Liên quan đến nội dung của luận văn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học, các sách chuyên khảo, các luận văn và các bài báo quan trọng được công bố, như: * Về sách chuyên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN TRUNG CHUNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA
VÀ VẬN DỤNG VÀO ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
Ngành : Hồ Chí Minh học
Mã số : 60 31 02 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Phạm Ngọc Anh
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Trương Ngọc Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác Kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn
Tác giả luận văn
TRẦN TRUNG CHUNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới PGS,TS Phạm Ngọc Anh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là lãnh đạo Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
TRẦN TRUNG CHUNG
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG NGHIỆP
1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp
1.3 Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về
Chương 2: ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG
2.1 Các nhân tố tác động đến quá trình công nghiệp hóa, hiện
2.2 Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Bình
2.3 Phương hướng, nội dung và giải pháp cơ bản đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Bình Dương theo tư
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 6CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, công nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa (CNH XHCN) là vấn đề có tính quy luật phổ biến đối với tất cả các nước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) Vì vậy, ngay sau khi Cách mạng
xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới và lịch sử phong trào công nhân quốc tế, V.I.Lênin đã soạn thảo chương trình hành động xây dựng tiềm lực phát triển của CNXH trong phạm vi một nước với ba nội dung: công nghiệp hóa (CNH) đất nước, hợp tác hóa nông nghiệp và cách mạng văn hóa, tư tưởng Trong đó, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò nền tảng của công nghiệp và CNH Nó vừa là tiền đề, vừa như một đặc trưng nổi bật của CNXH Người cho rằng: “Cơ sở kinh tế duy nhất có thể có được của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí Ai quên điều đó, người đó không phải là người cộng sản” [26, tr 195]
Kế thừa sâu sắc tư tưởng của V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất
sớm khẳng định tính tất yếu, mục tiêu và bản chất, nội dung và các điều kiện
đảm bảo thực hiện thành công CNH XHCN ở Việt Nam Theo Người, muốn
xây dựng CNXH, phải trải qua một thời kỳ quá độ (TKQĐ) để biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp Vì vậy, “Nhiệm
vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” [45, tr 412] Người căn dặn: “Muốn có nhiều nhà máy, thì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu… Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà” [45, tr 445], phải xem CNH là con đường cơ bản để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống: “Hiện nay chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính Vì muốn mở mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu Nhưng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn mà mục tiêu phấn đấu chung, là
Trang 8con đường no ấm thật sự của nhân dân ta” [45, tr 445] Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò và sự cần thiết phát triển công nghiệp nặng; chú ý đến công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; đồng thời phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý; thực hiện CNH nông nghiệp, nông thôn và thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật
Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH XHCN đã trở thành nền tảng tư tưởng, soi sáng con đường đi lên CNXH ở nước ta Nửa đầu thập niên 60, CNH được đẩy mạnh trên miền Bắc theo đường lối của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) đề ra đường lối
chung của cách mạng XHCN trên cả nước, trong đó khẳng định “đẩy mạnh
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta” Ngày 30-7-1994, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Khóa VII đã ra Nghị quyết về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH và đã làm rõ được khái niệm CNH, HĐH Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, cơ bản giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô duy trì tốc độ tăng trưởng khá, các ngành đều có bước phát triển, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, xong kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp”; “chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc” [16, tr 17]
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Khi được tái lập ngày 1-1-1997, Bình Dương đã chọn cho mình hướng đi đúng là tập trung phát triển công nghiệp, với phương
châm “Trải chiếu hoa mời gọi nhà đầu tư” và các chính sách, biện pháp thông
thoáng nhằm phát huy tiềm lực địa phương Từ một tỉnh nông nghiệp, sau gần
30 năm thực hiện đường lối đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) và 17 năm tái lập tỉnh, Bình Dương đã phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội Trong thời kỳ từ năm 2000 đến nay, tăng trưởng kinh
Trang 9tế của tỉnh bình quân đạt 13%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh từ nông nghiệp sang công nghiệp Đến cuối năm 2014, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ
- nông nghiệp tương ứng là 60,8% - 36,2% - 3% Lợi ích của việc phát triển công nghiệp của tỉnh nhà không ai có thể phủ nhận, song, quá trình CNH đang đối mặt với hàng loạt vấn đề như: phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; nhiều chỉ tiêu kinh tế chưa đạt kế hoạch; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; công nghiệp phát triển nhưng sức cạnh tranh chưa mạnh, chưa xác định được ngành trọng điểm; sức hấp dẫn đầu tư chưa lớn; tình trạng ô nhiễm môi trường còn nghiêm trọng; việc đầu tư bảo vệ môi trường chưa đồng bộ với phát triển kinh tế
Những hạn chế, yếu kém của quá trình CNH, HĐH của cả nước nói chung, Bình Dương nói riêng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân do chưa nhận thức hết được giá trị sâu sắc
và tính bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH XHCN Nhiều quan điểm của Người chưa được biết đến, một số quan điểm vận dụng có hiệu quả nhưng chưa triệt để, cách làm bị hiểu sai, vận dụng sai… Khi quá trình CNH, HĐH đất nước cũng như ở Bình Dương ngày càng đi vào chiều sâu, nhu cầu của thực tiễn càng đòi hỏi lý luận soi đường Lý luận đó chính là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ và vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về CNH XHCN nói riêng trở thành yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về công nghiệp hóa và vận dụng vào đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Bình Dương hiện nay” làm luận văn thạc sĩ ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu
Kể từ sau Đại hội VII của Đảng, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta được đẩy mạnh và đạt được những thành tựu bước đầu rất khả
Trang 10quan Có thể nói, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới được chú trọng như một trong những lĩnh vực chủ yếu của nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta Hàng loạt các đề tài và công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được triển khai và công bố trong thời gian qua Đã có một chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước (KX.02) nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, huy động khá đông đảo các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau Đây là một thành tựu quan trọng của đổi mới nhìn từ góc độ lý luận
