1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử việt nam hiện nay

118 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Biểu Hiện Thiếu Trách Nhiệm Xã Hội Của Người Làm Báo Mạng Điện Tử Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang Biểu đồ 2.1: Thông tin cá nhân của công chúng tham gia khảo sát 43 Biểu đồ 2.2: Khảo sát tần suất người đọc báo mạng điện tử Việt Nam 43 Biểu đồ 2.3: Khảo sát những tờ báo mạng điệ

Trang 1

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

NHỮNG BIỂU HIỆN THIẾU TRÁCH NHIỆM

XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LÀM BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ TRƯỜNG GIANG

CẦN THƠ - 2015

Trang 2

CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ tên)

PGS.TS Nguyễn Văn Dững

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Thông tin, các trích dẫn và số liệu trong luận văn rõ ràng

và trung trực Các kết luận trong luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 4

Luận văn “Những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm

báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay” là kết quả học tập, nghiên cứu của tôi tại

Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Bằng những tình cảm chân thành, tôi xin gởi đến quí thầy cô - những người đã hướng dẫn, giảng dạy, truyền thụ kiến thức để tôi hoàn thành khóa học Cao học Báo chí K.19 tại Cần Thơ, với tất cả lòng biết ơn sâu sắc

Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, Phó Trưởng khoa Phát thanh - Truyền hình của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn quí thầy cô Khoa Báo chí, Khoa phát thanh - Truyền hình, Phòng Tổ chức, Ban Quản lý Đào tạo, Phòng Sau Đại học, Khoa Ngoại ngữ, Trung tâm Thông tin tư liệu Thư viện; quí thầy cô Chủ nhiệm lớp Báo chí K.19 - Học viện Báo chí Tuyên truyền và quí thầy cô Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực 4 đã tạo mọi điều kiện để tôi học tốt, thực hiện công trình nghiên cứu thuận lợi

Xin trân trọng cảm ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo cơ quan, bạn bè đồng môn, đồng nghiệp, người thân dành cho tôi trong quá trình tôi tập trung học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn tất cả đã góp sức cho sự thành công của tôi hôm nay

Cần Thơ, ngày 8 tháng 7 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 5

Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA

NGƯỜI LÀM BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 12

1.2 Ưu điểm, hạn chế của báo mạng điện tử và những yêu cầu về

phẩm chất nghề nghiệp của người làm báo mạng điện tử 21 1.3 Những yêu cầu về trách nhiệm xã hội của người làm báo nói

chung và người làm báo mạng điện tử nói riêng 30

Chương 2: THỰC TRẠNG NHỮNG BIỂU HIỆN THIẾU TRÁCH

NHIỆM XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LÀM BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

2.1 Giới thiệu khái quát về báo mạng điện tử Việt Nam 40

2.2 Khảo sát những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm

báo mạng điện tử trên một số tờ báo mạng điện tử 47

2.3 Đánh giá chung về những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của

người làm báo mạng điện tử trên một số tờ báo mạng điện tử 64

Chương 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH

NHIỆM XÃ HỘI CHO NHỮNG NGƯỜI LÀM BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI 83 3.1 Những kiến nghị nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội cho

người làm báo mạng điện tử, phấn đấu trở thành nhà báo chuyên

nghiệp, có tài, có tầm và có tâm 83

3.2 Những giải pháp mà Đảng, Nhà nước và cơ quan chức năng cần

thực hiện để nâng cao trách nhiệm xã hội cho người làm báo

PHỤ LỤC

Trang 6

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

HVBC&TT : Học viện Báo chí và Tuyên truyền

TAND : Tòa án Nhân dân

TTXVN : Thông tấn xã Việt Nam

UBND : Ủy ban Nhân dân

VN : Việt Nam

VKSND : Viện Kiểm sát Nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

Trang Biểu đồ 2.1: Thông tin cá nhân của công chúng tham gia khảo sát 43 Biểu đồ 2.2: Khảo sát tần suất người đọc báo mạng điện tử Việt Nam 43 Biểu đồ 2.3: Khảo sát những tờ báo mạng điện tử công chúng

Biểu đồ 2.4: Khảo sát ý kiến công chúng về chất lượng thông tin

trên báo mạng điện tử 45 Biểu đồ 2.5: Khảo sát sự quan tâm của công chúng đến trách

nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử 46 Biểu đồ 2.6: Khảo sát thái độ công chúng đối với những biểu hiện

trách nhiệm người làm báo mạng điện tử 46 Biểu đồ 2.7: Khảo sát công chúng về những nội dung biểu hiện

thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng

Biểu đồ 2.8: Khảo sát nguyên nhân của biểu hiện thiếu trách

nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử 64 Biểu đồ 2.9: Khảo sát công chúng đối với vai trò lãnh đạo, quản lý

báo chí dẫn đến những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử 70 Biểu đồ 2.10: Khảo sát sự phản ứng của công chúng trước những

biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo

Biểu đồ 2.11: Khảo sát về những hậu quả có thể xảy ra từ những

biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo

Biểu đồ 3.1: Khảo sát công chúng về nội dung người làm báo

mạng điện tử cần rèn luyện để trở thành nhà báo chuyên nghiệp, có tài, có tầm và có tâm 83 Biểu đồ 3.2: Khảo sát công chúng nội dung người làm báo mạng

điện tử cần thực hiện để hạn chế những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội 90 Biểu đồ 3.3: Khảo sát công chúng về các giải pháp nâng cao trách

nhiệm xã hội cho người làm báo mạng điện tử 92

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn đã chứng minh, trong 90 năm qua, báo chí nước ta đã có sự trưởng thành và phát triển mạnh mẽ không chỉ ở số lượng, chất lượng mà còn

ở sự đa dạng, phong phú về loại hình, tạo sự thu hút lớn đối với công chúng Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết năm 2014, cả nước có: 845 cơ quan báo chí, 67 đài phát thanh - truyền hình; 98 cơ quan báo chí điện tử Đội ngũ những người làm báo tăng nhanh, từ 25.000 người năm

2005 tăng lên gần 40.000 người năm 2014, trong đó hơn 18.000 nhà báo được cấp thẻ làm việc tại các tòa soạn từ Trung ương đến địa phương; 30% nhà báo

là đảng viên; tỷ lệ nhân lực ngành báo chí có trình độ đại học tăng từ 85% lên 91% và trên đại học là từ 4% lên 4,9% Số người sử dụng Internet ở nước ta đạt trên 35% số dân, ở mức cao trong khu vực Đông Nam Á và châu Á Sự phát triển với tốc độ cao của báo mạng điện tử cùng với tính chất tích hợp truyền thông đã mở ra khả năng to lớn cho việc truyền tải, thu nhận thông tin, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng Mặt khác, công chúng cũng chứng kiến thời kỳ các loại hình báo chí truyền thống đã và phải đương đầu trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt, quyết liệt với báo mạng điện tử và giữa các cơ quan báo mạng điện tử với nhau

Những người làm báo có quyền tự hào về phần thưởng cao quí mà Đảng và Nhà nước đã trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2000) và Huân chương Sao Vàng, nhân kỷ niệm 85 năm báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-2010), đánh dấu trong suốt chiều dài lịch sử đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng của dân tộc, báo chí Việt Nam luôn thể hiện vai trò là lực lượng cách mạng quan trọng, góp phần đắc lực trong mỗi bước thành công của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Nhiều tác phẩm báo chí đã ghi dấu

ấn lịch sử, nhiều nhà báo được vinh danh

Hoạt động báo chí chuyên nghiệp đòi hỏi phải hướng tới mục đích: thông tin nhanh nhạy, chính xác, trung thực, hấp dẫn; tác phẩm báo chí phải

Trang 9

thể hiện được trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự lên ngôi của báo mạng điện tử, cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng diễn ra gay gắt, nhiều

cơ quan báo chí, nhiều nhà báo, trong đó có một số báo mạng điện tử, vì lợi ích kinh tế chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hóa, có biểu hiện xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, xa rời tôn chỉ, mục đích tờ báo, không tuân thủ qui trình tác nghiệp, phớt lờ qui định đạo đức nghề nghiệp, cho ra mắt công chúng những tác phẩm báo chí thiếu kiểm chứng, thậm chí bịa đặt, chạy theo xu hướng giật gân, câu khách, tập trung quá nhiều vào tiêu cực và tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến thị hiếu và trình độ văn hóa, thẩm mỹ của công chúng Điều này khiến không ít công chúng mất lòng tin đối với nghề báo và nhà báo, nhất là những người làm báo mạng điện tử, đến nỗi nhiều độc giả đánh đồng “báo mạng điện tử” là “báo lá cải”; qui chụp nhà báo là người “nói láo…”

Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác báo chí theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa

X về công tác tư tưởng, lý luận báo chí trước yêu cầu mới, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của báo chí, phải góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Vì thế, làm thế nào để các cơ quan báo chí và những người làm báo, nhất là người làm báo mạng điện tử nâng cao được ý thức trách nhiệm trong việc đưa đến công chúng những tác phẩm báo chí thật sự đạt chất lượng, mang tính nhân văn, có ích cho cộng đồng, quốc gia, dân tộc? Đó cũng chính là nỗi trăn trở không chỉ của những người

có trách nhiệm đối với công tác lãnh đạo, quản lý báo chí mà còn là đòi hỏi chính đáng từ phía công chúng, từ các nhà báo

Tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác năm 2014 do Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức (vào ngày 17-18/4/2014 ở Quảng Ninh) đã tập trung vào

chủ đề “Nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân và đạo đức nghề

nghiệp của người làm báo Việt Nam gắn với việc học tập và làm theo tấm

gương đạo đức Hồ Chí Minh” Có thể nói vấn đề giáo dục và giám sát việc

Trang 10

tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, nâng cao trách nhiệm xã hội đối với nhà báo và hoạt động báo chí nói chung cũng như báo mạng điện tử nói riêng trong giai đoạn hiện nay hết sức cấp thiết, nhất là trước xu thế báo mạng điện tử sẽ trở thành loại hình truyền thông chủ lực, hiện đại trong tương lai Có như thế mới giúp báo mạng điện tử phát triển đúng hướng, giúp người làm báo mạng điện

tử thực hiện tốt vai trò “chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa” -

như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh để qua đó nhận thức đúng trách nhiệm, nghĩa vụ công dân mà xã hội đặt ra đối với nghề báo, nhà báo, trong đó có người làm báo mạng điện tử

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: Những biểu hiện

thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

nhằm chỉ ra, phân tích những hạn chế, thiếu sót cũng như đánh giá đúng thực trạng về trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Từ đó, luận văn cũng đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém, nâng cao trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện tử để hoạt động báo mạng điện tử ngày càng mang tính chuyên nghiệp, hiện đại và tác phẩm báo mạng điện tử ngày càng nâng cao chất lượng, không chỉ thu hút độc giả mà còn vun đắp được niềm tin của công chúng đối với loại hình báo chí mới này

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ khi báo mạng điện tử ra đời và phát triển đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều bài báo đề cập đến vấn đề đạo đức, trách nhiệm xã hội của người làm báo, của người làm báo mạng điện tử và những vấn đề liên quan đến loại hình báo mạng điện tử Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có tham khảo một số sách, bài báo, luận văn, công trình nghiên cứu có liên quan

+ Về sách thì quyển Đạo đức nghề báo - những vấn đề lý luận và thực

tiễn do PGS.TS Hoàng Đình Cúc (chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia - Sự

Thật, H.2013), đề cập đến những vấn đề lý luận về đạo đức nghề báo; quan

Trang 11

điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí, về đạo đức nghề báo Đồng thời, nêu thực trạng đạo đức nghề báo Việt Nam hiện nay với những bất cập, những vấn đề cấp bách trong công tác chỉ đạo, quản lý báo chí và chỉ ra việc truyền tải thông tin không trung thực, thiếu chính xác, vi phạm đạo đức nghề báo Các tác giả cũng đưa những tiêu chí về chuẩn mực đạo đức nghề báo Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện nghề báo, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

Trong quyển Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản của PGS.TS Nguyễn

Thị Trường Giang (Nxb Chính trị Quốc gia - Sự Thật, H.2014), tác giả nêu quá trình hình thành và phát triển của Internet; lịch sử ra đời và phát triển của báo mạng điện tử; mô hình tòa soạn và qui trình sản xuất thông tin của báo mạng điện tử; cách viết và trình bày nội dung báo mạng điện tử; khái quát

một số tờ báo mạng điện tử ở Việt Nam Còn quyển Đạo đức nghề nghiệp của

nhà báo của PGS TS Nguyễn Thị Trường Giang, (Nxb Chính trị Hành chính

- H.2014), là sách chuyên khảo Tác giả tập trung làm rõ vấn đề đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động báo chí, từ quan niệm chung về đạo đức đến những yêu cầu cụ thể về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam hiện nay Đồng thời nhấn mạnh đạo đức nghề nghiệp trong các mối quan hệ của nhà báo (quan hệ nền tảng, trong môi trường xã hội và quan hệ nghề nghiệp); phân tích những biểu hiện tích cực và những biến đổi tiêu cực trong đạo đức nghề nghiệp, làm rõ nguyên nhân, nêu các giải pháp nâng cao đạo đức nghề

nghiệp cho nhà báo Việt Nam 100 bản qui tắc đạo đức nghề báo trên thế

giới, của PGS TS Nguyễn Thị Trường Giang, (Nxb Chính trị Quốc gia - Sự

Thật, H.2014), là quyển sách tập hợp, so sánh, phân tích đầy đủ rõ ràng về hoàn cảnh ra đời, những nguyên tắc, tiêu chuẩn chung và đặc điểm riêng của

100 bản qui tắc đạo đức nghề báo của Việt Nam và của các tổ chức, cơ quan

báo chí, của các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Quyển Cơ sở lý luận

Báo chí của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, (Nxb Lao Động, H.2012), là giáo

trình cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống về lý luận báo chí Bao

Trang 12

gồm các khái niệm và đặc điểm của báo chí, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí; về các chức năng và nguyên tắc của hoạt động báo chí; về chủ thể hoạt động báo chí, vấn đề tự do

báo chí… Quyển Cơ sở lý luận Báo chí truyền thông, nhóm tác giả Dương

Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (Nxb Đại học Quốc gia, H.2003) cũng là giáo trình, đề cập đến những vấn đề có tính phương pháp luận, các khái niệm, phạm trù, đặc trưng, chức năng, nguyên tắc, hiệu quả, tính sáng tạo của lao động báo chí, làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí - truyền thông

+ Về đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn, khóa luận có: Vấn đề

vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam qua các tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của Phạm Huy Kiên,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Hà Nội, 2014) Đề tài đặt ra một số vấn đề

về đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trong thực hiện qui trình sáng tạo tác phẩm báo chí Tác giả lựa chọn khảo sát các tác phẩm báo chí có dấu hiệu vi phạm đạo đức nghề nghiệp trên 3 tờ báo mạng điện tử: Dantri.com.vn, Nongnghiep.vn, Nguoiduatin.vn và rút ra các khuyến nghị nhằm nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp nhà báo trong sáng tạo tác phẩm báo chí cho

báo mạng điện tử Cạnh tranh thông tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện

nay, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của Trần Thị Thu Trang, Học viện Báo chí

và Tuyên truyền (Hà Nội, 2012), là công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động thông tin của các tờ báo mạng điện tử Việt Nam, được khảo sát cụ thể ở VnExpress, VnMedia và VOV online Qua đó, tác giả đánh giá thực trạng cạnh tranh thông tin của các tờ báo mạng điện tử, góp phần hệ thống hóa qui trình, phương thức sản xuất thông tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện

nay Sai phạm trong xử lý nguồn thông tin - phân tích dưới góc độ pháp luật

và đạo đức báo chí, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của Bùi Đức Anh Linh,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Hà Nội, 2014), đề cập đến những sai phạm trong xử lý nguồn tin trên báo chí hiện nay và phân tích những sai phạm

Trang 13

dưới góc độ pháp luật và đạo đức Tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân, đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trong xử lý nguồn tin, góp phần hạn chế những sai phạm của nhà báo trong xử

lý nguồn tin Thông tin không chính xác trong tác phẩm báo mạng điện tử và

cách xử lý của tòa soạn, Khóa luận tốt nghiệp Đại học của Hoàng Thị Thanh,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Hà Nội, 2014), đi sâu làm rõ các yêu cầu đối với tác phẩm báo mạng điện tử: tính chính xác, chân thật, khách quan, yêu cầu kiểm chứng thông tin trước khi công bố Qua đó, tác giả phân tích thực trạng việc đưa thông tin không chính xác trên báo mạng điện tử hiện nay và cách ứng xử chưa phù hợp của tòa soạn trước những thông tin này; đồng thời chỉ ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp hạn chế tình trạng trên

+ Về các tác phẩm báo chí, bài viết đăng trên các báo, tạp chí và các

tham luận tại các hội thảo khoa học có: Các bài tham luận tại Hội thảo vấn

đề bản quyền báo chí trong kỷ nguyên số, Hội Nhà báo Việt Nam,

(TP.HCM 28-01-2015) Kỷ yếu gồm 13 tham luận của các nhà báo tại hội thảo, tập trung phân tích vấn đề đạo đức nghề nghiệp và vấn đề bản quyền báo chí, nhận diện những lỗi vi phạm về đạo đức nhà báo trong việc “cắt, cóp, dán” phổ biến trên báo mạng điện tử Tham luận của các tác giả cũng nêu những giải pháp khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền trên báo mạng điện tử trong môi trường truyền thông số hiện nay và kinh nghiệm

của các nước trên thế giới Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của

nhà báo, Hội Nhà báo Việt Nam, (Hà Nội, 1998) Kỷ yếu bao gồm 47

tham luận đề cập đến trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo trong cơ chế thị trường; về công tác quản lý nhà báo; vai trò, trách nhiệm của báo chí, của Tổng biên tập trong qui trình cung cấp thông tin đến công chúng; những yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển báo chí và xây dựng đội ngũ nhà báo Một số tham luận cũng nhấn mạnh mối quan hệ không thể tách rời giữa trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà bá; hành lang pháp lý - cơ sở quan trọng để các nhà báo hành nghề và đặt ra yêu cầu,

Trang 14

giải pháp, tạo điều kiện để nhà báo thực hiện tốt hơn nữa trách nhiệm xã

hội và nghĩa vụ công dân “Đạo đức của nhà báo trong qui trình sáng tạo

tác phẩm báo chí” của TS Hà Huy Phượng, đăng trên Tạp chí Lý luận

Chính trị và Truyền thông số tháng 3-2013 Nội dung bài viết đề cập đến những sai phạm về đạo đức nghề nghiệp của nhà báo như: Nhà báo không thâm nhập thực tiễn, chỉ sao chép, bịa đặt thông tin; không tuân thủ qui trình tác nghiệp; lạm dụng những chi tiết giật gân, câu khách, vi phạm tính khách quan, chân thật và giá trị nhân văn của báo chí; vì lợi ích cá nhân, nhóm hoặc vì mục đích thương mại và không theo dõi thông tin phản hồi… gây hậu quả xấu trong qui trình sáng tạo tác phẩm báo chí đưa đến công

chúng “Coi trọng bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao tay nghề gắn với trách

nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của người làm báo” của Nhà báo Phan

