DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Trang Bảng 1.1: Các ấn phẩm của 13 cơ quan báo in khu vực Tây Bảng 2.1: Số lượng tin, bài có nội dung liên quan đến chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp
Trang 1NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY
(Khảo sát báo Vĩnh Long, báo An Giang, báo Đồng Khởi năm 2014)
Ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
CẦN THƠ - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Thông tin, các trích dẫn và số liệu trong luận văn rõ ràng
và trung thực Các kết luận trong luận văn chưa từng công
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO
IN ĐỊA PHƯƠNG VỀ TUYÊN TRUYỀN ỨNG DỤNG
KHCN TRONG SẢN XUẤT, BẢO QUẢN, CHẾ BIẾN VÀ
QUẢNG BÁ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 12
1.2 Tổng quan về ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và
quảng bá sản phẩm nông nghiệp 14 1.3 Đặc trưng và vai trò của báo in trong tuyên truyền về ứng dụng KHCN
nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp khu vực Tây Nam bộ 19 1.4 Nội dung và phương thức tuyên truyền ứng dụng KHCN trong chuỗi
sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp 23
Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO IN ĐỊA PHƯƠNG VỀ TUYÊN
TRUYỀN ỨNG DỤNG KHCN TRONG SẢN XUẤT, BẢO QUẢN, CHẾ BIẾN VÀ QUẢNG BÁ SẢN PHẨM NÔNG
2.3 Kết cấu chuyên trang, chuyên mục về tuyên truyền ứng dụng KHCN
trong sản xuất, chế biến, bảo quản và quảng bá sản phẩm nông
2.4 Hiệu quả tác động của báo in địa phương về tuyên truyền ứng dụng
KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm
nông nghiệp địa phương 64 2.5 Những hạn chế của báo in địa phương về tuyên truyền ứng dụng
KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐỔI MỚI,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN VỀ ỨNG DỤNG KHCN TRONG SẢN XUẤT, BẢO QUẢN, CHẾ BIẾN VÀ QUẢNG BÁ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 81 3.1 Nâng cao hiệu quả của báo in địa phương tuyên truyền về ứng dụng
KHCN trong chuỗi sản xuất bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm
87 3.2 Một số giải pháp để báo in địa phương nâng cao hiệu quả tuyên
truyền về kinh tế nông nghiệp 91 3.3 Những kiến nghị để báo in địa phương Tây Nam bộ nâng cao hiệu
quả tuyên truyền về phát triển kinh tế nông nghiệp 94
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa KHCN : Khoa học công nghệ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang Bảng 1.1: Các ấn phẩm của 13 cơ quan báo in khu vực Tây
Bảng 2.1: Số lượng tin, bài có nội dung liên quan đến chuỗi sản
xuất sản phẩm nông nghiệp trên 3 tờ báo được khảo sát 32 Biểu đồ 2.1: Kết quả khảo sát bạn đọc báo Vĩnh Long về tần suất
tuyên truyền trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương 33 Biểu đồ 2.2: Kết quả khảo sát bạn đọc báo An Giang về tần suất
tuyên truyền trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương 34 Biểu đồ 2.3: Kết quả khảo sát bạn đọc báo Vĩnh Long về tần suất
tuyên truyền trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương 35 Biểu đồ 2.4: Nhận xét của bạn đọc về tuyên truyền việc ứng dụng
KHCN trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp
Biểu đồ 2.5: Nhận xét của bạn đọc về tuyên truyền việc ứng dụng
KHCN trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp
Biểu đồ 2.6: Nhận xét của bạn đọc về tuyên truyền việc ứng dụng
KHCN trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nam bộ hiện nay là vùng cực Nam Tổ quốc, có diện tích 40.058 km2, gồm 1 thành phố trực thuộc Trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau; có đường biên giới dài 340km, giáp nước bạn Campuchia thuận lợi cho phát triển kinh tế qua biên giới với các nước Đông Nam Á khác Đây là vùng đồng bằng thấp, được hình thành chủ yếu do phù sa của hai nhánh sông Tiền và sông Hậu thuộc hạ lưu sông Mê Kông bồi đắp, khi đổ ra biển chia thành 9 nhánh nên được gọi là sông Cửu Long và vùng Tây Nam bộ còn được gọi là vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tây Nam bộ là vùng khí hậu nóng ẩm quanh năm, chia làm hai mùa mưa nắng rõ rệt, tương ứng với nó là mùa khô và mùa nước nổi (mùa nước lũ) Vùng lũ bao gồm địa giới hành chính của 9 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ Trong số này có 3 tỉnh bị ngập lụt toàn bộ diện tích là Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long Tây Nam bộ là vùng sản xuất nông sản lớn nhất
ở nước ta Hàng năm, Tây Nam bộ sản xuất hơn 50% lượng lúa, 90% lượng gạo xuất khẩu, 65% lượng thủy hải sản, 70% lượng trái cây của cả nước
Điều này nói lên chất lượng, số lượng của nông thủy sản có phần vượt trội, hướng tới thị trường quốc tế Để thực hiện được điều đó, nông dân Tây Nam
bộ không ngừng cải tiến kỹ thuật, ứng dụng KHCN và các khâu sản xuất, từng bước cơ giới hóa, hiện đại hóa theo hướng hội nhập kinh tế thế giới
Tuy vậy, Tây Nam bộ vẫn chưa phát triển mạnh mẽ đúng với tiềm năng vốn có Nông sản khu vực này vẫn chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Nguyên nhân phần lớn là do đại đa số nông dân có trình độ học vấn thấp, sản xuất nông nghiệp dựa theo tập quán, thói quen là chính
Trang 7Việc đưa kiến thức KHKT tiên tiến qua hệ thống khuyến nông đến với bà con còn gặp nhiều trở ngại, nên sản lượng chung còn thấp so với điều kiện và tiềm năng
Bên cạnh, việc chế biến, bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu nên thất thoát chiếm tỷ lệ cao Việc quảng bá thương hiệu nông sản còn sơ sài, thiếu tính chuyên nghiệp nên khó tiếp cận thị trường dẫn đến hiệu quả trong chuỗi sản xuất đạt thấp Ngoài kinh nghiệm sản xuất, nông dân rất thiếu các kỹ năng khác, chẳng hạn như kỹ năng bán hàng, kỹ năng tiếp thị, quảng cáo.v.v để tạo ra thương hiệu quốc tế Sản xuất nông nghiệp hiện nay là sản xuất hàng hóa, không còn cảnh tự cung, tự cấp như vài chục năm trước, trong khi đó, chuyện bán cho ai, bán ở đâu, bán vào thời điểm nào, bán như thế nào… là chuyện còn xa lạ đối với nông dân
Trong bối cảnh như vậy, báo chí chính là kênh thông tin vô cùng quan trọng và hữu hiệu đối với bà con nông dân Không chỉ đơn thuần là thông tin, báo chí còn là diễn đàn, tư vấn- chỉ dẫn, dự báo mùa vụ, thị trường và là kênh thông tin phản biện từ thực tiễn sản xuất cho chính quyền địa phương hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp góp phần tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp
Tuy nhiên, vai trò, tác động đó, đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, đánh giá và phân tích một cách sâu sắc, toàn diện Chính vì thế, cần có những công trình nghiên cứu về báo chí tham gia tác động nhằm năng cao giá trị trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp ở khu vực trọng điểm của cả nước
về sản xuất nông sản Từ đó, nhận dạng báo chí địa phương khu vực Tây Nam
bộ trong xu hướng vận động và phát triển của báo chí Việt Nam Ưu thế, triển vọng cũng như những hạn chế, khó khăn cần khắc phục của báo chí địa phương để ngày càng mang lại hiệu quả cao hơn
Người thực hiện luận văn có nhiều năm công tác tại cơ quan Báo của
Đảng bộ địa phương rất tâm đắc khi chọn đề tài “Báo in khu vực Tây Nam bộ
tuyên truyền ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá
Trang 8sản phẩm nông nghiệp địa phương hiện nay” (Khảo sát báo Vĩnh Long, báo
An Giang, báo Đồng Khởi năm 2014)
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đề tài “Báo in Tây khu vực Tây Nam bộ tuyên truyền, ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương hiện nay” lần đầu tiên được triển khai, nghiên cứu góc tiếp cận chuyên sâu dưới góc độ báo chí học
Ở những góc độ khác, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tây Nam bộ Luận văn thạc sĩ của Lê Thái
