1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)

159 22 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được những kết quả thực tế về tính hiệu quả của SPBC, cần có những công trình nghiên cứu, đánh giá thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng hiện nay như thế nào, từ

Trang 1

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH LOAN

NHU CẦU, ĐIỀU KIỆN TIẾP NHẬN CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG CỦA CÔNG CHÚNG CÔNG NHÂN TIỀN GIANG HIỆN NAY

(khảo sát năm 2015)

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG THỊ THU HƯƠNG

CẦN THƠ - 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan: đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương Các

số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khoa học khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 3

Tác giả xin trân trọng cảm ơn đến quý thầy, cô giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực IV đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập lớp Cao học Báo chí K.19, niên khóa 2013-2015 tại Cần Thơ

Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đặng Thị Thu Hương đã hướng dẫn

tác giả trong suốt quá trình thực hiện hoàn thành luận văn này Xin gởi lời cảm ơn đến quý lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh Tiền Giang, đài PT-TH Tiền Giang, báo Ấp Bắc, Ban quản lý các khu công nghiệp Tiền Giang, các doanh nghiệp và các anh chị công nhân lao động tại Tiền Giang, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong thời gian thực hiện luận văn

Tuy đã rất cố gắng nhưng do thời gian và trình độ của tác giả còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ còn rất nhiều thiếu sót Vì thế, tác giả rất mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ dẫn chân thành của quý thầy, cô giảng viên và quý đồng nghiệp nhằm bổ sung và hoàn thiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 21 tháng 6 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 4

1.3 Đặc điểm công chúng công nhân Tiền Giang 23

Chương 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN TIẾP NHẬN

BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG CỦA CÔNG CHÚNG CÔNG

2.1 Đặc điểm địa bàn điều tra và mẫu điều tra 34 2.2 Thực trạng nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin báo chí địa

phương của công chúng công nhân Tiền Giang 39 2.3 Ý kiến đánh giá của công chúng công nhân đối với các sản phẩm

Chương 3: THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ CỦA BÁO CHÍ TIỀN GIANG

VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THU HÚT CÔNG CHÚNG CÔNG

3.1 Thành công, hạn chế của báo chí Tiền Giang 76 3.2 Nguyên nhân thành công, hạn chế của báo chí Tiền Giang 81 3.3 Một số giải pháp thu hút công chúng công nhân của báo chí

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCBC : Công chúng báo chí

CNLĐ : Công nhân lao động

CNVCLĐ : Công nhân viên chức lao động

UBND : Ủy ban nhân dân

VTV : Truyền hình Việt Nam

Trang 6

Bảng 2.10: Lý do không tiếp nhận báo chí Tiền Giang 45 Bảng 2.11: Thời lượng tiếp nhận thông tin 46

Bảng 2.15: Mức độ gặp thông tin về công nhân 52 Bảng 2.16: Mức độ hài lòng đối với thông tin về công nhân 53 Bảng 2.17: Mức độ chia sẻ thông tin trên báo chí 55 Bảng 2.18: Đánh giá nội dung thông tin báo Ấp Bắc 57

Bảng 2.20: Đánh giá nội dung thông tin phát thanh Tiền Giang 61

Bảng 2.21: Đánh giá hình thức phát thanh Tiền Giang 63 Bảng 2.22: Đánh giá nội dung thông tin truyền hình Tiền Giang 65

Bảng 2.23: Đánh giá hình thức truyền hình Tiền Giang 69 Bảng 2.24: Đánh giá nội dung thông tin báo Ấp Bắc điện tử 72

Bảng 2.25: Đánh giá hình thức báo Ấp Bắc điện tử 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời, trưởng thành và gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa Sau gần 30 năm đổi mới, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến quan trọng, đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; đóng góp trực tiếp to lớn vào sự phát triển của đất nước Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam chỉ chiếm 13% dân số, gần 23% lực lượng lao động xã hội, song hàng năm đã tạo ra khoảng 70% giá trị tổng sản phẩm trong nước, đảm bảo 60% nguồn thu ngân sách nhà nước Những đóng góp của giai cấp công nhân khẳng định vị trí, vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo

Tuy nhiên, trong điều kiện mới, bên cạnh những thành tựu thì giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay còn bộc lộ những hạn chế, đó là:

Đa số công nhân hiện nay có trình độ văn hóa thấp Nhận thức về các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước rất hạn chế Rất nhiều công nhân đã dính vào vòng lao lý, gia đình càng lún vào khó khăn về kinh tế cũng vì thiếu hiểu biết mà vi phạm pháp luật Trình độ văn hóa thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến những thiệt thòi về quyền lợi của người lao động (bị giới chủ doanh nghiệp bóc lột) Họ thiếu hiểu biết về pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… nên không thể đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình

Trang 8

Đời sống của công nhân hiện nay rất thấp Các khu nhà trọ dành cho công nhân được xây dựng tạm bợ, chật chội, ẩm thấp, không có các tiện nghi cần thiết như: truyền hình, tủ lạnh…Một bộ phận công nhân dành dụm tiền mua ti vi rẻ tiền hoặc nghe radio, truy cập internet bằng điện thoại di động phục vụ nhu cầu giải trí sau giờ làm việc ở nhà máy Tuy nhiên, do phải thường xuyên tăng ca nên nhu cầu thông tin của công nhân là rất thấp bởi thời gian ở nhà chủ yếu dành lo cho việc học hành của con cái hoặc để nghỉ ngơi

Một thực trạng cũng rất “nóng” nữa là vấn đề quan hệ tình cảm của nam nữ công nhân rất phức tạp Vì thiếu thốn đủ thứ nên nhiều người đã bám víu vào chuyện tình cảm để khỏa lấp những khoảng trống sau giờ làm việc

Do thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản nên đã xảy ra nhiều trường hợp nữ công nhân phải phá thai nhiều lần hoặc bị lây nhiễm các bệnh xã hội Một số công nhân nam độc thân thì tụ tập cà phê, uống rượu tạo ra nguy cơ vi phạm pháp luật do đánh nhau, gây mất an ninh trật tự…

Chính quyền và các tổ chức xã hội biết rõ thực trạng trên nhưng các giải pháp để khắc phục hiện vẫn chưa có hiệu quả do biện pháp chưa thật sự phù hợp,

kể cả thiếu nhiệt tình của người thực hiện lẫn của giới chủ doanh nghiệp

Nghị Quyết TW Đảng số 20-NQ/TƯ “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” ban hành ngày 28/01/2008 có nêu rõ mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân đến năm 2020 là: “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân mạnh về

số lượng và nâng cao về chất lượng, giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân” Trong đó nhấn mạnh: “Xây dựng giai cấp công nhân có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có ý thức pháp luật cao, phát huy truyền thống tốt đẹp, tiêu biểu cho tinh hoa văn hoá của dân tộc; có lòng tự hào và tự tôn dân tộc, có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết và hợp tác quốc tế; có đủ năng lực lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam”

Trang 9

Góp phần thực hiện chủ trương này của Đảng có sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông đại chúng (TTĐC) trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Trong đó, đài Phát thanh - Truyền hình (PT-TH)Tiền Giang, báo

Ấp Bắc, Ấp Bắc điện tử là kênh cung cấp thông tin, kiến thức, giáo dục, giao lưu, truyền tải những giá trị văn hóa đến công nhân lao động (CNLĐ) Tiền Giang Qua đó, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho họ, tham gia và tạo điều kiện giúp CNLĐ sử dụng thời gian rỗi hợp lý, đáp ứng nhu cầu cân bằng trạng thái tâm lý để tái sản xuất sức lao động

Tuy nhiên trên thực tế, báo chí Tiền Giang dành riêng cho đối tượng công nhân còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thông tin của CNLĐ tỉnh nhà Do đó, chưa thu hút được sự quan tâm của họ đối với các sản phẩm báo chí (SPBC) Nguyên nhân của thực trạng này là do các cơ quan báo chí Tiền Giang chưa chú trọng đúng mức đối với việc nghiên cứu, nhận diện nhóm công chúng CNLĐ trên địa bàn tỉnh

Để có được những kết quả thực tế về tính hiệu quả của SPBC, cần có những công trình nghiên cứu, đánh giá thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng hiện nay như thế nào, từ đó, nắm bắt những thông tin cần thiết nhằm giúp các cơ quan thông tin tuyên truyền có sự điều chỉnh hợp lý

Xuất phát từ đòi hỏi đó, tác giả lựa chọn vấn đề "Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân Tiền Giang hiện nay" làm đề tài luận văn với hy vọng góp phần vào việc nâng cao

hiệu quả thông tin tuyên truyền của báo chí Tiền Giang tác động vào nhóm công chúng này ở Tiền Giang và các tỉnh lân cận

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận của công chúng là một vấn đề mang tính cấp bách Từ đó, có thể nắm bắt sự biến động của công chúng báo chí, nắm được nhu cầu và điều kiện tiếp nhận SPBC để kịp thời điều chỉnh nội dung, phương thức truyền tải thông tin, không ngừng cải tiến

Trang 10

nội dung và hình thức SPBC, nhằm đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện nhiệm vu tuyên truyền Thực tế, công tác nghiên cứu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận SPBC ở nước ta còn chưa thường xuyên, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn xã hội đặt ra, song cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan nhất định về vấn đề này