Quang, đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông số tháng

6-2014 Bài viết chỉ ra ưu điểm cùng những hạn chế, thiếu sót của người làm báo trong giai đoạn hiện nay Trong đó nhấn mạnh vấn đề coi trọng việc bồi dưỡng, rèn luyện để vừa nâng cao tay nghề, vừa nâng cao ý thức trách nhiệm

xã hội và nghĩa vụ công dân cho những người làm báo, góp phần khắc phục hạn chế, thiếu sót và ngăn ngừa sai phạm Và để làm được điều đó, cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa 4 chủ thể: cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, các cấp Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan chuyên trách quản lý báo chí Tác giả cũng khuyên những người làm báo phải luôn tâm niệm những

điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Nhà báo cũng là chiến sĩ”

Qua khảo sát, tác giả thấy các tư liệu trên là những nghiên cứu đề cập đến đặc trưng cơ bản của báo chí, của báo mạng điện tử; đề cập đến góc độ đạo đức nghề báo, đạo đức nhà báo, trách nhiệm xã hội của người làm báo và những vấn đề cơ bản liên quan đến báo chí, báo mạng điện tử mà chưa có

công trình nghiên cứu một cách tổng thể về Những biểu hiện thiếu trách

nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Đây là đề

tài mới, phù hợp với mã ngành 60.32.01.01

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát một số tờ báo mạng điện

tử, luận văn hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, chỉ ra những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử; từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: Khái niệm trách nhiệm xã hội; những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội; đặc trưng của báo mạng điện tử…

- Khảo sát, phân tích những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện tử;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả tập trung khảo sát những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Tuy nhiên do những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam thể hiện dưới nhiều góc độ, thời điểm và trên nhiều tờ báo mạng điện tử khác nhau nên tác giả luận văn không khu biệt thời gian, cụ thể tên tờ báo và số lượng để khảo sát Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chọn khảo sát những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam thông qua các tờ báo mạng điện tử có vi phạm, gây hậu quả nhất định và một

số trường hợp đã bị cơ quan chức năng xử lý

Trang 16

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở nhận thức luận về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với báo chí; vấn đề đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của người làm báo; lý luận về báo mạng điện tử; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và qui định pháp luật của Nhà nước về báo chí, trong đó có báo mạng điện tử; hệ thống lý thuyết về công chúng báo mạng điện tử…

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả luận văn phải sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Giúp tác giả nắm được phương

pháp, thông tin của những nghiên cứu thực hiện trước đó, thêm kiến thức về lĩnh vực đang nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát:

+ Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi anket: Thu thập ý kiến đối với

400 công chúng báo mạng điện tử về những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Qua đó, tác giả thu thập đước ý kiến của công chúng về chất lượng thông tin trên báo mạng điện tử; thái độ và mức độ quan tâm của công chúng đối với những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Đồng thời tìm hiểu nguyên nhân và phân tích hậu quả của những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam dưới cái nhìn công chúng

+ Phỏng vấn sâu: 8 người gồm các cán bộ quản lý báo chí, lãnh đạo

cơ quan chủ quản báo chí, các nhà báo, biên tập viên báo mạng điện tử và các chuyên gia báo chí để ghi nhận ý kiến đánh giá về những ưu điểm, hạn chế của báo mạng điện tử; phân tích những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay và giải pháp ngăn chặn, khắc phục tình trạng này

Trang 17

+ Khảo sát các tờ báo mạng điện tử: có những thông tin biểu hiện

thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử (như: thông tin không đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước; thông tin không xác thực, không kiểm chứng, thậm chí bịa đặt; thông tin giật gân câu khách, khai thác quá sâu đời tư cá nhân, nhất là của những người nổi tiếng, giới showbiz; vi phạm tính nhân văn; vi phạm bản quyền; sử dụng ngôn ngữ báo chí bừa bãi, sai sót không đính chính; vụ lợi cá nhân, cố tình “tô hồng”,

“bôi đen”, gây hại cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp…) làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh: Qua kết quả

khảo sát giúp tác giả nhận diện, phân tích nội dung, thống kê số liệu, tổng hợp dữ kiện, so sánh, chỉ ra những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay thông qua việc đưa thông tin tin đến công chúng

Từ đó rút ra những kết luận khoa học, đề xuất giải pháp chấn chỉnh việc quản lý báo mạng điện tử, coi trọng việc nâng cao nhận thức rèn luyện đạo đức và giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội cho người làm báo mạng điện

tử, gắn với việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện

tử Việt Nam thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt lý luận đối với vấn đề đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhận diện rõ hơn từ thực trạng biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử dẫn đến một số thông tin báo mạng điện tử kém chất lượng (chạy theo xu hướng lá cải, câu view), tác động xấu đến nền văn hóa báo chí, đến niềm tin của công chúng đối với báo mạng điện tử nói chung và những người làm báo mạng điện tử nói riêng

Trang 18

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có giá trị tham khảo về mặt thực tiễn liên quan đến việc nâng cao trách nhiệm xã hội của những người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay Qua đó, giúp ích cho việc kiện toàn hoạt động quản lý nhà nước về báo mạng điện tử, phát huy trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử, góp phần phát huy ưu thế đối với loại hình báo chí chủ lực trong tương lai, thu hút và tạo lập niềm tin cho đông đảo công chúng, góp

phần xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, hiện đại

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận vấn đề trách nhiệm xã hội của người làm

báo mạng điện tử Việt Nam

Chương 2: Thực trạng những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của

người làm báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Chương 3: Những kiến nghị và giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội

cho người làm báo mạng điện tử Việt Nam thời gian tới

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

CỦA NGƯỜI LÀM BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm

1.1.1 Người làm báo

Nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu cho thấy cụm từ người làm báo được sử dụng đồng nhất như nhà báo và thể hiện cụ thể trong Qui định về đạo

đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam (được Đại hội Đại biểu toàn

quốc lần thứ VIII Hội Nhà báo Việt Nam thông qua ngày 13-8-2005)

Trong Từ điển Tiếng Việt [60, tr.677] định nghĩa: “Nhà báo là người

làm nghề viết báo”

Theo TS Lê Thị Nhã: “Khái niệm nhà báo dùng để chỉ những người

hoạt động nghiệp vụ có tính chất thường xuyên, chuyên nghiệp trong cơ quan báo chí” [57, tr.12]

Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28-12-1989 nêu: “Nhà báo là

người có quốc tịch Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và nghiệp vụ báo chí do Nhà nước qui định, đang hoạt động hoặc cộng tác thường xuyên với một cơ quan báo chí Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo” [64]

PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng:

Nhà báo có thể được hiểu là người tham gia thực hiện một trong các loại hình lao động báo chí của quá trình thu thập, xử lý và chuyển tải thông tin cho công chúng xã hội; đó là lao động tổ chức - quản lý (ở nước ta là bao gồm tổ chức quản lý vĩ mô và vi mô), lao động biên tập, lao động tác giả, lao động kỹ thuật - dịch vụ trong báo chí Nhà báo là chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí, chịu trách nhiệm trước pháp luật

và dư luận xã hội về những thông tin mà họ cung cấp cho công chúng

xã hội, trên cả hai bình diện pháp lý và đạo đức [16, tr.300]

Trang 20

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nói đến báo chí trước hết phải nói đến

những người làm báo chí” [51, tr.136]

Từ những khái niệm trên có thể hiểu: “Người làm báo ở Việt Nam là

những người trực tiếp tham gia hoạt động báo chí mang tính chuyên nghiệp, đáp ứng các tiêu chuẩn về trình độ, phẩm chất, năng lực theo qui định và được cấp thẻ nhà báo”

1.1.2 Trách nhiệm xã hội của người làm báo

Nói đến trách nhiệm xã hội của người làm báo, trước tiên phải xác định người làm báo chính là công dân Việt Nam, phải có trách nhiệm chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Trách nhiệm xã hội đối với người làm báo trong giai đoạn hiện nay là phải biết đặt mình vào công cuộc đổi mới của đất nước, cùng với nhân dân cả nước góp sức xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước Nhà báo “phải biết vui chung với niềm vui của toàn

Đảng, toàn dân trước những thành tựu của đất nước; phải biết lo với nỗi lo trước mọi thử thách, khó khăn của toàn xã hội” [79; tr.6]

Đánh giá về trách nhiệm xã hội của người làm báo, người ta thường căn cứ vào kết quả hoạt động báo chí, tác phẩm báo chí, thông tin báo chí mà người làm báo đưa đến công chúng, nó cũng là một khía cạnh của đạo đức nghề nghiệp

Nêu cao ý thức trách nhiệm xã hội đòi hỏi người làm báo phải tự giác tuân thủ các qui định về đạo đức nghề nghiệp, qui định pháp luật, trung thành với lý tưởng của Đảng, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; phải có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, có tinh thần giúp đỡ đồng nghiệp Trong quá trình hành nghề phải thông tin khách quan, trung thực; không vi phạm vấn đề bản quyền (tùy tiện cắt, cóp, dán, biến tác phẩm người khác thành của mình); lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi bất chính, làm điều phi pháp; gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, gây thiệt hại cho tổ

Trang 21

chức, cá nhân, doanh nghiệp; ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng quốc gia, dân tộc…

Về nội hàm khái niệm trách nhiệm xã hội của người làm báo, chứa đựng ba nội dung cơ bản