Tuy nhiên, hiện nay, số công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về kinh tế nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH cũng như quá trình CNH tỉnh Bình Dương nói riêng không nhiều Liên quan đến nội dung của luận văn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học, các sách chuyên khảo, các luận văn và các bài báo quan trọng được công bố, như:
* Về sách chuyên khảo
- Về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1996;
- Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước (Kỷ
yếu Hội thảo khoa học) do Bộ Công nghiệp phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế của Nguyễn Thế
Hinh (Chủ biên), Nxb Thống kê, Hà Nội, 2000;
- Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế của TS Phạm
Ngọc Anh (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003;
- Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền kinh tế định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay của TS Nguyễn Huy Oánh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
- Tư duy kinh tế Hồ Chí Minh của Cao Ngọc Thắng, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2007;
Trang 11- Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế của TS Ngô Văn Lương (Chủ
biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010;
- Sự chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 1945 - 2007 của TS
Nguyễn Văn Hiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011
* Về đề tài khoa học, luận văn, luận án
- Hội thảo khoa học Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế (Kỷ yếu), Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2005;
- Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Luận văn tốt nghiệp Cao
cấp Lý luận chính trị, Đoàn Thị Dung, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005;
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bình Dương (1997-
2007), Luận văn thạc sĩ Lịch sử, của Võ Thị Cẩm Vân, Đại học Khoa học
XH&NV TP Hồ Chí Minh, 2008;
- Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển công nghiệp giai đoạn
(1997 - 2007), Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đỗ
Minh Tứ, Đại học Khoa học XH&NV TP Hồ Chí Minh, 2009;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp và vận dụng vào phát triển
công nghiệp Quảng Ninh trong quá trình đổi mới (1986 - 2006), Luận văn
thạc sĩ khoa học chính trị, của Đỗ Thị Thanh Thủy, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2009
- Đánh giá mức độ phát triển bền vững tỉnh Bình Dương qua 10 năm
tái lập và đề xuất giải pháp đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học, Đại
học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh - Viện Môi trường và Tài nguyên, 2010;
- Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa từ năm 1997 đến năm 2000, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam, của Nguyễn Văn Linh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, 2010;
Trang 12* Các bài đăng trên tạp chí
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn và sự vận dụng của Đảng ta”, của Lê Xuân Huy, Tạp chí
Lịch sử Đảng, số 9, 2003;
- “Bình Dương một mô hình về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thu hút
vốn đầu tư nước ngoài”, của Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí Cộng sản 12 - 2004;
- “Nhận thức của Hồ Chí Minh về vai trò của công nghiệp và khoa học
công nghệ trong tiến trình lịch sử”, của Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế, 5 - 2000;
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu và con đường phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta”, của Hồ Trọng Viện, Tạp chí Cộng sản, 5 - 1994
Ở các công trình kể trên, về sách và các bài đăng trên tạp chí thì phần lớn các tác giả hướng đến khái quát hóa hệ thống lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nói chung; các luận văn thì đã đề cập đến giá trị thực tiễn khi vận dụng một tư tưởng kinh tế nào đó của Hồ Chí Minh vào một địa phương Các công trình này nghiên cứu ở mỗi phạm vi khác nhau, hoặc chỉ đi vào
nghiên cứu một nội dung hay một vấn đề nào đó Đề cập sâu sắc nhất đến tư
tưởng Hồ Chí Minh về CNH cũng như quá trình CNH, HĐH tỉnh Bình Dương phải kể đến các công trình sau:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước (Kỷ
yếu Hội thảo khoa học), đây là tập sách tập hợp những bài viết của Hội thảo khoa học do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Công nghiệp tổ chức Chủ biên và đồng chủ biên là TS Nguyễn Khánh Bật và TS
Đỗ Hữu Hào Nội dung bao gồm hai phần: Phần I: Những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNH ở Việt Nam hiện nay và Phần II: Quán triệt, vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNH trong sự nghiệp đổi mới Các tác giả đã đề cập một cách toàn diện giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH, đó là: khẳng định tính tất yếu và bản chất
Trang 13của CNH XHCN ở Việt Nam; nội dung cơ bản của quá trình CNH bao gồm phát triển công nghiệp nặng, phát triển công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng CCKT hợp lý, CNH nông nghiệp nông thôn và thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật Một đóng góp to lớn mà các tác giả đã chỉ ra được trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh về CNH là Người đã bàn đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vai trò quả lý của Nhà nước, về quản lý kinh tế, mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp, nhân tố con người, hợp tác quốc tế…để khẳng định tính sáng tạo, toàn diện, bền vững
- Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, của TS Phạm
Ngọc Anh làm chủ biên Nội dung đề cập đến những lý luận cơ bản trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế một cách toàn diện, từ quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm bản chất đến những nội dung chủ yếu và vận dụng tư tưởng kinh tế của Người trong công cuộc đổi mới hiện nay Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH được tập trung trình bày trong chương 3, ở mục II: Quán triệt và vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Theo các tác giả, để đưa tư tưởng kinh tế
Hồ Chí Minh vào cuộc sống thì cần quán triệt trên cả ba vấn đề: CNH, HĐH; nông nghiệp và kinh tế đối ngoại Nhưng quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH, HĐH giữ vai trò quan trọng để “giữ được địa
vị độc lập của nước mình” Theo các tác giả, để quán triệt và vận dụng đúng đắn tư tưởng của Người về công nghiệp, về CNH vào thực tiễn là thực hiện nghiêm chỉnh di huấn của Người về CNH, HĐH trên các mặt sau: Phải phát triển các ngành công nghiệp để phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; phải kết hợp giữa xây dựng mới và cải tiến, nâng cấp công nghệ hiện có trong quá trình CNH; phải thực hiện nhiều thành phần kinh tế trong quá trình CNH, HĐH
- Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền kinh tế định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay của TS.Nguyễn Huy Oánh
Trang 14Nội dung của công trình bao gồm 7 phần đề cập đến những nội dung chủ yếu về tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở Việt Nam Điểm khác biệt trong công trình này là tác giả đã chỉ ra được những nhận thức của Hồ Chí Minh về vai trò của công nghiệp, của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển kinh tế nước ta từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945 đến thời kỳ xây dựng CNXH
- Sự chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 1945 - 2007 của
TS Nguyễn Văn Hiệp Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất “Miền Đông gian lao”, được học tập, lao động, rồi trở thành một trong những cán bộ lãnh đạo của tỉnh, nên tác giả đã chứng kiến, thấu hiểu những khó khăn và thuận lợi của tỉnh nhà trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Công trình này đã khái quát tình hình kinh tế - xã hội từ khi chưa tái lập tỉnh cho đến tầm nhìn năm 2020 trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Riêng giai đoạn