Năm 1999, trung tâm Nghiên cứu Dư luận xã hội, Ban Tư tưởng - Văn

hóa Trung ương đã tiến hành cuộc điều tra “Về định hướng xem truyền hình”

ở Việt Nam tại 24 tỉnh thành trong cả nước với 3.475 phiếu điều tra cá nhân Cuộc điều tra này tập trung tìm hiểu hành vi xem truyền hình của công chúng, nhằm phục vụ trực tiếp một số yêu cầu cải tiến chất lượng nội dung chương trình và kỹ thuật của đài truyền hình Việt Nam Đến năm 2002, Trung tâm lại

tiến hành một cuộc điều tra “Thăm dò dư luận khán giả đài truyền hình Việt

Nam” tại 19 tỉnh với 2.920 phiếu Cuộc điều tra này cung cấp nhiều số liệu cơ

bản về nhu cầu, thị hiếu, định hướng và thói quen xem truyền hình của các tầng lớp nhân dân Đánh giá ưu điểm, hạn chế của các chương trình truyền hình, thái độ của khán giả đối với các chương trình truyền hình, từ đó, nêu một số kiến nghị đối với đài truyền hình Việt Nam

Năm 2001, Trung tâm Đào tạo PT-TH thuộc Đài truyền hình Việt

Nam đã thực hiện “Nghiên cứu khán giả truyền hình Việt Nam” tại 5 tỉnh với

2.004 phiếu Đề tài đưa ra mức độ xem truyền hình của các nhóm công chúng phân theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp…đối với các chương trình và chuyên mục của đài truyền hình Việt Nam và các đài truyền hình địa phương

Trang 11

đánh giá chất lượng, nguyện vọng và đề xuất của thính giả Đến năm 2005,

Đài Tiếng nói Việt Nam tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học“Một số

giải pháp nâng cao công tác điều tra thính giả của Đài Tiếng nói Việt Nam”

Đề tài đã tổng kết công tác điều tra thính giả của đài từ năm 1989 đến năm

2005, đồng thời tiến hành điều tra 1.468 thính giả nhằm xác định nhóm thính giả của chương trình Hệ Thời sự - Chính trị tổng hợp, từ đó, đưa ra những thông tin giúp đài cải tiến và nâng cao chất lượng chương trình

Năm 1998, Trần Hữu Quang tiến hành bảo vệ Luận án Tiến sĩ Xã hội

học "Truyền thông đại chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí

Minh” Luận án là công trình mang tính đại diện và nghiên cứu công chúng

truyền thông, mức độ và cách thức tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân thành phố Hồ Chí Minh, phân tích tương quan giữa đọc báo, xem truyền hình và nghe đài phát thanh, "các trục nội dung thường được theo dõi", "các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng", "sự tác động của một số nhân tố", những luận giải khoa học từ kết quả điều tra xã hội học

Sách“Phương pháp điều tra thính giả” năm 2003 của Đài Tiếng nói

Việt Nam tập hợp một số chuyên luận của Nguyễn Đình Lương, Nguyễn Văn Dững, Dương Xuân Sơn, Phạm Chiến Khu vừa nêu rõ vai trò của điều tra

dư luận xã hội, dư luận thính giả, vừa đề cập một số vấn đề về công chúng, lý luận về phương pháp và ngôn ngữ điều tra thính giả

Ở công trình “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” năm 2006,

Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội do tác giả Nguyễn Văn Dững chủ biên, với phương pháp tiếp cận hệ thống, các tác giả đề cập vấn đề nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trong mối quan hệ một chu trình truyền thông, phân tích nội dung của nghiên cứu ban đầu về công chúng, gồm ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu

Bàn luận về công chúng báo chí - truyền thông trên bình diện lý thuyết

xã hội học công chúng, tác giả Mai Quỳnh Nam có nhiều bài viết về lý luận

Trang 12

và tác động của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội Cụ thể là các bài nghiên cứu: “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” - Tạp chí XHH

số 1 năm 1996, “Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng” - Tạp chí XHH số 2 năm 2000, “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng” - Tạp chí XHH số 4 năm 20001, “Xã hội hóa và truyền thông đại chúng” - Tạp chí nghiên cứu con người số 6 năm 2010…

Công trình” Xã hội học báo chí” của Trần Hữu Quang năm 2006

nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ thống, trực tiếp về lĩnh vực xã hội học báo chí ở nước ta Tác giả trình bày có hệ thống cách tiếp cận xã hội học đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề báo, những quan điểm và phương pháp nghiên cứu xã hội học về công chúng và nội dung truyền thông về ảnh hưởng xã hội của TTĐC

Năm 2008, Trần Bảo Khánh tiến hành bảo vệ Luận án Tiến sĩ Truyền

thông đại chúng với đề tài “Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam giai

đoạn hiện nay” Luận án mô tả các đặc điểm của công chúng truyền hình Việt

Nam, đưa ra dự báo về sự thay đổi đặc điểm của công chúng trong thời gian tới Đồng thời, luận án đã đưa ra một số vấn đề mang tính khả thi để điều chỉnh chiến lược phát triển của truyền hình Việt Nam nhằm thích ứng với đặc điểm công chúng và nâng cao chất lượng chương trình phù hợp với các đòi hỏi của xã hội

Cũng trong năm 2008, Trần Bá Dung đã bảo vệ Luận án Tiến sĩ với đề

tài “Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội” Luận án

mô tả nhu cầu và mô thức tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, đồng thời, chỉ ra những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận này.Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án dự báo một số xu hướng vận động của nhu cầu và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động báo chí

Trang 13

Luận văn cao học Báo chí của Nguyễn Tôn Hoàn (2011) "Nghiên cứu

công chúng báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ qua Báo Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và Bình Dương (2007-2010)” Tác giả đi sâu nhận diện công

chúng của các tờ báo Đảng miền Đông Nam Bộ với những ưu thế lẫn hạn chế

Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công chúng và sự phát triển của báo Đảng trước sự tác động mạnh mẽ của truyền thông internet

Gần đây nhất là Luận văn Cao học Báo chí của Nguyễn Thị Bích Phú

(2014) “Báo in Đồng Nai và công chúng công nhân lao động tại các khu

công nghiệp Đồng Nai” Tác giả luận văn này đi sâu bàn luận về mối quan hệ

hai chiều giữa báo chí truyền thông và nhóm công chúng CNLĐ nói chung cũng như riêng về báo in Đồng Nai và công chúng CNLĐ tại các khu công nghiệp Đồng Nai Từ đó, đưa ra những giải pháp cho báo in Đồng Nai nhằm thu hút công chúng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Như vậy, tính đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu cụ thể về việc tiếp nhận các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như nhu cầu giải trí của công chúng công nhân tỉnh Tiền Giang thông qua các sản phẩm báo chí Tiền Giang Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước, cung cấp thêm một số hệ thống luận cứ để đánh giá đúng thực trạng về nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công nhân lao động hiện nay như thế nào? Từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp khả thi để xây dựng các SPBC phù hợp và hiệu quả đối với công chúng công nhân

trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận văn nhằm tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng về nhu cầu, điều kiện tiếp nhận của công chúng công nhân ở Tiền Giang đối với các SPBC địa phương Từ đó, nhận diện rõ ưu, nhược điểm của các SPBC Tiền Giang xét từ góc nhìn của công chúng truyền thông và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao

- Đưa ra được giải pháp khả thi giúp các cơ quan báo chí Tiền Giang xây dựng được các SPBC dành cho đối tượng công chúng công nhân trên địa bàn Tiền Giang và các tỉnh lân cận

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các SPBC địa phương của công chúng

công nhân Tiền Giang

Trang 15

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở phương pháp luận tiếp cận đối tượng là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về báo chí, về giai cấp CNLĐ; cơ sở lý luận báo chí học, xã hội học về lý thuyết truyền thông;

lý thuyết công chúng và nghiên cứu công chúng báo chí - truyền thông;

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Qua thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp như:

- Phương pháp điều tra xã hội học, thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thập thông tin từ phía công chúng công nhân về nhu cầu và điều kiện đã được đáp ứng và cần được đáp ứng trong việc tiếp nhận các SPBC

- Phương pháp phỏng vấn sâu, thực hiện với 10 đối tượng theo phương pháp nghiên cứu định tính (cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhà báo và công chúng công nhân trên địa bàn) để tìm hiểu sâu về những nhu cầu khác không thể hiện trong bảng hỏi

6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần hệ thống hoá những nhận thức lý luận về vai trò của báo chí với công chúng công nhân, nắm bắt đặc điểm về nhu cầu và khả năng tiếp nhận các SPBC của đối tượng công chúng này Qua đó, tổng kết những kinh nghiệm, tìm kiếm những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của các SPBC

6.2 Giá trị thực tiễn

Luận văn là công trình khoa học đề cập một cách có hệ thống về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận SPBC của công chúng công nhân Những cứ liệu trong luận văn có thể được khai thác, tham khảo làm cơ sở cho các cơ quan báo chí, các cơ quan lãnh đạo, quản lý, nhất là công tác tư tưởng trong việc xây dựng tổ chức nội dung tuyên truyền, xây dựng phương thức đáp ứng tốt

Trang 16

hơn nhu cầu tiếp nhận và cải thiện điều kiện tiếp nhận SPBC của công chúng công nhân