Thứ nhất là “trách nhiệm muốn làm”, với sứ mệnh cao cả, nhà báo

phải tự giác mong muốn được làm điều gì đó cho xã hội Với tinh thần trách nhiệm trước xã hội, trước nhân dân, người làm báo phải có ý thức tìm kiếm từ thực tiễn sinh động, hào hùng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa những chất liệu cuộc sống làm nguồn đề tài phong phú, tạo nên những tác phẩm báo chí có chất lượng, cổ vũ, nhân rộng cái mới, cái đẹp, điều thiện, điều tích cực, đầy lòng nhân ái trong xã hội… Ngay cả phản ánh những vấn đề về chống tiêu cực, tệ nạn xã hội, người làm báo cũng phải đem đến cho công chúng niềm tin vào sự chính nghĩa, tính nghiêm minh của luật pháp, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước, vào truyền thống cách mạng và tính nhân văn của dân tộc Nếu không có ý thức mong muốn thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thì những người làm báo thể rơi vào thái độ thờ ơ, bàng quan trước thời cuộc, tự cho mình cái quyền phê phán, chê bai tất

cả, nhìn cuộc sống dường như chỉ một màu đen tối, nhìn đâu cũng thấy tiêu cực, khuyết điểm, sai lầm… đem đến cho công chúng những bài viết, thông tin sai lệch, không phản ánh đúng bản chất của sự kiện, gây hoang mang, chán nản hoặc làm rối thêm tình hình nội bộ ở các địa phương, đơn vị

Thứ hai là “trách nhiệm phải làm”, buộc người làm báo phải nỗ lực

thực hiện tốt nhiệm vụ được giao: là thư ký của cuộc sống, ghi chép, phản ảnh trung thực những diễn biến mọi mặt của đời sống xã hội, đưa đến công chúng những thông tin kịp thời, chính xác, mang tính định hướng dư luận xã hội Với vũ khí sắc bén là cây bút, trang giấy, người làm báo có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; biểu dương những tấm gương tiêu biểu, những điển hình tốt, đấu tranh phê phán những hành vi vi phạm pháp luật, những hiện tượng tiêu cực,

Trang 22

tham nhũng và các loại tội phạm, tệ nạn xã hội Xã hội càng phát triển thì yêu cầu nắm bắt thông tin của công chúng ngày càng cao, đa dạng, phong phú, nhiều chiều Những người làm báo phải có trách nhiệm lựa chọn, xử lý thông tin nhanh chóng, trung thực, khách quan, chính xác, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của công chúng; đúng đường lối, chủ trương của Đảng; tác động tích cực, hiệu quả đến công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước

Thứ ba, người làm báo “phải chịu trách nhiệm” trước xã hội, trước

nhân dân, nếu không làm tròn nhiệm vụ được giao Về vấn đề “chịu trách nhiệm” thì nhà báo cũng là công dân Việt Nam phải gương mẫu chấp hành pháp luật trong cuộc sống cũng như trong hoạt động nghề nghiệp, phải lấy pháp luật làm cơ sở pháp lý khi thực hiện các tác phẩm báo chí, để phân biệt đúng, sai, phải, trái, góp phần bảo vệ tính nghiêm minh của luật pháp Đồng thời phải xác định mục tiêu: viết cho ai, viết để làm gì và viết như thế nào? - như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở để không gây tổn hại đến lợi ích cộng đồng, quốc gia, dân tộc; không gây bất lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Ở mức độ nghiêm trọng, những người làm báo còn phải chịu trách nhiệm pháp lý từ những việc làm thiếu trách nhiệm xã hội của mình gây ra

Tiêu chí về trách nhiệm xã hội của người làm báo không thể hiện bằng những qui định cụ thể, chi tiết, rõ ràng như các văn bản qui phạm pháp luật mà nó hiện hữu trong ý thức của mỗi người làm báo khi bước

chân vào nghề, khi bắt tay làm nghề Ý thức trách nhiệm xã hội như một

kim chỉ nam giúp người làm báo phân định được đâu là điều hay, lẽ phải; điều gì nên làm, điều gì không nên làm; thông tin gì nên đưa, liều lượng thông tin cần đưa, thời điểm đưa thông tin và cách đưa như thế nào để vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, vừa tạo lập được lòng tin của công chúng, định hướng được dư luận xã hội trước sự kiện, sự việc, hiện tượng xảy ra; góp phần thực hiện tốt chức năng tư tưởng và giám sát phản biện của báo chí

Trang 23

Trong thời kỳ số hóa, trước sự cạnh tranh thông tin ngày một gay gắt, trước sức ép của cơ chế thị trường, những người làm báo đôi khi bỏ qua trách nhiệm xã hội, lệch ngòi bút không chỉ do năng lực hạn chế mà còn bởi những cám dỗ vật chất, vụ lợi cá nhân, chạy theo xu hướng thương mại hóa báo chí, đưa thông tin sai sự thật hoặc không chuẩn xác, không quan tâm đến hậu quả thông tin, bất chấp nỗi đau của người trong cuộc…

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, đối với hoạt động báo chí, với nhà báo, trách nhiệm xã hội là tiêu chí cơ bản thể hiện tính chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề, bao gồm trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức… [17, tr.304-305]

Trong quyển 100 bản qui tắc đạo đức nghề báo trên thế giới của

PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, trong phần So sánh Qui định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam với các bản Qui tắc đạo đức nghề

báo trên thế giới, ở mục so sánh thứ năm, có nêu: “Trách nhiệm xã hội của

nhà báo cũng là một nguyên tắc được rất nhiều bản qui tắc đạo đức trên thế giới đề cập Không thể có được sự chân thật, khách quan nếu nhà báo không

có trách nhiệm xã hội” Bản Những nguyên tắc quốc tế về đạo đức nghề báo

cho rằng: “Thông tin báo chí là một loại hàng hóa mang tính xã hội chứ

không phải hàng hóa vật chất, có nghĩa là các nhà báo cùng nhau có trách nhiệm truyền tải thông tin và đó không chỉ là trách nhiệm đối với những người quản lý phương tiện truyền thông đại chúng mà còn là trách nhiệm đối với công chúng, với nhiều lợi ích xã hội khác nhau”; Hiệp hội các nhà báo

chuyên nghiệp Hoa Kỳ cho rằng: “Các nhà báo có trách nhiệm đối với công

chúng của mình và những người khác”; Hiến chương đạo đức của truyền

thông Ba Lan qui định: “Quyền tự do ngôn luận của báo chí đòi hỏi các nhà

báo, biên tập viên, các nhà sản xuất và phát thanh viên phải có trách nhiệm với hình thức và nội dung cũng như những hậu quả, kết quả của thông tin”

Qui định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam cũng đề cao trách

nhiệm xã hội của nhà báo, nhưng đi liền với trách nhiệm xã hội, nhà báo Việt

Trang 24

Nam còn có nghĩa vụ công dân Nghĩa vụ công dân được tô đậm và cụ thể trong

từng lĩnh vực cụ thể Vì vậy, “Gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa

vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội” là nguyên tắc thứ năm trong bản Qui

định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam [23, tr.63]

Tóm lại, qua các nhận định trên có thể khái quát: “Trách nhiệm xã hội

của người làm báo Việt Nam là những giá trị cốt lõi thuộc về ý thức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp mà những người làm báo chuyên nghiệp cần phải tuân thủ; được thể hiện dưới 3 góc độ: trách nhiệm mong muốn thực hiện, trách nhiệm cần phải thực hiện và ý thức phải chịu trách nhiệm Trách nhiệm xã hội dựa trên những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, về lương tâm, lòng tự trọng của người làm báo khi khai thác, xử lý và đăng tải thông tin Nêu cao trách nhiệm xã hội buộc người làm báo phải không ngừng học tập, nâng cao năng lực nghiệp vụ, trau dồi về đạo đức, thể hiện lòng trung thành đối với lý tưởng cách mạng, với Đảng, Nhà nước và nhân dân Ý thức trách nhiệm xã hội buộc nhà báo phải thông tin trung thực, khách quan, vì lợi ích đất nước, vì quyền lợi của nhân dân; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động báo chí, phục vụ tốt hơn nhu cầu thông tin của xã hội”

1.2.3 Báo mạng điện tử

Trên thế giới và ở Việt Nam, loại hình báo chí này có nhiều tên gọi

khác nhau như: báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online

newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở

nước ta Nó gắn liền với tên gọi của nhiều tờ báo mạng điện tử thuộc cơ quan

báo in như: Quê hương điện tử, Nhân dân điện tử, Lao động điện tử… Ngay

trong các văn bản pháp qui của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tử” [19, tr.63]

Điều 3, Chương I của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí có nêu: Báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài [66]

Trang 25

Điều 12 Nghị định số 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và cung cấp dịch vụ Internet xác định: Dịch vụ thông tin trên Internet là một loại hình dịch vụ ứng dụng Internet, bao gồm dịch vụ phát hành báo chí (báo in, báo hình, báo điện tử) phát hành xuất bản phẩm trên Internet và dịch vụ cung cấp các loại hình điện tử khác trên Internet [11]

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, báo mạng điện tử là loại hình báo chí - truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng Internet toàn cầu Báo mạng điện tử có nhiều tên gọi khác nhau Năm 2003, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có cuộc thảo luận giữa các cán bộ nghiên cứu giảng dạy ngành truyền thông đại chúng và thống nhất tên gọi là báo mạng điện tử [17, tr.123]

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang thì báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, đa phương tiện và tương tác cao [19, tr.67]

Chính những thành tựu, tiến bộ to lớn của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin có vai trò quyết định đối với tiến trình toàn cầu hóa của truyền thông đại chúng, góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển của báo mạng điện tử Loại hình báo chí mới này là con đẻ của

sự phát triển công nghệ thông tin, hoạt động được nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, số hóa, các máy tính nối mạng và các máy chủ, các phần mềm ứng dụng [83, tr.207]

