Để thu được thuế, Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để thể chế hóa yêu cầu bắt buộc đóng góp nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước đối với các thể nhân, pháp nhân.. Đồng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền Lịch sử loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của đất nước Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thuế bằng hiến pháp và pháp luật Để thu được thuế, Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để thể chế hóa yêu cầu bắt buộc đóng góp nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước đối với các thể nhân, pháp nhân Nhà nước quy định nguyên tắc chung về nghĩa vụ nộp thuế của các thể nhân, pháp nhân trong Hiến pháp - văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Đồng thời để thực hiện nguyên tắc pháp lý nói chung đó, bên cạnh hệ thống các văn bản quy định
về chính sách thuế, nhà nước đã ban hành một hệ thống văn bản quy định pháp luật quy định về quản lý thuế
Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã thay đổi căn bản phương thức quản lý thuế Với sự ra đời của Luật quản lý thuế, ngành Thuế chuyển từ phương thức “chuyên quản” sang phương thức quản lý thuế tiên tiến, hiện đại, “tự khai, tự nộp thuế” Theo phương thức này, người nộp thuế căn cứ các quy định của pháp luật để xác định các loại thuế phải nộp; tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp số thuế đã tính vào ngân sách Nhà nước, tự chịu trách nhiệm về các
số liệu đã kê khai Cơ quan thuế tập trung nguồn lực để tuyên truyền, hướng dẫn kịp thời, đầy đủ về chính sách và thủ tục về thuế để người nộp thuế hiểu rõ, tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Đồng thời cơ quan thuế giám sát sự tuân thủ của người nộp thuế trên cơ chế quản lý rủi ro Cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế vận hành dựa trên cơ sở thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; phân tích, đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế dựa trên kết quả phân tích rủi ro Cơ quan thuế tăng cường kiểm tra, giám sát các trường hợp rủi ro cao nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế Đồng thời cơ quan thuế tăng cường kiểm tra, thanh tra nhằm kịp thời phát hiện xử lý cá hành vi vi phạm pháp luật về thuế,
Trang 2đảm bảo công bằng cho những người nộp thuế chấp hành tốt các quy định pháp luật về thuế
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội
Với những kiến thức tích lũy được trong thời gian học tập tại lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên thuế do Trường nghiệp vụ thuế tổ chức từ ngày 05/9/2014 đến ngày 17/10/2014 tại Hà Nội, cùng với kinh nghiệm thực tế của một cán bộ công chức ngành Thuế đang đảm nhiệm công việc quản lý thuế Thu nhập cá nhân thuộc đội Tổng hợp nghiệp vụ dự toán tại Chi cục Thuế huyện Thái Thụy - Cục thuế tỉnh Thái Bình, tôi nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) trong công tác quản lý thuế
Vì vậy, tôi chọn đề tài:
“Xử lý tình huống trong kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân tại Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi Thái Thụy”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 06 phần chính như sau:
1 Nội dung tình huống;
2 Xác định mục tiêu xử lý tình huống;
3 Phân tích nguyên nhân và hậu quả;
4 Xây dựng các phương án giải quyết vấn đề và lựa chon phương án;
5 Kế hoạch tổ chức phương án được lựa chọn;
6 Kiến nghị
1 Nội dung tình huống
Trang 3Tình huống xảy ra trong quá trình kiểm tra việc kê khai, quyết toán thuế Thu nhập cá nhân tại Công ty CP xây dựng Thủy lợi Thái Thụy, thời kỳ kiểm tra: năm 2013
Công ty CP xây dựng Thủy lợi Thái Thụy là đơn vị hạch toán độc lập, được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần lần đầu,
số doanh nghiệp 1000267799 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Bình cấp ngày 07/8/2001
- Trụ sở Công ty: Khu 7, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu: Xây dựng các công trình xây dựng dân dụng, công trình hạ tầng đô thị, khuôn viên…
- Đăng ký kê khai nộp thuế tại: Chi cục thuế huyện Thái Thụy