Đề tài nghiên cứu tạo thêm một góc nhìn góp phần tham mưu cho Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan chủ quản của các cơ quan báo chí tại Tiền Giang trong công tác chỉ đạo, định hướng, hỗ trợ tạo điều kiện tốt nhất để các cơ quan báo chí Tiền Giang làm tốt hơn nhiệm vụ góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân tỉnh nhà nói chung và công chúng CNLĐ nói riêng

7 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài đưa ra kết quả khảo sát công chúng báo chí mà cụ thể là công chúng công nhân Tiền Giang; góp phần hệ thống hóa những lý luận về vai trò báo chí và nắm bắt đặc điểm về nhu cầu, điều kiện tiếp nhận và ý kiến đánh giá của CNLĐ đối với từng loại hình báo chí địa phương

- Luận văn đưa ra những giải pháp cụ thể cho từng loại hình báo chí ở Tiền Giang, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng các SPBC để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của công chúng CNLĐ tại Tiền Giang

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 2: Thực trạng nhu cầu và điều kiện tiếp nhận báo chí địa

phương của công chúng công nhân Tiền Giang

Chương 3: Thành công, hạn chế của báo chí Tiền Giang và những giải

pháp nâng cao chất lượng báo chí Tiền Giang

Trang 17

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), nghĩa của báo chí là

“Báo và tạp chí; xuất bản phẩm định kỳ” (nói khái quát) [43, tr.54] Còn theo

Khái niệm báo chí nhìn từ quan điểm hệ thống, “Khái niệm báo chí được hiểu

như một thiết chế, một chỉnh thể từ ý đồ của quyền lực chính trị đến đối tượng tác động và các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp (quan hệ xuôi, ngược) phức tạp trong tiến trình vận động của nó”

Khái niệm báo chí được định nghĩa trên ba phương diện: Báo chí là một trong những hệ thống xã hội (định danh), Báo chí là một hoạt động chính trị - xã hội (định tính) và Báo chí là thứ vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh chính trị… tác động vào xã hội để tạo ra sự can thiệp gián tiếp vào đời sống chính tri, tham gia vào việc hình thành các khuynh hướng, các phong trào

chính trị - xã hội (mục đích) Ở khía cạnh khác, báo chí được định nghĩa: “Đó

là những sản phẩm TTĐC chuyển tải thông tin mang tính thời sự thông qua phương pháp hiện thực khách quan, trực tiếp và tác động vào công chúng xã hội theo định kỳ”

Trong luận văn này khái niệm báo chí được sử dụng với nghĩa là sản

phẩm của hoạt động báo chí để khảo sát sự tiếp nhận của công chúng và báo chí là một hệ thống xã hội, một thiết chế, một hoạt động chính trị - xã hội để xem xét mối quan hệ của báo chí với các thiết chế khác trong đời sống xã hội

và mối quan hệ tương tác hai chiều với công chúng

Các loại hình báo chí đề cập trong luận văn này gồm: báo in, báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình) và báo mạng điện tử

Trang 18

* Sản phẩm báo chí

Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, sản phẩm có nghĩa là cái do con người tạo ra [43, tr.1427] Như vậy, nói đến sản phẩm tức là đề cập một

vật, một việc đã trải qua quá trình biến đổi, vận động hoặc lao động nhất định

để trở nên hoàn chỉnh Trong lĩnh vực báo chí, người ta thường dùng từ sản

phẩm báo chí để chỉ những tác phẩm báo chí đã được hoàn thiện của các kênh

TTĐC, sau đó đem đi in (đối với báo in), phát sóng (đối với phát thanh và truyền hình) hoặc đưa lên mạng (đối với báo mạng điện tử) để đến với công chúng

Như vậy, một bài báo, một chương trình phát thanh, một chương trình truyền hình chỉ được coi là SPBC thực sự khi nó là những tác phẩm báo chí được phát hành hoặc được phát sóng (tức là đã được xã hội hóa thông tin) SPBC chỉ tồn tại có ý nghĩa trong mối quan hệ nhà báo - SPBC - công chúng

1.1.2 Công chúng báo chí - Công chúng công nhân

* Công chúng báo chí

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Công chúng là đông đảo những người đọc,

xem, nghe, trong quan hệ với tác giả, diễn viên… (nói tổng quát)” [43, tr.217]

Mai Quỳnh Nam (1996, 2001), khi bàn về TTĐC và dư luận xã hội có gián tiếp chỉ ra nội hàm của khái niệm công chúng khi ông dùng “nhóm công chúng” như là đối tượng “lan truyền thông tin” của báo chí [37, tr.3], hoặc định nghĩa trực tiếp “Công chúng: người được cung cấp thông tin (người nhận)”, “Công chúng báo chí là một tập hợp xã hội rộng lớn, thậm chí ở họ không có mối liên hệ nào…”

Trần Hữu Quang (1998, 2006) cho rằng khái niệm công chúng có những đặc trưng sau: “Tính chất quảng đại (đông đảo), tính chất không đồng nhất (bao gồm rất nhiều giới và tầng lớp khác nhau), và tính nặc danh (một mặt các nhà truyền thông không thể biết đích xác công chúng của mình gồm những ai)” Ông cũng cho rằng “Không nên quan niệm công chúng như một đối tượng nghiên cứu thuần nhất hay đồng dạng…, cũng không thể coi đó như

Trang 19

là một tập hợp bao gồm những cá nhân đơn lẻ và rời rạc nhau Công chúng là một tập hợp xã hội được cấu thành một cách phức tạp… và mỗi người đều đang sống trong những mạng lưới xã hội và những mối quan hệ xã hội nhất định” [48, tr.276]

Nguyễn Văn Dững (Báo chí và Dư luận xã hội - 2011) cho rằng:

“Công chúng báo chí là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà cơ quan báo chí hay SPBC (số báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình) hướng vào để tác động (và trực tiếp hay gián tiếp chịu sự tác động của báo chí) nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình” Khi xem xét báo chí trong chu trình truyền thông, nghiên cứu công chúng được coi là một khâu công việc cơ bản bởi vai trò đặc biệt quan trọng của nó: “Công chúng không chỉ là đối tượng tác động, đối tượng chi phối, điều chỉnh mà còn

là lực lượng xã hội quyết định vai trò vị thế xã hội của sản phẩm báo chí - truyền thông Sức mạnh của tờ báo, của sản phẩm truyền thông trước hết thể hiện ở sức mạnh của công chúng, của dư luận xã hội mà nó tạo ra”

Từ những góc nhìn trên cho thấy, công chúng báo chí truyền thông là một thực thể rất phức tạp Việc nghiên cứu công chúng đòi hỏi phải có cái nhìn tổng hợp, toàn diện và đặt đối tượng nghiên cứu trong môi trường văn hóa - xã hội cụ thể Bên cạnh đó, tùy theo đặc điểm của mỗi loại hình báo chí

mà có thể xác định những khác biệt của từng loại công chúng Chẳng hạn như với báo in, công chúng là bạn đọc (độc giả); với báo phát thanh, công chúng

là người nghe (thính giả); với báo truyền hình, công chúng là người xem (khán giả); riêng báo mạng điện tử (Internet) được xem là loại hình đa phương tiện

* Công chúng công nhân

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, công nhân là “Người lao

động (thường là lao động chân tay) làm việc dựa vào sự thu nạp nhân công

Trang 20

của chủ tư liệu sản xuất công nghiệp hoặc của nhà nước, còn bản thân họ không chiếm hữu tư liệu sản xuất” [43, tr.457]

Xét trong mối quan hệ công chúng - tác giả - tác phẩm thì công nhân

là một nhóm xã hội tương đối rộng lớn, vừa là chủ thể tiếp nhận các SPBC, vừa là đối tượng mà báo chí khai thác đề tài

Trong luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu về nhu cầu, điều kiện tiếp nhận và ý kiến đánh giá của công chúng công nhân Tiền Giang đối với các SPBC địa phương Từ đó nhận diện rõ những ưu, nhược điểm của các SPBC Tiền Giang xét từ góc nhìn của công chúng truyền thông và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các SPBC

1.1.3 Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận SPBC

*Nhu cầu

Theo nghĩa của từ, nhu là cần thiết, cầu là đòi hỏi, mong muốn Sự đòi

hỏi, mong muốn ấy xuất hiện do chủ thể cảm giác thấy cơ thể thiếu hụt một cái gì đó rất cần thiết cho sự sinh tồn Cảm giác ấy thúc đẩy con người đến những hành vi nào đó, để có thể thỏa mãn sự thiếu thốn đang diễn ra nhằm duy trì sự cân bằng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển Ví dụ, cảm giác đói, khát thôi thúc động vật đi tìm thức ăn, nước uống và hoạt động ăn, uống diễn ra Nhu cầu có cơ sở sinh vật của chúng, do vậy, chắc chắn có một phạm vi mà trong đó các nhu cầu có thể thừa nhận một cách khách quan Ví dụ, để sống còn và lao động con người phải có ăn, uống, phải có quần áo mặc, phải có chỗ ở,…và bất cứ nơi nào, thời kỳ nào của lịch sử đều phải như vậy, dù thức ăn,