Thống kê của Cục Viễn thông (VNTA) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, sau 17 năm kết nối với mạng Internet toàn cầu, tính đến năm

2014, số người sử dụng Internet ở Việt Nam khoảng 36 triệu người, chiếm 40% dân số Việt Nam hiện là quốc gia có bước tiến vượt bậc về cơ sở hạ tầng mạng và có lượng người dùng Internet đông nhất tại khu vực Đông Nam Á Người Việt Nam dành khá nhiều thời gian để lên mạng, trung bình hơn 26,2 giờ mỗi tháng bằng nhiều phương tiện như máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, thiết bị di động… Trong đó, việc truy cập Internet để đọc

Trang 26

tin tức chiếm 97% Sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã từng bước xóa nhòa

“biên giới cứng” trong việc truyền bá và tiếp nhận thông tin của công chúng Việc áp dụng rộng rãi công nghệ truyền thông hiện đại, truyền tải thông tin xuyên biên giới và hình thành mạng lưới thông tin toàn cầu đã góp phần đưa tin tức đến công chúng một cách nhanh chóng, rút ngắn khoảng cách địa lý và cũng tạo ra áp lực to lớn đối với những người làm báo Sự phát triển nhanh chóng của báo mạng điện tử với phương thức đưa tin, truyền tin kiểu mới dường như đã làm cho một số phương tiện truyền thông đại chúng không còn giữ được

suốt 10 năm diễn ra chiến tranh Đồng thời, ở thể loại tranh biếm họa, tờ báo

điện tử Politico cũng được vinh danh khi họa sĩ Matt Wuerker giành chiến

thắng với tác phẩm miêu tả cuộc chiến giữa Ðảng Dân chủ và Ðảng Cộng

hòa, thông qua hình ảnh biếm họa cuộc chiến giữa "con lừa" và "con voi"

Việc có hai tờ báo điện tử được xướng tên nhận giải Pulitzer cho thấy tầm ảnh hưởng cũng như sức mạnh của loại hình báo chí hiện đại này

Còn ở Việt Nam, báo mạng điện tử cũng tạo ra một bước ngoặt trong hoạt động báo chí, với sự gia tăng không ngừng số lượng các tờ báo mạng điện tử, đến cuối năm 2014, cả nước có khoảng 98 tờ báo điện tử với lượng thông tin dày đặc mỗi ngày Đồng thời, sau sáu năm “chung mâm” với báo in,

đến mùa Giải Báo chí Quốc gia lần thứ VII-2012, báo mạng điện tử đã được đứng độc lập với hai loại giải Và trong 118 tác phẩm đạt giải Báo chí Quốc

gia lần thứ IX-2014, có 15 tác phẩm báo mạng điện tử đạt giải ở các thể loại:

tin, bài phản ánh, phỏng vấn, bình luận, phóng sự, điều tra, ghi chép (chiếm tỉ

Trang 27

lệ 12%) Điều này thể hiện sự nỗ lực rất lớn của những người làm báo mạng điện tử trong vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, phản ánh kịp thời những tâm tư, bức xúc của người dân Đồng thời cũng thể hiện sự thành công của báo mạng điện tử sau nhiều năm khẳng định tính chuyên nghiệp hóa

và vị thế giữa dòng chảy báo chí hiện đại Việt Nam Không chỉ báo in, ngay

cả hệ thống truyền hình và phát thanh cũng khó cạnh tranh với báo mạng điện

tử, bởi tính nhanh nhạy, tính tương tác cao và không gian không hạn định của loại hình báo chí này

Theo nhà báo Phạm Quốc Toàn, nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Người làm báo: Báo mạng nói chung và báo mạng điện tử Việt Nam nói riêng, lợi thế nhiều: thông tin nhanh nhạy, sát đời sống xã hội, có tính tương tác cao Một số báo mạng điện tử làm rất tốt nhiệm vụ thông tin, truyên truyền, làm tốt chức năng cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp, diễn đàn của nhân dân; thông tin trên báo mạng điện tử có sức lan tỏa nhanh,

cơ bản đáp ứng được nhu cầu nắm bắt thông tin kịp thời của công chúng (Phụ lục 5 - trả lời phỏng vấn sâu)

Nghiên cứu của Th.S Lê Thu Hà [24] xác định: Công chúng báo mạng điện tử phát triển mạnh mẽ nhất Bởi qua thống kê số liệu tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng 30 năm qua (1982-2013), thì từ năm 2002-

2008, báo mạng điện tử vẫn chỉ giữ vị trí số 4 (thứ tự tiếp nhận thường xuyên hàng ngày của công chúng) nhưng từ năm 2008-2010, báo mạng điện tử đã soán ngôi phát thanh, lên đứng ở vị trí thứ 3 Và trong những nghiên cứu gần đây, nhất là từ năm 2011, báo mạng điện tử nhanh chóng soán ngôi báo in, vươn lên vị trí thứ 2, chỉ sau truyền hình Báo mạng điện tử đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của phần lớn công chúng hiện nay

Như vậy, dựa trên các phân tích và khái niệm nêu trên, có thể hiểu:

“Báo mạng điện tử là loại hình báo chí hiện đại xuất hiện muộn so với các loại hình báo chí khác, dựa trên sự phát triển của mạng Internet toàn cầu

Trang 28

Báo mạng điện tử được xây dựng dưới hình thức trang web, xuất bản bởi Tòa soạn điện tử, người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng có kết nối internet và mọi người trên khắp thế giới có thể tiếp cận tin tức một cách kịp thời, nhanh chóng, không phụ thuộc vào không gian, thời gian Thông tin trên báo mạng điện tử được cập nhật thường xuyên, liên tục, cách thể hiện ngắn gọn, từ nhiều nguồn khác nhau Báo mạng điện tử với nhiều ưu thế như tính thời sự phi định kỳ, tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính phổ quát rộng, khả năng siêu liên kết, siêu tìm kiếm và siêu lưu trữ, mang đến nhiều tiện tích, thuận tiện nên nhanh chóng thu hút đông đảo công chúng”

1.2 Ưu điểm, hạn chế của báo mạng điện tử và những yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp của những người làm báo mạng điện tử

và phi tuyến tính, người đọc có thể đọc theo ý mình, chọn bất cứ phần nào của bài báo để đọc mà không nhất thiết đọc từ đầu đến cuối; có thể tiếp cận bài báo không qua trang chủ mang đi thẳng từ trang tìm kiếm; đọc vào thời điểm nào và cách thức nào là do công chúng lựa chọn và hoàn toàn chủ động trong

Trang 29

khâu tìm kiếm, xử lý thông tin Vì thế báo mạng điện tử chính là phương tiện truyền tải thông tin dễ dàng, sinh động trực tiếp

1.2.1.2 Không bị giới hạn, trở ngại bởi không gian, thời gian và dung lượng truyền tải

Công chúng báo mạng điện tử ở bất cứ nơi đâu, thời điểm nào đều có thể truy cập thông tin một cách dễ dàng, nhanh nhất các sự kiện, sự việc, hiện tượng diễn ra trong nước và trên thế giới, với lượng thông tin rất lớn, phong phú, đa dạng, chi tiết, được cập nhật thường xuyên Sức lan tỏa thông tin báo mạng điện tử nhanh, rộng nên báo mạng điện tử làm tốt công tác thông tin đối ngoại Cách đưa thông tin trên báo mạng điện tử ngắn gọn, súc tích, đáp ứng được yêu cầu: trong một khoảng thời gian ngắn nhất, công chúng được tiếp cận một lượng thông tin dồi dào nhất nên báo mạng điện tử Do đó báo mạng điện tử thu hút ngày càng đông đối tượng trẻ năng động, sáng tạo, lực lượng cán bộ, công chức, doanh nhân…

1.2.1.3 Tạo ra bước ngoặt về quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin

Qui trình biên tập và xuất bản báo mạng điện tử được thực hiện hoàn toàn trên online, qui trình này được rút ngắn so với báo in và tăng quyền tự chủ hơn cho những người làm báo mạng điện tử Do yêu cầu đưa thông tin thật nhanh, thật nhiều, một người làm báo mạng điện tử có thể thực hiện tất cả các khâu trong qui trình sản xuất bản như viết, biên tập, đưa thẳng lên tờ báo mạng điện tử mà không qua nhiều công đoạn như các loại hình báo chí khác

Công chúng báo mạng điện tử không chỉ đơn thuần tiếp nhận thông tin

mà còn góp phần trực tiếp tham gia phản hồi, cung cấp thông tin, viết tin bài, góp phần xây dựng nội dung thông tin cho cơ quan báo mạng điện tử, tạo mô hình truyền thông mới, mang tính dân chủ hơn Đồng thời, tăng cường mối quan hệ

giữa nhà báo, công chúng và nguồn tin, tăng hiệu quả xã hội của báo chí

1.2.1.4 Khả năng siêu liên kết, siêu lưu trữ, tương tác tốt

Những thông tin trên báo mạng điện tử được xâu chuỗi với nhau theo chủ đề thông qua siêu liên kết, tạo điều kiện cho việc tiếp nhận, tìm kiếm thông tin của bạn đọc một cách nhanh chóng, thuận tiện, có hệ thống Đồng

Trang 30

thời báo mạng điện tử có khả năng siêu lưu trữ với những thông tin được lưu trữ lâu dài, khoa học theo ngày tháng, chủ đề, chuyên mục… Công chúng dễ dàng trao đổi thông tin, bày tỏ ý kiến của mình trên diễn đàn báo mạng điện

tử, tham gia vào quá trình sản xuất thông tin, thay đổi vị trí từ người tiếp nhận thông tin thành người cung cấp thông tin, góp phần nâng cao sức chiến đấu và làm tốt chức năng phản biện xã hội của báo mạng điện tử