Hà về “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in hiện nay”, do
PGS.TS Đinh Văn Hường hướng dẫn khoa học Luận văn góp phần làm rõ nội dung nhận thức về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam và vị trí của nó trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước thông qua hoạt động báo chí truyền thông Qua đó khẳng định những đóng góp của báo in trong việc tuyên truyền đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống và trách nhiệm nâng cao chất lượng tuyên truyền về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in, chỉ
ra những biện pháp khả thi cho quá trình này
Luận văn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long”
của thạc sĩ Lê Thị Bích Trâm (năm 2008) Trọng tâm luận văn chỉ dừng lại việc phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp để khai thác mọi nguồn lực, tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương
Trước đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tây Nam bộ như: Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL thực trạng và giải pháp
Về lĩnh vực báo chí học: Luận văn: “Báo Đảng ở các tỉnh ĐBSCL
hiện nay” của tác giả Đoàn Phương Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
2008 Vấn đề chuyển giao KHCN cho nông dân cũng từng có một số luận văn
Trang 9nghiên cứu, như luận văn “Xây dựng mô hình tổ liên kết sản xuất để chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi thuỷ sản cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An” của thạc sĩ Lê Thị Thanh Hương Luận văn đã chỉ ra rằng, Tổ liên kết sản xuất trong nông nghiệp là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hoá trong kinh tế thị trường càng gay gắt Tuy nhiên ở luận văn này, chưa nhìn thấy được sự tác động của báo chí trong tuyên truyền “xây dựng mô hình”, bởi đó là kênh thông tin hiệu quả nhằm phát hiện, đánh giá và nhân rộng các mô hình Để giải quyết những tồn tại trong sản xuất tập thể trước đây
và thực tế nhu cầu sản xuất hàng hóa lớn, nông dân cần liên kết tạo thành sức mạnh và vai trò lý giải, thuyết phục của báo chí là vô cùng lớn
Năm 2011, nghiên cứu luận văn của thạc sĩ Bùi Thị Hồng Vân do
PGS.TS Vũ Quang Hào hướng dẫn với đề tài: “Vấn đề chỉ dẫn- tư vấn KHKT
nông nghiệp cho nông dân trên báo chí Việt Nam” Luận văn phân tích thực
trạng chỉ dẫn- tư vấn khoa học kỹ thuật cho nông dân trên báo chí Việt Nam, những mặt được và chưa được Từ đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả chỉ dẫn- tư vấn Luận văn có tính ứng dụng thực tiễn cao cho các phương tiện truyền thông về chỉ dẫn- tư vấn khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân ở Việt Nam và trong luận văn này chúng tôi tham khảo một số tư liệu
Và một số giáo trình, dự án, tiểu luận, khóa luận cử nhân ít, nhiều liên quan đến đề tài này
Giáo trình “Truyền thông - lý thuyết truyền thông và kỹ năng cơ bản”
của hai tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng đã cho một khung lý thuyết nền tảng về việc tổ chức các chương trình, chiến dịch truyền thông nói chung và ứng dụng cho truyền thông
Bàn về truyền thông thay đổi hành vi của người nông dân Việt Nam, tác giả Đỗ Thị Thu Hằng đã phân tích 5 bước thay đổi hành vi của người nông dân và các giải pháp truyền thông tương ứng với 5 bước truyền thông thay đổi hành vi đó Điều đó có nghĩa rằng, muốn truyền thông thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của con người thì phải quan tâm đến thực trạng về nhận thức,
Trang 10thái độ và hành vi của đối tượng, từ đó có giải pháp truyền thông tương ứng Trong bài báo này, tác giả nhấn mạnh vai trò của truyền thông thay đổi hành
vi với người nông dân Tây Nam bộ, bởi khu vực này có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế nông nghiệp nước ta hiện nay
- Trong bài báo “Xây dựng thương hiệu sản phẩm báo chí: khái niệm, vai trò
và các bước thực hiện” (tạp chí Người làm báo, Tháng 11/2014), PGS,TS Đỗ Thị
Thu Hằng đã nêu rõ khái niệm, vai trò của và các bước trong quy trình xây dựng thương hiệu nói chung và thương hiệu sản phẩm báo chí nói riêng
Như vậy, có thể thấy, về mặt tổng quan, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu và cụ thể về vấn đề tuyên truyền, ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp của địa phương trên phương diện báo chí học
3 Câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Báo chí Khu vực Tây Nam bộ có vai trò gì trong tuyên truyền thương hiệu sản phẩm nông nghiệp địa phương?
- Các cơ quan báo chí thuộc diện khảo sát đã thực hiện vai trò tuyên truyền thương hiệu sản phẩm địa phương như thế nào? Họ đã có những thành công và hạn chế như thế nào trong tuyên truyền thương hiệu nông sản địa phương?
- Giải pháp nào cần được thực hiện nhằm tăng cường vai trò tuyên truyền, quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương trên các sản phẩm báo chí thuộc khu vực Tây Nam bộ?
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Báo in khu vực Tây Nam bộ có vai trò quan trọng về tuyên truyền ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương
Báo in khu vực Tây Nam bộ và một số trang mục trên báo Vĩnh Long, báo An Giang và báo Đồng Khởi đã khẳng định vai trò của báo chí về tuyên
Trang 11truyền chính sách nông thôn, nông nghiệp, về ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương Báo chí địa phương tham gia với vai trò đối tác và tư vấn trong việc xây dựng kế hoạch, chiến dịch tuyên truyền trong việc đưa KHCN vào các trong chuỗi sản xuất nông nghiệp để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp địa phương
Để tăng cường hơn nữa vai trò của báo chí địa phương trong tuyên truyền ứng dụng KHCN và sản xuất, chế biến, bảo quản và quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương, các cơ quan báo chí địa phương thuộc khu vực Tây Nam bộ cần nhận thực đúng đắn về vai trò, phương thức đặc thù của báo chí từ đó nghiên cứu, tìm kiếm và thực hiện những giải pháp tổng thể và
in các địa phương trong khu vực tiềm năng lớn nhất cả nước về nông nghiệp
Thông qua luận văn này, tác giả mong muốn sẽ góp phần tích cực vào
sự nghiệp phát triển nông nghiệp khu vực theo định hướng CNH-HĐH nền
nông nghiệp đất nước nói chung, khu vực Tây Nam bộ nói riêng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn sẽ thực
hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hoá và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Trang 12- Khảo sát, mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng tuyên truyền ứng dụng KHCN trong bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp trên báo in khu vực Tây Nam bộ hiện nay
- Đề ra giải pháp tuyên truyền thực hiện chuyên trang, chuyên mục, tác phẩm báo chí theo hướng gần gũi, sát thực và dễ hiểu đối với nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp Bởi đây là cơ sở thông tin quan trọng để cơ quan chính quyền, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông tìm được giải pháp phù hợp canh tác hiệu quả trong chuỗi giá trị của sản phẩm nông nghiệp: canh tác, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm
5 Đối tượng nghiên cứu và khảo sát
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vai trò, nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng cáo sản phẩm nông nghiệp chủ lực của khu vực Tây Nam bộ là: cây lúa, cây ăn trái và thủy sản (theo Đề án phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 của Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ) đối với báo in địa phương trong khu vực nói chung và báo in 3 tỉnh: Vĩnh Long, An Giang và Bến Tre (báo Đồng Khởi)
5.2 Đối tượng khảo sát
Phạm vi nghiên cứu là khảo sát các tờ báo in Vĩnh Long, báo An Giang và báo Đồng Khởi năm 2014