1997 - 2007, tác giả dành riêng chương V để trình bày quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Bình Dương Đó là sự chuyển biến mạnh mẽ về công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế…để từ đó khẳng định
“từ một nền kinh tế - xã hội đổ nát, đình đốn sau 30 năm chiến tranh tàn phá khốc liệt, các cấp đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bình Dương
đã phát huy sức mạnh đoàn kết, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội,
từng bước vươn lên và trở thành điểm sáng như hôm nay”
- Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa từ năm 1997 đến năm 2009, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng
Cộng sản của Nguyễn Văn Linh Tác giả đã trình bày khá rõ thực trạng CNH, HĐH ở tỉnh Bình Dương từ 1997 đến 2009 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, từ đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình CNH, HĐH Để đảm bảo thực hiện CNH, HĐH thành công, công trình đã chỉ ra bốn bài học, kinh nghiệm quí báu, đó là: phải nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của quá trình CNH, HĐH; nắm vững và vận dụng sáng tạo
Trang 15đường lối của Đảng; tập trung xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, công trình này phần lớn được nhìn nhận dưới góc độ tăng cường vai trò của Đảng bộ tỉnh
Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu mà tác giả liệt kê trên đây đều có đề cập đến tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh về CNH hay quá trình thực hiện CNH tỉnh Bình Dương với nhiều góc độ khác nhau, nhưng chưa
có công trình nào nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa
và vận dụng vào đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Bình Dương hiện nay” Vì vậy, đề tài này không trùng lặp với bất cứ công trình khoa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích đề ra, luận văn có nhiệm vụ:
+ Luận giải, làm sáng tỏ quan niệm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của CNH; mục tiêu và bản chất của CNH; nội dung của CNH và các điều kiện đảm bảo thực hiện thành công CNH ở nước ta;
+ Khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh
về CNH ở Việt Nam;
+ Nêu lên được các nhân tố tác động đến quá trình CNH tỉnh Bình Dương; + Phân tích, đánh giá thực trạng đẩy mạnh CNH, HĐH tỉnh Bình Dương, khẳng định những thành tựu đã đạt được, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của thành tựu và hạn chế, nêu lên một số vấn đề cần đặt ra;
Trang 16+ Nêu ra những phương hướng nội dung, giải pháp nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH tỉnh Bình Dương hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về CNH được đề cập thông
qua các tác phẩm, bài viết, bài nói của Người trong Hồ Chí Minh toàn tập - 15
tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011;
+ Quá trình CNH, HĐH tỉnh Bình Dương hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH rất phong phú, gắn liền với thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, do vậy, luận văn chủ yếu khảo sát các bài viết, bài nói của Người về CNH từ 1954 trở đi;
+ Đánh giá thực trạng CNH, HĐH tỉnh Bình Dương từ khi tái lập tỉnh (1-1-1997) đến năm 2014
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử - lôgic kết hợp với phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, đối chứng, so sánh, thống kê…Quán triệt quan điểm thực tiễn, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH; khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH ở Việt Nam;
Trang 17- Luận văn đánh giá thực trạng CNH, HĐH tỉnh Bình Dương từ 1997 đến nay; đồng thời đề xuất các nội dung, giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH tỉnh Bình Dương theo tư tưởng Hồ Chí Minh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Làm rõ thêm hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh về CNH XHCN;
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng, trường chính trị; là tư liệu phục vụ cho việc hoạch định chính sách đẩy mạnh CNH, HĐH tỉnh Bình Dương theo hướng phát triển bền vững
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và tóm tắt luận văn, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 18Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA Ở VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm công nghiệp
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, công nghiệp là “ngành chủ đạo
của nền kinh tế quốc dân hiện đại, bao gồm các xí nghiệp khai thác và chế biến nguyên vật liệu và nhiên liệu, chế tạo công cụ lao động, khai thác rừng, sông, biển, chế biến sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, v…v” [67, tr 228-229] Còn theo Từ điển Bách khoa toàn thư, công
nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được
sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật
Từ góc độ kinh tế, công nghiệp được hiểu là ngành hoạt động quy mô lớn, sản phẩm tạo ra trở thành hàng hóa (có thể phi vật thể) Như vậy, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí…
Hồ Chí Minh không đưa ra khái niệm mang tính kinh điển nào về công nghiệp, mà mọi định nghĩa, khái niệm thể hiện thông qua tổng kết thực tiễn và chỉ đạo hoạt động thực tiễn xây dựng nền công nghiệp nước nhà Mặt khác, công nghiệp là khái niệm có tính lịch sử, nội dung luôn thay đổi theo sự phát triển của sản xuất xã hội, của khoa học và công nghệ Do vậy, xây dựng và phát triển công nghiệp cần được nhận thức đúng đắn trong hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn, ở các thời đại khác nhau
Trang 191.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa
Trong hành trình đi đến một xã hội ngày càng văn minh, phồn thịnh, mặc dù CNH đã được thừa nhận là con đường tất yếu của mọi quốc gia, nhưng khái niệm CNH không phải bao giờ cũng hiểu một cách thống nhất
Nhiều học giả cho rằng, “CNH đồng nghĩa với phát triển công nghiệp, tách biệt hoặc thậm chí đối lập với nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Theo họ, CNH là quá trình làm cho công nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế, còn cơ cấu công nghiệp hạy loại hình CNH như thế nào thì chưa phải là vấn đề hàng đầu” [12, tr 30] Không ít người sử dụng khái niệm CNH với ý nghĩa cơ bản là xây dựng và mở rộng lĩnh vực các ngành công nghiệp chế biến Một thời gian dài ở các nước XHCN phổ biến quan niệm cho rằng nội dung chủ yếu của CNH là phát triển công nghiệp nặng Còn có một cách hiểu CNH theo nghĩa rộng hơn, coi CNH là quá trình không chỉ phát triển một lĩnh vực công nghiệp chủ chốt nào đó hay toàn bộ ngành công nghiệp thành ngành chủ đạo, mà còn biến tất cả hoạt động sản xuất ở các ngành khác thành loại hình hoạt động công nghiệp Theo cách hiểu đó, CNH được coi là quá trình phát triển kinh tế lâu dài, bắt đầu từ khi xuất hiện mầm móng của công nghiệp và theo một định nghĩa nhất định, vẫn chưa hoàn toàn kết thúc ngay cả
ở những nước hiện đại đã có nền công nghiệp phát triển
Trên thực tế, cách hiểu CNH theo nghĩa rộng không được sử dụng rộng rãi vì ít có ý nghĩa đối với khoa học và đời sống kinh tế Khi bàn tới khái niệm CNH, người ta thường đề cập CNH theo nghĩa hẹp, tức là nói tới quá trình hình thành phương thức sản xuất dựa trên cơ sở kỹ thuật cơ khí và tổ chức sản xuất theo lối công nghiệp trong một thời kỳ lịch sử nhất định
Theo đó, Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê cũng có cùng quan điểm, xem
CNH là “quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và đặc biệt trong công nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình
độ trang bị kĩ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động” [67, tr 229]
Trang 20Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về CNH, nhưng cơ bản các ý kiến đều thống nhất những đặc trưng của CNH, coi CNH là một thời kỳ lịch
sử nhất định trong quá trình phát triển kinh tế, nghĩa là có thể quy ước về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình CNH Trong thời kỳ CNH, nền kinh tế
có những sự cải biến cách mạng trên hai bình diện sau:
Một là, sự cải biến cách mạng về mặt kinh tế - kỹ thuật, biến nền sản
xuất xã hội từ chỗ dựa trên kỹ thuật thủ công là chính sang chỗ sản xuất chủ yếu dựa trên kỹ thuật nền tảng của công nghiệp hiện đại Nói cách khác, đây
là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí, mà nội dung của nó là bước chuyển căn bản về trình độ kỹ thuật trong nền kinh tế từ trình độ thủ công sang trình độ cơ khí Trong quá trình này, cơ cấu của nền kinh tế cũng thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp, đồng thời tăng dần tỷ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ (dựa trên trình độ kỹ thuật sản xuất cơ khí hiện đại)
Hai là, sự cải biến cách mạng về mặt kinh tế - xã hội, biểu hiện ở sự
phổ cập của phương thức sản xuất theo lối công nghiệp, kinh tế hàng hóa phát triển và sự phát triển của đô thị Nói khác đi, đây là quá trình chuyển biến về mặt thể chế và cấu trúc với việc chuyển hệ thống thể chế kinh tế, từ nền kinh
tế hiện vật, tự túc tự cấp sang nền kinh tế xã hội hóa, dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển cao
1.1.3 Khái niệm công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
Trong lịch sử của loài người thì cuộc cách mạng công nghiệp của CNTB là một cuộc cách mạng có ý nghĩa về kỹ thuật lớn nhất Thực chất của cuộc cách mạng kỹ thuật đó là sự nhảy vọt từ lao động thủ công sang lao động bằng máy móc Cuộc cách mạng đó đã tạo ra trong một thời gian tương đối ngắn những lực lượng sản xuất to lớn đồ sộ gấp trăm nghìn lần tất cả những lực lượng sản xuất mà loài người đã tạo ra trong suốt bao nhiêu thế kỷ lao động Điểm mấu chốt của cách mạng công nghiệp này là phát triển công
Trang 21nghiệp nặng, tức là công nghiệp chế tạo tư liệu sản xuất, mà trọng tâm, then chốt là chế tạo cơ khí Vai trò chính của công nghiệp nặng là tạo ra những công cụ lao động mới, để thay đổi cách thức lao động của con người, cũng tức
là thay đổi mối quan hệ giữa người và thiên nhiên để tăng thêm quyền lực thống trị của người đối với thiên nhiên, tăng năng suất lao động
Trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, Liên Xô và các nước
XHCN khác tiến hành CNH, đó là CNH XHCN Tại Hội nghị lần thứ VII của
Trung ương Đảng bàn về xây dựng và phát triển công nghiệp, đồng chí Lê
Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam
đã phát biểu rằng:
Liên - xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, làm cách mạng kỹ thuật, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo
ra những lực lượng sản xuất mới, làm cho năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản [10, tr 4]
Theo đó, CNH XHCN được hiểu đó là một cuộc cách mạng kỹ thuật,
nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH Nếu như CNTB tiến lên
đại sản xuất bằng cách làm phá sản, tước đoạt, bóp chết tiểu sản xuất với những thủ đoạn phi kinh tế như bạo lực và những thủ đoạn kinh tế như cạnh tranh, thì CNH XHCN ở Liên Xô và các nước XHCN khác thực hiện bằng cách đưa tiểu sản xuất, nâng tiểu sản xuất lên đại sản xuất XHCN, làm cho tiểu sản xuất lớn lên thông qua việc cải tạo XHCN kết hợp với xây dựng CNXH, thực hiện hình thức công tư hợp doanh, hình thức hợp tác xã
Liên Xô là nước XHCN đầu tiên tiến hành CNH XHCN CNH XHCN
ở Liên Xô trong thời kỳ đầu thực hiện nhiệm vụ chính trị bức thiết là “cấp tốc xây dựng cho xong một hệ thống công nghiệp nặng hoàn chỉnh và hùng hậu
để bảo đảm quốc phòng, bảo đảm độc lập kinh tế, bảo đảm sự thắng lợi triệt
để của CNXH ở trong nước Vì thế, trong thời gian đầu, đã tập trung cao độ sức lực xây dựng công nghiệp nặng” [10, tr 5]
Trang 22Năm 1960, Đại hội lần thứ III của Đảng ta xác định chủ trương CNH ở miền Bắc Theo đó: Công nghiệp hóa XHCN là biến nền kinh tế miền Bắc nước ta thành một nền kinh tế bao gồm cả công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại và giao thông vận tải hiện đại, các ngành các nghề và các vùng đều được mở mang một cách nhịp nhàng cân đối Cũng tức là biến nền kinh tế nước ta từ một nền kinh tế dựa trên cách sản xuất thủ công tiến lên thành một nền kinh tế dựa trên cách sản xuất bằng máy móc tối tân với kỹ thuật tiên tiến,
để biến nước ta từ chỗ nghèo nàn trở nên giàu có, phồn vinh
1.1.4 Khái niệm hiện đại hóa
Theo cách hiểu thông thường, HĐH là quá trình “làm cho mang tính chất của thời đại ngày nay” [67, tr 460], đó là quá trình biến đổi từ tính chất truyền thống cũ lên trình độ tiên tiến của thời đại hiện nay
Theo ý nghĩa về kinh tế - xã hội, HĐH là quá trình chuyển dịch căn bản
từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay
HĐH về kinh tế vừa có sự thay đổi về tính chất, vừa có tính xác định về thời gian Giai đoạn đầu của HĐH được xác định trùng với thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (còn được gọi là thời kỳ CNH) Trong giai đoạn này, CNH là nội dung cốt lõi của HĐH
Đối với một nước đang phát triển, HĐH là quá trình tăng tốc, rút ngắn
lộ trình phát triển để đuổi kịp các nước đi trước và phát triển hơn Do tiến hành CNH trong bối cảnh mới của thế giới nên bên cạnh việc dựa vào các nguồn lực trong nước, các nước đang phát triển còn tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài thông qua thu hút đầu tư để tìm kiếm nguồn vốn và công nghệ mới
1.1.5 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại
về CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một nước đi sau trong quá trình phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội nghị lần thứ
Trang 23bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1994), chủ trương phát triển kinh
tế ở Việt Nam bằng con đường CNH, HĐH và chỉ rõ: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa ở Việt Nam
1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu, mục tiêu và bản chất của công nghiệp hóa
1.2.1.1 Tính tất yếu của công nghiệp hóa
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, CNH XHCN là vấn đề có tính quy luật phổ biến đối với tất cả các nước đi lên CNXH Vì vậy, sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công, V.I Lênin đã soạn thảo chương trình xây dựng CNXH với ba nội dung cơ bản: công nghiệp hóa, hợp tác hóa nông nghiệp và cách mạng văn hóa, tư tưởng Ba nội dung này gắn bó chặt chẽ với nhau một cách biện chứng Trong đó, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò nền tảng của công nghiệp và CNH Người xác định nó vừa như là tiền đề, vừa như một đặc trưng nổi bật của xã hội tương lai V.I.Lênin
cho rằng: “Chủ nghĩa cộng sản là Chính quyền Xôviết cộng với điện khí hóa
toàn quốc… Chỉ khi nào nước ta đã điện khí hóa, chỉ khi nào công nghiệp,
nông nghiệp và vận tải đã đứng vững trên cơ sở kỹ thuật của đại công nghiệp hiện đại, thì lúc đó, chúng ta mới có thể đạt được thắng lợi hoàn toàn” [26, tr 195] Điều này còn được V.I.Lênin giải thích rõ “cơ sở kinh tế duy nhất có thể
có được của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí Ai quên điều đó, người đó
không phải là người cộng sản… Đại công nghiệp hiện đại có nghĩa là điện khí
hóa toàn nước Nga” [27, tr 60] Ở đây, dưới góc độ khái quát hóa, V.I.Lênin
Trang 24đã đồng nhất điện khí hóa với CNH Quá trình CNH đó chính là quá trình xây dựng nền tảng vật chất cho CNXH V.I.Lênin khẳng định: “Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp” [25, tr 13]