1.2.1.5 Không tốn nhiều chi phí đầu tư mà thu hút nhiều quảng cáo

Báo mạng điện tử không mất chi phí in ấn, không hạn chế về thời gian, dung lượng hay diện tích nên người làm báo có thể tự do trình bày trang mục theo nhiều lớp Báo mạng điện tử là sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện, với tính năng ba trong một: văn bản, hình ảnh, âm thanh tạo nên sức mạnh truyền thông mới, thu hút ngày càng đông công chúng Qui trình sản xuất thông tin trên báo mạng điện tử lại nhanh chóng và đơn giản, chỉ đầu tư một lần cho sử dụng nhiều lần Khi mà cước phí Internet ngày càng rẻ thì chi phí của người sản xuất và công chúng đều ít tốn kém so với các loại hình báo chí khác Xét về tiềm năng tài chính thì với mật độ công chúng báo mạng điện tử ngày càng tăng thì cơ hội thu

hút quảng cáo trên báo mạng điện tử ngày càng nhiều

hư hỏng hoàn toàn, khó khôi phục Thế mạnh của báo mạng điện tử là đưa thông tin nhanh, hot nên tập trung nhiều thể loại tin tức thời sự, ít những bài phóng sự, điều tra, phân tích, bình luận sâu để định hướng dư luận Đồng thời, dường như trong cùng một lúc, nhiều thông tin trên báo mạng điện tử quá dổn dập khiến công chúng mất tập trung, khó lựa chọn thông tin nào tốt, đáng tin

Trang 31

cậy; chưa kể trên cùng một tờ báo mạng điện tử, vài phút trước, đưa thông tin

về sự kiện, sự việc, hiện tượng đó khác với phút sau Khi đọc báo mạng điện

tử, công chúng phải phụ thuộc vào máy tính, điện thoại di động, Ipad… có nối mạng Internet hoặc phải trong vùng phủ sóng nên không dễ dàng đọc thông tin mọi lúc, mọi nơi và chia sẻ cho người khác cùng xem Tâm lý công chúng cũng không thư giãn, thoải mái như xem thông tin trên các loại hình báo chí khác, phụ thuộc vào tốc độ đường truyền mà hình ảnh, âm thanh có lúc rõ, có lúc chập chờn; thời gian đọc cũng chậm hơn 25% so với đọc trên bản in và với những bài viết mang tính chuyên sâu có độ dài nhất định thì rất khó đọc trên báo mạng điện tử vì phải ngồi lâu trên máy tính, kéo thanh trượt lên xuống nhiều lần [19, tr.106-107]

1.2.2.2 Thông tin nhiều sai sót nhưng lại ít cải chính, xin lỗi bạn đọc

Thông tin báo mạng điện tử được cập nhật thường xuyên liên tục 24/24 giờ mỗi ngày nên các nhà báo phải chạy đua với thời gian Hơn nữa, do một người làm báo có thể làm nhiều công đoạn trong qui trình sản xuất thông tin (phóng viên kiêm biên tập viên, thư ký tòa soạn…), không phải qua các khâu biên tập chặt chẽ như các loại hình báo chí khác nên chuyện viết nhanh, sai sót lỗi chính tả, lỗi nhập liệu, ngữ pháp là chuyện phổ biến Một phần do yếu tố khi thông tin đưa lên mạng vẫn có thể chỉnh sửa, tạo ra tâm lý thiếu cẩn trọng cùng với qui trình quản lý, sản xuất thông tin lỏng lẻo, làm cho độ chính xác của thông tin báo mạng điện tử nhiều sai sót hơn các loại hình báo chí khác Đồng thời khi thông tin sai sót bị phát hiện, các tờ báo mạng điện tử thường chọn giải pháp phớt lờ hoặc cùng lắm là gỡ xuống mà hiếm khi chỉnh sửa lại thông tin, đăng đính chính và xin lỗi bạn đọc nên thời gian qua cũng gây mất lòng tin cho công chúng về vấn đề này

1.2.2.3 Chạy theo xu hướng báo lá cải, sa đà vào thông tin giật gân, câu view, vi phạm đời tư cá nhân, vi phạm Luật sở hữu trí tuệ

Do cạnh tranh thông tin nên thời gian qua nội dung báo mạng điện tử thường mất cân đối, tập trung quá nhiều vào mảng thông tin tiêu cực, sa đà

Trang 32

vào các vụ án, chuyện phòng the, chuyện mê tín… có biểu hiện chạy theo xu hướng báo lá cải Và để câu view những người làm báo còn cố tình giật tít, làm đậm nét các tình tiết ly kỳ, thê lương, rùng rợn để kích thích trí tò mò của công chúng, ảnh hưởng đến yếu tố văn hóa, thuần phong mỹ tục và tính nhân văn của báo chí Nhiều tờ báo mạng điện tử xăm xoi quá đà chuyện đời tư của người nổi tiếng, của giới showbiz và tùy tiện sao chép, cắt- cóp - dán tin, bài, hình ảnh của đồng nghiệp, vi phạm Luật sở hữu trí tuệ Một số báo cũng thiếu cân nhắc khi đưa các thông tin ảnh hưởng đến bí mật quân sự, những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến lợi ích quốc gia, dân tộc; khai thác tư liệu nước ngoài không cẩn trọng, để các thế lực thù địch lợi dụng dẫn đến phát tán các thông tin phản động, vu khống, bôi nhọ danh dự cán bộ lãnh đạo, tạo dư luận không tốt

Trong số các hạn chế trên thì 2 hạn chế sau là do ý thức chủ quan của những người làm báo mạng điện tử gây ra Do đó để báo mạng điện tử trở thành loại hình báo chí chủ lực của nước ta trong tương lai, thu hút và niềm tin cho đông đảo công chúng thì cần có sự quản lý chặt chẽ hơn của cơ quan chức năng và các sai phạm phải được xử lý nghiêm khắc hơn nữa để góp phần ngăn chặn tình trạng vi phạm tràn lan, khắc phục những hạn chế từ hoạt động báo mạng điện tử

1.2.3 Những yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp của người làm báo mạng điện tử

1.2.3.1 Cần phông kiến thức rộng, hệ thống tri thức phong phú, đa dạng

Nghề báo là một nghề đặc biệt, đòi hỏi người làm báo cần có kiến thức rộng, am hiểu nhiều lĩnh vực để có thể thông tin đến công chúng một cách đa chiều, đúng, trúng về mọi sự kiện, sự việc, hiện tượng diễn ra liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội Đối với người làm báo mạng điện tử, yêu cầu này càng cao Bởi đặc thù của báo mạng điện tử là phải thông tin nhanh nhạy, tức thời, liên tục cập nhật thông tin nóng hổi để thu hút sự quan tâm của công chúng Người làm báo mạng điện tử cần có hệ thống tri thức phong phú, đa dạng để có thể nhanh chóng kiểm định, đánh giá thông tin

Trang 33

trong quá trình săn tin, tác nghiệp, định hướng dư luận, tránh đưa tin theo kiểu một chiều, võ đoán, gây bất an dư luận bởi những thông tin ban đầu chưa kiểm chứng…

PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng từ thực tiễn hoạt động nghề

nghiệp, các nhà báo tổng kết thành những loại kiến thức cần có: Thứ nhất, là

tri thức bách khoa, tổng hợp về tự nhiên và xã hội Loại tri thức này không chỉ giúp nhà báo hình thành phông văn hóa mà còn giúp nhà báo phát hiện, cắt nghĩa và lý giải về mối quan hệ của sự kiện và vấn đề thông tin trong những

mối quan hệ đang đặt ra Nhà báo nên “biết một cái gì đó về tất cả” Thứ hai,

là kiến thức về lĩnh vực đề tài mà nhà báo chuyên tâm theo dõi, kiến thức thực

tiễn, buộc nhà báo phải “biết tất cả về một cái gì đó” [17, tr.315-316]

Tóm lại, với vai trò thúc đẩy cạnh tranh thông tin, dân chủ hóa đời sống xã hội, khả năng liên kết nhanh nhạy của báo mạng điện tử, đòi hỏi người làm báo mạng điện tử phải có kiến phông kiến thức rộng, hệ thống tri thức phong phú, đa dạng để có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn tin; đề cập, phân tích, lý giải nhanh nhất những sự kiện, sự việc diễn ra trong đời sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Đồng thời làm nhiệm vụ tổ chức liên kết chặt chẽ với công chúng thông qua các diễn đàn, thực hiện chức năng phản biện xã hội, định hướng dư luận xã hội

1.2.3.2 Có kiến thức cơ bản về báo chí, kỹ năng sử dụng mạng Internet và thông thạo ít nhất một ngoại ngữ

Sự ra đời và phát triển của báo mạng điện tử đã làm thay đổi rất nhiều phương pháp tác nghiệp của người làm báo Đối với người làm báo mạng điện tử không chỉ đòi hỏi tác phong nhanh nhẹn, có kiến thức cơ bản về báo chí mà còn phải thông thạo ngoại ngữ và nhất là kỹ năng sử dụng mạng Internet để giúp người làm báo mạng điện tử nhanh chóng liên kết với các nguồn tin trong và ngoài nước, thông qua khả năng trao đổi trực tuyến Nhà báo có thể tiếp cận tức thì với các nguồn tin, dễ dàng kiểm chứng thông tin; tạo sự tương tác nhanh chóng, thuận lợi đối với công chúng, giúp phát hiện,

Trang 34

gợi mở thêm đề tài, bổ sung thông tin dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau; ghi nhận sự quan tâm của công chúng qua từng vấn đề, tăng cường mối quan hệ giữa nhà báo, công chúng và nguồn tin, góp phần định hướng cho những thông tin tiếp sau…