Lý do chọn 3 tờ in: báo Vĩnh Long, báo An Giang và báo Đồng Khởi Bởi vì đây là 3 cơ quan báo in có tầm ảnh hưởng công chúng ở tại địa phương cũng như khu vực Tây Nam bộ Bên cạnh, 3 địa phương khá tiêu biểu cho khu vực có nhiều tiềm năng về sản phẩm nông nghiệp trong khu vực này
Báo Vĩnh Long có ưu thế ở trung tâm đồng bằng Tờ báo Đảng bộ Vĩnh Long bám sát chủ trương định hướng theo Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long
là “phát triển nông nghiệp một cách toàn diện theo hướng CNH- HĐH”
Trang 13Báo Vĩnh Long dành nhiều chuyên trang chuyên mục về lĩnh vực khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh nhà, về việc ứng dụng KHCN trong khai thác, nuôi trồng, bảo quản, chế biến quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương Báo Vĩnh Long có những bài viết từng đạt nhiều giải báo chí quốc gia trong lĩnh vực trên
An Giang là vùng tam giác cùng chịu tác động của phù sa ngọt, vùng
có năng suất, sản lượng lúa và thủy sản cao nhất khu vực Tây Nam bộ An Giang cũng là địa phương có nhiều ứng dụng KHCN trong việc sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản
Báo An Giang có số lượng phát hành lớn, có nhiều liên kết với doanh nghiệp và chính nơi đây đã tạo ra mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” đang được nhân rộng cả nước Hoạt động báo in khu vực tam giác này rất năng động, có thể được xem là đại diện cho báo in toàn vùng
Thế mạnh của tỉnh Bến Tre là kinh tế vườn và thủy sản Nhiều loại cây ăn quả của tỉnh có giá trị kinh tế như nhãn, sầu riêng, măng cụt, bưởi, chôm chôm, xoài… Diện tích nuôi cá da trơn khoảng 100 ha Hoạt động khai thác, chế biến thủy sản tiếp tục phát triển Nông nghiệp đóng vai trò chính và từng bước chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ Nội dung báo Đồng Khởi tuyên truyền khá đậm nét về ứng dụng KHCN và sản xuất, chế biến, quảng bá sản phẩm cây ăn trái cũng như thuỷ sản địa phương
Do vậy, Báo Đồng Khởi là kênh thông tin có tầm ảnh hưởng trong việc phổ biến KHCN trong sản xuất, chế biến nông sản đặc thù của địa phương là cây ăn trái và thủy sản
6 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở lý luận
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các lý thuyết sau làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu đề tài, bao gồm:
Trang 14- Lý thuyết về báo chí truyền thông nói chung và báo chí truyền thông
đề tài nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp nói riêng
- Lý thuyết công chúng báo chí và quá trình tiếp nhận sản phẩm báo chí về chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp
- Lý thuyết về tiếp thị sản phẩm và thương hiệu sản phẩm nông nghiệp
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phải thực hiện những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp phân tích nội dung tác phẩm, sản phẩm báo chí: Tiến hành phân tích nội dung các trang: Thời sự, Kinh tế chính trị; Nông nghiệp;
Khuyến nông; Khoa học kỹ thuật; Xây dựng nông thôn mới trên báo Vĩnh
Long, An Giang, Đồng Khởi)
Mục đích của việc sử dụng phương pháp này là tìm kiếm dữ liệu cho việc mô tả và phân tích thực trạng, ưu điểm, hạn chế của hoạt động tuyên truyền, quảng báo sản phẩm nông nghiệp địa phương trên các sản phẩm báo chí thuộc diện khảo sát
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn chuyên gia; lãnh đạo cơ quan báo chí
phối hợp với nhau như thế nào để nâng cao vai trò báo chí nhằm tác động tích cực việc ứng dụng KHCN trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp cũng như quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thu thập ý kiến
của công chúng bằng bảng hỏi về nội dung, hình thức quảng bá sản phẩm nông nghiệp trên báo Vĩnh Long, báo An Giang và báo Đồng Khởi
Bảng hỏi được phát 150 người là bạn đọc của mỗi tờ báo (bởi các báo đảng địa phương hiện nay ngoài báo Vĩnh Long có bán ra thị trường khoảng 15% tổng số phát hành, còn lại các cơ quan đảng, nhà nước các tổ chức đoàn thể và chi bộ ấp, khóm đặt mua) Trong đó, 50 phiếu phát bạn đọc cơ quan ban ngành tỉnh, công ty, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh chế biến hàng nông
Trang 15sản trên địa bàn tỉnh; các cơ quan đảng chính quyền, đoàn thể các huyện, thị
xã, 50 phiếu phát về Đảng bộ xã- phường, 50 phiếu phát về chi bộ khóm, ấp, cán bộ hưu trí các hợp tác xã, tổ sản xuất nông nghiệp Sau đó, thu phiếu, chọn ngẫu nhiên 100 phiếu mỗi tờ báo để thống kê kết quả khảo sát
7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Thông qua đề tài luận văn, chúng tôi đưa ra cái nhìn cận cảnh hơn về hoạt động 3 tờ báo khá tiêu biểu tại khu vực có số đông người dân sinh sống
và trực tiếp tham gia trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của khu vực; Sự vận động tìm hướng đi riêng của từng cơ quan báo chí địa phương trong xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt với các hình thức tuyên truyền khác ở khu vực này
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn làm rõ vai trò của tuyên truyền trong mối tương quan với sản xuất và trong chuỗi giá trị ngành nông nghiệp Sự vận động của báo chí địa phương thể hiện rất rõ trong những năm qua chính là không ngừng nâng cao vai trò, tác động trên mọi lĩnh vực đời sống, nhất là trong quá trình đưa nền nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Chứng minh xu hướng liên kết, liên doanh trong hoạt động kinh tế của báo chí là hướng đi tất
yếu của tuyên truyền
Kết quả đạt được của luận văn sẽ giúp ích cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp của các địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền của
cơ quan báo chí, trong việc phát triển sản nâng cao giá trị nông sản
Trang 16Luận văn là công trình nghiên cứu đề cập một cách cơ bản và hệ thống hoạt động của báo chí trong việc tuyên truyền về chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp Do đó, nó có ý nghĩa tích cực nhằm chia sẻ kinh nghiệm với các cơ quan báo chí, nhà khoa học, các doanh nghiệp, người nông dân, nhà quản lý đã và đang quan tâm đến việc tuyên truyền, quảng bá sản phẩm nông nghiệp
Những đúc kết từ thực tế của luận văn phác thảo được rõ nét tác động của báo in để có thể đưa ra những mô hình tuyên truyền trong chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp tốt nhất có thể
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò của báo in địa phương
về tuyên truyền ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng
bá sản phẩm nông nghiệp
- Chương 2: Thực trạng báo in địa phương về tuyên truyền ứng dụng
KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đổi mới, nâng cao
hiệu quả tuyên truyền về ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến
và quảng bá sản phẩm nông nghiệp
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VAI TRÒ CỦA BÁO IN ĐỊA PHƯƠNG VỀ TUYÊN TRUYỀN ỨNG DỤNG KHCN TRONG SẢN XUẤT, BẢO QUẢN, CHẾ BIẾN VÀ QUẢNG BÁ SẢN PHẨM
NÔNG NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm về khoa học công nghệ
Ngày nay, khi KHCN đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, năng suất lao động không ngừng được nâng cao, cơ cấu kinh tế của các quốc gia có
sự chuyển biến mạnh mẽ, mọi mặt của đời sống xã hội loài người thay đổi sâu sắc Tuy nhiên, khi bàn về thuật ngữ KHCN, vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau:
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”
Nhìn chung các quan niệm đều đi vào làm rõ công nghệ là môn khoa học ứng dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học bao gồm các phương tiện kỹ thuật, công cụ, kỹ năng, bí quyết, phương pháp sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người
Từ đó có thể định nghĩa theo cách hiểu chung nhất, hoạt động KHCN
