan tâm như nông nghiệp, văn hóa, y tế v.v

- Nội dung thông tin: Từ đặc điểm tâm lý, văn hóa của dân tộc, có

những vấn đề cần rút ra, đó là khi sản xuất chương trình phát thanh dân tộc phải chú ý lựa chọn xác định những vấn đề cần thông tin Những vấn đề nào liên quan thiết thực đến cộng đồng, đồng bào quan tâm mới thu hút được công chúng Ví dụ như đồng bào dân tộc rất muốn biết giá cả các mặt hàng một cách cụ thể; đồng thời thông tin có phân tích tình hình thị trường, có cảnh báo, có dự báo, có tư vấn định hướng cho đồng bào dân tộc tham khảo trong việc lựa chọn cây con, sản xuất sản phẩm để hạn chế rủi ro

- Kết cấu chương trình: Trong một chương trình phát thanh tiếng

Khmer có phần giống các chương trình phát thanh khác về nội dung đó là phần: Tin, bài, phóng sự (tiết mục) Tuy nhiên, điểm khác ở đây là tính đặc thù, do đặc điểm tâm lý bà con yêu văn hóa, văn nghệ nên các chương trình phát thanh phải đan xen giữa tin tức và âm nhạc… Chính vì thế, trong nhiều năm qua, chương trình tiếng Khmer luôn gần như thực hiện theo mô típ là tin, bài, tiết mục và đan xen là các nhạc cắt ngắn, nhạc cắt dài, có khi là cả một bài hát (tùy theo thời điểm) để tạo nên sự gần gũi, ổn định

- Thời điểm: Có thể thấy, điều kiện sản xuất của đồng bào Khmer gần

như quanh năm bám với đồng ruộng, sản xuất nông nghiệp, thủy sản là chính Cho nên chiếc radio rất phù hợp để đồng bào tiếp cận thông tin, tạo nên sự hữu ích trong cuộc sống Khung giờ đầu buổi sáng, trưa và tối là những thời điểm có số lượng người nghe đông hơn Cho nên, với tỷ lệ khảo sát 300 phiếu

ở 4 tỉnh, thành phố là Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ và An Giang với tỷ lệ 21,67% vào buổi sáng, 20,67% trong buổi trưa và đến 57,67% vào buổi tối đã

Trang 35

cho thấy sự lựa chọn của thính giả trong việc lựa chọn khoảng thời gian nghe

chương trình (Phụ lục 1b)

- Thời lượng: Một thực trạng cho thấy, đồng bào Khmer, với trình độ

dân trí chưa phát triển nên việc tiếp nhận thông tin cũng ở chừng mực Độ dài chương trình được thiết kế dựa trên nhu cầu và khả năng tiếp nhận của thính giả Chính vì thế, 1 chương trình phát thanh tổng hợp dành cho đồng bào được thiết kế khoảng 30 phút (bao gồm thông tin thời sự, bài, chuyên mục)

- Thể loại: Đối với chương trình phát thanh tiếng Khmer, thể loại tin và

phóng sự ngắn luôn được đồng bào quan tâm Bởi với thể loại tin, đồng bào

dễ dàng tiếp nhận, cập nhật bởi tính đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ tạo nên bởi cấu trúc tin đơn giản Còn phóng sự ngắn trong phát thanh là một thể loại của báo phát thanh mang đến cho công chúng bức tranh bằng âm thanh sống động, chân thực, đa chiều về sự việc, sự kiện mới nẩy sinh trong đời sống Ở đây, phóng sự ngắn luôn được thực hiện với thời lượng vừa phải, không dài lê thê Bởi tâm lý tiếp nhận của đồng bào không thích bài dài Chính vì thế, thời lượng từ 3-4 phút của phóng sự ngắn luôn mang lại hiệu quả cao

- Ngôn ngữ: Do trình độ dân trí thấp, ngôn ngữ dành cho đồng bào phải

thật sự ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu; đồng thời không dùng thuật ngữ chuyên ngành, từ Hán Việt, tiếng nước ngoài dùng khẩu ngữ của bà con trong cuộc sống hàng ngày v.v