đồ uống, quần áo mặc, nhà ở có khác đi thế nào chăng nữa

Tuy nhiên không phải từ cơ sở sinh vật của nhu cầu mà cho rằng nhu cầu là cái nhất thành bất biến trong bản chất con người, coi nhu cầu là biểu hiện của bản tính người tồn tại nguyên dạng từ đời này qua đời khác Thời tiền sử, để thỏa mãn cái no, con người chỉ biết dùng săn bắn, hái lượm; để

Trang 21

thỏa mãn cái ấm, con người chỉ biết dùng vỏ cây, lá cây đắp lên thân thể Theo tiến hóa, con người lao động để sản sinh ra vật chất đáp ứng nhu cầu của mình; trồng lúa, ngô, khoai, mì, đỗ, lại,…chế biến thành cơm, bánh,…; nuôi heo, gà, cá, trâu, bò,…để có thức ăn giàu chất dinh dưỡng; trồng bông, nuôi tơ

để chế tạo vải, tơ, len, dạ; khai thác quặng để phát triển công nghiệp;…Như vậy, con người càng phát triển thì càng phát sinh những nhu cầu mới so với thời tiền sử Ngày nay, con người có rất nhiều nhu cầu mà trước đây chưa có như: tham gia giao thông bằng động cơ (xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay,…); giao tiếp bằng công nghệ thông tin hữu tuyến, vô tuyến, xem tivi, phim ảnh, nhu cầu sử dụng máy tính, internet, điện thoại di động,…

Chính vì lẽ đó, khó có thể định nghĩa chung nhất về nhu cầu, tức là một định nghĩa bao trùm cả tính sinh vật và tính xã hội của nhu cầu

Abraham Maslow (1908-1966) đại diện phái tâm lý học nhân văn đã đưa ra những quan điểm tiến bộ về bản tính con người: “Bản tính có ý thức, là nhu cầu bậc cao chư không phải là những bản năng tính dục,…và với sự phân cấp nhu cầu, ông cho rằng việc thỏa mãn các nhu cầu từ thấp đến cao là cơ sở

để con người càng văn minh, thoát xa các loài vật” [19, tr.8] Ông đã phân chia nhu cầu tịnh tiến theo nấc thang từ thấp đến cao, phục thuộc vào mức độ thiết yếu của nó: nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu

uy tín và nhu cầu tự hoàn thiện Đây là một cách phân loại phổ biến và được công nhận rộng rãi trong khoa học

Trang 22

Theo đó:

- Nhu cầu sinh lý là nhu cầu cơ bản cấp thiết nhất Con người trước hết phải được đáp ứng nhu cầu sinh học rồi mới có thể quan tâm đến các nhu cầu tiếp theo;

-Nhu cầu an toàn là nhu cầu ai cũng mong muốn ai cũng mong muốn trong cuộc sống, ai cũng mong muốn được an toàn, yên ổn, không bị chi phối bởi những đe dọa, bất trắc Đáp ứng được nhu cầu an toàn, con người mới thực sự an tâm để thực hiện các hoạt đông sống của mình;

-Nhu cầu xã hội đáp ứng được nhu cầu tham gia các quan hệ xã hội và thực hiện các hoạt động xã hội Bởi, một lẽ rất đương nhiên rằng, con người sống và làm việc không thể tồn tại một cách đơn lẻ được;

-Nhu cầu tôn trọng là nhu cầu tiệm tiến mà con người luôn mong muốn Khi tham gia vào các hoạt động xã hội, con người luôn mong muốn thành công, có uy tín, được xã hội tôn trọng;

Trang 23

-Nhu cầu tự thể hiện là sự chủ động thực hiện quá trình xã hội hóa; tự ý thức để điều chỉnh hành vi với mục đích hoàn thiện nhận cách; tự học hỏi, khám phá, tìm hiểu để nâng cao kiến thức của mỗi cá nhân…

Nhu cầu là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là đối tượng nghiên cứu của triết học, sinh vật học, tâm lý học, kinh tế học, xã hội học,…Trong luận văn này, nhu cầu được xem xét như là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực xã hội học

Đại Bách Khoa Toàn Thư Liên Xô giải thích về nghĩa chung nhất của

nhu cầu là: “Sự cần thiết hay thiếu một cái gì đó cần thiết để duy trì hoạt động sống của cơ thể, của con người cá nhân, của một tập đoàn xã hội, của toàn bộ

xã hội” [2, tr.3] Theo Từ điển tiếng Việt, nhu cầu là: “Điều đòi hỏi của đời

sống, tự nhiên và xã hội” [21, tr.719] Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin đã phân biệt hai loại nhu cầu: Những nhu cầu tự nhiên và những nhu cầu do xã hội tạo ra C.Mác thường xuyên nhấn mạnh “Tính chất xã hội chung của tất cả các dạng nhu cầu cá nhân và xã hội” [5, tr.9]

Mác-Có thể khái quát về khái niệm nhu cầu là: điều cần thiết để tồn tại và phát triển, nếu được thỏa mãn thì dễ chịu, nếu thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳn Có nhu cầu riêng của cá nhân, có nhu cầu riêng của tập thể, khi hòa hợp, khi mâu thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi Cho nên, cần phải xác định

rõ những tiêu chuẩn sinh lý, xã hội, tâm lý để phân biệt những nhu cầu xác đáng với những ham muốn, đòi hỏi quan trọng và không quan trọng

Con người có nhiều loại nhu cầu khác nhau ở nhiều phương diện: Nhu cầu bản năng sinh tồn, nhu cầu tình cảm, nhu cầu tâm linh, nhu cầu văn hóa tinh thần…Nhu cầu của con người mang tính tự nhiên nhưng đồng thời cũng mang tính xã hội Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về cả vật chất và tinh thần của con người ngày càng cao Nhu cầu cũ được đáp ứng, nhu cầu

Trang 24

mới lại nảy sinh Như vậy, có thể khẳng định: Nhu cầu là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển

Từ cơ sở trên, khái niệm nhu cầu tiếp nhận được sử dụng trong luận văn này được hiểu là thuộc loại nhu cầu xã hội Luận văn chú ý đến các bình diện của nhu cầu và mục đích của nhu cầu, việc sử dụng trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá; nhất là trong khâu xây dựng bộ câu hỏi điều tra xã hội học và khâu phân tích, dự báo nhu cầu tiếp nhận SPBC Các bình diện của nhu cầu gồm có: nhu cầu đã được đáp ứng, nhu cầu chưa được đáp ứng, nhu cầu tiếp nhận để phát thông tin

*Điều kiện tiếp nhận SPBC

Thuật ngữ “điều kiện” thường được dùng để chỉ những vấn đề:

- Cái cần phải có để cho một cái khác có thể hoặc có thể xảy ra

- Điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó

- Những gì có thể tác động đến tính chất và sự tồn tại hoặc sự xảy ra của một cái gì đó [53, tr.409]

Như vậy, theo cách hiểu trên, điều kiện tiếp nhận SPBC là tất cả các yếu tố vật chất và tinh thần cần phải có, như một đòi hỏi bắt buộc để quá trình tiếp nhận SPBC được thực hiện ở một cá nhân hay một nhóm xã hội nào đó

Nó tác động đến tính chất và hiệu quả (có hay không, tốt hay xấu…) tiếp nhận SPBC của công chúng Trong các yêu tố thuộc tâm lý tiếp nhận thể hiện trực tiếp nhất là điều kiện kinh tế - xã hội của con người, tính dân chủ của chế độ

xã hội, ý thức và nhu cầu của công chúng đối với các sản phẩm truyền thông

Vì vậy, điều kiện tiếp nhận SPBC cũng mang đặc điểm lịch sử, xã hội

Trong việc tiếp nhận SPBC, có hai loại điều kiện đó là điều kiện vật chất - kỹ thuật và điều kiện tâm lý - xã hội Cụ thể:

-Điều kiện vật chất - kỹ thuật: bao gồm các điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về kinh tế, phương tiện, thiết bị cần có để công chúng công nhân có

Trang 25

thể thực hiện được các hành vi đọc báo, tạp chí, nghe đài, xem truyền hình, truy cập mạng internet Tất cả những cơ chế nhằm sử dụng các cơ sở vật chất nói trên để công chúng công nhân có thể (hoặc khó có thể) mua, mượn, thuê

để tiếp nhận SPBC đều được quy vào nhóm các điều kiện vật chất

-Điều kiện tâm lý - xã hội: bao gồm ý thức, trình độ, lứa tuổi, giới tính của công chúng công nhân với việc tiếp nhận SPBC Đây là yếu tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng và hoạt động tiếp nhận SPBC của công chúng công nhân Một người có thái độ tự giác cầu thị, có nhu cầu tìm hiểu, nắm bắt SPBC một cách tự giác thì việc tiếp nhận các thông tin ấy sẽ trở nên đơn giản

và hiệu quả rất nhiều so với một người báo cáo viên buộc phải nắm bắt thông tin để thực thi nhiệm vụ được giao

Sống trong xã hội phát triển hiện nay, sự thay đổi của khoa học kỹ thuật được tính bằng từng giờ, từng ngày nên việc tiếp nhận thông tin và các tri thức để phục vụ công việc và đời sống là nhu cầu thiết yếu của CCCN Các SPBC dù có phong phú, nóng hổi đến đâu nhưng CCCN không muốn tiếp nhận, không chủ động tiếp nhận, không chuẩn bị tâm lý sẳn sàng tiếp nhận, thì điều kiện vật chất dù có thuận lợi, đầy đủ thế nào cũng không phát huy công dụng của mình Có thể nói, điều kiện tinh thần (chủ quan) là yếu tố quyết định việc tiếp nhận SPBC nhiều hay không nhiều, hiệu quả hay không hiệu quả