là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng những kiến thức đó để tạo ra những ứng dụng mới
- Khái niệm về nông sản
Theo Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì nông sản (nông phẩm) là sản vật, sản phẩm nông nghiệp nói chung [55, tr.1283]
Tuy nhiên đối với các nước tham gia WTO, quan niệm về nông sản rộng hơn Hàng hóa nông sản được chia làm 2 nhóm chính: nông sản và phi
Trang 18nông sản Nông sản được xác định trong Hiệp định nông nghiệp của WTO là tất cả các sản phẩm liệt kê từ Chương I đến chương XXIV và một số sản phẩm thuộc chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hòa mã
số thuế) Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp
Theo phân chia có tính chất tương đối của Việt Nam, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp Các ngành công nghiệp chế biến nông- lâm- thủy sản lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp
Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất nào là nông sản, nhưng từ
những nghiên cứu trên có thể khái niệm: nông sản là toàn bộ sản phẩm từ
nông nghiệp
+ Nông sản địa phương Tây Nam bộ: Là vùng đồng bằng nhiệt đới
gió mùa nên nông sản khu vực Tây Nam bộ mang đặc trưng nhóm nông sản nhiệt đới, chủ yếu: gạo, cây ăn trái, chăn nuôi gia súc gia cầm và nuôi trồng thủy sản rất phong phú Thế nhưng sản xuất lạc hậu, manh mún nhỏ lẻ Ngoài lúa gạo Tây Nam bộ vẫn chưa có sản phẩm chủ lực mang giá trị xuất khẩu đúng với tiềm năng
Theo Đề án phát triển theo Đề án phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực ĐBSCL đến năm 2020 của Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, sẽ tập trung phát
triển 3 loại sản phẩm nông sản chủ lực là cây lúa, cây ăn trái và thủy sản
- Khái niệm về quảng bá và quảng bá sản phẩm
Theo Từ điển tiếng Việt, quảng bá có nghĩa là phổ biến rộng khắp cho mọi
người đều biết thông qua các phương tiện tuyên truyền, báo chí và truyền thông
Theo PGS, TS Lê Thanh Bình trong cuốn “Báo chí truyền thông và
phát triển văn hóa xã hội”: Quảng bá là để giới thiệu rộng rãi cho nhiều
người biết nhằm thu hút được nhiều khách hàng tham gia vào chương trình hay chiến dịch quảng cáo đó [7, tr.9-10]
Trang 19Như vậy, quảng bá sản phẩm ở đây được hiểu là hoạt động truyền bá,
phổ biến sản phẩm đến mọi người biết đến thông qua các phương tiện báo chí truyền thông, theo đó nhằm giới thiệu sản phẩm đến được với công chúng
1.2 Tổng quan về ứng dụng KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp ở khu vực Tây Nam bộ
Trong phần mở đầu luận văn có đề đề cập: Tây Nam bộ là vùng sản xuất nông sản lớn nhất ở nước ta Hàng năm, khu vực Tây Nam bộ sản xuất hơn 50% lượng lúa, 90% lượng gạo xuất khẩu, 65% lượng thủy hải sản, 70% lượng trái cây của cả nước Điều đó thể hiện rõ khu vực Tây Nam bộ gần như
có đầy đủ yếu tố của vùng nông sản nhiệt đới ở một nước đang phát triển Với vai trò đó, nếu tiềm năng của vùng được khai thác đúng mức thì không chỉ nâng cao chất lượng nông nghiệp trong vùng mà còn cho cả nền nông nghiệp nước nhà
Từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xây dựng Tây Nam
bộ thành vùng kinh tế trọng điểm về sản xuất lúa gạo và thủy sản Tiếp theo, Thủ tướng Chính phủ giao cho Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ chủ trì phối hợp với các ngành chức năng và những tỉnh, thành trong khu vực phát triển 3 sản phẩm chủ lực của vùng bao gồm: lúa- gạo, thủy sản và cây ăn trái
Do vậy, phạm vi luận văn sẽ đề cập đến 3 sản phẩm chủ lực khu vực Tây Nam bộ theo định hướng phát triển của Chính phủ và Ban chỉ đạo Tây Nam bộ
- Về ứng dụng KHCN trong chuỗi sản xuất lúa- gạo
Theo cách tính của Tổ chức Nông- Lương Liên hiệp quốc (FAO), KHCN đóng góp khoảng 30- 40% vào sự gia tăng sản lượng lúa
Ứng dụng KHCN trong sản xuất lúa góp phần làm tăng năng suất lúa khu cực Tây Nam bộ cũng như đưa năng suất bình quân cả nước Việt Nam đứng đầu khu vực ASEAN (năng suất bình quân trên 5,7 tấn/ha, cao nhất khu vực, gấp trên 1,5 lần so với lúa của Thái Lan) Việc gia tăng sản lượng lúa ở Tây
Trang 20Nam bộ từ 4,2 triệu tấn năm 1976 lên trên 25 triệu tấn hiện nay chính là nhờ các giải pháp KHCN
Để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam, cần canh tác lúa để đảm bảo không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời hạn chế các giống lúa phẩm chất thấp thay vào đó là các giống lúa có phẩm chất cao, thơm dẻo hơn
Theo thống kê cho thấy, việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
đã góp phần làm giảm chi phí và tăng thu nhập cho nông dân Chỉ tính riêng việc áp dụng máy gặt đập liên hợp đã giảm 400- 500 ngàn đồng/ha so với cắt tay, và giảm 2- 3% hao hụt so với thu hoạch nhiều giai đoạn Như vậy nếu tính toàn khu vực ĐBSCL, hàng năm nếu cơ giới hóa sẽ tiết kiệm được 1.600- 2.000 tỷ đồng và giảm thất thoát 500.000- 700.000 tấn lúa Đó là chưa kể đến việc giải quyết được sự thiếu hụt lao động vào mùa thu hoạch rộ Theo Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch tại TP Hồ Chí Minh, Khu vực Tây Nam bộ có gần 2,8 triệu hộ làm nông nghiệp nhưng số hộ có máy kéo
và máy nông nghiệp còn khá thấp; bình quân khoảng 62 hộ mới có một máy kéo
- Về ứng dụng KHCN trong chuỗi nâng cao giá trị cây ăn trái
Khu vực Tây Nam bộ hiện có diện tích trồng các loại cây ăn quả vào khoảng trên 288.000 ha, với sản lượng mỗi năm trên 3,18 triệu tấn quả phục
vụ tiêu dùng và xuất khẩu Theo các nhà khoa học, khu vực này có đủ các điều kiện thuận lợi để trồng cây ăn quả, tạo nguồn nông sản tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần nâng cao mức sống của người dân
Với lợi thế về đất đai, khí hậu, nguồn nước thuận lợi cho các loại cây
ăn quả sinh trưởng và phát triển, cho chất lượng và năng suất cao, được khách hàng trong nước và quốc tế ưa chuộng, các địa phương trong khu vực Tây Nam bộ đã tạo nên những vùng chuyên canh cây ăn quả đặc sản, các thương hiệu nổi tiếng như: xoài cát Hòa Lộc ở tỉnh Tiền Giang; bưởi Năm Roi ở tỉnh Vĩnh Long; bưởi da xanh ở tỉnh Bến Tre; quít hồng Lai Vung ở tỉnh Đồng Tháp; cây dừa ở Bến Tre v.v…
Trang 21Do áp dụng đồng bộ và rộng rãi KHCN, quy trình canh tác, công nghệ sau thu hoạch trong trồng cây ăn quả, nên tại các địa phương ở Tây Nam bộ, hiệu quả trong sản xuất cây ăn quả đã cao hơn hẳn lối canh tác truyền thống Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam phối hợp các địa phương ở khu vực Tây Nam bộ đã tổ chức được 25 mô hình sản xuất trái cây theo tiêu chí VietGAP, GlobalGAP với tổng diện tích trên 400 ha Ngoài ra, các địa phương cũng không ngừng tăng diện tích các loại cây ăn quả đặc sản qua từng năm
Việc phát triển vùng sản xuất cây ăn quả đặc sản chuyên canh nói trên nhằm tạo ra những sản phẩm an toàn, chất lượng cao, sản lượng lớn đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm cây ăn quả xuất khẩu Qua đây, đã góp phần giúp các loại quả đặc sản của khu vực Tây Nam bộ khẳng định được thương hiệu, từng bước thâm nhập vào thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc.v.v…
Tuy nhiên, ngành này phát triển không đều Các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang là những địa phương có diện tích cây ăn quả lớn Trong khi đó, nhà máy chế biến chỉ tập trung ở Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang với công suất chưa vượt quá 50.000 tấn/năm), chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu chế biến so với trên 3 triệu tấn trái cây thu hoạch được mỗi năm
Việc bảo quản trái cây mới chỉ manh nha trong thời gian gần đây nhưng chưa được phổ biến rộng rãi Khi khách hàng cần số lượng lớn trong thời gian ngắn, các doanh nghiệp không đáp ứng được vì chưa có vùng trái chuyên canh tập trung Việc vận chuyển lại khó khăn vì thiếu xe chuyên dùng, chưa có dịch vụ trữ lạnh sau thu hoạch chờ xuất khẩu Các vấn đề khác về bao