Bên cạnh đó, âm nhạc, với tư cách là một ký hiệu trong ngôn ngữ của báo phát thanh nói chung, trong chương trình phát thanh tiếng Khmer, âm nhạc luôn được sử dụng với tầng suất cao Đối với đồng bào các dân tộc thiểu

số nói chung, đồng bào Khmer nói riêng, âm nhạc dân gian, dân ca của chính

bà con có vai trò quan trọng trong đời sống đồng bào

- Giọng đọc, giọng nói: Khi xác định đối tượng phản ánh là đồng bào

dân tộc vốn còn hạn chế về nhiều phương diện, việc lựa chọn giọng đọc luôn

Trang 36

là một trong những vấn đề đặt ra Thông thường, trong một chương trình phát thanh tiếng Khmer, nên thực hiện đan xen giữa 2 giọng nam và nữ để thính giả có thể dễ tiếp nhận, nắm bắt thông tin Đồng thời, việc tuân thủ yêu cầu đọc chậm và tạo yếu tố gần gũi với bà con luôn được đặt lên hàng đầu Cụ thể trong chương trình trình phát thanh tiếng Khmer hiện nay, các phát thanh viên được tuyển chọn ở các địa bàn Sóc Trăng và Trà Vinh Đây là 2 địa phương

có tỷ lệ người dân tộc Khmer cao nhất trong vùng

- Nguồn nhân lực: Trong công tác sản xuất và phát sóng chương trình

phát thanh tiếng Khmer, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và mang yếu

tố quyết định Phóng viên tham gia thực hiện chương trình phát thanh tiếng dân tộc có thể là con em đồng bào dân tộc mà đối tượng chương trình phục

vụ, hay cũng thể phóng viên là người dân tộc thiểu số khác hay người Kinh Tuy nhiên, phóng viên đều phải có nghiệp vụ cơ bản, am hiểu văn hóa đồng bào dân tộc

- Điều kiện kỹ thuật và truyền dẫn tín hiệu phát sóng: Đây là vấn đề

đóng vai trò quan trọng để tạo được thành công cho công tác đưa thông tin đến với đồng bào dân tộc Điểm thuận lợi ở vùng ĐBSCL so với các vùng miền khác trong cả nước là điều kiện kỹ thuật được xác định là có nhiều thuận

lợi hơn

Nói tóm lại:

Từ đặc điểm tâm lý, văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer, khi sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc phải chú ý lựa chọn chính xác những vấn đề cần thông tin cho bà con Những vấn đề nào liên quan thiết thực đến cộng đồng, đồng bào quan tâm mới thu hút được công chúng

Khi tổ chức các chương trình truyền thông, thông tin phải mang tính chất theo vùng, theo khu vực Bởi bà con các dân tộc sống đan xen trong vùng, không khu biệt theo địa bàn tỉnh mà theo vùng khí hậu, đất đai Do vậy,

Trang 37

những người làm truyền thông phải tính đến yếu tố vùng, miền để xây dựng các chương trình truyền thanh cho phù hợp

Đồng bào các dân tộc thiểu số do đời sống khó khăn, giao thông cách trở, nhận thức hạn chế, các chương trình truyền thông gần gũi với đồng bào; nội dung thông tin gắn gọi, dễ hiểu, dễ nhớ, thông điệp đưa ra rõ ràng, tránh vòng vo khó hiểu

Tăng lượng thông tin về văn hóa, văn nghệ dân gian, các câu chuyện xung quanh phum sóc liên quan trực tiếp đến bà con Bố trí thời lượng, thời gian phát sóng hợp lý phù hợp với đặc điểm tâm lý của dân tộc

Xác định đối tượng công chúng theo từng độ tuổi để xây dựng chương trình truyền thông phù hợp; tạo điều kiện cho đồng bào, đặc biệt là các vị sư sãi, à cha, người có uy tín tham gia các chương trình truyền thông; tổ chức điều tra công chúng, lắng nghe thông tin phản hồi

1.3 Vai trò của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với đồng bào dân tộc Khmer

Thời gian qua, các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trung ương và địa phương, những tiến bộ khoa học, kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, gương người tốt việc tốt, mô hình hay, cách làm giỏi…được chuyển tải bằng tiếng dân tộc đã dễ đi vào lòng người dân, tạo sự lắng đọng

và hiệu quả tuyền truyền cao; góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội và động viên tinh thần nhân dân các dân tộc, trong đó

có đồng bào Khmer Nam bộ

Chính vì thế, ở các địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống, cùng với sự góp mặt tích cực của một số tờ báo in bằng tiếng Khmer đến với đồng bào thì chương trình phát thanh tiếng Khmer vẫn được người dân quan tâm đặc biệt, bởi nó phù hợp với tâm tư, tình cảm của đồng bào