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, vật chất quyết định ý thức và ý thức có sự tác động trở lại vật chất Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng Do đó, trong việc tiếp nhận các SPBC của công chúng công nhân thì điều kiện vật chất chỉ phát huy tối đa vai trò khi và chỉ khi công chúng công nhân đã chủ động chuẩn bị sẳn sàng tâm thế trong việc tiếp nhận các SPBC đó

Trang 26

Nội dung tiếp nhận chủ yếu đối với các SPBC là những vấn đề tiêu biểu, thông tin sát hợp với nhu cầu, lợi ích, nghề nghiệp và tâm lý thị hiếu của công chúng công nhân; ngoài việc công chúng công nhân tự xác định thì rất cần sự định hướng trong những lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm, mang tính sâu

xa mà họ chưa hiểu hết ý nghĩa vấn đề khi tiếp nhận nội dung ấy

Hiệu quả tiếp nhận SPBC thể hiện ở sự nắm bắt thông tin, kinh nghiệm,

sự hiểu biết, phạm vi lan truyền và khả năng tác động vào hệ thống hành vi xã hội sau khi các thông tin báo chí được công chúng tiếp thu Đó còn là sự phản hồi tạo ra sự điều chỉnh của hệ thống TTĐC, các sản phẩm cụ thể, có khi là sự biến đổi của cơ chế tác động nhằm tạo ra các hình thức ngày càng phù hợp với quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng công nhân

Hoạt động tiếp nhận SPBC là yếu tố trực tiếp tham gia vào việc hình thành, cũng cố, hoàn thiện và cũng là nguyên nhân của sự biến đổi nhân cách con người thể hiện trực diện và rõ nét nhất thông qua hoạt động, điều khiển

xu hướng quy định tính chất của hoạt động

Các thao tác được lặp đi lặp lại nhiều lần (bao gồm cả bắt chước) sẽ dần thành nền nếp nền nếp được hình thành là cơ sở phát sinh các hành vi có tính chủ động Hành vi tiếp nhận SPBC cũng có cơ chế hình thành và cách thức biểu hiện như vậy Do đó, công chúng công nhân có thể rèn luyện được trên cơ sở phương pháp hợp lý để hình thành kỹ năng tiếp nhận SPBC Nền nếp tiếp nhận SPBC sẽ tạo ra các hành vi mang tính chủ động, từ đó làm giảm

sự thụ động Đồng thời với hiện tượng này là sự giảm đáng kể việc lãng phí thời gian, hạn chế tính ngẫu nhiên của công chúng công nhân khi tiếp nhận SPBC

*Mối liên hệ giữa nhu cầu và điều kiện tiếp nhận SPBC

Giữa nhu cầu và điều kiện tiếp nhận SPBC có sự liên hệ và tương tác qua lại chặt chẽ với nhau Có nhu cầu mà không hội tụ được điều kiện lý

Trang 27

tưởng thì nhu cầu khó có thể được đáp ứng kịp thời và đầy đủ; có điều kiện

mà không nảy sinh nhu cầu thì điều kiện dù có tốt đến mấy cũng trở thành vô nghĩa

Trong cơ chế thị trường, những biến động thường xuyên của xã hội đối với các vấn đề lao động, việc làm, ngành nghề, các mô hình kinh tế, kinh doanh, dịch vụ…đã được đa số công chúng công nhân nắm bắt một cách nhạy bén, điều hòa mối quan hệ của mình một cách phù hợp với những hiện tượng mới xuất hiện tác động vào môi trường nên phải nắm bắt thông tin và tích cực khi tiếp nhận SPBC Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, khả năng thích ứng xã hội trở thành một đòi hỏi tất yếu đối với toàn xã hội nói chung, công chúng công nhân nói riêng

Như vậy, theo quan điểm của duy vật biện chứng, mối quan hệ giữa nhu cầu và điều kiện tiếp nhận SPBC là quan hệ biện chứng Trong hoạt động tiếp nhận SPBC của công chúng công nhân cũng như bất kỳ hoạt động nào khác của con người, nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì các hoạt động khó trở nên hoàn chỉnh và có tính hệ thống, đồng thời hiệu quả tiếp nhận sẽ hạn chế Có nhu cầu nhưng không có hoặc không đủ điều kiện đáp ứng thì nhu cầu sẽ đi chệch hướng hay sẽ bị thoái hóa Vấn đề đặt ra là, cần cải thiện điều kiện để có thể thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận SPBC, rút ngắn khoảng cách giữa nhu cầu và điều kiện tiếp nhận Đó chính là mâu thuẫn cần giải quyết nhằm nâng cao chất lượng, đời sống văn hóa, tinh thần của công chúng công nhân

1.2 Vai trò của công chúng báo chí

Tác giả Nguyễn Văn Dững (Báo chí và Dư luận xã hội - 2011) cho

rằng: “Công chúng là những người cùng trong phạm vi tác động và chịu ảnh hưởng (trực tiếp hay gián tiếp) của cơ quan báo chí, thông qua SPBC hay nhà báo” [14, tr.179] Do vậy nếu không có công chúng thì SPBC coi như không

Trang 28

có tác dụng (vì báo in không có người đọc; chương trình phát thanh-truyền hình phát sóng không có người nghe, người xem)

SPBC là cầu nối giữa công chúng với nhà báo và cơ quan báo chí Những vấn đề xảy ra trong thực tiễn xã hội tác động đến nhà báo, hoặc chính bản thân nhà báo nắm rõ thực tiễn và nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng, ý đồ thông tin của tòa soạn để làm ra những SPBC phù hợp Chủ tịch

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở người làm báo cách mạng phải tự đặt câu hỏi:

“Viết cái gì, viết cho ai, viết để làm gì?” sau đó mới đến “Viết như thế nào?” Trong mối quan hệ này, nhà báo giống như người đầu bếp, luôn hướng tới nhu cầu của khách hàng và đạt được lợi nhuận cao nhất Ở đây cần khẳng

định rõ lợi nhuận của báo chí chính là lợi ích chính trị - xã hội và lợi ích kinh

tế đạt được Muốn đạt được cả hai mục tiêu này thì báo chí phải gây được chú

ý và thu phục công chúng vào phạm vi ảnh hưởng của mình; đồng thời phải hình thành và hướng dẫn được dư luận xã hội thông qua các tác phẩm, ấn phẩm báo chí cụ thể

Cũng theo Báo chí và Dư luận xã hội của tác giả Nguyễn Văn Dững,

“Công chúng báo chí là đối tác của cơ quan báo chí, là nguồn cung cấp dữ liệu và nguồn nuôi dưỡng báo chí” [14, tr.181] Đây là yếu tố cơ sở quyết định sự tồn tại của các hoạt động báo chí Công chúng không chỉ là đối tượng tác động, đối tượng thuyết phục và lôi kéo mà còn là chủ thể tham gia tích cực trong các quá trình ấy Mặt khác, họ là lực lượng đánh giá, giám sát, cổ vũ và động viên mọi hoạt động báo chí Thực tế cho thấy nếu số lượng công chúng, nhóm đối tượng tham gia vào các SPBC càng nhiều thì uy tín và năng lực tác động của SPBC đó càng cao

Tác giả Nguyễn Văn Dững cũng cho rằng: “TTĐC cần phải được tổ chức theo hệ thống mở, để cho tất cả những ai có nhu cầu và điều kiện, đều có thể tham gia vào hoạt động của nó Hoạt động thực tiễn của nhân dân, sự quan

Trang 29

tâm của công chúng không chỉ là nguồn cổ vũ to lớn, mà còn là nguồn đề tài phong phú vô tận, là trường học đối với hoạt động báo chí”

Trong tư duy và hoạt động báo chí hiện đại, công chúng có vai trò và

vị thế đặc biệt quan trọng Mọi biểu hiện coi nhẹ hoặc xem thường công chúng sẽ tiềm ẩn những nguy cơ bất lợi về nhiều mặt, mà trực tiếp là năng lực

và hiệu quả tác động của báo chí sẽ suy giảm Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của công chúng và nhân dân đối với báo chí nói riêng, với công tác tư tưởng chính trị nói chung Vì thế, nghiên cứu công chúng là công việc

cơ bản không thể thiếu được của tất cả các cơ quan báo chí

1.3 Đặc điểm công chúng công nhân Tiền Giang

1.3.1 Vài nét về công nhân lao động ở Tiền Giang

Theo số liệu thống kê của Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Tiền Giang vào đầu năm 2015, trên trên địa bàn tỉnh có khoảng 5.000 doanh nghiệp đang hoạt động, giải quyết việc làm cho trên 145.000 CNLĐ Đa số CNLĐ ở tỉnh Tiền Giang được đánh giá là năng động, yêu nghề, có ý chí cầu tiến, không ngừng học tập nâng cao trình độ, có bản lĩnh chính trị vững vàng

và luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng

Số lượng thanh niên trong độ tuổi lao động (từ 18 đến 30 tuổi) ở nông thôn đổ về các khu, cụm công nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để làm việc ngày càng nhiều Với sức trẻ và được trang bị một trình độ văn hóa nhất định nên dễ thích nghi môi trường làm việc công nghiệp và không quá trở ngại khi tiếp cận với khoa học - công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch và gia tăng lao động trẻ từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của địa phương