bì, giá thành chất lượng, qui cách còn nhiều bất cập
- Về ứng dụng KHCN trong chuỗi sản xuất sản phẩm thủy sản
Khu vực Tây Nam bộ hàng năm có sản lượng thủy sản từ khai thác, nuôi trồng hơn 3,2 triệu tấn, cung cấp nguồn nguyên liệu lớn cho ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản
Trang 22Dù có nhiều lợi thế để phát triển nhưng đến nay, vì nhiều lý do ngành công nghiệp này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, trong đó chủ yếu do khâu chế biến còn ở trình độ thấp, giá trị gia tăng chưa cao, sản xuất còn đơn lẻ, chưa tạo thành liên kết chuỗi
Theo số liệu Cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tháng 12/2013: Khu vực Tây Nam bộ hiện có gần 280 cơ sở chế biến thủy sản, chiếm 47% cơ sở của
cả nước, trong đó 270 cơ sở đủ điều kiện xuất khẩu hàng thủy sản vào EU, với 235 nhà máy, có tổng công suất chế biến trên 1,2 triệu tấn/năm, chiếm gần 86% công suất chế biến thủy sản đông lạnh cả nước
Sản phẩm thủy sản của khu vực Tây Nam bộ đã được tiêu thụ ở 165 thị trường các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đặc biệt là những thị trường trọng điểm, giàu tiềm năng như EU, Đông Âu, Mỹ, Canada, Brazil, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,… với doanh số xuất khẩu hàng năm xấp
xỉ 5 tỷ USD
Song song với xuất khẩu, thị trường tiêu thụ thủy sản nội địa cũng được chú trọng phát triển Nhiều mặt hàng thủy sản nội địa đã được chế biến hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước với chất lượng ngày càng cao, mẫu mã, bao bì không ngừng cải tiến được tiêu thụ tại những siêu thị ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, một số thành phố lớn và các chợ trên khắp cả nước
Ngoài ra, ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản ở khu vực Tây Nam bộ còn giải quyết việc làm cho hàng triệu công nhân lao động, tạo động lực cho nghề khai thác đánh bắt và nuôi trồng thủy sản phát triển, với giá trị sản xuất thủy sản chiếm hơn 35% trong giá trị sản xuất nông nghiệp (hơn 78% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước) và hơn 12% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế trong vùng
Mặc dù vậy, theo Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản của khu vực Tây nam bộ còn nhiều hạn chế, bất cập
Trang 23Mặt hàng cá tra hiện chủ yếu là chế biến cá phi lê xuất khẩu, chiếm 90-98%; các mặt hàng tôm, mực và thủy hải sản khác, tỷ lệ sản xuất chế biến sản phẩm đạt giá trị gia tăng chưa cao, chỉ khoảng 30- 50% so với tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản Điều đó cho thấy chế biến xuất khẩu thủy sản của khu vực Tây Nam bộ đang ở trình độ thấp, phần lớn là chế biến thô, giá trị kinh tế không cao
Bên cạnh đó, việc xây dựng thương hiệu đối với các sản phẩm chủ lực như tôm sú sinh thái, cá tra, tôm, nghêu, sò huyết, cua biển,… gắn với chỉ dẫn địa lý, xuất xứ nguồn gốc chưa được thực hiện hiệu quả
- Về quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương
Khu vực Tây Nam bộ là vùng châu thổ với đa dạng đặc sản nông sản
Là vựa lúa lớn nhất nước nên sản phẩm gạo rất ngon
Trái cây thì có cả danh mục dài: Chôm chôm Vĩnh Long - mảng trời
đỏ rực; Bưởi da xanh Bến tre - xanh vỏ đỏ lòng; Xoài cát Hòa Lộc ngọt tao đầu lưỡi; Khô cá tra phồng, ngon mà lạ - đặc sản An Giang; Nem Lai Vung chua mà ngọt thêm nồng mà say; Nhãn lồng Vị Quý - đặc sản trái cây Tiền Giang; Vú sữa Lò Rèn ăn một là nhớ mãi; Dừa Bến Tre với 500 sản phẩm theo cùng; Tôm khô Vĩnh Kim - đặc sản vùng nước lợ; Dừa sáp - chỉ có ở Cầu Kè;… Nhưng, việc xây dựng và quảng bá cho thương hiệu những sản phẩm vốn có tiếng này còn lắm chuyện phải bàn
Mấy năm gần đây, khu vực Tây Nam bộ rộ lên phong trào ào ạt xây dựng thương hiệu nông sản theo tiêu chuẩn quốc tế GlobalGAP Tiêu chuẩn này là “giấy thông hành” cho nông sản thâm nhập thị trường thế giới
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, thương hiệu chiếm 40- 60% giá trị của một sản phẩm hoặc dịch vụ Chương trình thương hiệu quốc gia được đặt
ra từ năm 2003, các địa phương, doanh nghiệp cũng đã quan tâm hơn đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu
Trang 24Đi tiên phong là Vĩnh Long với bưởi Năm Roi Mỹ Hòa, Tiền Giang
có vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, Bến Tre với chôm chôm Chợ Lách đạt tiêu chuẩn GlobalGAP Hàng loạt loại đặc sản danh tiếng khác ở Tây Nam bộ như xoài cát Hòa Lộc, bưởi da xanh, quýt hồng, cam mật, nhãn tiêu da bò, tiêu Phú Quốc đang “chạy đua” gắn mác GlobalGAP Về sản phẩm gạo, có gạo Ngọc Đồng của doanh nghiệp Gentraco, Hương Lúa của Công ty ITA Rice, gạo Hoa Sữa của Công ty Viễn Phú hay Khoai lang Bình Tân (Vĩnh Long) được cấp chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa tập thể…
Tuy nhiên, thực tế sau khi đạt chuẩn, nhiều mô hình lại “chết đứng”
vì nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, như: sản lượng hạn chế, khó mở rộng diện tích, sản xuất mạnh ai nấy làm, thiếu vốn đầu tư
Việc phát triển diện tích áp dụng GlobalGAP cũng khó khăn Vùng bưởi Năm Roi Mỹ Hòa (Vĩnh Long) có 1.300ha nhưng diện tích áp dụng GlobalGAP chưa đầy 24ha Hơn 4 năm qua, HTX bưởi Năm Roi Mỹ Hòa không mở rộng được diện tích, thậm chí một số trường hợp xin rút khỏi danh sách vì cảm thấy “đuối”
1.3 Đặc trưng và vai trò của báo in trong tuyên truyền về ứng dụng khoa học công nghệ nhằm phát triền kinh tế nông nghiệp khu vực Tây Nam bộ
1.3.1 Đặc trưng và vai trò của báo in
Theo PGS.TS Đinh Văn Hường, báo in là tên gọi loại hình báo chí chuyển tải thông tin và hình ảnh trên giấy, được thực hiện bằng phương tiện kỹ thuật in và được phát hành rộng rãi trong xã hội Các ấn phẩm báo
in gồm có: báo, tạp chí, phụ trương và bản tin
Tính định kỳ của báo in có nhiều mức độ khác nhau như: hàng ngày, hàng tuần Chu kỳ xuất hiện có ý nghĩa quan trọng đối với báo in vì
nó quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm
Trang 25Báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội, từng loại báo, từng tờ báo in đều có đối tượng riêng Báo in địa phương Tây Nam bộ chủ yếu phục vụ đối tượng bạn đọc địa phương Nội dung thông tin trong các ấn phẩm đó mặc nhiên chỉ quan tâm chủ yếu đến đối tượng của mình Như vậy, mỗi một tờ báo in đều có công chúng khác nhau và công chúng thực hiện phương thức tiếp nhận theo những hướng khác nhau
Đặc thù của báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ tĩnh Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung thông tin của tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc Sự đồng hiện của báo in được thể hiện bằng những thông tin cùng xuất hiện đồng thời trên trang báo in, thông qua việc trình bày tổ chức trang báo, như: tên chuyên mục, tiêu đề, tít, sa - pô hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và sa -
pô hấp dẫn hay cũng có thể do hình ảnh, biểu đồ minh họa gây ấn tượng Cũng chính vì vậy mà có thể nói sự đồng hiện thông tin của bài viết trên cùng một trang báo in là một trong những lợi thế nhất định của báo in Và đây cũng chính là lợi thế khi tiếp cận các vấn đề chuỗi sản xuất bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp Vừa có chữ, vừa có hình ảnh, công chúng báo in khu vực Tây Nam bộ rất dễ hình dung để nắm bắt thông tin thời vụ,
mô hình làm ăn hiệu quả, những hướng dẫn kỹ thuật canh tác một cách chính xác Công chúng có thể cùng lúc lướt mắt trên toàn bộ bài báo và sau đó tìm những thông tin thú vị, bổ ích hoặc cần thiết cho mình Công chúng có thể đọc báo in bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và làm tài liệu lưu trữ trong nhiều năm, cũng như chia sẻ tư liệu dễ dàng cho người xung quanh
Từ phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc trưng sau:
Một là, công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị
giác - giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế
Trang 26giới xung quanh, vì vậy người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc đến việc chủ động về tốc độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in cụ thể
Hai là, vì sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá
trình chủ động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não Nhờ đó, khả năng ghi nhớ thông tin tăng, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện
Ba là, việc lưu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với
thói quen của nhiều người đọc Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối với người đọc Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài Trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc trưng này giúp báo in có lợi thế đặc biệt so với phát thanh và truyền hình Công chúng có thể lưu giữ bài báo lại để khi gặp tình huống tương tự nêu trên bài báo thì có thể đem ra xem lại Trong quá trình khảo sát thực tế, chúng tôi đã tiếp cận nhiều nông dân lưu trữ khá nhiều bài báo nêu kinh nghiệm, mô hình sản xuất đăng tải trên báo để dành làm tài liệu tham khảo
Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có người biết chữ mới có thể đọc báo và có những vấn đề, chỉ có những người có một trình độ học vấn nhất định mới có thể hiểu được Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có ưu thế hơn so với báo in khi mà hầu như tất
cả các thành viên của xã hội bất kể trình độ văn hoá như thế nào đều có thể tiếp nhận thông tin do phát thanh, truyền hình mang lại
Việc phát hành báo in được thực hiện theo phương thức trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào phát triển
hạ tầng giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo ở đó Ở nước ta, báo in chủ yếu chỉ được phát hành ở các thành phố, thị trấn đông
Trang 27dân cư, thuận lợi về giao thông đi lại Ở các địa phương xa trung tâm, báo
in thường đến muộn, tin tức trở thành lạc hậu Vì thế ở khu vực này, ảnh hưởng của thông tin từ báo in hạn chế
Tuy nhiên, báo in trong thực tiễn ở khu vực Tây Nam bộ có một
ưu thế khác Do là vùng trọng điểm nông nghiệp nên 70% dân số sống ở nông thôn, ít tiếp cận với internet nên báo in vẫn là kênh thông tin được nông dân tiếp xúc nhiều và có độ tin cậy cao Thông tin phục vụ sản xuất, kiến thức nông học truyền qua kênh báo in vẫn chiếm ưu thế
1.3.2 Vai trò của báo in về tuyên truyền trong ứng dụng KHCN nhằm phát triền kinh tế nông nghiệp khu vực Tây Nam bộ
Do là vùng trọng điểm nông nghiệp nên 80% dân số sống ở nông thôn, ít tiếp cận với internet nên báo in vẫn là kênh thông tin được nông dân tiếp xúc nhiều và có độ tin cậy cao Thông tin phục vụ sản xuất, kiến thức nông học truyền qua kênh báo in vẫn chiếm ưu thế Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ in, hình vẽ, tranh ảnh,
sơ đồ, biểu đồ,… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và sa - pô hấp dẫn hay cũng có thể do tranh ảnh, biểu đồ minh họa gây chú ý cho họ Cũng chính vì vậy mà có thể nói sự đồng hiện thông tin của bài viết trên cùng một trang báo in là một trong những lợi thế nhất định của báo in Thông tin phục vụ sản xuất, kiến thức nông học truyền qua kênh báo in
vẫn chiếm ưu thế
Và đây cũng chính là lợi thế về mặt chỉ dẫn - tư vấn KHCN Vừa có chữ, vừa có hình, công chúng báo in rất dễ hình dung để làm theo sự chỉ dẫn- tư vấn
đó một cách chính xác Công chúng có thể cùng lúc lướt mắt trên toàn bộ bài báo
và sau đó có thể tìm những thông tin thú vị hoặc cần thiết cho mình
Khi đọc các tờ báo in, người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà khi đọc lần đầu họ chưa hiểu cặn kẽ Đặc trưng này tạo cho báo in khả năng thông tin
Trang 28những nội dung sâu sắc, phức tạp Điều này giúp cho việc chỉ dẫn - tư vấn KHCN trong sản xuất trên báo in trở nên thuận lợi bởi công chúng báo in có thể đọc đi đọc lại cho đến khi hiểu cặn kẽ vấn đề
Tuy nhiên, báo in địa phương vẫn có những hạn chế nhất định:
Việc phát hành báo in được thực hiện theo phương thức trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào phát triển hạ tầng giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo ở đó- nhất là các địa phương xa trung tâm, báo in thường đến muộn, tin tức trở thành lạc hậu Vì thế ở khu vực này, ảnh hưởng của thông tin từ báo in rất hạn chế
Bên cạnh, thông tin chậm so với các phương tiện tuyên truyền khác vì tính định kỳ của báo in là khả năng tương tác kém vì phụ thuộc vào việc in ấn, dung lượng thông tin hạn chế trên khuôn khổ trang bào, tờ báo
Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có người biết chữ mới có thể đọc báo và có những vấn đề, chỉ có những người có một trình
độ học vấn nhất định mới có thể hiểu được Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có ưu thế hơn so với báo in
Sự tương tác giữa báo chí với bạn đọc là yếu tố quan trọng nhưng khả năng này là hạn chế lớn của báo in so với phương tiện truyền thông khác
1.4 Nội dung và phương thức tuyên truyền ứng dụng KHCN trong chuỗi sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp
- Các nhóm đối tượng ưu tiên tuyên truyền
Theo PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng: “Muốn thiết kế được chương trình, chiến lược truyền thông thay đổi hành vi, trước hết cần xác định mục tiêu và đối tượng truyền thông thay đổi hành vi Các nhóm đối tượng cần ưu tiên tác động trong truyền thông thay đổi hành vi liên quan…” [26, tr.42]
Với đề tài luận văn Báo in khu vực Tây Nam bộ tuyên truyền ứng dụng
KHCN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông
Trang 29nghiệp của địa phương hiện nay” thì các nhóm đối tượng cần tập trung ưu
tiên tác động trong tuyên truyền gồm 6 nhóm đối tượng:
Một là, người nông dân khu vực Tây Nam bộ, trong đó giai đoạn đầu tiên
là những người trực tiếp tham gia trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp
Hai là, các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực: nông nghiệp, chuyên gia
chế tạo phương tiện phục vụ sản xuất, bảo quản chế biến sản phẩm nông nghiệp; cán bộ tuyên truyền thuộc trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ ở các Sở KHCN và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh; cán bộ khuyến nông ở các địa phương
Ba là, các chuyên gia kinh tế tham gia hoạch định kế hoạch sản xuất,
dự báo thị trường và xây dựng, quảng bá thương hiệu nông sản
Bốn là, các nhà báo, các cơ quan báo chí khu vực Tây Nam bộ, đặc
biệt là các nhà báo chuyên viết về kinh tế nông nghiệp
Năm là, các dịch vụ cung cấp cây, con giống, các chế phẩm trong lĩnh
vực sản xuất chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp; các doanh nghiệp thu mua bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp địa phương
Sáu là, người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp
- Phương cách tuyên truyền
Đặc điểm chung của nông nghiệp Việt Nam nói chung, khu vực Tây Nam bộ nói riêng là nền nông nghiệp lúa nước, trong canh tác trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào “ý trời” (thời tiết) Tâm lý người dân mang nặng “chủ nghĩa kinh nghiệm” của những “lão nông tri điền” Bởi vậy, việc tuyên truyền kiến thức khoa học cần nghiên cứu sâu tâm lý đối tượng tiếp nhận Người dân Tây Nam bộ có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”, do vậy cần xây dựng
mô hình kiểu mẫu và phải truyền thông liên tục dài hơi theo liên tục, như
“mưa dầm thấm lâu” vậy
Trong bài báo “Các bước trong truyền thông thay đổi hành vi của
người nông dân Việt Nam nhằm ứng dụng cây trồng biến đổi gen hiện nay”