Thi hành Quyết định kiểm tra số 248/QĐ-CCT ngày 17/7/2014 của Chi cục Trưởng Chi cục Thuế huyện Thái Thụy việc kê khai, quyết toán thuế Thu nhập
cá nhân tại trụ sở Công ty CP Xây dựng Thủy lợi Thái Thụy, thời kỳ kiểm tra năm 2013 Trong quá trình kiểm tra sổ sách, tài liệu, chứng từ kế toán lưu tại đơn vị đoàn kiểm tra phát hiện:
+ Trong năm 2013, Công ty ký 38 hợp đồng lao động thời vụ với người lao động, 38 người này đã có mã số thuế, tuy nhiên họ không có Bản cam kết theo Mẫu số 23/BCK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày
04 tháng 8 năm 2011 của Bộ tài chính gửi cơ quan chi trả thu nhập để cơ quan chi trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ 10% thuế TNCN
+ Tháng 4/2013 Công ty chi trả cổ tức bằng tiền cho các Cổ đông góp vốn trong Công ty, số tiền là 239.740.384 đồng, nhưng trước khi chi trả cổ tức Công
ty không thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật + Tháng 12/2013 Công ty chi trả lãi vay của cá nhân, số tiền là 53.458.680, nhưng trước khi trả tiền lãi vay cho cá nhân Công ty không thực hiện khấu trừ thuế Thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật
Trang 42 Xác định mục tiêu xử lý tình huống
2.1 Mục tiêu xử lý tình huống
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thuế bằng hiến pháp và pháp luật Mục tiêu xử lý tình huống là xử lý các hành vi vi phạm về thuế theo đúng hiến pháp
và pháp luật, đảm bảo công bằng cho những người nộp thuế chấp hành tốt các quy định về pháp luật
Trong thực tế vẫn còn tồn tại những đối tượng kinh doanh vi phạm pháp luật thuế, trốn thuế, gây mất ổn định xã hội trong lĩnh vực kinh tế, gây rối loạn thị trường
và tạo ra nhiều bức xúc, tiêu cực xã hội
Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của Người nộp thuế Do vậy thông qua công tác thanh, kiểm tra thuế để cơ quan thuế lắng nghe những kiến nghị của người nộp thuế với Đảng, Nhà nước nghiên cứu và ban hành các chính sách pháp luật thuế phù hợp với thực tiễn; Thông qua thanh tra kiểm tra đảm bảo sự công bằng trong thực thi chính sách pháp luật về thuế, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước không bị thất thu, tránh người nộp thuế có hiện tượng gian lận trong kê khai nộp thuế, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế
Kiểm tra thuế giúp nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai, tính thuế và nộp thuế
Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh gây phiền nhiễu và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Tạo sự thống nhất trong việc thực hiện công tác thanh tra trong toàn ngành thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế
Việc phân tích tình huống tiến hành một cuộc thanh tra để rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn quý báu giúp cho cán bộ ngành Thuế ngày càng nâng cao
Trang 5trình độ, kỹ năng thanh tra, kiểm tra, kỹ năng trong công tác quản lý từ đó làm tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế
2.2 Cơ sở lý luận của công tác kiểm tra
Nguyên tắc kiểm tra thuế:
- Mọi hoạt động Kiểm tra, đều phải tuân thủ các quy định của Pháp luật:
+ Khi tiến hành Kiểm tra đối tượng nộp thuế phải có Quyết định Kiểm tra do người có thẩm quyền ban hành
+ Trong quá trình Kiểm tra các kiểm tra viên cần thực hiện độc lập và nghiêm túc các quyền trong phạm vi Pháp luật cho phép
+ Phải làm và chỉ làm theo Pháp luật, đồng thời phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Pháp luật về những kết luận, kiến nghị và Quyết định xử lý của bản thân Tuyệt đối không được và không để công tác kiểm tra bị các nhân tố khác chi phối Đây là nguyên tắc hàng đầu, có như vậy mới bảo đảm tính độc lập, nghiêm túc khi thực hiện những thủ tục cần thiết và trong phạm vi thẩm quyền cho phép
- Đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời khi Kiểm tra
- Không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân
là đối tượng Kiểm tra
- Khi Thanh tra, kiểm tra phải tuân thủ trình tự và thực hiện theo các bước với những nội dung dưới đây, nhằm tránh vi phạm pháp luật và bảo đảm hiệu quả của công tác Thanh tra, kiểm tra