Nắm bắt nội dung cốt lõi của quan niệm duy vật về lịch sử, Hồ Chí Minh nhận thức rõ vai trò đòn bẩy của sản xuất công nghiệp trong quá trình vận động của xã hội loài người Quan niệm của Người về CNH gắn chặt với quan niệm chung về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam Theo
đó, CNH là tất yếu, là quy luật phổ biến để đi lên CNXH
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh xác định con đường giải phóng dân tộc phải gắn liền với CNXH; độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là quy luật của cách mạng Việt Nam Năm 1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài về các đặc trưng bản chất của CNXH, Hồ Chí Minh đã nhận định hết sức ngắn gọn nhưng sáng rõ: “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa đủ” [37, tr 315] Kỹ nghệ - thực chất là công nghiệp, được Hồ Chí Minh xem xét như là một trong ba điều kiện quyết định sự thắng lợi của CNXH, chủ nghĩa cộng sản Do những đặc thù riêng, Việt Nam chưa hội đủ các tiền đề sẵn có, nhất là kỹ nghệ Đặc điểm lớn nhất, bao trùm nhất của nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN” Nội dung cơ bản của toàn
bộ thời kỳ quá độ lên CNXH được Hồ Chí Minh khái quát:
Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt
để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có áp bức,
Trang 25bóc lột… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao, đời sống vui tươi, hạnh phúc [44, tr 92]
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ:
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta là phải xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài [45, tr 412]
Dựa vào kinh nghiệm CNH XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa điểm xuất phát và mục đích cuối cùng, mục đích trước mắt và mục đích lâu dài, giữa thời kỳ quá độ với những bước quá độ nhỏ…, Hồ Chí Minh đã luận chứng sáng rõ tính tất yếu của của CNH
ở Việt Nam bằng các lý do sau đây:
Một là, “Chúng ta xây dựng cuộc sống mới, cũng ví như người đi
đường phải biết rõ mình ra đi từ đâu, sẽ đến đâu và phải qua những chặng đường nào Như vậy, cuộc đi của chúng ta sẽ hào hứng… Nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu Đó là chỗ bắt đầu đi của chúng ta” [45, tr 444]
Hai là, “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy
móc để sản xuất một cách rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp Máy sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng thêm gấp trăm, nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường” [45, tr 445]
Ba là, “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế…
Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển… như hai chân đi khỏe
và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích” [46, tr 9]
Từ những lý do trên, Người đi đến kết luận, muốn xây dựng CNXH, tất yếu phải CNH XHCN, “muốn có nhiều nhà máy phải mở mang các ngành
Trang 26công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu…Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà” [45, tr 445] Muốn bảo đảm đời sống sung sướng mãi, phải CNH XHCN Mặc dù nhiều lần nhắc đến phát triển nông nghiệp làm gốc, nông nghiệp là chính, nhưng Người vẫn nhấn mạnh CNH mới là con đường cơ bản để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân Người nói: “Hiện nay, chúng ta sản xuất nông nghiệp làm chính Vì muốn mở mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu Nhưng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thực sự của nhân dân ta” [45, tr 445]
1.2.1.2 Mục tiêu của công nghiệp hóa
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, công nghiệp và công nghiệp hóa vừa như là một tiền đề, một đặc trưng nổi bật của xã hội tương lai,
“cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí” Với Hồ Chí Minh, CNH XHCN cũng nhằm xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của CNXH
Hồ Chí Minh xác định rõ mục tiêu chủ yếu của CNH trong mối quan hệ hữu cơ với mục tiêu tổng quát gắn của CNXH Tách rời mối quan hệ cơ bản
đó, CNH sẽ mất phương hướng cụ thể, giáo điều Hồ Chí Minh xem xét mối quan hệ giữa mục tiêu CNH và mục tiêu của CNXH là vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc
Nói về mục tiêu của CNXH, Hồ Chí Minh phát hiểu rất giản dị và dễ hiểu: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc” [45, tr 415] Có khi Hồ Chí Minh nói một cách trực tiếp: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân” [45, tr 604], hoặc: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những
Trang 27phong tục tập quán không tốt thì dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa
xã hội” [46, tr 438] … Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của CNH XHCN là đem lại
đời sống dồi dào, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân
Trong buổi nói chuyện với Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội, Người chỉ rõ mục tiêu cơ bản và nhiệm vụ của CNH XHCN cần đạt tới:
Muốn bảo đảm đời sống sung sướng mãi mãi, phải công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng công nghiệp nặng Như thế phải vừa cải thiện đời sống, vừa tích lũy Cải thiện đời sống từng bước theo khả năng, đồng thời phải tích lũy để kiến thiết [45, tr 604 - 605]
1.2.1.3 Bản chất của công nghiệp hóa
Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh sử dụng tính từ “xã hội chủ nghĩa” gắn liền với thuật ngữ “công nghiệp hóa” Trong quan niệm của Người, CNH bao giờ cũng có những định hướng cụ thể, hàm chứa cả nội dung xã hội và giai cấp Vì vậy, không có CNH chung chung, mà chỉ có thể: hoặc CNH TBCN, hoặc CNH XHCN
CNH ở nước ta mang bản chất CNH XHCN, là “không ngừng phát triển
sản xuất để nâng cao mãi đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” [45, tr
372] Nó khác hẳn với CNH TBCN, đó là sự tích lũy giàu có về phía giai cấp
tư sản và tích lũy sự nghèo khổ về phía giai cấp công nhân thông qua việc mở rộng bóc lột giá trị thặng dư Do vậy, nó chứa đầy mâu thuẫn và bất công
Đọc các bài viết của Người, khi nói đến CNH TBCN, chúng ta thấy Người đã đề cập đến các vấn đề sau:
Một là, CNH TBCN nâng cao trình độ bóc lột của CNTB đối với các
nước thuộc địa và phụ thuộc
Năm 1928, trong tác phẩm Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông
Dương, Hồ Chí Minh đề cập đến CNH thuộc địa, đến lợi nhuận mà các công
Trang 28ty tư bản thu được qua bóc lột người bản xứ Người nêu những con số về tích lũy tư bản của tư bản Pháp ở Đông Dương, quá trình CNH thuộc địa nhanh chóng của CNTB Pháp ở Đông Dương là nhằm tạo ra các điều kiện để cho tư
bản Pháp bóc lột Đông Dương nhiều hơn Trong mục công nghiệp hóa thuộc
địa, Người nêu ra chỉ trong một thời gian ngắn sau Chiến tranh thế giới thứ
nhất có 29 công ty công nghiệp Pháp có số vốn từ 1 triệu phrăng đã “mọc lên
ở Đông Dương Đó là các công ty khai thác mỏ, các công ty công nghiệp nhẹ khai thác nguyên liệu nông sản và một số công ty đóng tàu, đường sắt, xuất nhập khẩu khoáng sản Những công ty này hàng năm thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ mà theo Người, đôi khi vượt cả những tư bản ứng trước
Theo Hồ Chí Minh, sở dĩ lợi nhuận các công ty tư bản này tăng lên nhanh chóng vì chúng cướp bóc tài nguyên và bóc lột lao động bản xứ Người viết:
Công ty than đá Bắc Kỳ chiếm 21.900 hécta đất mỏ và sử dụng 16.500 công nhân bản xứ Với tư bản 16 triệu phrăng, năm
1925 công ty đó đã kiếm được 35 triệu phrăng tiền lời, trong khi
đó, người thợ mỏ mỗi ngày chỉ lĩnh được 25 xu, tức là mỗi tấn lĩnh 2,27 phrăng (Đàn bà được lĩnh 20 xu, trẻ em được lĩnh từ 10 đến 15 xu [35, tr 388]
Người công nhân rất khổ: “Từ năm 1914 đến 1924, giá sinh hoạt tăng thêm 47%, nhưng tiền lương của công nhân nhưng hầu như vẫn đứng nguyên tại chỗ” [35, tr 388] Hồ Chí Minh còn nêu ra hàng loạt công ty, nhờ bóc lột thuộc địa mà thu được những khoản lợi nhuận kết xù Nhờ lợi nhuận bóc lột được, các doanh nghiệp công nghiệp của CNTB đẩy mạnh tích lũy khiến cho