Báo mạng điện tử là loại hình báo chí đa phương tiện nhưng lại có qui trình sản xuất đơn giản, từ khâu biên tập đến xuất bản được thực hiện hoàn toàn bằng online Người làm báo mạng điện tử có thể đảm nhiệm tất cả các công đoạn trong qui trình sản xuất thông tin Vừa bị sức ép về mặt thời gian, người làm báo mạng điện tử còn phải đáp ứng được những yêu cầu: viết thế nào cho hấp dẫn, kết hợp với sử dụng audio, video, graphics… do đó việc thông thạo ít nhất một ngoại ngữ (Tiếng Anh) và kỹ năng sử dụng Internet cùng và các thiết bị kỹ thuật như máy tính xách tay, máy ảnh, camera, máy ghi âm, xử lý hình ảnh kỹ thuật số, dựng hình, trình bày… là đòi hỏi hết sức quan trọng

1.2.3.3 Nhạy cảm về chính trị - xã hội và phải năng động, sáng tạo, hiện đại

Người làm báo mạng điện tử phải là người nhạy cảm về chính trị - xã hội, có khả năng phát hiện, phán đoán, phân tích nhanh và tìm ra bản chất, xu hướng vận động của vấn đề Độ nhạy bén chính trị đòi hỏi nhà báo phải “bắt” được mạch sống chủ đạo của xã hội để phát hiện vấn đề và chọn thời điểm cũng như tìm cách thức thông tin phù hợp, có hiệu quả Một tác phẩm báo chí

có sức sống, có sức lay động dư luận xã hội, được đông đảo bạn đọc đồng tình, trước hết tác phẩm đó đề cập đúng vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra cộng với sự chắt lọc tư liệu trong quá trình khảo sát thực tiễn công phu, sự đầu tư trí tuệ của tác giả bằng tất cả sự say mê nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân Phẩm chất này được hình thành nhờ sự rèn luyện trong thực tiễn hoạt động báo chí cũng không loại trừ có sự góp phần của năng khiếu [19, tr.203-205]

Trang 35

Nhạy cảm về chính trị cũng đòi hỏi nhà báo phải tự đặt cho mình trách nhiệm phải rèn luyện lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bởi chính các quan điểm và kiến thức này sẽ giúp nhà báo đánh giá, phân tích các hiện tượng xã hội một cách đúng đắn

Báo mạng điện tử là loại hình báo chí hiện đại, môi trường nghề nghiệp cũng đầy thử thách, khắc nghiệt hơn các loại hình báo chí khác Do tính thời sự và yêu cầu cập nhật thông tin phải nhanh nhạy, đòi hỏi người làm báo mạng điện tử phải hết sức năng động, sáng tạo, chuyên nghiệp Nếu chọn kiểu làm báo sa-lông, ngồi chờ sao chép của đồng nghiệp mà không có mặt hiện trường, không đến tận nơi diễn ra sự kiện, sự việc, không trực tiếp lấy tin, chụp ảnh, quay hình, ghi âm, xác minh và bình luận sự việc thì chắc chắn không thể có những tác phẩm chất lượng tốt đưa đến công chúng Hoặc thiếu

độ nhạy cảm về chính trị - xã hội thì người làm báo mạng điện tử sẽ có những thông tin lệch pha, không đúng thời điểm, thiếu khách quan, gây bất lợi cho cộng đồng, ảnh hưởng đến các vấn đề nhạy cảm của quốc gia, dân tộc… Do

đó, để có những thông tin nóng, mới, trung thực, khách quan, sát đời sống xã hội, thu hút được công chúng, đòi hỏi người làm báo mạng điện tử phải hết sức năng động, sáng tạo, hiện đại và nhạy bén về chính trị - xã hội; rèn luyện tác phong làm báo chuyên nghiệp

1.2.3.4 Am hiểu pháp luật, có đạo đức nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm xã hội

Không chỉ cần trang bị kiến thức pháp luật, Luật Báo chí một cách đầy đủ, hệ thống mà trong môi trường tác nghiệp, tính chất đặc thù của loại hình báo mạng điện tử cũng đặt ra cho những người làm báo mạng điện tử những đòi hỏi về đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội Đây là những điều kiện đủ để người làm báo mạng điện tử có thể sáng tạo ra những tác phẩm báo chí thực sự, góp phần tạo dựng và định hướng dư luận xã hội, hướng dẫn tư

tưởng và hành vi con người [21, tr.128]

Trang 36

PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng, đối với nhà báo, trách nhiệm xã hội là yêu cầu khách quan, đòi hỏi từ các mối quan hệ thuộc về bổn phận nghĩa vụ xã hội của báo chí Trách nhiệm xã hội là phạm vi bắt buộc hình thành nghề nghiệp báo chí Bởi vì nhà báo ra đời bắt nguồn từ nhu cầu xã hội

và để giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến cộng đồng Nói cách khác, trách nhiệm xã hội của nhà báo vừa là đòi hỏi khách quan của xã hội, của cộng đồng; vừa là nhu cầu tự thân của nhà báo Nhận thức sâu sắc, tự giác về trách nhiệm xã hội sẽ là động lực sáng tạo của nhà báo Ý thức được trách nhiệm xã hội, trách nhiệm trước Đảng và nhân dân sẽ giúp nhà báo bồi đắp bản lĩnh chính trị - xã hội - nghề nghiệp, nhanh chóng phát hiện chủ đề và đề tài cho bài viết và viết với dũng khí, bản lĩnh và cảm xúc nhiệt thành Nếu không vì trách nhiệm xã hội, trách nhiệm đối với cộng đồng mình, dân tộc mình, đất nước mình thì nhà báo khó có thể bất chấp rủi ro, thậm chí cả hy sinh để đấu tranh bảo vệ chân lý, lẽ phải [17, tr.318]

Trước xu thế của báo mạng điện tử lấy tốc độ cập nhật thông tin làm trọng tâm, lấy số lượng view làm thước đo hiệu quả hoạt động thì vấn

đề am hiểu pháp luật, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội là yêu cầu đặt ra hết sức cần kíp đối với người làm báo mạng điện tử hiện nay

Am hiểu pháp luật để người làm báo mạng điện tử hành nghề đúng tôn chỉ, mục đích, không vi phạm về Luật sở hữu trí tuệ (tùy tiện cắt-cóp, sao chép thông tin của người khác), không vi phạm Bộ Luật Dân sự (cẩn trọng khi đưa thông tin về đời tư nhân vật), Bộ Luật Hình sự (không lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi bất chính, cố tình “tô hồng”, “bôi đen” để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản; Luật phòng chống tham nhũng (đưa, nhận hối lộ…) cùng nhiều qui định pháp luật khác… Có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội giúp người làm báo mạng điện tử cân nhắc khi đưa thông tin đến công chúng, không sa đà vào giật gân, câu khách, biểu hiện vô cảm, thiếu tính nhân văn…

Trang 37

1.3 Những yêu cầu về trách nhiệm xã hội của người làm báo nói chung và người làm báo mạng điện tử nói riêng

1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về đạo đức, trách nhiệm xã hội của người làm báo, trong đó có người làm báo mạng điện tử

Hơn ai hết Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ, cho dù nhà báo là chiến sĩ

cách mạng thì báo chí là một nghề, người làm báo là người làm nghề, cho dù

là nghề đặc biệt thì cũng là một nghề, cho nên Người khuyên: “Nghề nào

cũng khó, không có nghề nào dễ Phải có ý chí tự cường, tự lập, kém thì phải

cố mà học” Người nhắc những người làm báo cách mạng là chiến sĩ cách

mạng cho nên “phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”, “chú trọng học chính

trị”, “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ văn hóa”… [52, tr.30-31]

Là người làm báo, điều hành tờ báo, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến hoạt động báo chí và những người làm báo Rất nhiều những

ý kiến, lời dạy của Người đối với nhà báo xoay quanh vấn đề đạo đức và ý thức

trách nhiệm xã hội Người căn dặn: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách

mạng”, “đối với người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng” Người cũng nhắc nhở các nhà báo: Khi đặt bút viết điều gì thì

phải tự giải đáp câu hỏi “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?”… điều này nói lên ý

thức trách nhiệm xã hội của người làm báo đối với công chúng Chủ tịch Hồ Chí

Minh cũng yêu cầu, người làm báo khi viết phải “xuất phát từ nhiệt tình cách

mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc” [53, tr.159] - thể hiện cái tâm của người cầm

bút và với Người, nhà báo phải luôn gần dân, thấu hiểu nỗi lòng của dân và

phản ánh đúng tâm trạng, nguyện vọng, đời sống của người dân “Mỗi tư

tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng” [51, tr.345]

Nói về vấn đề đạo đức và trách nhiệm xã hội của người làm báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cập đến việc tôn trọng sự thật, khách quan, Người

Trang 38

nhắc nhở: “Bao giờ ta cũng tôn trọng sự thật Có nói sự thật thì tuyên truyền

mới có người nghe” và Người căn dặn các nhà báo: “Có thế nào nói thế ấy”,

không được “tô hồng”, hoặc “bôi đen” vì mục đích gì đó “Sự thật có mặt tốt,

mặt chưa tốt, thậm chí có mặt xấu Sự thật được che giấu bởi thói khoa trương, thổi phồng thành tích, làm láo báo cáo hay” Người yêu cầu nhà báo

phải gắn với thực tiễn, sát đời sống nhân dân: “gần gũi quần chúng, cứ ngồi

trong trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực” [52, tr.103] Chủ

tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ,

chớ nói, chớ viết”, “viết phải thiết thực”, “nói có sách, mách có chứng”,

“mình phải đi đến, xem xét mà thấy” - nếu những người làm báo thực hiện tốt

điều này thì đã không có tình trạng làm báo kiểu sa- lông, chộp giựt, không xác minh, thẩm định nguồn tin mà chỉ “ăn theo”, cắt-cóp-dán, dẫn đến thông tin bịa đặt, sai sự thật, gây mất lòng tin cho công chúng Người cũng thẳng thắn phê bình các nhà báo (tại Đại hội lần thứ ba Hội nhà báo Việt Nam):