Ngoài sự nỗ lực tự thân của CNLĐ, Nhà nước và doanh nghiệp cũng

có rất nhiều chính sách, biện pháp để hỗ trợ như: Xây dựng nhà ở cho công nhân; hỗ trợ tiền xăng; mở cửa hàng phục vụ giá ưu đãi, tăng tiền thưởng để

tăng thu nhập, cải thiện đời sống Nổi bật là chương trình Mái ấm Công đoàn;

Trang 30

thực hiện Đề án số 01/ĐA-LĐLĐ về xây dựng Khu nhà trọ công nhân tự quản

ở các khu - cụm công nghiệp; tổ chức chương trình Đón Tết cùng công nhân (vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm); tổ chức Tháng Công nhân vào tháng 5

hàng năm Các chương trình này đã mang lại hiệu quả rất tích cực

Tuy nhiên, cũng như ở những địa phương khác trong cả nước, đời sống vật chất và tinh thần của CNLĐ ở tỉnh Tiền Giang cũng còn gặp không ít khó khăn Hầu hết các doanh nghiệp ở Tiền Giang là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên sản xuất theo mùa vụ dẫn đến việc làm và thu nhập không ổn định Các doanh nghiệp lớn sử dụng nhiều lao động thì cũng tập trung ở các ngành: may mặc, gia công giày dép, chế biến thủy sản, sản xuất thức ăn chăn nuôi, điện - điện tử… Đặc thù của các ngành này là công nhân cũng ít gắn bó với doanh nghiệp, thường xuyên chuyển chỗ làm việc từ công ty này sang công ty khác (chủ yếu do mức thu nhập chênh lệch) Điều này dẫn đến tình trạng những doanh nghiệp nhỏ thường bị thiếu lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất

Một thực trạng nữa là phần lớn công nhân xuất thân từ lao động nông nghiệp Khi chuyển sang lao động công nghiệp, họ chưa được đào tạo nghề hoặc chỉ mới qua các lớp đào tạo nghề ngắn hạn nên trình độ tay nghề thấp.Thống kê của LĐLĐ tỉnh Tiền Giang cho thấy số công nhân có trình độ tay nghề cao, trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở lên chỉ chiếm khoảng 30%; còn lại là lao động phổ thông Những công nhân trong diện này

có thu nhập bình quân thấp Để có đủ tiền trang trải cuộc sống bắt buộc họ phải làm tăng ca, làm thêm giờ

Theo đánh giá của LĐLĐ tỉnh Tiền Giang, nhà ở cho công nhân chỉ mới đáp ứng khoảng 10% nhu cầu Có rất ít doanh nghiệp xây nhà ở cho công nhân như: Công ty Cổ phần thủy sản Hùng Vương, Công ty Cổ phần thủy sản

Gò Đàng, DNTN Huỳnh Chí Thành, Công ty Cổ phần Tex Giang, Công ty TNHH Quảng Việt, Công ty TNHH Đồng Hải Lượng, Công ty TNHH

Trang 31

TongWei Việt Nam… Sở dĩ các doanh nghiệp chưa xây dựng nhà ở cho công nhân là do không có quỹ đất, không có kinh phí Trong khi có các chính sách của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng nhà ở công nhân chưa hấp dẫn hoặc chính sách đó vẫn còn nằm ngăn kéo chứ chưa đi vào cuộc sống

Cũng theo báo cáo của LĐLĐ tỉnh Tiền Giang, tiền lương bình quân của công nhân năm 2014 là 3,425 triệu đồng/tháng; còn thu nhập bình quân của công nhân là 4,285 triệu đồng/tháng (bao gồm cả tiền làm tăng ca, tiền thưởng…) Với mức lương ít ỏi này công nhân phải rất tiết kiệm thì mới đủ trang trải cho hàng loạt khoản chi như: ăn uống, đi lại, tiền thuê nhà trọ, tiền điện, tiền nước, quần áo Với phần lớn công nhân, hưởng thụ văn hóa tinh thần, vui chơi giải trí, học tập, giao lưu… là những thứ bị coi là xa xỉ

Hầu hết các doanh nghiệp chỉ chú trọng hoạt động sản xuất, rất ít quan tâm đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho CNLĐ Cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao của CNLĐ tại các khu, cụm công nghiệp hoặc khu nhà ở công nhân chưa có nhiều Chỉ có một số ít doanh nghiệp tổ chức hội thao nội bộ, tổ chức các trò chơi, sinh hoạt văn nghệ vào các ngày kỷ niệm thành lập, ngày lễ, dịp cuối năm… Còn việc thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước càng ít được doanh nghiệp quan tâm

1.3.2 Vai trò của báo chí Tiền Giang đối với công chúng công nhân

Báo chí có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ đã khẳng định, báo chí là công cụ và là vũ khí sắc bén, lợi hại nhất, nhanh nhạy nhất để tuyên truyền, vận động và tập hợp quần chúng

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng là công cụ hữu hiệu trong việc tuyên truyền, giáo dục làm thay đổi nhận thức, hành vi tiến tới xã hội hóa con người Nếu biết khai thác hợp lý lợi thế này, báo chí không chỉ phát huy hiệu quả tuyên truyền mà còn mở ra

Trang 32

con đường giúp thực hiện thành công chiến lược xây dựng đời sống văn hóa tinh thần, thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực

Thời gian qua các cơ quan báo chí Tiền Giang đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện tôn chỉ, mục đích hoạt động, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của đông đảo công chúng Báo chí phản ánh đa chiều mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện tốt các chức năng thông tin, tư tưởng, giáo dục, văn hóa, giải trí và định hướng dư luận

Điều đáng ghi nhận là các cơ quan báo chí rất quan tâm đến việc xây dựng các chuyên trang, chuyên mục dành riêng cho nhóm đối tượng công chúng là CNLĐ Các chủ trương, chính sách liên quan đến CNLĐ được thể

hiện khá nhiều trên các SPBC Nếu như ở báo Ấp Bắc có chuyên trang Công

Đoàn và Người lao động định kỳ 1 lần/tháng thì đài PT-TH Tiền Giang có

chuyên mục Người lao động phát sóng 2 kỳ/tháng trên sóng truyền hình và chương trình Phát thanh công nhân phát sóng hàng tuần trên sóng phát thanh

Chất lượng nội dung chuyên mục, chuyên trang, chương trình luôn được cải tiến và nâng chất phù hợp với nhu cầu của đối tượng công nhân

Mặc dù vậy cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng số lượng tin, bài liên quan đến CNLĐ được đăng, phát chiếm tỉ lệ thấp so với các đối tượng khác (như nông dân, nông thôn chẳng hạn) Việc cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung chương trình cho công chúng công nhân trên báo chí Tiền Giang còn mang nặng tính chủ quan của những phóng viên, biên tập viên được giao phụ trách chuyên mục Họ cứ làm theo suy nghĩ cá nhân và hoàn toàn không đánh giá được, không biết được công nhân có quan tâm, có hiểu được hay không? Thông tin, tuyên truyền theo xu hướng áp đặt chủ quan là một hình thức khá phổ biến ở báo, đài địa phương thời gian qua, không riêng gì ở Tiền Giang

Hiện vẫn chưa có báo cáo nào cho biết số lượng công nhân Tiền Giang có điều kiện để đọc báo, xem và nghe đài trong thực tế như thế nào; khung giờ phát sóng các chương trình truyền hình, phát thanh hiện nay có phù

Trang 33

hợp hay không; hiệu quả tuyên truyền ra sao? Chính vì vậy nếu chưa tiến hành khảo sát mà đưa ra các đánh giá, nhận xét các khía cạnh này sẽ không

tránh khỏi chủ quan duy ý chí

1.4 Diện mạo báo chí Tiền Giang

Trong những năm qua, báo chí Tiền Giang không ngừng đổi mới cả về hình thức lẫn nội dung để tăng tính cạnh tranh trong xu thế phát triển của báo chí hiện đại, đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí ngày càng cao của người dân Toàn tỉnh có 2 cơ quan báo chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động gồm: đài PT-TH Tiền Giang và báo Ấp Bắc Ngoài

ra, nhiều sở, ngành tỉnh cũng xuất bản bản tin, chuyên đề phát hành nội bộ định kỳ hàng tháng, hàng quý Ở cấp huyện có 10 đài truyền thanh-truyền hình và toàn bộ các xã, phường, thị trấn trong tỉnh đều có trạm truyền thanh vừa phát chương trình riêng vừa tiếp sóng chương trình thời sự của đài huyện, đài tỉnh và đài Tiếng nói Việt Nam