số tư bản tăng lên nhanh chóng
Hai là, CNH TBCN tạo ra phương tiện để bọn tư bản có khả năng cạnh
tranh kinh tế với nhau
Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc (1919), Hồ Chí Minh viết trên L Humanité tố cáo thực dân Pháp bóc lột nhân dân các nước
Trang 29thuộc địa, đề cập đến khả năng cạnh tranh kinh tế mạnh mẽ của đế quốc Nhật khi vào Đông Dương Người viết: “Người Nhật, nhờ ở chính phủ khôn khéo của họ, có các phương tiện rất đầy đủ, được trang bị tốt để tiến hành đấu tranh kinh tế; trong khi đó thì người An Nam - chúng tôi đã nói vì sao - lại hoàn toàn là con số không” [34, tr 14] Phương tiện đầy đủ, được trang bị tốt mà Người nói ở đây chính là việc nước Nhật đã thực hiện CNH TBCN Khi Hồ Chí Minh nói về khả năng kinh tế của Nhật đối với Pháp ở Đông Dương, Người cho rằng: “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được
mở rộng và tăng cường” [34, tr 14] Người khuyến cáo, muốn có lợi thế cạnh tranh với nước ngoài khi mở cửa, phải có nội lực mạnh
Ba là, CNH TBCN phát triển đã tăng cường số lượng và chất lượng
giai cấp công nhân, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc
Hồ Chí Minh viết: “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thực dân ở Đông Dương đã tạo ra ở xứ đó hai giai cấp vô sản, giai cấp vô sản công nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp” [35, tr 389] Và Người đã nêu ra một cách cụ thể, chính xác số công nhân ở Việt Nam vào năm 1928 Số công nhân này bị bóc lột nặng nề, bị lao động khổ sai sẽ là mãnh đất tốt cho sự ra đời của tổ chức cách mạng cộng sản Người viết: “Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình” [35, tr 392] Từ đó, Người rút
ra kết luận: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa
xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” [34, tr 40]
Trong quan điểm của Người, ta thấy rõ sự phân biệt CNH XHCN với CNH TBCN Chúng ta phải thực hiện CNH XHCN chứ không phải CNH chung chung bất kỳ Cách mạng tháng Mười Nga là một hiện tượng mới trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, và là nước đầu tiên tiến hành CNH
Trang 30XHCN CNH XHCN là nấc thang cao hơn, khác hẳn về chất so với CNH
TBCN, đó là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, tạo ra những lực lượng sản xuất mới, không ngừng phát triển sản xuất để nâng cao mãi đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc viết Nhật ký chìm tàu, giới thiệu với
người Việt Nam biết về “Tổ quốc của giai cấp vô sản” Thông qua những mẫu chuyện sinh động, Người đã chỉ ra sự thay đổi mọi mặt của đời sống nước Nga dưới chế độ Xôviết Nhờ thành tựu của công cuộc CNH mà cuộc sống thay đổi từng ngày, đặc biệt là sự thay đổi trong số phận của công nông, phụ
nữ và nhất là trẻ em Nga Người viết: “Nếu nước Nga chưa phải là một thiên đường cho tất cả mọi người, thì nước Nga đã là một thiên đường của trẻ em” Người gợi ra niềm tin rằng trẻ em Việt Nam rồi cũng sẽ “sung sướng, mạnh khỏe như trẻ em Liên Xô” khi nước nhà hoàn toàn độc lập Đó là sự chứng minh hùng hồn cho tính nhân văn sâu sắc mà CNH XHCN mang lại
Với CNH XHCN, Hồ Chí Minh cũng cho rằng CNH phải là sự nghiệp của toàn dân Theo Người, sự nghiệp lớn lao đó không phải là riêng của tầng lớp nào, giai cấp nào, mà “đó là công tác chung của tất cả mọi người” [43, tr 392] Người nói: “Ai xây dựng chủ nghĩa xã hội? Nói chung là những người lao động trong xã hội gồm có công nhân, nông dân và trí thức cách mạng, nhưng lực lượng chủ chốt xây dựng chủ nghĩa xã hội là công nhân; giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo” [48, tr 679], điều đó cũng đồng nghĩa rằng,
sự nghiệp tiến hành CNH XHCN cũng nằm dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung của công nghiệp hóa
1.2.2.1 Phát triển công nghiệp nặng
Trong bài báo Thế nào là công nghiệp hóa ký tên C K đăng trên báo
Nhân dân ngày 22-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa
rất đơn giản và đầy đủ về công nghiệp nặng: “…các ngành công nghiệp làm
Trang 31ra máy móc, gang, thép, than, hóa chất v.v gọi chung là công nghiệp nặng” [45, tr 449]
Khi nói về CNH XHCN, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của công nghiệp nặng Người nói: “Để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng” [47, tr 439], “Công nghiệp nặng là đầu mối để mở mang các ngành công nghiệp khác và cung cấp máy móc cho nông nghiệp Cho nên, chưa có công nghiệp nặng thì chưa thể có một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh” [45, tr 449] Tại Hội nghị Bộ Công nghiệp nặng ngày 31-12-1964, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vai trò của công nghiệp nặng Sở dĩ Hồ Chí Minh coi trọng công nghiệp nặng, vì Người cho rằng: “Công nghiệp nặng làm cơ sở cho nền kinh tế độc lập” [46, tr 565] Người nói:
Nhiệm vụ công nghiệp nặng rất nặng nề nhưng rất vẻ vang
Để nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân, để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng Một ví dụ:
Quan trọng nhất trong đời sống của nhân dân là vấn đề ăn
Để giải quyết tốt vấn đề ăn thì sản xuất lương thực phải dồi dào Muốn như vậy, thì công nghiệp phải giúp cho nông nghiệp có nhiều máy móc làm thủy lợi, máy cày, máy bừa, nhiều phân hóa học v.v [47, tr 439]
Tiến hành CNH thì tất yếu quan tâm đến phát triển công nghiệp Tuy nhiên, Hồ Chí Minh càng sâu sắc hơn khi đặt nó trong điều kiện hoàn cảnh của nước ta, trong phát triển công nghiệp phải dành sự quan tâm đặc biệt đối với công nghiệp khai khoáng, trong đó có công nghiệp khai thác than và công nghiệp cơ khí chế tạo tư liệu sản xuất Năm 1965, Người đến mỏ Vàng Danh
và nêu rõ: “Than và điện rất cần thiết cho nông nghiệp và công nghiệp… hãy
ra sức làm cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ” [47, tr 480] Khi về thăm Quảng Ninh,
Trang 32Người nhấn mạnh: “Người ta gọi than là “vàng đen” Nó rất cần thiết cho công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, vận tải quốc phòng và đời sống nhân dân Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội càng cần rất nhiều than” [48, tr 516] Hồ Chí Minh nhận thức yêu cầu cấp bách là phải cơ giới hóa toàn bộ nền kinh tế, “máy móc sẽ chắp thêm tay cho người làm, cho sức người tăng lên gắp trăm nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường” [45, tr 445] Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển công nghiệp nặng luôn gắn với yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp tiên tiến và công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
Khi viết và nói về công nghiệp, công nghiệp nặng trong giai đoạn xây dựng CNXH, Người không dùng cụm từ “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” Ngay như trong bài nói chuyện tại Hội nghị của Bộ Công nghiệp nặng ngày 31-12-1964, Người cũng chỉ nói công nghiệp và công nghiệp nặng phải cung cấp máy móc, phân hóa học cho nông nghiệp, cung cấp đủ máy móc cho công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp Phải chăng, bằng kinh nghiệm từng trải,
Hồ Chí Minh đã thấy trước rằng, nếu hiểu không đúng nội dung này, rất dễ dẫn đến việc đầu tư không hiệu quả, nhất là đối với một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH như nước ta Theo Hồ Chí Minh, sự phát triển của công nghiệp nặng trước hết phải xuất phát từ đòi hỏi trong sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp
Hồ Chí Minh nhiều lần sử dụng cụm từ công nghiệp xã hội hóa Trong bài phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Bucarét ngày 20-8-1957, Người nói: “Ngày nay, nền công nghiệp được xã hội hóa, công nhân trở thành người làm chủ nhà máy” [44, tr 69] Theo đó, cụm từ “xã hội hóa” được hiểu theo hai nghĩa Một là, sự phát triển về số lượng khiến cho công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, rộng khắp; hai là, sự phát triển về chất lượng, sự gắn kết chặt chẽ giữa các ngành của công nghiệp, nông nghiệp và của cả nền kinh tế do sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ quy định