Trang 30(đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, tháng 12/2014 [26, tr.42-44]) PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng - Phó Trưởng Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã đề xuất 5 bước truyền thông nhằm thay đổi tâm lý hành vi của người nông dân Có thể tóm tắt 5 bước truyền thông như sau:
Bước một, cung cấp thông tin, kiến thức cho người nông dân, mở các
cuộc tập huấn về công nghệ mới cho người nông dân, tăng cường đăng tải các bài viết hình về những vấn đề khoa học nông nghiệp liên quan trên các phương tiện báo chí
Bước hai, truyền tải nhiều bài báo, bài phân tích từ các kết quả nghiên
cứu, chứng minh bằng thực tế ứng dụng từ các mô hình
Bước ba, cung cấp thêm nhiều thông tin cho người dân về các dịch vụ
hỗ trợ tư vấn và thúc đẩy hoạt động tiếp cận và sử dụng dịch vụ như: cân nhắc
và quyết định trồng loại giống gì, trên vùng nào…
Bước bốn, tiếp tục truyền thông về lợi ích, giảm rào cản có thể có liên
quan đến hành vi mới Giới thiệu ứng dụng với sự tham gia giới thiệu kỹ năng thực hiện của các chuyên gia hoặc các nhà khoa học nông nghiệp có uy tín với người nông dân trong nước trên phương tiện truyền thông
Cuối cùng, tổ chức thông tin nhằm giúp người nông dân có thể theo
sát được và rút ra bài học về sự khác biệt trong kết quả ứng dụng và cần lý giải những nguyên nhân thất bại cho người dân (nếu có)
+ Khái lược các tờ báo in địa phương Tây Nam bộ
Từ sau năm 2000 đến nay, khu vực Tây Nam bộ có 1 thành phố trực thuộc trung ương và 12 tỉnh Hệ thống báo chí địa phương phát triển mạnh mẽ
về số lượng, chất lượng và với chiến lược “Hội nhập và phát triển”, báo in đã
có những bước tiến rất xa
Báo Đảng địa phương khu vực này đã khơi dậy các phong trào hành động cách mạng dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, tác động một cách
Trang 31mạnh mẽ đến nhiều đối tượng bạn đọc như các phong trào về chuyển đổi sản xuất, các mô hình làm ăn kinh tế hiệu quả, phát huy nội lực; phát triển kinh tế trong điều kiện mở cửa, hội nhập nền kinh tế quốc tế; xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí; bảo đảm sự ổn định phát triển theo hướng bền vững Kịp thời phát hiện, nhân rộng điển hình trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, biểu dương những tấm gương người tốt việc tốt; các hoạt động hỗ trợ xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào Khmer
Bảng 1.1: Các ấn phẩm của 13 cơ quan báo in ở khu vực Tây Nam bộ
Tên ấn phẩm STT Tên báo
Số lượng
ấn phẩm
Nhật báo
Báo
kỳ trong tuần
Báo cuối tuần
Số kỳ phát hành/
tuần
Loại khác Ghi chú
1 Báo An Giang 3 x x 5
An Giang Online và Tin tức miền Tây
2 Báo Bạc Liêu 3 x x 3 Bạc Liêu
Online
Tờ báo Khmer ngữ
3 Báo Đồng Khởi
(Bến Tre) 2 x 3
Đồng Khởi Online
4 Báo Cà Mau 4 x x 5
Nguyệt san
Cà Mau Online
5 Báo Cần Thơ 3 x Cần Thơ
Online
Tờ báo Khmer ngữ
Trang 32Tên ấn phẩm STT Tên báo
Số lượng
ấn phẩm
Nhật báo
Báo
kỳ trong tuần
Báo cuối tuần
Số kỳ phát hành/
12 Báo Trà Vinh 2 x 3
Tờ báo Khmer ngữ
13 Báo Vĩnh Long 3 x x 5 Vĩnh Long
Online
Các tờ báo in địa phương từ tuần báo đã nâng dần kỳ báo phát hành
Hiện nay thành phố Cần Thơ có nhật báo Cần Thơ Có 7 tờ báo phát hành 5
kỳ/tuần; 3 tờ phát hành 3 kỳ/tuần, phổ biến mỗi tờ báo có 12 trang khổ A4 Chất lượng các tờ báo nâng lên cả nội dung lẫn hình thức, đội ngũ lãnh đạo cơ
quan báo chí, phóng viên, kỹ thuật viên được đào tạo và nâng cao tay nghề
Các ấn phẩm báo in đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng của công
chúng khu vực
Nhiều cơ quan báo in khu vực Tây Nam bộ đang hướng tới tòa soạn
đa phương tiện Đến nay, có 10/13 tòa soạn đã có tờ báo điện tử hoặc trang
thông tin điện tử Riêng Báo An Giang có 2 ấn phẩm thông tin điện tử (An
Giang online và Tin tức miền Tây)
Kênh báo điện tử được đánh giá là “góp phần đưa chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước kịp thời đến đông đảo công chúng” Báo điện tử
còn là cánh tay nối dài cho báo in địa phương, giúp thông tin từ báo in có
thêm kênh chuyển tải mới và nhờ đó tờ báo khai thác thêm lượng độc giả
vượt ngoài phạm vi của tỉnh”
Bên cạnh, báo in khu vực Tây Nam bộ còn có 4 tờ báo Khmer ngữ tại
tòa soạn báo Cần Thơ, báo Trà Vinh, báo Sóc Trăng và báo Kiên Giang để
phục vụ cộng đồng người dân tộc Khmer địa phương
Trang 33Vấn đề đổi mới nội dung, hình thức của tờ báo được lãnh đạo các cơ quan báo chí đặc biệt quan tâm Hầu hết các tờ báo địa phương hiện nay đều
có đội ngũ kỹ thuật phụ trách trình bày, làm cho hình thức tờ báo đẹp và hấp dẫn hơn Báo Cà Mau, báo Vĩnh Long có thêm tờ cuối tuần, đều có chuyên trang: Thời sự, Nhịp sống đồng bằng, Du lịch, Phóng sự - ký sự… đề tài mang tính khu vực- nhất là về lĩnh vực nông nghiệp- giúp độc giả nâng cao tri thức, có cái nhìn rộng mở hơn về đời sống văn hóa miền sông nước, tình hình sản xuất, mô hình canh tác tốt, làm ăn hiệu quả,… ngoài địa phương mình
Vận dụng phương tiện hiện đại: Nguồn khai thác thông tin phong phú hơn nhờ công cụ internet, các trang thiết bị kỹ thuật cho phóng viên, biên tập viên hiện đại hơn
Vận dụng về nguồn nhân lực: đã qua đào tạo chuẩn hóa, tiếp cận và học tập nhiều với báo chí hiện đại
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận văn đã phác thảo bức tranh tổng thể của báo in khu vực Tây Nam bộ, cho thấy sự vận động tích cực của nó trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay Báo chí đã vận dụng tối đa ưu thế, cũng như nắm bắt công nghệ hiện đại để không ngừng đổi mới và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công chúng Nhất là đối với báo in địa phương, sự cạnh tranh mạnh mẽ của các loại hình báo chí khác buộc báo in phải thay đổi rất nhiều về
hình thức lẫn nội dung thể hiện
Tuy nhiên, báo in trong thực tiễn ở khu vực Tây Nam bộ có một ưu thế khác Do là vùng trọng điểm nông nghiệp nên 80% dân số sống ở nông thôn, ít tiếp cận với internet nên báo in vẫn là kênh thông tin được nông dân tiếp xúc nhiều và có độ tin cậy cao Thông tin phục vụ sản xuất, kiến thức
nông học truyền qua kênh báo in vẫn chiếm ưu thế
Từ thực trạng về chuỗi sản xuất bảo quản chế biến, quảng bá sản phẩm nông sản ở Tây Nam bộ cho thấy, nông dân là lực lượng chiếm số đông,
Trang 34báo in tích cực tác động đến cuộc sống, sản xuất của họ Tuy nhiên, do sống ở khu vực nông thôn, việc phân phối báo in gặp nhiều trở ngại nên số lượng nông dân được tiếp cận với báo in rất hạn chế Thực tế, ở các tỉnh khu vực Tây Nam
bộ, nhiều tờ báo địa phương chưa quan tâm nhiều đến đối tượng này
Trong chương 1, luận văn nêu ra phương pháp tuyên truyền thay đổi hành vi của người nông dân trong việc tiếp nhận KHCN mới trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp Qua khảo sát một số tờ báo in địa phương trong khu vực Tây Nam bộ, trong chương 2 luận văn sẽ làm rõ thêm kết quả và hạn chế của báo in cũng như phân tích nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của báo in khu vực Tây Nam bộ về tuyên truyền trong ứng dụng KHCN trong chuỗi sản xuất quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương Qua đó để các cơ quan báo chí cần nhận thực đúng đắn về vai trò của báo chí từ đó nghiên cứu, tìm kiếm và thực hiện những giải pháp tuyên truyền đạt hiệu quả cao hơn
Trang 35
Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO IN ĐỊA PHƯƠNG VỀ TUYÊN TRUYỀN ỨNG DỤNG KHCN TRONG SẢN XUẤT, BẢO QUẢN, CHẾ
BIẾN VÀ QUẢNG BÁ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
2.1 Khái lược 3 tờ báo khảo sát
sự điều tra về các vấn đề xã hội bức xúc được quần chúng nhân dân trong và ngoài tỉnh quan tâm Đặc biệt, các vấn đề liên quan đến kinh tế nông nghiệp, sản xuất - tiêu thụ nông sản, để nông dân hết nghèo…