Về báo điện tử, hiện tỉnh Tiền Giang hiện có báo Ấp Bắc điện tử tại

địa chỉ www.baoapbac.vn ra mắt từ năm 2012; trang thông tin điện tử của đài PT-TH Tiền Giang tại địa chỉ www.thtg.vn ra mắt năm 2009 và đang chuẩn bị

nâng cấp thành báo điện tử Bên cạnh đó còn có Cổng thông tin điện tử

www.tiengiang.gov.vn do UBND tỉnh Tiền Giang quản lý hoạt động khá hiệu

quả với rất nhiều thông tin, chính sách, quyết định… mới được cập nhật hàng ngày đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tra cứu của người dân Cổng thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang cũng liên kết với các website của sở, ngành, cơ quan, đơn vị trong tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tìm và tra cứu thông tin chuyên ngành

1.4.1 Báo Ấp Bắc và Ấp Bắc điện tử

Ra đời trong dòng chảy lịch sử của báo chí Cách mạng Việt Nam, báo

Ấp Bắc chính thức được xuất bản số đầu tiên vào tháng 6-1963 Sau ngày đất nước thống nhất, tỉnh Mỹ Tho và Gò Công được hợp nhất thành tỉnh Tiền

Trang 34

Giang Ngày 12-4-1976, báo Ấp Bắc bộ mới đã ra số đầu có tiêu đề “Tiếng nói của nhân dân tỉnh Tiền Giang” Lúc này báo có 4 hoặc 8 trang nội dung tùy theo yêu cầu thông tin tuyên truyền, xuất bản định kỳ mỗi tuần một số vào ngày thứ tư

Ngày 03-5-1987, báo Ấp Bắc ra mắt bạn đọc thêm tờ Ấp Bắc Chủ Nhật với 16 trang Cùng với việc đổi mới nội dung, tăng trang, tăng các chuyên mục, được sự ủng hộ nhiệt tình của độc giả, ban biên tập báo Ấp Bắc mạnh dạn nâng số lượng phát hành từ 1.000 tờ lên 5.000 tờ; những số đặc biệt

có vụ án hoặc có những vấn đề nổi cộm thì số lượng được nâng lên nhiều hơn,

từ 30.000-50.000 tờ/kỳ, nhằm đáp ứng nhu cầu của độc giả

Năm 1993-1996, độc giả cả nước biết nhiều đến báo Ấp Bắc thông qua sự ra đời của Nguyệt san Ấp Bắc Phụ nữ và Ấp Bắc Văn hóa Thể thao Hai ấn phẩm này trong thời gian ngắn đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng Cuối năm 1999, đầu năm 2000 thực hiện Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản”, báo Ấp Bắc quy hoạch lại việc xuất bản các tờ báo, tập trung đầu tư cho tờ báo chính để phát hành 3 số/tuần vào các ngày thứ hai, thứ tư và thứ sáu

Cấu trúc trang của báo Ấp Bắc hiện nay gồm: Tin tức, sự kiện (Trang 1); Chính trị, thời sự ( trang 2 + 3); Nông nghiệp, nông dân, nông thôn (trang 4); Kinh tế (trang 5); Chuyên trang (trang 6 + 7); Ký sự, phóng sự (trang 8); Pháp luật-an ninh trật tự (trang 9); Thông báo, quảng cáo ( trang 10 + 11); Văn hóa, văn nghệ, thể thao (trang 12)

Ngoài ra, báo Ấp Bắc còn duy trì thường xuyên các chuyên mục

“đinh” được bạn đọc quan tâm như: Vấn đề trong tuần, Khắp nơi trong tỉnh, Người tốt việc tốt, Thuế và cuộc sống, Câu chuyện hôm nay,…

Năm 2012, báo Ấp Bắc điện tử ra đời đánh dấu bước phát triển mới của báo Ấp Bắc, hòa nhịp với xu thế phát triển báo chí hiện đại Hoạt động của báo Ấp Bắc điện tử bước đầu đã tạo sự lan tỏa về thông tin tuyên truyền,

Trang 35

có hiệu quả tương tác giữa báo in và báo mạng, đạt hiệu ứng tích cực trong công chúng Báo Ấp Bắc điện tử liên tục cập nhật tin tức, thời sự trong nước

và quốc tế trong ngày Bên cạnh đó, báo Ấp Bắc điện tử còn có các chuyên mục sinh động như: Khoa học-giáo dục, Văn hóa-nghệ thuật, Quốc Phòng-an ninh, Phỏng vấn-đối thoại, Phóng sự-ký sự, Đất nước-con người…

Hiện báo Ấp Bắc có 35 cán bộ, nhân viên, trong đó có 15 phóng viên, biên tập viên Mảng Công đoàn - Người lao động có 2 phóng viên phụ trách 100% phóng viên của báo đã tốt nghiệp đại học báo chí hoặc các chuyên nghành khác, có 4 phóng viên trình độ thạc sĩ Báo chí Ngoài ra, báo Ấp Bắc còn có đội ngũ trên 50 cộng tác viên trong và ngoài tỉnh thường xuyên viết báo công tác ở nhiều lĩnh vực

Nhiều năm qua, báo Ấp Bắc luôn tích cực tuyên truyền những thành quả đạt được của công cuộc đổi mới với hệ thống tin bài đa dạng và có chiều

sâu Chuyên trang “Công Đoàn và Người lao động” của báo cũng phản ánh

được cuộc sống - việc làm - sinh hoạt hàng ngày của người lao động trong các doanh nghiệp đồng thời tuyên dương gương người tốt, việc tốt góp phần đáp ứng phần nào nhu cầu thông tin của CNLĐ

1.4.2 Đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang

Đài PT-TH Tiền Giang là cơ quan báo chí trực thuộc UBND tỉnh Tiền Giang; là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền địa phương và là diễn đàn của nhân dân Đài có chức năng tuyên truyền phổ biến đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện và nhân rộng những điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực; đồng thời phê phán những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội; phản ánh những tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin giáo dục giải trí của nhân dân

Trang 36

Về phát thanh

Đài Phát thanh Tiền Giang chính thức phát sóng vào ngày 16-9-1979 Thời gian đầu, chương trình phát thanh của đài chỉ phát 02 giờ mỗi ngày, hiện

tại đã nâng lên 18 giờ mỗi ngày trên làn sóng FM 96,2 MHz Ngoài nội dung

chính là thông tin và giải trí, đài còn thực hiện các chương trình trực tiếp hàng tuần như: Quà tặng âm nhạc, Quà tặng cổ nhạc, Bác sĩ gia đình, Lắng nghe và trò chuyện, Đưa thông tin về cơ sở… thu hút sự quan tâm theo dõi của thính giả trong và ngoài tỉnh Ở mảng thời sự chính luận, mỗi ngày đài phát 5 bản tin, 3 chương trình thời sự, trong đó có 1 chương trình thời sự trực tiếp lúc 17 giờ 30 phút Ngoài ra, hàng tuần đài Phát thanh Tiền Giang còn có các chuyên mục, chuyên đề như: Nông thôn ngày nay, Pháp luật cần biết, Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Kinh tế, Tuổi trẻ hôm nay, Phát thanh Măng non, An ninh-quốc phòng, Ngày cuối tuần, Sức khỏe và môi trường… Bên cạnh đó là các chương trình văn hóa, văn nghệ, giải trí đáp ứng nhu cầu của bạn nghe đài gồm: Du lịch qua sóng phát thanh, Ca nhạc theo yêu cầu, Ca nhạc thiếu nhi, Kể chuyện

bé nghe, Ca nhạc, ca cổ chọn lọc, Văn nghệ chủ nhật, Nghệ sĩ và cuộc đời, Dạ khúc tri âm, Sân khấu truyền thanh…

Đầu năm 2015, trên sóng phát thanh Tiền Giang cho ra đời chương

trình mới dành cho CNVC và người lao động với tên gọi “Phát thanh công

nhân” Để thu hút sự quan tâm của công chúng công nhân, nội dung của

chương trình không chỉ là những thông tin thiết yếu liên quan đến công nhân mà còn dành thời lượng 15 phút cho tiết mục Quà tặng âm nhạc công nhân Số cuộc gọi của bạn nghe đài là công nhân gọi đến đường dây nóng của chương trình để yêu cầu những bài hát mà họ thích khá nhiều Bên cạnh đó, chương trình cũng nhận được nhiều thư yêu cầu của công chúng

công nhân Điều này cho thấy chương trình “Phát thanh công nhân” bước

đầu có hiệu quả

Trang 37

Về truyền hình

Kênh truyền hình Tiền Giang với logo THTG chính thức ra mắt công

chúng vào ngày 19-12-1996 Những ngày đầu, trong điều kiện thiếu thốn cả

về nhân lực lẫn điều kiện kỹ thuật, mỗi ngày đài chỉ phát sóng được 4 giờ, sau

đó tăng lên 8 giờ/ngày Đến năm 2014, đài đã tăng thời lượng phát hình lên 24/24 giờ mỗi ngày

Hệ thống chương trình truyền hình được chia thành 9 nhóm gồm: Thời

sự chính luận, chuyên đề, khoa học-giáo dục, phim truyện, sân khấu, ca nhạc,

ca cổ, thể thao - giải trí, trò chơi truyền hình, chương trình khai thác qua các đài nước ngoài… được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú

Mỗi ngày đài sản xuất 3 chương trình thời sự truyền hình cùng nhiều bản tin ở các lĩnh vực như tin thế giới, tin thể thao, tin thị trường… Trong đó,

chương trình thời sự buổi sáng với tên gọi “Chào ngày mới” được phát trực

tiếp gồm nhiều nội dung trên các lĩnh vực trong tỉnh, trong nước và thế giới được cập nhật trong đêm trước giờ lên sóng