Trang 331.2.2.2 Phát triển công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
Tại Hội nghị ngành công nghiệp nhẹ ngày 16-1-1965, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của công nghiệp nhẹ đối với phát triển công nghiệp, liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân, là nguồn tích lũy vốn
để mở mang, phát triển công nghiệp trong điều kiện nước ta còn nghèo Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Mọi chính sách của Đảng và Chính phủ ta đều nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân Ngành công nghiệp nhẹ quan hệ rất khăng khít với đời sống hàng ngày của nhân dân Vì vậy, nhiệm vụ của công nghiệp nhẹ là rất quan trọng [44, tr 455]
Xuất phát từ hoàn cảnh chiến tranh, sản xuất công nghiệp nhẹ không đòi hỏi qui mô lớn, tiền vốn đầu tư không nhiều, dễ đặt địa điểm, phù hợp với trình độ thủ công lúc đó, nên công nghiệp nhẹ là ngành công nghiệp quan trọng, đáp ứng nhu cầu cần thiết cho nhân dân Người đề ra phương hướng sản xuất công nghiệp nhẹ là “nhiều, nhanh, tốt, rẻ”, là không ngừng “cải tiến quản lý sản xuất”, là phải “hăng hái thi đua sản xuất và tiết kiệm”, nhằm nhanh chóng cung cấp vốn, nguyên liệu để phát triển nền công nghiệp tiên tiến Như vậy, trong điều kiện vật chất - kỹ thuật vừa yếu vừa thiếu, thì phát triển công nghiệp nhẹ để từng bước đẩy mạnh nền công nghiệp hiện đại, là giải pháp thiết thực và hiệu quả lúc đó
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, mọi người cần có tinh thần làm chủ tốt…” [45, tr 87] Đây là nét độc đáo trong tư tưởng của Người, có sức thuyết phục sâu sắc, khích lệ sáng tạo trong công cuộc xây dựng CNXH, đúng như đánh giá của Người về vai trò của công nghiệp nhẹ:
Các cô các chú phải quyết tâm đẩy mạnh thi đua, hoàn
thành thắng lợi kế hoạch năm nay và chuẩn bị tốt cho kế hoạch
Trang 34năm sau Như thế là ngành công nghiệp nhẹ góp phần vào sự nghiệp xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội miền Bắc và thiết thực ủng hộ đồng bào miền Nam [47, tr 458]
Trong giai đoạn xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng
ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp địa phương Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Yêu cầu của sản xuất nông nghiệp năm 1956 là bước đầu giải quyết
vấn đề lương thực, cung cấp nguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu công
nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp” [43, tr 212] Từ hoàn cảnh cụ thể, Hồ Chí Minh thấy được yêu cầu cấp bách khôi phục kinh tế Ngành tiểu thủ công nghiệp sẽ nhanh chóng giải quyết việc làm cho người lao động Người chỉ rõ:
“Nhờ cố gắng duy trì và phát triển các ngành thiết yếu của công nghiệp và thủ công nghiệp, nhân dân và quân đội có thêm nhiều hàng tiêu dùng” [43, tr 110] Hơn thế nữa, ngành tiểu thủ công nghiệp là ngành truyền thống của nhân dân ta, sản phẩm thủ công là thế mạnh sản xuất, nên Người cho rằng:
“Chúng ta cần khuyến khích thủ công nghiệp phát triển đúng hướng và phát triển tốt” [46, tr 259]
Khi mới thành lập chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh nêu rõ:
“Khuyếch trương nền kinh tế địa phương; nâng cao trình độ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp” [37, tr 13] Quan điểm này cho thấy tư duy toàn diện của Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế quốc dân, bắt đầu từ sự tự chủ của mỗi địa phương nhằm phát huy thế mạnh của mỗi vùng miền khác nhau
Hồ Chí Minh phân tích sâu sắc:
Công nghiệp địa phương phải căn cứ vào khả năng của địa phương về nguyên liệu, vật liệu, máy móc, cán bộ và công nhân
kỹ thuật, sự tiêu thụ để đặt kế hoach sát, tránh gây ra lãng phí sức người, sức của… Phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp, nhằm tích cực phục vụ nông nghiệp và đời sống của nhân dân [45, tr 524]
Trang 35Tại Hội nghị tổng kết công tác của Bộ Công nghiệp ngày 22-1-1960, Người đã nói về cách thức phát triển công nghiệp địa phương như sau:
Đối với công nghiệp địa phương còn mới, các xí nghiệp quốc doanh phải chú ý giúp đỡ làm cho công nghiệp địa phương ngày một phát triển Nhưng các địa phương không nên ỷ lại vào Trung ương mà phải chú ý làm cho đúng phương châm: vốn, nguyên liệu, vật liệu, người địa phương là chính; sản xuất hàng
ra chủ yếu bán ở địa phương [45, tr 447]
Như vậy, Hồ Chí Minh luôn coi trọng tính chủ động, sáng tạo và đánh giá cao sự đóng góp của từng đơn vị, đây là cơ sở cho vài trò làm chủ của các
tổ chức trong hoạt động kinh tế, nhằm chủ động giải quyết nhu cầu cấp bách trong điều kiện khó khăn
Trong Thư gửi Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An đề ngày
21-7-1969, Người căn dặn: “Công nghiệp và thủ công nghiệp phải sản xuất nhiều công cụ làm đất, tưới tát, vận chuyển… phải cung cấp nhiều hàng tiêu dùng tốt và rẻ cho nhân dân” [48, tr 596] “Công nghiệp địa phương cần phải nhằm cung cấp những hàng hóa và dụng cụ thích hợp với nhu cầu của đồng bào dân tộc, trước hết là thứ nông cụ Phải làm tốt 4 chữ: nhiều, nhanh, rẽ, tốt” [46, tr 46] Như vậy, mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân luôn thống nhất trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp, ở bất cứ mô hình sản xuất nào
1.2.2.3 Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
Trong thời kỳ Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện công cuộc phát triển kinh tế (1945-1956), cơ cấu kinh tế Việt Nam bao gồm bốn ngành kinh tế lớn
là nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và giai thông vận tải Các ngành khác như dịch vụ, du lịch…còn chiếm vị trí khá khiêm tốn trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm nhiều hơn đến cơ cấu kinh tế công - nông - thương nghiệp
Trang 36Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, lựa chọn cơ cấu kinh tế nào cho hợp lý cho chặng đường đầu là một vấn đề hết sức nan giải
Năm 1965, trong tạp chí Sinh hoạt thương nghiệp, số đặc biệt, Hồ Chí
Minh viết:
Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có
ba mặt quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp [43, tr 335]
Cả ba lĩnh vực này đều quan trọng và không thể thiếu Nhưng trong điều kiện Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám thì nông nghiệp vẫn luôn là lĩnh vực quan trọng nhất Khi trả lời phỏng vấn Nhật báo công nhân (Anh), Người nói:
Từ ngày được giải phóng, sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất và cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã ra sức phát
triển nông nghiệp, giải quyết được vấn đề lương thực, phát triển
công nghiệp nhẹ, tự cung tự cấp được phần lớn hàng tiêu dùng và
bước đầu xây dựng công nghiệp nặng làm cơ sở cho nền kinh tế độc lập của chúng tôi [47, tr 565]
Như vậy, ngay từ đầu Hồ Chí Minh xác định một nền kinh tế phát triển khi có cơ cấu kinh tế hợp lý, đó là cơ cấu công - nông nghiệp hiện đại và đưa
ra quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp và vai trò của thương nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội ở thời kỳ quá độ
Theo Hồ Chí Minh, trong cơ cấu toàn bộ nền kinh tế quốc dân, công nghiệp và nông nghiệp có vai trò, vị trí riêng Đây là hai ngành sản xuất ra những sản phẩm, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của nền kinh tế, của toàn
xã hội Trong Báo cáo Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 18-12-1959, Người đã phác
Trang 37thảo mô hình nền kinh tế của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH là: “nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học