- Xác định đúng đối tượng, phạm vi, nội dung của hoạt động kiểm tra
Đối tượng, nội dung, phạm vi kiểm tra luôn được xác định bởi yêu cầu quản lý Nhà nước và thực tiễn cuộc sống đặt ra trong thời kỳ, giai đoạn cụ thể Theo quy định của luật kiểm tra, đối tượng, nội dung, phạm vi được xác định trong chương trình, kế hoạch kiểm tra được phê duyệt theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước hoặc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm Pháp luật
Trang 6- Sử dụng đúng quyền trong hoạt động kiểm tra Đây là yếu tố mang tính nguyên tắc đảm bảo cho kiểm tra đạt mục đích đề ra hoạt động kiểm tra là hoạt động nhân danh quyền lực hành chính Nhà nước của cơ quan quản lý hành chính cấp trên đối với cấp dưới, thể hiện qua: Quyền quyết định, kiến nghị xử lý theo thẩm quyền
Căn cứ pháp lý để xác định mục tiêu xử lý tình huống:
Theo quy định tại Điều 1, Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04 tháng 8
năm 2011 của Bộ tài chính: “Các tổ chức, cá nhân chi trả tiền hoa hồng đại lý bán hàng hoá; tiền lương, tiền công, tiền dịch vụ khác, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng mức trả thu nhập từ 1.000.000 đồng/lần trở lên thì thực hiện khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập cho cá nhân theo hướng dẫn sau:
- Áp dụng mức khấu trừ theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trả cho các cá nhân
có mã số thuế và 20% đối với cá nhân không có mã số thuế, trừ các trường hợp
Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn mức tạm khấu trừ riêng (như tiền hoa hồng đại lý bảo hiểm, tiền hoa hồng đại lý xổ số)”.
Theo quy định tại điểm 3.2, khoản 3, Mục II, phần A, Thông tư số
84/2008/TT-BTC ngày 30 tháng 8 năm 2008 của Bộ Tài chính: “Lợi tức, cổ tức nhận được từ việc góp vốn cổ phần” là khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá
nhân
Theo quy định tại điểm 1.2.2, khoản 1, Mục II, Phần D, Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30 tháng 8 năm 2008 của Bộ tài chính hướng dẫn thì:
“Trước mỗi lần chi trả lợi tức, cổ tức cho cá nhân đầu tư vốn, các tổ chức có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân Số thuế khấu trừ được xác định bằng lợi tức, cổ tức mỗi lần chi trả nhân (x) với thuế suất 5%”
Theo quy định tại tiết a, điểm 3, Điều 2, Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày
15 tháng 8 năm 2013 của Bộ tài chính: “Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập cá nhân nhận được dưới các hình thức:
Trang 7a) Tiền lãi nhận được từ việc cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình,
cá nhân kinh doanh, nhóm cá nhân kinh doanh vay theo hợp đồng vay hoặc thỏa thuận vay, trừ lãi tiền gửi nhận được từ các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo hướng dẫn tại tiết g.1, điểm g, khoản 1, Điều 3 Thông tư này” là khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Theo Điểm 2,3,4 Điều 10, Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 8
năm 2013 của Bộ tài chính: “2 Thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn áp dụng theo Biểu thuế toàn phần với thuế suất là 5%
3 Thời điểm xác định thu nhập tính thuế
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.
4 Cách tính thuế
Số thuế thu nhập
cá nhân phải nộp =
Thu nhập tính thuế ×
Thuế suất 5%
Căn cứ vào các quy định trên, đoàn kiểm tra sẽ xác định lại số thuế thu nhập cá nhân đối với khoản trả tiền nhân công lao động thời vụ, trả lãi tiền vay, trả cổ tức mà Công ty phải khấu trừ theo đúng quy định của pháp luật
3 Phân tích nguyên nhân và hậu quả của tình huống
3.1 Nguyên nhân của tình huống
- Sự hiểu biết về chính sách thuế của doanh nghiệp còn thấp, nhận thức về chính sách pháp luật còn hạn chế Tinh thần tự giác chấp hành chính sách pháp luật thuế của doanh nghiệp chưa cao
- Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế chưa đồng bộ, chưa phân loại được người nộp thuế để áp dụng các biện pháp tuyên truyền phù hợp
3.2 Hậu quả của tình huống
Trang 8- Kiểm tra nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công năm 2013.