Hệ thống các chương trình chuyên đề hiện nay của truyền hình cũng

đa dạng, phong phú và bao quát khá đầy đủ các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng Các chương trình truyền hình thực tế thu hút được người xem như: Mái ấm nghĩa tình; Nâng bước đến trường; Đường đến vinh quang; Địa chỉ nhân đạo; Vượt khó cùng Anco; Người Tiền Giang; Cây lành trái ngọt; Chuyện làng chuyện phố; Câu chuyện pháp luật; Câu chuyện nông thôn…

Thời gian qua, đài PT-TH Tiền Giang rất chú trọng việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước tới đối tượng CNLĐ Đài còn có những tin, bài, phóng sự, chuyên đề, phỏng vấn, tọa đàm… nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của CNLĐ Trong những năm đầu phát sóng, đài Truyền hình Tiền Giang đã sớm có kế hoạch

Trang 38

phát sóng chuyên mục “Người lao động” với mục đích phản ánh được tâm tư,

nguyện vọng, đời sống CNLĐ, tuyên truyền pháp luật đến đối tượng này

Về trang thông tin điện tử

Trang thông tin điện tử tổng hợp www.thtg.vn của đài PT-TH Tiền

Giang chính thức ra mắt ngày 16-9-2009 nhân kỷ niệm 30 năm thành lập đài

Ngoài chức năng cung cấp thông tin như các báo mạng điện tử, trang thông

tin điện tử còn cho phép xem trực tuyến kênh truyền hình THTG và nghe trực tuyến chương trình phát thanh FM 96,2 MHz trên máy tính, điện thoại và các

thiết bị di động Khán giả cũng có thể lựa chọn xem hoặc nghe lại tất cả các

chương trình, chuyên mục mà mình yêu thích đã phát sóng trên THTG và FM 96,2 MHz ở bất kỳ thời điểm nào

Những nỗ lực hướng đến việc đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí của báo chí Tiền Giang đối với công chúng công nhân trong thời gian qua là một điều đáng ghi nhận Tuy nhiên, cơ sở đánh giá chất lượng chương trình, chuyên trang, chuyên mục phần lớn phụ thuộc vào công chúng Chính vì thế, các cơ quan báo chí Tiền Giang cần thiết thực hiện những công trình nghiên cứu từng đối tượng công chúng để hiểu rõ họ quan tâm đến những thông tin

gì, lĩnh vực gì? Xác định rõ được nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin của từng nhóm đối tượng là việc làm cần được tiến hành thường xuyên, để từ đó, tìm ra những giải pháp phù hợp trong việc nâng cao chất lượng nội dung các SPBC ở Tiền Giang

Tiểu kết chương 1

Từ những phân tích về TTĐC, báo chí, SPBC, công chúng báo chí, công chúng công nhân, vai trò của công chúng báo chí… ta thấy công chúng báo chí và nghiên cứu công chúng báo chí là vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng của lý luận báo chí Nghiên cứu về báo chí mà chỉ nghiên cứu về quá trình truyền thông và người truyền thông thì không phản ánh được đầy đủ tính chất, mục tiêu cũng như hiệu quả đích thực của hoạt động báo chí Nghiên

Trang 39

cứu công chúng báo chí cũng chính là tìm hiểu thị hiếu, nhu cầu riêng của các nhóm đối tượng cũng như của công chúng nói chung Cái đích cuối cùng của báo chí là đáp ứng nhu cầu và phục vụ cho lợi ích đông đảo quần chúng nhân dân, cho nên cần phải biết chính xác họ đánh giá SPBC đó như thế nào, họ cần gì… để cơ quan báo chí nghiên cứu tìm ra giải pháp khả thi nhất để đáp ứng Báo chí sẽ không thể tồn tại nếu không có người đọc, người xem, người nghe Cho nên, không thể làm báo theo kiểu áp đặt, có gì thì đăng/phát thứ đó không cần biết công chúng có tiếp nhận hay không

Trong chương 1, chúng tôi cũng đã làm rõ về đặc điểm công chúng công nhân Tiền Giang, đồng thời đưa ra cái nhìn khái quát về diện mạo báo chí Tiền Giang trong việc nỗ lực nâng cao chất lượng nội dung để phục vụ công chúng nói chung và công chúng công nhân nói riêng Đây là những yếu

tố rất quan trọng, có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu thực trạng tiếp nhận và ý kiến đánh giá các SPBC địa phương của công chúng công nhân Tiền Giang Làm tốt công việc nghiên cứu này sẽ đưa ra được những giải pháp khả thi, góp phần nâng cao trình độ dân trí, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần cho CNLĐ trên địa bàn Tiền Giang

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN TIẾP NHẬN BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG CỦA CÔNG CHÚNG CÔNG NHÂN TIỀN GIANG

2.1 Đặc điểm địa bàn điều tra và mẫu điều tra

2.1.1 Đặc điểm địa bàn điều tra

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi

và phỏng vấn sâu đối với các đối tượng công chúng công nhân Tiền Giang Địa bàn được tiến hành điều tra gồm Khu công nghiệp (KCN) Mỹ Tho, KCN Tân Hương, cụm công nghiệp (CCN) Trung An, các doanh nghiệp ở thành phố Mỹ Tho và huyện Châu Thành

Thời gian điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu từ ngày 15/3/2015 đến ngày 15/5/2015 Chúng tôi phân bố 300 phiếu điều tra như sau:

KCN Mỹ Tho 50 phiếu; KCN Tân Hương 50 phiếu; CCN Trung An

50 phiếu 150 phiếu còn lại dành cho 3 doanh nghiệp ở thành phố Mỹ Tho và thị trấn Tân Hiệp, huyện Thâu Thành

Theo người thực hiện luận văn, địa bàn điều tra như trên hoàn toàn phù hợp với việc phân chia vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Tiền Giang Theo đó, thành phố Mỹ Tho và huyện Châu Thành là vùng động lực, đầu tàu thúc đẩy kinh tế phát triển và chủ động hội nhập, hợp tác kinh tế với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng đô thị thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trong số các KCN ở Tiền Giang thì KCN Mỹ Tho, KCN Tân Hương, CCN Trung An là những nơi có số lượng người lao động tập trung đông nhất

vì tại đây chủ yếu là các doanh nghiệp kinh doanh về may mặc, chế biến thực phẩm… Ngoài ra, trong số gần 5.000 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang thì hai phần ba doanh nghiệp tập trung ở các địa bàn khảo sát Do vậy,

Ngày đăng: 11/11/2021, 18:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Độ tuổi - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.2 Độ tuổi (Trang 41)
Bảng 2.4: Trình độ học vấn - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.4 Trình độ học vấn (Trang 42)
Bảng 2.3: Tình trạng hôn nhân  Tình trạng hôn nhân  SL (người)  Tỉ lệ (%) - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.3 Tình trạng hôn nhân Tình trạng hôn nhân SL (người) Tỉ lệ (%) (Trang 42)
Bảng 2.5: Nơi ở hiện nay  Nơi ở hiện nay  SL (người)  Tỉ lệ (%) - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.5 Nơi ở hiện nay Nơi ở hiện nay SL (người) Tỉ lệ (%) (Trang 43)
Bảng 2.7: Mức sống - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.7 Mức sống (Trang 44)
Bảng 2.9: Tần suất tiếp nhận thông tin - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.9 Tần suất tiếp nhận thông tin (Trang 47)
Bảng 2.10: Lý do không tiếp nhận báo chí Tiền Giang - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.10 Lý do không tiếp nhận báo chí Tiền Giang (Trang 51)
Báo, nghe và xem đài?” và nhận được kết quả theo phụ lục 2, bảng 2.11. - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
o nghe và xem đài?” và nhận được kết quả theo phụ lục 2, bảng 2.11 (Trang 52)
Bảng 2.12: Địa điểm tiếp nhận thông tin - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.12 Địa điểm tiếp nhận thông tin (Trang 53)
Phụ lục 2, bảng 2.13. - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
h ụ lục 2, bảng 2.13 (Trang 55)
Nào?”. Kết quả trả lời theo phụ lục 2, bảng 2.14. - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
o ?”. Kết quả trả lời theo phụ lục 2, bảng 2.14 (Trang 56)
Bảng 2.17: Mức độ chia sẻ thông tin trên báo chí Tiền Giang - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.17 Mức độ chia sẻ thông tin trên báo chí Tiền Giang (Trang 61)
Hình  ảnh  ,  màu  sắc…  Thời  gian  gần  đây  báo  Ấp  Bắc  có  nhiều  đổi  mới,  cải  tiến trong cách trình bày báo - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
nh ảnh , màu sắc… Thời gian gần đây báo Ấp Bắc có nhiều đổi mới, cải tiến trong cách trình bày báo (Trang 66)
Bảng 2.21: Đánh giá hình thức phát thanh Tiền Giang - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.21 Đánh giá hình thức phát thanh Tiền Giang (Trang 69)
Bảng 2.24: Đánh giá nội dung thông tin trên báo Ấp Bắc điện tử - Nhu cầu, điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân tiền giang hiện nay (khảo sát năm 2015)
Bảng 2.24 Đánh giá nội dung thông tin trên báo Ấp Bắc điện tử (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w