Năm 2011, Báo Vĩnh Long tăng kỳ phát hành lên 5 số báo/ tuần Không chỉ tăng kỳ phát hành Báo Vĩnh Long phát hành đến 100% xã, phường, thị trấn; 100% ấp, khóm trong tỉnh Ngoài kênh phát hành ủy nhiệm qua bưu điện, tòa soạn tổ chức phát hành trực tiếp cho đại lý bán báo lẻ tại thành phố Vĩnh Long và các huyện với số lượng chiếm 20% tổng lượng phát hành mỗi kỳ
Tháng 3/2012, Báo Vĩnh Long thực hiện điều chỉnh giá bán từ 1.000 đồng lên 2.000 đồng/tờ Trang điện tử Vĩnh Long Online có bình quân 30.000 lượt người truy cập mỗi ngày
+ Báo An Giang
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ngày 20/5/1975, bộ phận Thông tấn- Báo chí thuộc Ban Tuyên huấn Long Châu Hà cho ra mắt tờ tin
Trang 36đầu tiên với măng - sét “Tin tức Long Châu Hà” Năm 1976, tờ báo “Long Châu Hà” đổi tên thành báo An Giang
Giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ bao cấp sang thời kỳ đổi mới 1990), nền kinh tế đất nước có nhiều đổi mới sau Đại hội VI của Đảng, nền kinh tế - xã hội của tỉnh nhà cũng chuyển biến tích cực Báo An Giang đã khởi động với khí thế mới, phản ánh nhiều chiều, phát hành rộng rãi ra dân
(1986-Từ đó, Báo An Giang đã thực sự trưởng thành và phát triển toàn diện
Năm 2014, Báo An Giang giữ vững 10.500 tờ/ kỳ, cả năm đạt trên 2,6 triệu tờ/năm Tiếp tục là 1 trong 10 tờ báo Đảng có số lượng phát hành cao nhất cả nước
Bên cạnh báo in, báo An Giang điện tử (ra mắt từ ngày 15/9/2008) hoạt động tương đối hiệu quả với lượng truy cập khoảng 30.000 lượt/ ngày, là báo điện tử được truy cập nhiều nhất ở khu vực Tây Nam bộ Từ đầu năm
2014, Báo An Giang tiếp tục mở ra Trang thông tin điện tử thứ hai với tên miền: Tin tức miền Tây Trang thông tin điện tử này có số lượng truy cập đến 60.000 lượt/ngày
+ Báo Đồng Khởi
Báo chí cách mạng ở Bến Tre ra đời rất sớm và đã trở thành công cụ,
vũ khí sắc bén trên mặt trận tuyên truyền vận động quần chúng
Sau ngày Đồng khởi 17/1/1960, theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Báo Hòa Bình Thống Nhất đổi tên là Thông tin Bến Tre Từ tháng 3/1960, báo được đổi tên là Chiến Thắng, phát hành thường kỳ số lượng tăng lên 700 đến 800 tờ/ kỳ Đến tháng 5/1960, cơ quan báo dời về xã Châu Bình (Giồng Trôm), số lượng báo phát hành tăng lên 1.000 tờ/ kỳ
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, báo tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình Ngày 11/11/1976, Báo Chiến Thắng đổi tên thành Báo Đồng Khởi Tháng 6/1991, báo ra định kỳ mỗi tuần 2 số ra vào ngày thứ tư và thứ bảy, 8 trang và từ tháng 1/2010, Đồng Khởi phát hành tuần
Trang 373 số, 12 trang, ra vào các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu, số lượng phát hành 4.000 tờ/kỳ
2.2 Tần suất và nội dung tuyên truyền ứng dụng khoa học công nghệ về sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp
ở địa phương trên 3 tờ báo khảo sát
2.2.1 Tần suất tuyên tuyền
Có thể nhận định, đề tài về chuỗi sản xuất bảo quản, chế biến quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương là mảng đề tài được báo in Tây Nam bộ nói chung và 3 tờ báo An Giang, Vĩnh Long và báo Đồng Khởi quan tâm và thể hiện qua rất nhiều thể loại Thể hiện qua bảng tổng hợp về số lượng, tỷ lệ dưới đây:
Bảng 2.1: Số lượng tin, bài có nội dung liên quan đến chuỗi sản xuất sản
phẩm nông nghiệp trên 3 tờ báo được khảo sát
Tên báo Số tin bài
Tuy là tỉnh có diện tích nhỏ trong khu vực nhưng với địa bàn là trung tâm Tây Nam bộ đặc thù là 100% đất sản xuất là nước ngọt nên việc sản xuất cây lúa, cây ăn trái và thủy sản nước ngọt là thế mạnh hàng đầu
Từ thế mạnh của địa phương, định hướng tuyên truyền của Báo Vĩnh Long tập trung cho vấn đề là ứng dụng KHCN trong sản xuất lúa, cây ăn trái
và nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu nông sản hàng hóa trong hội nhập Góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng theo hướng sản xuất gắn với thị trường Vĩnh Long có thế mạnh về cây ăn trái đặc
Trang 38sản, mỗi năm cung cấp trên 400.000 tấn trái cây các loại, trong đó, nhiều thương hiệu nông sản hàng hóa đạt tiêu chuẩn GAP như bưởi Năm roi Bình Minh, cam sành Tam Bình, măng cụt Vũng Liêm, khoai lang Bình Tân v.v…
Qua bảng kê cho thấy, báo Vĩnh Long, An Giang và báo Đồng Khởi, cùng có 12 trang trên mỗi số báo (khổ báo 30 x 40), trong đó mỗi số báo thường dành 1 trang quảng cáo
Theo khảo sát 3 tờ báo cho thấy, cùng số trang, khổ tờ báo nhưng tờ báo Vĩnh Long có số lượng tin bài cao nhất Bình quân mỗi tờ báo Vĩnh Long
có khoảng 60 tin bài Trong khi báo An Giang có 50 tin bài, báo Đồng Khởi chỉ khoảng từ 40 đến 42 tin bài Lý do: tin, bài Báo Vĩnh Long ngắn gọn hơn báo An Giang và báo Đồng Khởi Đặc biệt là tỷ lệ tin trên báo Vĩnh Long chiếm đến 65% trong tổng số tin bài, trong khi báo An Giang là 30%, báo Đồng Khởi là 25%
Về tuyên truyền chuỗi sản xuất bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp, tỷ lệ tin bài trên báo Vĩnh Long cũng cao hơn 2 tờ báo cùng khảo sát Năm 2014, báo Vĩnh Long đăng 15.600 tin bài, trong đó có 5.116 tin bài về chủ đề về chuỗi xuất sản phẩm nông nghiệp, chiếm tỷ lệ 32,8%
Biểu đồ 2.1: Kết quả khảo sát bạn đọc báo Vĩnh Long về tần suất tuyên
truyền trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm
nông nghiệp địa phương
Trang 39Kết quả khảo sát bạn đọc về thông tin chuyển tải trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương trên báo Vĩnh Long, cho thấy:
Có 25,70% cho rằng báo Vĩnh Long tuyên truyền đầy đủ; 50,50% cho rằng vừa phải; 23,80% cho là chưa đầy đủ (thiếu)
Là tỉnh trọng điểm về nông nghiệp của khu vực Tây Nam bộ, An Giang luôn giữ vững ngọn cờ đầu của ngành nông nghiệp Việt Nam và khu vực về sản xuất lúa và thủy sản Do đó, định hướng tuyên truyền về chuỗi sản xuất nâng cao giá trị nông sản và quảng bá sản phẩm nông nghiệp của Báo An Giang tập trung khá nhiều cho các mô hình sản xuất mới, gắn với thị trường, liên kết “4 nhà”
Năm 2014, tổng số tin bài đăng trên báo An Giang có: 13.000 tin bài, trong đó tỷ lệ tin bài về chủ đề chuỗi sản xuất, quảng bá sản phẩm nông nghiệp có đến 3.942 tin bài, chiếm tỷ lệ 30,4%
Biểu đồ 2.2: Kết quả khảo sát bạn đọc báo An Giang về tần suất tuyên truyền trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm
nông nghiệp địa phương
Kết quả khảo sát bạn đọc về thông tin chuyển tải trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương trên báo An Giang cho thấy:
Có 17,80% bạn đọc cho rằng báo An Giang tuyên truyền đầy đủ; 71,30% cho rằng vừa phải; 10,90 % cho là chưa đầy đủ (thiếu)
Trang 40Thế mạnh của tỉnh Bến Tre là kinh tế vườn và thủy sản Diện tích cây
ăn trái toàn tỉnh Bến Tre là 29.000 ha; sản lượng đạt 303.206 tấn Nhiều loại cây ăn quả của tỉnh có giá trị kinh tế như nhãn, sầu riêng, măng cụt, bưởi, chôm chôm, xoài,… Diện tích nuôi cá da trơn khoảng 100 ha, sản lượng 155.000 tấn Hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục phát triển
Nông nghiệp đóng vai trò chính và từng bước chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ Do vậy nội dung báo Đồng Khởi tuyên truyền khá đậm nét về ứng dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất, chế
biến, quảng bá sản phẩm cây ăn trái và thủy sản địa phương
Năm 2014, tổng số tin bài đăng trên báo Đồng Khởi có: 7.166 tin bài, trong đó tỷ lệ tin bài về chủ đề chuỗi sản xuất, quảng bá sản phẩm nông nghiệp có 2.140 tin bài, chiếm tỷ lệ 29,5%%
Biểu đồ 2.3: Kết quả khảo sát bạn đọc báo Đồng Khởi về tần suất tuyên truyền trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm
nông nghiệp địa phương
Kết quả khảo sát bạn đọc về thông tin chuyển tải trong lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến, quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa phương trên báo Đồng Khởi cho thấy:
Có 38,70% bạn đọc cho rằng báo Đồng Khởi tuyên truyền đầy đủ; 46,80% cho rằng vừa phải; 14,50 % cho là chưa đầy đủ (thiếu)