“Đưa tin hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng”, “lộ bí mật”, thiếu tôn trọng

bạn đọc do bài viết nhiều sai sót, không tuân thủ việc: “Khi viết xong một bài

tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận”, “Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần” [51, tr.346] “chớ lụp chụp, cẩu thả”, “chớ viết lung tung”

Cách đây 56 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo và phê phán

kiểu làm báo “lá cải” của “Những tờ báo giật gân”, phê bình những người làm báo lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi cá nhân “chuyên lôi chuyện bí mật

của người có tiền để tống tiền” hoặc vì muốn nổi tiếng “viết bài cho oai”,

“muốn làm cái gì để lưu danh thiên cổ” Thế nhưng, hiện nay không ít người

làm báo, nhất là người làm báo mạng điện tử thiếu quan tâm đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đua nhau làm báo theo kiểu giật gân, câu khách, có biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội khi đưa thông tin đến công chúng, làm sụt giảm lòng tin của công chúng, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của báo chí cách mạng Việt Nam

Trang 39

Ngày 13-8-2005, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Hội Nhà báo Việt Nam đã thông qua Qui định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam (gồm 9 điều), trong đó từ điều 3 đến điều 5 thể hiện rõ quan điểm nêu

cao trách nhiệm xã hội của người làm báo: “Hành nghề trung thực, khách quan,

tôn trọng sự thật” (Điều 3); “Sống lành mạnh, trong sáng, không được lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật” (Điều 4); “Gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, trách nhiệm xã hội” (Điều 5) [35]

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí (Luật số 12/1999/QH10) [65] qui định trõ rách nhiệm xã hội của nhà báo qua các nội

dung thể hiện ở ở khoản 2 Điều 15: “Thông tin trung thực về tình hình trong

nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân… Bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước… Thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức và nghiệp vụ báo chí; không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh

dự, nhân phẩm của cá nhân Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình và

về những hành vi vi phạm pháp luật về báo chí”

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 18-3-2004 của Ban Bí thư [3] về tiếp tục nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong thời

kỳ mới cũng nhấn mạnh đến nhiệm vụ: “Coi trọng việc giáo dục, rèn luyện

phẩm chất cách mạng, đạo đức nghề nghiệp cho các nhà báo Xúc tiến việc xây dựng qui định về đạo đức người làm báo Việt Nam nhằm xây dựng Hội Nhà báo các cấp trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao chất lượng nhà báo - hội viên” (nhiệm vụ thứ 3)

Để nâng cao trách nhiệm xã hội của người làm báo, trong đó có báo mạng điện tử, Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06-01-2011 của Chính phủ [12] cũng nêu rõ các hành vi bị xử phạt hành chính trong hoạt động báo chí

như sau: Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với hành vi “lợi dụng

Trang 40

tư cách nhà báo để trục lợi hoặc can thiệp trái pháp luật hoặc cản trở hoạt động đúng pháp luật của cơ quan, tổ chức cá nhân” (khoản 3 Điều 5) Phạt

cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng đối với một trong các

hành vi sau: “Không viện dẫn nguồn tin khi đăng, phát trên báo chí; Thông

tin sai sự thật nhưng chưa nghiêm trọng; Tiết lộ bí mật đời tư khi chưa được

sự đồng ý của người đó hoặc thân nhân người đó, trừ trường hợp pháp luật

có qui định khác” (khoản 1 Điều 7) Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu

đồng đối với các hành vi sau: “Miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, chém

giết rùng rợn, phi nhân tính trong các tin, bài viết, hình ảnh; Đăng, phát tin, bài, tranh, ảnh kích dâm, khỏa thân, hở thân thiếu thẩm mỹ, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam; Truyền bá hủ tục mê tín, dị đoan; Đăng, phát thông tin trên báo chí mà không phải tạp chí nghiên cứu chuyên ngành

về những chuyện thần bí, các vấn đề khoa học mới chưa được kết luận; Đăng phát thông tin về thân nhân và các mối quan hệ của cá nhân trong các vụ án,

vụ việc tiêu cực khi không có căn cứ chứng minh những thân nhân và các mối quan hệ đó liên quan đến vụ án, vụ việc tiêu cực hoặc chưa có kết luận của nhà nước có thẩm quyền” (khoản 3 Điều 7) Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30

triệu đồng đối với các hành vi sau: Thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng

nghiêm trọng (khoản 4 Điều 7) Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng

đối với một trong các hành vi sau: “Không cải chính theo qui định; Không

đăng, phát sóng nội dung kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về nội dung thông tin đã đăng, phát sai sự thật trên báo chí” (khoản 3 Điều 9)

Tại Hội thảo Khoa học Quốc gia: Tính chuyên nghiệp của báo chí hiện đại - những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong tham luận của mình, Nhà báo Hữu Thọ đã nêu 4 vấn đề quan trọng đánh giá tính chuyên nghiệp của nhà báo Đó là nhà báo phải coi trọng trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình, phải rèn luyện đức tính vì Tổ quốc, vì Nhân dân Nhà báo không được né tránh khó khăn vất vả, phải say mê nghề nghiệp chân chính, vượt qua hiểm nguy để hướng tới sự thật, kiến nghị giải quyết các vấn đề bức xúc Nhận thức chính trị, lập trường quan điểm, bản lĩnh chính trị phải vững vàng,

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Kim Anh (2012), Đạo đức nhà báo trong thời kỳ hội nhập, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nhà báo trong thời kỳ hội nhập
Tác giả: Trần Thị Kim Anh
Năm: 2012
2. ThS. Nguyễn Thùy Vân Anh (2013), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật báo chí và đạo đức nhà báo hiện nay", Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật báo chí và đạo đức nhà báo hiện nay
Tác giả: ThS. Nguyễn Thùy Vân Anh
Năm: 2013
3. Ban Bí thư (2004), Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 18-3-2004 về tiếp tục nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của Hội Nhà báo Việt nam trong thời kỳ mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 18-3-2004 về tiếp tục nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của Hội Nhà báo Việt nam trong thời kỳ mới
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2004
4. Ban Bí thư (2005), Chỉ thị 52-CT/TW ngày 22-7-2005 về phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 52-CT/TW ngày 22-7-2005 về phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2005
5. Ban Chấp hành Trung ương (2007), Hội nghị Trung ương 5, khóa X (từ ngày 5 đến 14-7-2007) về công tác tư tưởng, lý luận báo chí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Trung ương 5, khóa X (từ ngày 5 đến 14-7-2007) về công tác tư tưởng, lý luận báo chí
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2007
6. Ban Tuyên giáo (2010), Tài liệu nghiệp vụ công tác báo chí, xuất bản, Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiệp vụ công tác báo chí, xuất bản
Tác giả: Ban Tuyên giáo
Năm: 2010
7. Lê Thanh Bình (2004), Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
8. Bộ thông tin và Truyền thông (2015), Đề án qui hoạch phát triển và Quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án qui hoạch phát triển và Quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025
Tác giả: Bộ thông tin và Truyền thông
Năm: 2015
9. Các thủ thuật làm báo điện tử (2006) Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thủ thuật làm báo điện
Nhà XB: Nxb Thông tấn
10. Chính phủ (2001), Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23-8-2001 của Chính phủ về quản lý và cung cấp dịch vụ Internet, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23-8-2001 của Chính phủ về quản lý và cung cấp dịch vụ Internet
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
11. Chính phủ (2011), Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06-01-2011 của Chính phủ qui định xử phạt hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06-01-2011 của Chính phủ qui định xử phạt hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
12. PGS.TS Hoàng Đình Cúc (2013), Đạo đức nghề báo - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nghề báo - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: PGS.TS Hoàng Đình Cúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
13. TS. Trần Bá Dung (2013), "Sai phạm trên báo chí - nhìn từ góc độ khai thác, xử lý thông tin", Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, (1+2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sai phạm trên báo chí - nhìn từ góc độ khai thác, xử lý thông tin
Tác giả: TS. Trần Bá Dung
Năm: 2013
14. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí Truyền thông hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí Truyền thông hiện đại
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
15. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và Dư luận xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và Dư luận xã hội
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
16. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận Báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận Báo chí
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
17. PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang (2011), "Báo mạng điện tử và Đạo đức nhà báo", Tạp chí Người làm báo, (40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo mạng điện tử và Đạo đức nhà báo
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang
Năm: 2011
18. TS. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
19. TS. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
20. TS. Nguyễn Thị Trường Giang (Chủ biên) (2014), Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Trường Giang (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thực tế cho thấy tuy có những thế mạnh vượt trội so với các loại hình báo chí khác nhưng thời quan qua, hàng loạt những sai phạm  của báo mạng  điện tử đã và đang diễn ra liên quan đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp và trách  nhiệm  xã  hội  của  người  làm   - Những biểu hiện thiếu trách nhiệm xã hội của người làm báo mạng điện tử việt nam hiện nay
h ực tế cho thấy tuy có những thế mạnh vượt trội so với các loại hình báo chí khác nhưng thời quan qua, hàng loạt những sai phạm của báo mạng điện tử đã và đang diễn ra liên quan đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của người làm (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w