và kỹ thuật tiên tiến” [45, tr 372]
1.2.2.4 Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp, Người coi đó là “hai chân của nền kinh tế” Nhưng nông nghiệp tự nó không thể đưa lại năng suất cao, hàng hóa nông sản nhiều và chất lượng tốt nếu không có sự tác động trực tiếp, gắn bó với công nghiệp Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định, công nghiệp phải giúp đỡ nông nghiệp, phải thực hiện CNH nông nghiệp, nông thôn: “Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển” [46, tr 376], và về lâu dài, công nghiệp là con đường cơ bản đảm bảo
sự phát triển của nền kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân
Quan niệm của Hồ Chí Minh trước tiên là CNH nông nghiệp nhằm trang bị máy móc cho nông nghiệp, cơ khí hóa sản xuất Người khẳng định:
“Muốn no thì phải sản xuất nhiều gạo Muốn ấm thì phải sản xuất nhiều vải Muốn có gạo, có vải thì nông nghiệp không thể để mãi như hiện nay mà phải
có máy móc, máy móc là do quá trình công nghiệp mang lại” [46, tr 62] Do
đó, “Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần
thiết cho nhân dân, trước hết là nông dân, cung cấp máy bơm, phân hóa học, thuốc trừ sâu…để đẩy mạnh nông nghiệp, và cung cấp dần máy cày, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp” [46, tr 375]
Dù rất đề cao vai trò của công nghiệp nói chung và công nghiệp nặng nói riêng, nhưng với Hồ Chí Minh, sự phát triển của công nghiệp nặng hay công nghiệp nói chung ở nước ta đều phải xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nông nghiệp do điểm xuất phát kinh tế đặc thù từ một nước nông nghiệp Xuất phát
từ đặc điểm giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, Người yêu cầu công nghiệp
“cung cấp dần dần” máy cày, máy bừa…cho các hợp tác xã nông nghiệp Đồng thời, trước khi công nghiệp phát triển và đủ điều kiện cung cấp máy móc cho
Trang 38nông nghiệp thì điều quan trong trước hết là “cần phải cải tiến công cụ hiện có, phải làm những máy giản đơn, thợ mộc cũng đóng được, nông dân cũng làm được” [45, tr 636] Điều này thể hiện Hồ Chí Minh hiểu được khả năng phát triển công nghiệp của nước nhà trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền
Bắc, ngày 22-9-1962, Người dặn dò: “Công nghiệp phải phục vụ nông nghiệp
cho tốt, phải làm máy bơm, làm công cụ cải tiến, chế thuốc trừ sâu, v.v cho nông nghiệp Nếu đưa cày, đưa guồng nước… về nông thôn mà nông dân dùng được 2 - 3 ngày đã hỏng, gãy thì không tốt” [46, tr 469]
Nói chuyện tại Đại hội đại biểu Công đoàn tỉnh Thanh Hóa, đề cập đến việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, Người vừa khẳng định tính cần thiết, đồng thời lưu ý đến sự khó khăn, phức tạp, không chủ quan, nôn nóng:
“Muốn cơ giới hóa nông nghiệp cũng còn mất hàng 15, 20 năm chứ không làm ngay một lúc được” [45, tr 636]
Để ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, công tác quy hoạch phải đi trước một bước, Người đã nói đến việc khoanh vùng nông nghiệp với nhân dân và cán bộ xã Đại Nghĩa (Hà Đông): “Nơi nào sản xuất lúa nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất lúa là chính, nơi nào sản xuất chè nhiều và tốt thì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất chè là chính… Làm như vậy thì sau này dùng máy móc cũng dễ và tiện” [46, tr 214]
Kinh tế gia đình và nghề phụ của nông dân là bộ phận cơ bản của kinh tế
nông thôn Người quan tâm đến cả “Miếng vườn của mỗi giai đình xã viên và các loại nghề phụ là nguồn lợi để tăng thu nhập” [46, tr 122], “cần phát triển
thích đáng kinh tế phụ gia đình xã viên” [46, tr 213] Nghề phụ mà Người nhắc
nhở có thể hiểu là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn
1.2.2.5 Thực hiện một cuộc cách mạng kỹ thuật
Trong quá trình xây dựng CNXH, đi liền với xây dựng cơ sở vật chất -
kỹ thuật là công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học, kỹ thuật phục vụ sản
Trang 39xuất Để tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật, Người rất coi trọng việc nâng cao trình độ văn hoá cho người lao động, cũng như rất coi trọng lao động trí óc Người nói: “Lao động trí óc có quý không? Quý Lao động chân tay có quý không? Quý Người lao động trí óc mà không liên hệ với lao động chân tay thì chỉ là trí thức một nửa Còn người lao động chân tay
mà văn hoá kém, không biết lao động trí óc thì cũng là người không hoàn toàn, cũng chỉ được một nửa” [43, tr 592]
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở rằng, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến
bộ, nên cán bộ, công nhân, nông dân phải thường xuyên chú ý đến kỹ thuật
Trong Thư chúc Tết đồng bào Hải Phòng, Người còn căn dặn: “Trong công
nghiệp, phải ra sức đẩy mạnh việc hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý, cải tiến
kỹ thuật, nâng cao chất lượng, nâng cao năng suất lao động…Ở trong nông nghiệp, phải ra sức cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật…” [47, tr 15] Khi Tổng cục hậu cần tổ chức triển lãm những thành tích cải tiến kỹ thuật, Người đã đến thăm và khen ngợi đã có thành tích khá trên con đường cải tiến kỹ thuật
Với một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH như nước ta, Người nhắc nhở việc triển khai cách mạng kỹ thuật phải được triển khai lâu dài Người gọi đó là con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật
Khi bàn về thực hiện đổi mới kỹ thuật, trang bị công nghệ mới, Hồ Chí Minh luôn chú trọng mối quan hệ giữa trang bị mới với tận dụng, cải tiến công nghệ hiện có và sử dụng những công cụ cải tiến Người nói: “Muốn cơ giới hóa nông nghiệp cũng còn mất khoảng 15, 20 năm chứ không làm ngay một lúc được Cho nên phải cải tiến nông cụ hiện có, phải làm những loại máy mới giản đơn, thợ mộc cũng đóng được, nông dân cũng làm được” [45, tr 636] Với quan điểm trên, Hồ Chí Minh rất chú ý đến động viên công nhân, nông dân, quân đội cải tiến kỹ thuật Cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến
kỹ thuật được triển khai rất mạnh mẽ trong các xí nghiệp, các hợp tác xã vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX thể hiện tư tưởng này của Người
Trang 40Hồ Chí Minh sớm chỉ ra rằng, CNH phải gắn liền với vấn đề khoa học -
kỹ thuật Người coi trọng khoa học, kỹ thuật và phổ biến khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Người cho rằng: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống nhân dân…Nhiệm vụ của khoa học
kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật” [47, tr 97]
Đồng thời, khi bàn về phát triển khoa học kỹ thuật, Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở một số điều sau:
Người giao nhiệm vụ cho cán bộ khoa học kỹ thuật: “Phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ” [47, tr 97]
Phải biết thông qua hoạt động thực tiễn, học tập những kinh nghiệm của quần chúng để tổng kết rút ra những vấn đề khoa học, vì theo Người:
“năng lực và sáng kiến của quần chúng lao động là vô cùng vô tận” [41, tr 450], “nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu” [47, tr 98]
Để phát triển khoa học - kỹ thuật, cần chú ý nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động và tổ chức cho lao động trí thức tham gia vào hoạt động thực tiễn Nghĩa là phải tìm cách khắc phục những nhược điểm của lao động chân tay và lao động trí óc Quan điểm này của Hồ Chí Minh là phù hợp với thực tiễn của đất nước
1.2.3 Các bước tiến hành công nghiệp hóa
Sau khi hòa bình lập lại, tại Hội nghị Bộ Chính trị bàn về phương hướng khôi phục và phát triển kinh tế, có ý kiến muốn tập trung lực lượng vào xây dựng và phát triển công nghiệp nặng để nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta tiến lên Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Mấy năm kháng chiến ta chỉ có nông thôn, bây giờ mới có thành thị,… nếu muốn công nghiệp hóa gấp thì là