Hàng ngày khi lao động buổi sáng trên đồng ruộng, phút nghỉ trưa bên

bờ đê thì chiếc radio với chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc luôn là

Trang 38

người bạn đồng hành Đồng bào có thể nắm bắt được những thông tin thời sự với những diễn biến diễn ra trong khu vực, đất nước và tình hình thế giới Nhất là thông tin về diễn biến của thị trường hàng hóa, nông sản, thông tin về các quy định đảm bảo an toàn giao thông cũng như những thay đổi ở các địa phương Thượng tọa Lý Hùng, Trụ Trì chùa Pitu Khôsa Răngsây, Thành phố

Cần Thơ cho biết: “Là một thính giả thường xuyên nghe các chương trình

phát thanh tiếng Khmer của Đài Tiếng nói Việt Nam, sư thấy chương trình có

sự phong phú về nội dung Tiếng nói từ các địa phương đã được phản ánh

khá đậm nét trên làn sóng phát thanh tiếng Khmer của khu vực” [Phụ lục 3b]

Bên cạnh đó, chương trình phát thanh tiếng Khmer còn là người bạn đồng hành, gần gũi, phát thông tin bằng tiếng nói của dân tộc mình Từ đó, giúp người dân có thể nắm bắt nhanh những chính sách đi vào đời sống, liên quan trực tiếp đến địa phương, gia đình mình; đồng thời với đó, chương trình luôn là lực lượng xung kích đi đầu, góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền giáo dục lý tưởng xã hội, truyền bá, cổ vũ, giáo dục chủ trương đường lối, chính sách đến với nhân dân, chống tư tưởng lạc hậu, bảo thủ

Một vấn đề khác là thời gian gần đây, trên chương trình phát thanh tiếng dân tộc Khmer còn có tiết mục dạy chữ Khmer cho đồng bào Do vậy, chiếc đài radio với chương trình phát thanh tiếng Khmer luôn là người bạn đồng hành với đồng bào dân tộc, nhất là ở những khu vực còn nhiều khó văn

về vật chất, đời sống tinh thần v.v

Với những kiến thức về y học còn hạn chế, những chương trình phát thanh tiếng Khmer về lĩnh vực y tế - sức khỏe cũng chính là người thầy thuốc tận tình khi trạm y tế ở xa, thầy thuốc, bác sĩ còn thiếu nhiều nơi phum sóc

Cùng với đó, những thông tin về Khoa học, kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng có hiệu quả các loại phân bón, thuốc trừ sâu đã và đang được người dân Khmer quan tâm theo dõi Hay thông tin về tình hình tiêu thụ hàng hóa nông

Trang 39

sản đang diễn biến trên thị trường để có thể chủ động đối với hàng hóa do mình sản xuất

Qua nội dung và hình thức thể hiện, chương trình phát thanh tiếng Khmer đã và đang góp phần đáng kể cho sự ổn định về tư tưởng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát huy quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc và tôn giáo; nâng cao hơn nữa lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Đồng thời, chương trình phát thanh tiếng Khmer đã

và đang góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức của đồng bào; giữ gìn và phát huy tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, những giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng dân tộc Khmer Nam bộ; phòng chống tệ nạn xã hội, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, phản tuyên truyền trước luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các thế lực phản động Khmer Kampuchia Krôm

Tiểu kết chương 1

Trong phạm vi của chương 1, tác giả tập trung trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài Điểm nổi bật trong chương này, người viết đã làm rõ những định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc điểm cơ bản của đồng bào dân tộc Khmer, năng lực, nhu cầu tiếp nhận thông tin của đồng bào Đồng thời, tác giả cũng trình bày những khái niệm công cụ; hệ thống tiêu chí để xác định chất lượng của chương trình phát thanh nói chung, chương trình phát thanh tiếng dân tộc nói riêng Đây cũng là chương đề cập khá rõ vai trò của chương trình phát thanh trong tuyên truyền cho đối tượng công chúng là đồng bào dân tộc Khmer Từ đó, tác giả có những luận cứ chính xác trong quá trình phân tích, tổng hợp các dữ liệu liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài

Những vấn đề nêu trên sẽ là cơ sở để tác giả khảo sát, đề xuất các giải pháp nhằm nâng chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer ở các chương tiếp sau

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG KHMER NAM BỘ TRÊN SÓNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

2.1 Sơ lược về chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam

- Quá trình phát triển:

Ngày 1-8-1990, Đài TNVN phát sóng chương trình phát thanh tiếng Khmer thời lượng 30 phút Chương trình do CQTT TPHCM thực hiện Sau một thời gian phát sóng, chương trình đã tăng thời lượng lên 45 phút Để chương trình mang hơi thở cuộc sống, gắn với khu vực có đông đồng bào Khmer, từ tháng 9/2003, Lãnh đạo Đài TNVN giao cho CQTT khu vực ĐBSCL thực hiện sản xuất và phát sóng Chương trình phát thanh tiếng Khmer thành một kênh riêng trên sóng AM, tần số 873 Đây là một thời điểm quan trọng đánh dấu một mốc phát triển mới của chương trình phát thanh tiếng Khmer

- Tôn chỉ, mục đích của chương trình:

Chương trình Phát thanh tiếng Khmer của Đài TNVN được tổ chức phát sóng từ Cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL, nhưng đó là chương trình Phát thanh của Đài Quốc gia, với yêu cầu nội dung chương trình và chất lượng âm thanh phải đạt tiêu chuẩn Quốc gia Chương trình Phát thanh tiếng Khmer là một bộ phận của Hệ Phát thanh tiếng Dân tộc thuộc Đài TNVN, là phương tiện tuyên truyền chủ trương, chính sách của Nhà nước đến mỗi người dân, là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với đồng bào, là diễn đàn của bạn nghe đài bày tỏ tâm tư nguyện vọng của cộng đồng với Đảng, Nhà nước

Chương trình Phát thanh tiếng Khmer có đối tượng nghe Đài là đồng bào dân tộc Khmer Vì vậy khi chọn lọc thông tin đưa lên sóng, chương trình

đã có sự định hướng để lựa chọn những thông tin phù hợp, sát thực đời sống của đồng bào Thời lượng chương trình ổn định, thời điểm phát sóng ổn định

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.1.2 Hình thức thể hiện tác phẩm, chương trình - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng khmer nam bộ của đài tiếng nói việt nam hiện nay (khảo sát chương trình do cơ quan thường trú đài tiếng nói việt nam khu vực đbscl thực hiện từ tháng  092014 – 022015)
2.2.1.2 Hình thức thể hiện tác phẩm, chương trình (Trang 55)
Qua bảng khảo sát, phân tích này cho thấy, tuy là ngôn ngữ có tính chất hoàn  thiện  nhất  so  với  các  ngôn  ngữ  của  các  dân  tộc  thiểu  số  khác  trên  đất  nước  nhưng  việc  sử  dụng  ngôn  ngữ  này  để  chuyển  từ  tiếng  Việt  sang  tiếng  Khme - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng khmer nam bộ của đài tiếng nói việt nam hiện nay (khảo sát chương trình do cơ quan thường trú đài tiếng nói việt nam khu vực đbscl thực hiện từ tháng  092014 – 022015)
ua bảng khảo sát, phân tích này cho thấy, tuy là ngôn ngữ có tính chất hoàn thiện nhất so với các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số khác trên đất nước nhưng việc sử dụng ngôn ngữ này để chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Khme (Trang 76)
Trong phần khảo sát, với câu hỏi Ông (bà) thích nghe dưới hình thức gì, chúng tôi có ghi nhận sau:  - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng khmer nam bộ của đài tiếng nói việt nam hiện nay (khảo sát chương trình do cơ quan thường trú đài tiếng nói việt nam khu vực đbscl thực hiện từ tháng  092014 – 022015)
rong phần khảo sát, với câu hỏi Ông (bà) thích nghe dưới hình thức gì, chúng tôi có ghi nhận sau: (Trang 78)
6. Ông (bà) thích nghe dưới hình thức gì? - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng khmer nam bộ của đài tiếng nói việt nam hiện nay (khảo sát chương trình do cơ quan thường trú đài tiếng nói việt nam khu vực đbscl thực hiện từ tháng  092014 – 022015)
6. Ông (bà) thích nghe dưới hình thức gì? (Trang 125)
5. Ông (bà) thích nghe những tiết mục/chương trình gì? - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng khmer nam bộ của đài tiếng nói việt nam hiện nay (khảo sát chương trình do cơ quan thường trú đài tiếng nói việt nam khu vực đbscl thực hiện từ tháng  092014 – 022015)
5. Ông (bà) thích nghe những tiết mục/chương trình gì? (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w