Căn cứ vào hợp đồng lao động, hồ sơ giảm trừ gia cảnh, Bảng thanh toán lương cho người lao động, sổ sách kế toán lưu tại Công ty, đoàn kiểm tra phát hiện đơn vị có những vi phạm cụ thể như sau:
ST
Chênh lệch
2.1 Cá nhân cư trú có hợp đồng lao động VNĐ 1.620.240.000 1.620.240.000 0 2.2 Cá nhân cư trú không có hợp đồng lao động VNĐ 544.480.000 544.480.000 0
3 Tổng TNCT trả cho cá nhân thuộc diện
3.1 Cá nhân cư trú có hợp đồng lao động VNĐ 0
3.2 Cá nhân cư trú không có hợp đồng lao động VNĐ 0 544.480.000 544.480.000
4.1 Cá nhân cư trú có hợp đồng lao động VNĐ 0 0 0 4.2 Cá nhân cư trú không có hợp đồng lao động VNĐ 0 0 0
5.1 Cá nhân cư trú có hợp đồng lao động VNĐ 0 0 0 5.2 Cá nhân cư trú không có hợp đồng lao động VNĐ 0 54.448.000 54.448.000
Trang 98 Tổng số thuế TNCN đã nộp thừa VNĐ 0 0 0
Giải thích chênh lệch: Công ty đã không thực hiện khấu trừ 10% trên tổng thu nhập trả cho cá nhân ký hợp đồng lao động thời vụ dưới 3 tháng đối với những trường hợp đã có mã số thuế và có tổng thu nhập trả từng lần từ 1.000.000 đồng trở lên Vì vậy sau khi kiểm tra, số thuế TNCN còn phải nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN) tăng 54.448.000 đồng
- Kiểm tra thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn năm 2013:
Căn cứ vào sổ sách kế toán lưu tại Công ty, Phiếu chi tiền số PC120/12, PC121/12 ngày 31/12/2013, hợp đồng vay tiền, đoàn kiểm tra phát hiện đơn vị
có những vi phạm sau:
ST
Thu nhập phải khấu trừ
Số thuế TNCN
đã khấu trừ Số kiểm tra Chênh lệch
Giải thích chênh lệch: Tháng 12/2013 Công ty trả lãi tiền vay cho ông Mai Văn Hoàng, Lê Văn An nhưng trước khi trả tiền lãi vay này Công ty không khấu trừ 5% theo quy định của pháp luật Vì vậy sau khi kiểm tra, số thuế TNCN phải nộp vào NSNN tăng 2.672.934 đồng
- Kiểm tra thuế thu nhập cá nhân từ chia cổ tức của năm 2012:
Căn cứ Biên bản chia cổ tức của năm 2012 ngày 03 tháng 4 năm 2013, Phiếu chi tiền số PC12/04, PC12/05, PC12/06 ngày 03/4/2013, sổ sách kế toán lưu tại đơn vị, đoàn kiểm tra phát hiện vi phạm sau:
ST
Thu nhập phải khấu trừ
Số thuế TNCN
đã khấu trừ Số kiểm tra Chênh lệch
2 Phạm Thanh Phong 119.870.192 0 5.993.510 5.993.510
Trang 103 Vũ Trường Sơn 71.922.115 0 3.596.106 3.596.106
Giải thích chênh lệch: Tháng 4/2013, Công ty chia cổ tức năm 2012 bằng tiền cho các Cổ đông góp vốn trong Công ty, nhưng trước khi trả cổ tức cho các
Cổ đông, Công ty đã không khấu trừ thuế TNCN phải nộp theo quy định của pháp luật Vì vậy, sau khi kiểm tra, số thuế TNCN phải nộp vào NSNN tăng 11.987.019 đồng
Như vậy, do những vi phạm pháp luật về thuế của Công ty, đã dẫn đến hậu quả làm thất thu của ngân sách nhà nước tổng số tiền là 69.107.953 đồng Hành vi vi phạm pháp luật thuế của Công ty đã làm mất công bằng cho những người nộp thuế chấp hành tốt các quy định pháp luật về thuế Ngoài ra còn gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, làm thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân Gây ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ cán bộ công chức, giảm sút niềm tin của người nộp thuế với cơ quan thuế Gây ảnh hưởng đến kỷ cương phép nước, làm giảm sút hiệu lực quản lý nhà nước, tác động xấu về mặt xã hội
4 Xây dựng các phương án giải quyết tình huống và lựa chon phương án 4.1 Cơ sở pháp lý để xây dựng phương án giải quyết tình huống
Theo Điều 13, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ: quy định về Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn
“1 Các trường hợp khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng
số tiền thuế được hoàn, bao gồm:
a) Hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, tăng số thuế được miễn, giảm, nhưng người nộp thuế đã ghi chép kịp thời, đầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ;