Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động du lịch tỉnh Thái Nguyên còn nhiều bất cập: công tác quy hoạch đầu tư, nâng cấp các khu, điểm du lịch, công tác tuyên truyền, quảng
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lưu Ngọc Tố Tâm
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, tư liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo tính khách quan và trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Hường
Trang 3MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 7
1.1 Khái quát chung về du lịch 7
1.2 Khái quát chung quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh 13
1.3 Kinh nghiệm các địa phương khác về quản lí du lịch 28
Chương 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY- THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 35
2.1 Tiềm năng du lịch Thái Nguyên tác động đến quản lí du lịch của tỉnh 35
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch ở Thái Nguyên hiện nay 44
2.3 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 54
Chương 3: MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 65
3.1 Mục tiêu phát triển và quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 65
3.2 Các giải pháp cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 72
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 4ATK An toàn khu
VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ở Việt Nam từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường Mặc
dù ở các lĩnh vực khác nhau, có những chiến lược phát triển khác nhau, song
có một điểm chung là các lĩnh vực trọng yếu đều được đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và quản lí của nhà nước Du lịch cũng không ngoại lệ Để du lịch thật
sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một yêu cầu không thể thiếu đó là vai trò quản lý nhà nước về du lịch Bởi lẽ, thông qua quản lý của nhà nước sẽ định hướng cho du lịch phát triển về mọi mặt với mục tiêu khai thác lợi thế tối
đa nhằm đem lại lợi nhuận đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế trên cơ
sở phát triển bền vững
Thái Nguyên là mảnh đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống cách mạng, giàu tài nguyên tự nhiên và nhân văn Ngày nay, cùng với sự đổi thay của đất nước, Thái Nguyên cũng đang chuyển mình và phát huy những giá trị tiềm tàng vốn có để góp phần vào sự phát triển chung ấy Là mảnh đất giàu tiềm năng du lịch,văn hóa,lịch sử và sinh thái, Thái Nguyên đã định hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế quan trọng Là tỉnh miền núi với nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn đa dạng, phong phú, nơi đây có nhiều cảnh quan thiên nhiên, đa dạng về sinh thái động thực vật, nhiều sông hồ, hang động đẹp với trung tâm du lịch của tỉnh là thành phố Thái Nguyên và phụ cận
là khu du lịch Hồ Núi Cốc, chùa Hang, đền Đuổm, hang Phượng Hoàng- suối
Mỏ Gà…Đó là những đặc điểm quan trọng hấp dẫn du khách trong tương lai, đặc biệt là du khách quốc tế
Cùng với sự phát triển du lịch của cả nước, du lịch tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua đã từng bước có những chuyển biến mới, tích cực với nhiều mô hình hoạt động phong phú phục vụ khách du lịch nội địa và quốc tế
Trang 6Với cơ chế chính sách mở cửa, tỉnh đã khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh thuộc mọi thành phần kinh tế vào hợp tác khai thác các tiềm năng du lịch Kết quả, có nhiều doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả trong lĩnh vực du lịch, nhiều công trình dịch vụ mới được mọc lên, nhiều cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư phát triển, một lực lượng lớn lao động được tạo thêm công ăn việc làm Sự phát triển du lịch đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, làm thay đổi diện mạo của tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động du lịch tỉnh Thái Nguyên còn nhiều bất cập: công tác quy hoạch đầu tư, nâng cấp các khu, điểm du lịch, công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch còn nhiều hạn chế; sản phẩm du lịch còn ít, chất lượng chưa cao và chưa thực sự hấp dẫn, thu hút du khách; tiềm năng và lợi thế du lịch của địa phương chưa được khai thác tốt để góp phần cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Những bất cập trên đây là những thách thức không nhỏ đối với sự phát triển của du lịch tỉnh Thái Nguyên Từ đó đặt ra yêu cầu sự quản lí sát sao hơn nữa của nhà nước đối với hoạt động du lịch nói chung và du lịch Thái Nguyên nói riêng Với những lí
do đó, người viết thực hiện đề tài “Quản lí nhà nước về du lịch ở tỉnh Thái
Nguyên hiện nay” với mục đích nghiên cứu thực trạng và những giải pháp
đểquản lý du lịch tỉnh Thái Nguyên hiện tại và trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tìm hiểu và quảng bá cho du lịch, nhất là du lịch Thái Nguyên là một vấn đề mới mẻ, thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu trung ương và địa phương Từ những năm 90, khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu thăm quan
du lịch ngày càng tăng, việc thông tin tuyên truyền về du lịch ngày càng được phổ biến Đặc biệt trong những năm đầu thế kỉ XXI, khi ngành công nghiệp không khói đóng vai trò quan trọng trong ngành kinh tế của các quốc gia, du lịch trở thành một nhu cầu không nhỏ của cuộc sống con người hiện đại thì
Trang 7việc quảng bá cho du lịch nói chung, du lịch Thái Nguyên nói riêng ngày càng được đẩy mạnh Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này
Cụ thể là:
Về sách:
Năm 2003, Bảo tàng Thái Nguyên phát hành cuốn Thái Nguyên- di tích
danh thắng và triển vọng tương lai của Đồng Khắc Thọ Năm 2008, Đồng
Khắc Thọ viết Di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Thái Nguyên
do Công ty văn hóa Trí tuệ Việt phối hợp với nhà xuất bản Văn hóa Thông tin
ấn hành Hai tác phẩm nêu trên đã liệt kê các di tích lịch sử và danh lam thắng
cảnh của Thái Nguyên một cách chi tiết nhưng chưa đề cập đến vấn đề quản
lý du lịch của tỉnh
Năm 2005, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia biên soạn Thái Nguyên thế
và lực mới trong thế kỉ XXI.Cuốn sách giới thiệu một số tour du lịch tiêu biểu
trên đất Thái Nguyên Năm 2006 Sở thương mại và du lịch Thái Nguyênban
hành Sổ tay du lịch Thái Nguyên, hướng dẫn các du khách lựa chọn các tuyến
du lịch phù hợp cho mình khi đến với Thái Nguyên Đó là hai cuốn sách giới thiệu cho bạn đọc và các du khách Việt Nam cũng như du khách nước ngoài
về các khu du lịch, tour du lịch khi đến với Thái Nguyên chứ hoàn toàn không
hề đề cập đến vấn đề quản lí du lịch của tỉnh
Cũng trong năm 2006, Nguyễn Văn Chiến viết Tiềm năng và thực
trạng phát triển du lịch Thái Nguyên, trong đó đã đề cập đến những tiềm năng
và thực trạng du lịch Thái Nguyên đến trước năm 2006 dưới góc độ kinh tế Tác giả cuốn sách đã trình bày một số giải pháp cho phát triển du lịch dưới góc độ kinh tế mà không đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động du lịch của tỉnh Thái Nguyên
Về luận văn:
Năm 1999, Nguyễn Thị Kim Anh, sinh viên đại học Sư phạm Thái
Nguyên viết khóa luận tốt nghiệp “An toàn khu- tiềm năng du lịch về cội
Trang 8nguồn”, đã đề cập đến vấn đề du lịch cội nguồn của ATK Định Hóa, Tuyên
Quang, đánh giá sơ bộ tiềm năng du lịch của vùng trên cơ sở các tài nguyên
du lịch sẵn có, đồng thời đưa ra một số định hướng trong tương lai Tuy nhiên, luận văn chỉ đề cập đến những nội dung của phát triển du lịch trong phạm vi ATK chứ không đề cập đến việc quản lí du lịch của tỉnh Thái Nguyên nói chung
Đặc biệt năm 2008, Phạm Mỹ Đức sinh viên khoa địa lý trường Đại
học sư phạm Thái Nguyên làm khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Tiềm năng,
hiện trạng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên đã phân tích,
đánh giá tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn dưới góc độ kinh tế
có liên quan đến hoạt động du lịch của Thái Nguyên, đánh giá hiện trang du lịch của tỉnh qua năm du lịch quốc gia tổ chức tại Thái Nguyên (2007), tìm hiểu và đưa ra một số kiến nghị góp phần thúc đẩy du lịch Thái Nguyên phát triển theo hướng bền vững
Năm 2009, luận văn cao học của học viên Tạ Thị Kim Niên khoa lịch
sử trường Đại học sư phạm Thái Nguyên với đề tài Tiềm năng du lịch Thái
Nguyên nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa (1995-2007) Luận văn đã trình bày
một cách có hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và vị trí, vai trò của nó với vấn đề du lịch hiện nay Công trình nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng tình hình du lịch ở Thái Nguyên, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng du lịch của Thái Nguyên dựa trên thế mạnh du lịch lịch sử, du lịch văn hóa, du lịch danh thắng
Hai luận văn này đề cập tới những tiềm năng du lịch của tỉnh một cách khá chi tiết và đầy đủ Đồng thời cũng đưa ra rất nhiều giải pháp cho phát triển ngành du lịch của tỉnh Nhưng vấn đề quản lý du lịch lại chưa được đặt
ra một cách hệ thống và toàn diện
Những công trình nghiên cứu trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập tới vấn đề du lịch Thái Nguyên Có một số bài báo, tạp chí, thông tin khoa học cũng
Trang 9nghiên cứu các vấn đề đề tài quan tâm Song, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu riêng và trình bày một cách hệ thống về quản lí nhà nước về du lịch ở Thái Nguyên Mặc dù vậy, tôi đánh giá rất cao những công trình trên và coi đó là nguồn tài liệu quý, giúp tôi trong quá trình tìm hiểu,
thực hiện đề tài Quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về du lịch Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
du lịch ở tỉnh Thái Nguyên trong hiện tại và tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Lí luận chung về quản lý nhà nước về du lịch
Thực trạng quản lí du lịch tỉnh Thái Nguyên hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Thời gian: 5 năm gần đây (2009-2014)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu Các phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp cũng được sử dụng để làm sáng tỏ nội dung của đề tài Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp điền dã để tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lí
Trang 10của các khu du lịch trong tỉnh, từ đó thấy được hạn chế, tìm ra giải pháp cho quản lý, phát triển hoạt động du lịch của tỉnh hiện nay
6 Đóng góp của luận văn
Về lí luận: Luận văn đã hệ thống hóa một số nội dung cơ bản cho vấn
đề quản lý nhà nước về du lịch ở cấp Tỉnh
Về thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên
cứu, giảng dạy và học tập lịch sử địa phương của các trường chuyên nghiệp
và phổ thông trên địa bàn tỉnh
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lí đưa ra giải pháp để quản lí du lịch Thái Nguyên trong hiện tại và tương lai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du
lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du
lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa
toàn thư Việt Nam (1966) đã chia nội dung của khái niệm du lịch thành hai
phần riêng biệt:
Thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, …
Thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh
tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu
Trang 12đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch cho rằng:
du lịch chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết, … Chính vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác
Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng, “Du lịch” được hiểu như sau: Du
có nghĩa là đi chơi, Lịch là lịch lãm, từng trải, hiểu biết Như vậy du lịch được hiểu là việc đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức
Ngoài những cách tiếp cận nêu trên, ta có thể tìm hiểu khái niệm về du
lịch theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt động du lịch:
- Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ
ở ngoài nơi cư trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác
- Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các
điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận
- Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện
về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du
Trang 13lịch trong việc hành trình và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương
- Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã
hội mà hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương mình, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn, chốn ở
Từ cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt động du lịch nêu trên có thể thấy du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và
cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm du lịch nhưng
ta có thể đưa ra khái niệm chung về du lịch theo như văn bản pháp luật hiện hành nêu ra như sau:
Theo Điều 4, Chương 1, Luật du lịch Việt Nam, 2005: “Du lịch là các
hoạt động có liên quan của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Theo đó, du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều
kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hòa tất cả các mối quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành và lưu trú tạm thời dẫn tới, mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa Hiện nay, ngành du lịch, do lượng vốn cần đầu tư không quá nhiều và thời gian thu lợi nhuận nhanh, đang dần trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta và phát triển mạnh mẽ trong xã hội hiện tại
Trang 14Thứ hai: Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường
xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ: nhu cầu tìm hiểu, nhu cầu tham quan- giải trí, nhu cầu nghỉ dưỡng…
Thứ ba: Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa
dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình
Việc nắm bắt khái niệm chung của du lịch và nội hàm khái niệm của nó
sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khái quát chung và định hướng ban đầu về du lịch, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung tiếp theo trong vấn đề quản lý nhà nước về du lịch
1.1.2 Chức năng của du lịch
Du lịch có những chức năng nhất định Có thể xếp các chức năng ấy thành 4 nhóm: chức năng xã hội,chức năng kinh tế, chức năng sinh thái và chức năng chính trị
1.1.2.1 Chức năng xã hội
Chức năng xã hội của du lịch là việc thể hiện vai trò của du lịch trong giữ gìn, hồi phục sức khoẻ và tăng cường sức sống của nhân dân Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ
và khả năng lao động của con người Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định rằng, nhờ có chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của dân
cư trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hoá giảm 20% (Crirosep, Dorin, 1981) Đồng thời,thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc,
từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm
Trang 15chất tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn… Điều đó quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội
1.1.2.2 Chức năng kinh tế
Chức năng kinh tế của du lịch thể hiện ở sự liên quan mật thiết với vai trò của con người như là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội Hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại của xã hội Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực
và được tổ chức hợp lý sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp Một mặt nó góp phần vào việc phục hồi sức khoẻ cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt
Ngoài ra chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở khía cạnh khác- đó
là dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương… và là cơ sở quan trọng, tạo đà cho nền kinh tế phát triển
Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới năm 2013, du lịch toàn cầu đã đem lại nguồn thu tới 935 tỉ USD, tạo việc làm cho hơn 300 triệu người Du lịch hiện đang trở thành ngành kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới, sánh ngang với các ngành sản xuất ô-tô, xe máy, kinh doanh vải vóc và thiết bị điện tử Chính vì vậy, không ít quốc gia đã thành lập Bộ Du lịch, hoặc gắn Du lịch trong những bộ kinh tế lớn
Thông qua tiêu dùng, du lịch tác động mạnh mẽ lên lĩnh vực lưu thông,
và do vậy gây ảnh hưởng lớn tới các lĩnh vực khác của quá trình tái sản xuất xã hội Kinh tế du lịch gây biến đổi lớn trong cơ cấu cán cân thu chi của đất nước, của vùng du lịch Đối với du lịch quốc tế, việc khách mang ngoại tệ đến đổi và tiêu ở khu du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước Còn đối với du lịch nội địa, việc tiêu tiền của dân ở vùng du lịch chỉ gây biến động trong cơ cấu cán cân thu chi của nhân dân theo vùng, chứ không làm thay đổi tổng số như tác động của du lịch quốc tế Du lịch góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào vòng chu chuyển, vì chi phí cho
Trang 16hành trình du lịch là từ tiền tiết kiệm của nhân dân Ảnh hưởng của du lịch lên
sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân như thông tin, xây dựng, y tế, thương nghiệp, văn hoá… cũng rất lớn Sự sẵn sàng đón tiếp khách
du lịch của một vùng không chỉ thể hiện ở chỗ những nơi đó có tài nguyên du lịch, mà bên cạnh chúng phải có cả cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống giao thông vận tải, bưu điện, ngân hàng, mạng lưới thương nghiệp… Việc vận dụng đưa những nơi có tài nguyên du lịch vào sử dụng, kinh doanh đòi hỏi phải xây dựng
ở đó hệ thống đường sá, mạng lưới thương nghiệp, bưu điện… qua đó cũng kích thích sự phát triển tương ứng của các ngành có liên quan
1.1.2.3 Chức năng sinh thái
Du lịch góp phần tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Yếu tố nghỉ ngơi trong du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục
và tối ưu hoá môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và hoạt động của con người.Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hoá quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lí Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối
ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòng khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau, điều đó đã tạo nên chức năng sinh thái của du lịch
1.1.2.4 Chức năng chính trị
Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu
Trang 17vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Mỗi năm, hoạt động du lịch có những chủ đề khác nhau, như “Du lịch là giấy thông hành của hoà bình” (1967), “Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người” (1983)… kêu gọi hàng triệu người quí trọng lịch sử, văn hoá và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc
Trong Tuyên bố Ô-sa-ka của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới: (1994)
đã khẳng định “Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cố hòa bình,
là phương tiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế” Kỳ họp lần thứ XI của
Đại hội đồng Tổ chức du lịch Thê giới (WTO) tại Cai-rô Ai Cập đã từng đánh
giá : “Du lịch là một nhân tố của hiểu biết, khoan dung và hòa bình”
Trong thời đại hiện nay, có thể nhận rõ hoạt động du lịch ngày càng
có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác Quốc tế, tăng cường công tác đối ngoại và thu hút đầu tư Du lịch đã
và đang tích cực góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết giữa các dân tộc, tạo điều kiện cho sự hiểu biết lẫn nhau và góp phần gìn giữ, bảo vệ hòa bình thế giới
1.2 Khái quát chung quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh
1.2.1 Quan niệm quản lý nhà nước về du lịch
Cho đến hiện tại, người viết chưa tìm thấy bất cứ tài liệu nào đưa ra một cách hoàn chỉnh khái niệm quản lý nhà nước về du lịch.Vì vậy, để hiểu khái niệm quản lý nhà nước về du lịch ta phải đi vào tìm hiểu khái niệm quản lý và
quản lý nhà nước, sau đó sẽ tiếp cận đến khái niệm Quản lý nhà nước về du lịch
Khái niệm quản lý theo lý thuyết hệ thống trong giáo trình Khoa học quản lý- tập 2 NXB KHKT- 2001): quản lý là sự tác động có hướng đích của
chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống
Trang 18Về khái niệm quản lý nhà nước cũng có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau được nêu ra trong các tư liệu khác nhau
Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ "
Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành,tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,công chức,ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước
Theo tài liệu Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu (Khoa Xây
dựng Đảng- Học viện Báo chí và tuyên truyền, 2014):
Quản lý nhà nước là quản lý mang tính quyền lực nhà nước, được
sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước [16, tr.5]
Quản lý nhà nước là các công việc của nhà nước, được thực hiện bởi tất
cả các cơ quan nhà nước, cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước Hoạt động
Trang 19quản lý nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng cần có sự tổ chức
và quản lý tương ứng Hoạt động kinh doanh du lịch cũng vậy
Từ quan niệm quản lý nhà nước chúng ta có thể đưa ra quan niệm quản
lý nhà nước về du lịch: Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức
và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình, các hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động
du lịch trong nước và du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế xã hội
do nhà nước đặt ra”
Theo đó, quan niệm quản lý nhà nước về du lịch bao hàm những nội dung sau
Một là: quản lý nhà nước tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền
lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình, các hoạt động du lịch của con người Nhằm thúc đẩy du lịch phát triển, nhà nước cần điều chỉnh hành vi của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội trong lĩnh vực du lịch để duy trì trật tự trong hoạt động kinh doanh du lịch, tạo các điều kiện thuận lợi khuyến khích các chủ thể tham gia kinh doanh du lịch và định hướng cho du lịch phát triển bền vững Quản lý nhà nước về du lịch là làm chức năng quản
lý vĩ mô về du lịch, không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng kinh doanh thay các doanh nghiệp du lịch Việc quản lý đó thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế du lịch Quản lý nhà nước về du lịch nhằm đưa du lịch phát triển định hướng chung theo tiến trình phát triển của đất nước
Hai là, quản lý nhà nước về du lịch nhằm mục đích duy trì và phát triển
ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế xã hội do nhà nước đặt ra Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế nhiều thành phần là một quá trình khách quan, hợp quy luật và là
Trang 20nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới Đó là một quá trình khó khăn, phức tạp vì phải đổi mới cả cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy quản lý
và con người…Trong hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế, nhà nước đóng vai trò định hướng trong từng thời kì Nhà nước còn điều tiết, can thiệp vào các quan hệ du lịch nhằm đảm bảo sự ổn định thị trường, giá cả và
sự phát triển bền vững của ngành Quản lý nhà nước về hoạt động du lịch tạo
ra sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động du lịch Đồng thời, chỉ có sự quản lý thống nhất của Nhà nước về hoạt động du lịch mới giúp cho việc khai thác các thế mạnh của từng vùng, từng địa phương đạt kết quả, hơn nữa lại phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển du lịch quốc tế Quản lý nhà nước về du lịch không chỉ tạo ra những điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển mà còn nhằm hạn chế những tiêu cực, phát huy những yếu tố tích cực của ngành du lịch trong ngành kinh tế thị trường Do đó, quản lý nhà nước về du lịch vừa tạo động lực phát triển cũng như giúp cho ngành du lịch đạt được mục tiêu phát triển ngành, vừa có khả năng giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội, môi trường
và phát triển bền vững
1.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh
Chủ thể của quản lý nhà nước là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước Theo
đó, chủ thể quản lý nhà nước về du lịch bao gồm hệ thống các cơ quan có thẩm quyền chung và hệ thống các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn Trong khuôn khổ nội dung luận văn ở đây chỉ xét chủ thể quản lý nhà nước
về du lịch ở cấp tỉnh Theo đó, chủ thể quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh cũng bao gồm các cơ quan có thẩm quyền chung và các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn
Trang 211.2.2.1 Cơ quan có thẩm quyền chung
Cơ quan có thẩm quyền chung trong chủ thể quản lý nhà nước về du lịch
ở cấp tỉnh được quy định rõ tại điều 11, chương 1, luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) đó là: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ sở, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
1.2.1.2 Cơ quan có thẩm quyền chuyên môn
Theo quy định tại Luật Du lịch Việt Nam, hệ thống các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn của chủ thể quản lý nhà nước về du lịch bao gồm:
Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch, Tổng Cục Du lịch và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Theo đó cơ quan có thẩm quyền chuyên môn của chủ thể
quản lý về du lịch ở cấp tỉnh đó là các Sở văn hóa thể thao và du lịch
Sở văn hóa thể thao và du lịch là những cơ quan giúp Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của Tổng cục du lịch về chuyên môn, nghiệp vụ du lịch Hiện nay, mạng lưới các Sở văn hóa thể thao và du lịch được mở rộng và thành lập ở cả 63
tỉnh thành trong cả nước
1.2.3 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh
Quản lý nhà nước về du lịch không chỉ tạo ra những điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển mà còn nhằm hạn chế những tiêu cực, phát huy những yếu tố tích cực của ngành du lịch trong ngành kinh tế thị trường Để hoạt động quản lý được tiến hành có hiệu quả thì một yêu cầu thiết yếu đầu tiên đó chính là cần có cơ sở pháp lý đầy đủ và chặt chẽ Trong quản lý nhà nước về du lịch, cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước bao gồm: Luật du lịch Việt Nam; Hiến pháp 2013, Luật tổ
Trang 22chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp; Một số quyết định, nghị định, chỉ thị trong quản lý nhà nước về du lịch hiện nay… Cụ thể:
Luật du lịch Việt Nam (2005) Đây là cơ sở pháp lý cơ bản và quan
trọng nhất quy định những nội dung xung quanh vấn đề du lịch trong đó có vấn đề quản lý nhà nước về du lịch
Hiến pháp năm 2013 quy định vị trí, chức năng của Chính phủ
Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
số 11/2003/QH 11 quy định vị trí, tính chất, chức năng của Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện, xã và các cấp tương đương
Nghị định số 76/2013/NĐ-CP Ngày 16/7/2013) quy định vị trí, chức
năng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.Theo đó, đây là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định
của pháp luật
Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong đó có quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Quyết định Số: 23/2014/QĐ-TTg/ Quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch
Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Sở Văn hóa, Thể thao
Trang 23Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ngành Văn hóa, Thể thao
và Du lịch giai đoạn 2013 - 2020, tầm nhìn 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 4227/QĐ-BVHTTDL ngày 29/11/2013)
Thông tư số 07/2011/TT-BVHTTDL ngày 07 tháng 6 năm 2011 của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi
bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vị chức năng quản lý của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Thông tư số 47/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định xếp hạng cơ sở lưu trú
du lịch và phí thẩm định cơ sở kinh doanh dịch vụ đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch
Nghị định số 158/2013/NĐ-CP, ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
Quyết định số:2473/QĐ-TTg: Phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Thủ tướng Chính phủ (2011)
Chỉ thị Số: 14/CT-TTg ngày 2/07/2015 về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch
Tất cả những nội dung trong các văn bản nêu trên đã tạo thành cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về du lịch nói chung và ở cấp tỉnh nói riêng Cũng như bất kì các ngành kinh tế khác, các lĩnh vực, hoạt động xã hội khác, du lịch cần và đòi hỏi ở nhà nước các văn bản luật và văn bản dưới luật để có thể tạo lập cơ sở khuôn khổ pháp lý cho hoạt động du lịch nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về du lịch nói riêng Có như vậy, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch mới có thể quản lý một cách hiệu quả, ngành du lịch mới có thể phát triển vững chắc và đúng hướng
Trang 241.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh
Thực tế hoạt động du lịch đã chỉ rõ, trong cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, rất cần sự quản lý điều hành của Nhà nước Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu để tự nó phát triển, để thị trường tự phát phát triển, buông lỏng quản lý của Nhà nước, không có sự thống nhất các yếu tố liên ngành, liên vùng, hoạt động du lịch sẽ bị chệch hướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát triển du lịch bền vững Nhiều vấn đề như quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái, trật tự an toàn xã hội, liên kết hội nhập, những thỏa thuận đa phương hoặc song phương về tạo điều kiện đi lại cho du khách,… nếu không có vai trò của Nhà nước không thể giải quyết được Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa của hoạt động du lịch, việc hợp tác liên kết luôn đi liền với cạnh tranh đòi hỏi mỗi nước phải có chiến lược tổng thể phát triển du lịch xuất phát từ điều kiện của mình, vừa phát huy được tính đặc thù, huy động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, tranh thủ được nguồn lực bên ngoài, để có điều kiện hội nhập Đây là vấn đề thuộc quyền nhà nước và cũng
là trách nhiệm của Nhà nước trong phát triển du lịch
Theo điều 10 của Luật du lịch thì quản lý nhà nước về du lịch có 9 nội dung, cụ thể đó là: 1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và chính sách phát triển du lịch; 2 Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế- kỹ thuật trong hoạt động du lịch; 3 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch; 4 Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; 5 Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch; 6 Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch, hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và
Trang 25nước ngoài; 7 Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch; 8 Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch; 9 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch
Trên cơ sở quy định của Luật du lịch, các quy định hiện hành của nhà nước và tình hình thực tiễn trong quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh, tác giả sắp xếp và đi sâu nghiên cứu một số nội dung chủ yếu như sau:
Để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, đảm bảo các mục tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh có các nội dung chủ yếu sau:
1.2.4.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển du lịch mang tính đặc thù của địa phương thuộc thẩm quyền và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật chung của Nhà nước liên quan đến hoạt động du lịch
Hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật đã khó, nhưng cái khó hơn
là làm thế nào để đưa nó đi vào đời sống thực tế Bản thân chính sách, pháp luật đối với nền kinh tế của một đất nước nói chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng mới chỉ là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước buộc các chủ thể phải thực hiện Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống, các cơ quan nhà nước nói chung, chính quyền cấp tỉnh nói riêng phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Chính quyền cấp tỉnh phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về du lịch một cách nghiêm túc Mặt khác, chính quyền cấp tỉnh phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách,
Trang 26pháp luật du lịch trên địa bàn tỉnh, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật Không tùy tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanh chóng xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn cho hoạt động du lịch
Bên cạnh đó, để phát triển du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, chính quyền cấp tỉnh phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc cụ thể hóa và
tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển du lịch phù hợp với điều kiện ở địa phương Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền mang tính đặc thù ở địa phương như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất, chính sách ưu đãi tín dụng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh du lịch Tuy nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật
và quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở
sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bình đẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi Bên cạnh đó, chính quyền cấp tỉnh cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính ở địa phương theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả Tiếp tục thực hiện mô hình một cửa trong đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh Thực hiện chuẩn hóa các thủ tục hành chính theo tinh thần triệt để tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện
Mặt khác, hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch
là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch Vì vậy, chính quyền cấp tỉnh cần có chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng du lịch tại các khu, điểm du lịch như: mở đường giao thông, xây dựng
hệ thống điện, cung cấp nước sạch, phát triển hệ thống thông tin liên lạc, hỗ
Trang 27trợ trong việc tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử, các công trình kiến trúc, cảnh quan du lịch
Ngoài ra, chính quyền cấp tỉnh cần phải đảm bảo bình ổn giá cả tiêu dùng và thị trường du lịch, có chính sách điều tiết thu nhập hợp lý và hướng các doanh nghiệp du lịch tham gia thực hiện các chính sách xã hội ở địa phương Để thực hiện điều này, chính quyền cấp tỉnh phải sử dụng linh hoạt các công cụ quản lý nhằm hạn chế tình trạng nâng giá, độc quyền trong hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương Du lịch là khâu đột phá kích thích sự phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực và cũng là lĩnh vực tạo ra lợi nhuận cao
Vì vậy, phải có chính sách hợp lý để hướng các doanh nghiệp sử dụng nguồn lợi nhuận thu được tiếp tục đầu tư cho sự phát triển lâu dài và bền vững, khai thác hợp lý tiềm năng du lịch sẵn có của địa phương, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa có tiềm năng phát triển du lịch để góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sở tại
1.2.4.2 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển
du lịch ở địa bàn để giúp các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực du lịch định hướng phát triển
Xây dựng và công khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
du lịch là một trong những nội dung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn của chính quyền cấp tỉnh Nó giúp cho các cá nhân, tổ chức (nhà đầu tư) an tâm khi quyết định đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực du lịch
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mục tiêu cuối cùng của các đơn vị kinh doanh là lợi nhuận Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng
sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng các khu, điểm du lịch, hoặc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật như các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ Vì thế, chính quyền
Trang 28cấp tỉnh phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của địa phương Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung của cả nước đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới gắn với tiến trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Có như vậy, mỗi đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch mới có thể xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển riêng phù hợp với chiến lược và
kế hoạch phát triển chung của địa phương
1.2.4.3 Tạo lập sự gắn kết liên ngành, liên vùng, liên quốc gia trong hoạt động du lịch; giữa địa phương và trung ương trong quản lý nhà nước về du lịch
Nâng cao tính liên kết là một điều kiện tất yếu để phát triển bền vững ngành du lịch trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm tính liên ngành, liên vùng, liên quốc gia Sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp du lịch, liên kết giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ tạo nên một môi trường, cơ chế kinh doanh thuận lợi, công bằng Để đạt được điều này, một mặt, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương phải thống nhất và luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ, liên hệ mật thiết với nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về du lịch; thực hiện nguyên tắc và các cơ chế, chính sách phát triển du lịch của quốc gia nói chung
và ở địa phương nói riêng nhằm đảm bảo đạt hiệu lực, hiệu quả Mặt khác, trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, để tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt việc cung cấp thông tin, cập nhật chính sách mới về du lịch, tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ quản trị doanh nghiệp để giúp họ hiểu rõ về các cam kết, nghĩa vụ của Nhà nước và của doanh nghiệp theo luật pháp quốc tế và điều kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Trang 29Chính quyền cấp tỉnh cần phải trở thành trung tâm gắn kết giữa các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn với thị trường liên vùng, khu vực và trên thế giới, nhất là với các trung tâm kinh tế lớn Một mặt, chính quyền cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ tham gia hợp tác quốc tế về du lịch theo quy định của pháp luật, góp phần đẩy mạnh liên kết và hội nhập dịch vụ du lịch với các nước
trong khu vực và quốc tế Mặt khác, cần chủ động làm “đầu nối” thông qua
việc tổ chức và thiết lập các điểm thông tin, lựa chọn và công bố các địa chỉ giao dịch của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có uy tín đang hoạt động tại các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới nhằm giúp các doanh nghiệp có những thông tin cần thiết để có thể lựa chọn đối tác liên doanh, liên kết Đồng thời, cũng cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, xúc tiến quảng
bá du lịch của địa phương thông qua việc tổ chức các cuộc hội thảo, tổ chức các đoàn công tác kết hợp tham quan trao đổi kinh nghiệm với các địa phương khác trong nước hoặc nước ngoài
1.2.4.4 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo,bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch
Cũng như trong các lĩnh vực, ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này Bởi vì, từ cạnh tranh toàn cầu, cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành, các doanh nghiệp cho đến cạnh tranh từng sản phẩm suy cho cùng là cạnh tranh bằng trí tuệ của nhà quản lý và chất lượng của nguồn nhân lực Để hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Đặc biệt, những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cần phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có như vậy
Trang 30mới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Theo đánh giá của các lãnh đạo ngành Du lịch, so với những năm trước đây, công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch thực sự đã được nâng cao một bước cả về số lượng và chất lượng Việc phát triển nguồn nhân lực của ngành
Du lịch đang được triển khai đồng bộ Từ việc xây dựng quy hoạch dài hạn, tổng thể đến xây dựng kế hoạch, chương trình, thực hiện các biện pháp có tính chất cấp bách, thường xuyên và đã có được những kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch nước nhà Nhìn chung, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch hiện nay đã có sự chuyển biến rõ rệt, đổi mới, nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từng bước đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh du lịch theo cơ chế thị trường Hiện tại, ngày càng có nhiều doanh nghiệp áp dụng mô hình quản trị nguồn nhân lực tiên tiến, làm tốt các khâu tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực Đặc biệt, những doanh nghiệp du lịch lớn có đội ngũ lao động chất lượng khá, được đào tạo bài bản, chính quy, có ý thức, thái độ nghề nghiệp nghiêm túc, kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ khá chuyên nghiệp, đáp ứng tốt yêu cầu của công việc Tuy nhiên, hiện nay lực lượng lao động của ngành Du lịch vẫn còn những hạn chế, bất cập
Đó là chất lượng đội ngũ lao động du lịch ở một số cơ sở vẫn còn thấp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc, ảnh hưởng đến hoạt động chung của ngành
Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành Du lịch, có tác động quyết định trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và sự phát triển ngành Du lịch nước ta Các doanh nghiệp
du lịch có phát triển kinh doanh được hay không phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ nhân viên của mình Bởi vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết hiện nay
Trang 311.2.4.5 Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động du lịch và xử
lý vi phạm trong lĩnh vực du lịch
Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch là chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước về du lịch, là phương thức đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ cương trong quản lý nhà nước về du lịch Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của các cơ quan nhà nước và các cá nhân có trách nhiệm nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, đảm bảo phát triển du lịch bền vững Việc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành du lịch được thực hiện thông qua hai nội dung là thanh tra nhà nước và thanh tra chuyên ngành du lịch Hoạt động thanh tra không chỉ còn bó hẹp đối với các cơ quan, đơn vị tổ chức của Nhà nước mà mở rộng đến mọi tổ chức, cá nhân Từ đó, nội dung thanh tra cũng có sự thay đổi cơ bản Từ chủ yếu thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch, các chỉ tiêu pháp lệnh của các cơ quan, đơn vị Nhà nước, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ công nhân viên, đến nay, nội dung thanh tra chủ yếu xem xét việc tuân thủ các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương Do đó, chính quyền cấp tỉnh phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động
du lịch để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra Để thực hiện tốt nội dung này, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các khu, điểm du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng ký và
Trang 32hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành, ; đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn
1.3 Kinh nghiệm các địa phương khác về quản lí du lịch
1.3.1 Kinh nghiệm quản lí du lịch ở một số tỉnh, thành phố
Việc phát triển du lịch ở từng địa phương diễn ra rất khác nhau bởi đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa ở từng địa phương khác nhau Do vậy, quản lý nhà nước về du lịch ở các tỉnh cũng khác nhau Luận văn đề cập tới kinh nghiệm quản lí du lịch của hai tỉnh Lâm Đồng và Đà Nẵng bởi hai tỉnh này có sự phát triển du lịch trong tốp đầu ở nước ta và được lọt vào danh sách những thành phố quyến rũ nhất Việt Nam Xem xét và nhìn nhận hoạt động quản lý nhà nước của hai tỉnh trên sẽ giúp chúng ta rút ra một số kinh nghiệm cho vấn đề quản lý nhà nước về du lịch
1.3.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng
* Thành tựu trong phát triển, quản lý du lịch của thành phố Lâm Đồng Cùng với sự lớn mạnh của du lịch cả nước, thời gian quan du lịch Lâm Đồng đã có bước phát triển đáng kể, đã và đang trở thành một trong những đại danh du lịch hấp dẫn nhất đối với du khách trong và ngoài nước, thể hiện qua các mặt sau:
Lượng khách du lịch đến Lâm Đồng có mức tăng trưởng khá cao, theo
số liệu báo cáo,năm 2014 Lâm Đồng đã đón gần 2,5 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế hơn 100 ngàn lượt khách, tăng so cùng kỳ năm trước trên 20% Doanh thu từ du lịch cũng cao nhất so với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên Hoạt động du lịch lữ hành có nhiều tiến bộ, đáp ứng nhu cầu đi du lịch trong và ngoài nước của nhân dân trên địa bàn và khách du lịch nước ngoài
Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch cũng đã được cải thiện cả về số lượng
và chất lượng, bước đầu đáp ứng yêu cầu của du khách Cùng với sự phát
Trang 33triển cơ sở vật chất kỹ thuật ngành, các lĩnh vực kết cấu hạ tầng của tỉnh như giao thông, điện, thông tin liên lạc phát triển khá nhanh, một số hạ tầng cơ sở
du lịch đang được đầu tư xây dựng đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách và bước đầu đã tạo được sự quan tâm của các nhà đầu tư phát triển du lịch, mở ra triển vọng mới về xã hội hóa du lịch Trong những năm gần đây, các loại hình du lịch đặc trưng của tỉnh đã tạo được sự hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng; công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, giới thiệu về một địa danh du lịch với nét đặc trưng mới (Festival hoa) hàng năm,
đã tạo được ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách về một Đà Lạt đang từng ngày đổi mới để làm hài lòng du khách
Về nguồn nhân lực: Đội ngũ lao động dồi dào, từng bước được chuẩn hóa và bổ sung kịp thời, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch được quan tâm tổ chức thường xuyên để đáp ứng yêu cầu phát triển cho từng thời kỳ Hình thức đào tạo, bồi dưỡng đa dạng đã góp phần bổ sung kịp thời nguồn nhân lực lao động du lịch địa phương
Trong công tác quản lý nhà nước về du lịch có nhiều tiến bộ Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiều công việc liên quan đến công tác quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Xây dựng và triển khai quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã được phê duyệt Thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống các tệ nạn xã hội trên địa bàn, công tác quản lý chuyên ngành từng bước đi vào nề nếp, tạo thuận lợi cho hoạt động
du lịch phát triển
Bên cạnh đó đã có sự chuyển biến nhất định trong nhận thức của xã hội
về vị trí, vai trò của ngành du lịch trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương Hoạt động du lịch được các cấp, các ngành quan tâm hơn
Trang 34* Giải pháp cho quản lý du lịch ở tỉnh Lâm Đồng
Để đạt được những thành quả trên, thời gian qua tỉnh Lâm Đồng đã chú trọng thực hiện những giải pháp sau:
Một là, kiện toàn công tác tổ chức của ngành, sắp xếp, luân chuyển cán bộ
công chức của Sở và của các doanh nghiệp theo phân cấp quản lý chuyên ngành
đủ mạnh để phát huy sức mạnh toàn ngành đưa hoạt động du lịch phát triển
Hai là, phát huy vai trò quản lý nhà nước về hoạt động du lịch đối với
tất cả các đối tượng, thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh dịch
vụ và dịch vụ du lịch trên địa bàn toàn tỉnh; ngành du lịch tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành để tạo sự chuyển biến đồng bộ trong hoạt động du lịch Tiếp tục cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch theo cơ chế một cửa Phối hợp với các ngành chức năng tăng cường phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật
tự, an toàn cho du khách và bảo vệ môi trường du lịch trên địa bàn Sắp xếp
ổn định bộ máy theo hướng tinh gọn, đẩy mạnh tin học hóa trong hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp du lịch, tạo sự gắn bó, hợp tác vì mục tiêu phát triển du lịch Phát huy
và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch tỉnh và Hiệp hội du lịch tỉnh Lâm Đồng
Ba là, tổ chức lấy ý kiến đông đảo công chức trong ngành và nhân dân
trên địa bàn để xây dựng hình ảnh, biểu tượng của du lịch Lâm Đồng
Bốn là, đầu tư xây dựng một số quy hoạch chi tiết ở các khu du lịch
trọng điểm để làm cơ sở cho việc đầu tư và kêu gọi đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước
Năm là, tăng cường phối hợp liên ngành và liên vùng (đặc biệt với
Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ) trong việc thực hiện quy hoạch, quản lý ngành, xúc tiến quảng bá du lịch và bảo vệ môi trường
Trang 351.3.1.2 Kinh nghiệm quản lý du lịch ở thành phố Đà Nẵng
Không chỉ được thiên nhiên ưu đãi cho nhiều cảnh quan đẹp, Đà Nẵng còn là một thành phố đáng sống bởi sự trong lành và yên bình nơi đây Từng liên tục giữ thứ hạng cao nhất nước về tốc độ phát triển kinh tế nhưng Đà Nẵng vẫn duy trì tốt an ninh trật tự, không có người lang thang xin ăn, không
có người nghiện ma túy trong cộng đồng và rất hiếm khi xảy ra tình trạng kẹt
xe Đó là lí do mà thành phố này đã thu hút được một lượng lớn du khách trong và ngoài nước trong những năm qua
* Thành tựu trong quản lý, phát triển du lịch ở Đà Nẵng
Hiện nay, thành phố Đà Nẵng đang đưa các hoạt động giải trí vào du lịch: trải nghiệm cảm giác đêm Đà Nẵng trên phố du lịch Bạch Đằng, thưởng thức các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống, tham gia các hoạt động vui chơi giải trí sau 24h Đà Nẵng hiện có sân golf 18 lỗ đã đạt nhiều giải thưởng quốc tế sẵn sàng đáp ứng sở thích của những yêu golf
Với mục tiêu trở thành thành phố sự kiện, Đà Nẵng đã xây dựng các sự kiện du lịch lớn, trong đó Cuộc thi Trình diễn Pháo hoa Quốc tế - nơi phô diễn những màn pháo hoa tuyệt đẹp đến từ các nước đã trở thành sản phẩm đặc trưng của Đà Nẵng Đà Nẵng có sân bay quốc tế với công suất 6 triệu khách/năm và hiện có nhiều đường bay trực tiếp quốc tế Cảng nước sâu Tiên
Sa là nơi thường xuyên tiếp nhận du thuyền cao cấp, đưa du khách đến với Đà Nẵng Đà Nẵng còn là trạm dừng chính của các tuyến xe lửa và xe khách
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng, năm
2014, số khách du lịch đến với thành phố Đà Nẵng là 3,8 triệu lượt, tăng 21,9% so với năm 2013 Trong đó, số khách quốc tế hơn 955.000 lượt, khách nội địa hơn 2,8 triệu lượt.Tổng thu du lịch của Đà Nẵng đạt 9.740 tỉ đồng, doanh thu hơn 110% so với kế hoạch đề ra của ngành du lịch Thành phố
* Giải pháp cho quản lý, phát triển du lịch ở Đà Nẵng
Đà Nẵng trình Thủ tướng Chính phủ chủ trương thành lập Sở Du lịch trên cơ sở tách Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay
Trang 36Thủ tướng Chính phủ yêu cầu hoàn thiện dự thảo trên theo hướng tạo điều kiện để thành phố Đà Nẵng phát huy lợi thế để trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ của miền Trung vào năm 2020, tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị
Năm 2015, Đà Nẵng đã và sẽ tiếp tục đưa vào hoạt động nhiều công trình du lịch phục vụ du khách và người dân như bến đỗ du thuyền, cụm dịch
vụ nổi và câu lạc bộ thể thao dưới nước, khu vui chơi giải trí trong nhà Tuyên Sơn, hệ thống tàu điện cao tốc trên cao, khu chợ đêm sông Hàn…
Theo quy hoạch được phê duyệt, từ nay đến năm 2015, thành phố Đà Nẵng sẽ ưu tiên phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch; đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; phát triển theo 3 hướng chính:
+ Du lịch biển, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái,
+ Du lịch văn hóa, lịch sử, thắng cảnh, làng quê, làng nghề,
+ Du lịch công vụ, mua sắm, hội nghị, hội thảo
Mục tiêu đến năm 2015 đón 4 triệu lượt khách, trong đó có 1 triệu khách quốc tế, với tổng số phòng khách sạn lên 21 ngàn phòng, trong đó hạng 4,5 sao là 15.700 phòng
1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm cho quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh
Từ kinh nghiệm hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động du lịch ở các địa phương trên, có thể rút ra một số bài học cho quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh như sau:
Một là, phải xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển cho thời gian dài
hợp lý; có chiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng thúc đẩy du lịch phát triển Ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng hoặc là ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy kinh
tế xã hội địa phương phát triển Ở hai địa phương Lâm Đồng và Đà Nẵng đều
Trang 37có quy hoạch tổng thể, chiến lược, kế hoạch và các chính sách nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển du lịch Quy hoạch tổng thể, chiến lược, kế hoạch và các chính sách phát triển du lịch được xây dựng rất đồng bộ, thống nhất và có các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn phát triển Đồng thời, các tỉnh này cũng rất quan tâm đến việc đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Hai là, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng thời tạo ra được các sản
phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút khách du lịch Xã hội càng văn minh, nhu cầu của khách du lịch càng phong phú, đa dạng Vì vậy, việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch tạo ra được các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút khách du lịch là một tất yếu cần được quan tâm thực hiện tốt
Ba là, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch Mục đích của
tuyên truyền, xúc tiến du lịch trong kinh doanh du lịch là nhằm giới thiệu, hình thành và định hướng nhu cầu của du khách đối với các sản phẩm du lịch của địa phương
Bốn là, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các vùng, các
doanh nghiệp với nhau để phát triển du lịch Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành du lịch phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt Do vậy, liên kết, hợp tác trong du lịch giữa các địa phương, các vùng, các doanh nghiệp du lịch với nhau để cùng phát triển trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Năm là, quan tâm đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho
ngành du lịch của địa phương Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ, có đối tượng phục vụ là con người Hơn nữa, con người ở đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng, một nước mà còn bao gồm cả khách du lịch quốc tế
Sáu là, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt
động du lịch, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự nhiên và xã hội của du lịch Việc phát triển du lịch đang đặt ra ngày càng nhiều vấn đề không thể
Trang 38xem nhẹ, chẳng hạn tình trạng gây tổn hại về môi trường, tài nguyên du lịch thiên nhiên, thậm chí là xâm phạm cả vào các công trình văn hóa, lịch sử và kéo theo sự phát triển của một số tệ nạn xã hội, hoặc tình trạng cố tình vi phạm pháp luật của một số tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch Điều đó cho thấy, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh du lịch, đồng thời làm tốt việc bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự nhiên và xã hội của du lịch
Bảy là, thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý,
điều hành của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Để Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch phát huy được vai trò, thể hiện tốt chức năng của mình, trong đó có quản lý nhà nước về hoạt động du lịch, cần phải quan tâm công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, áp dụng các hình thức điều động, luân chuyển …, tạo điều kiện để cán bộ có điều kiện tiếp cận thực tiễn, đồng thời cần phải thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề hoặc giao lưu với các địa phương, tỉnh bạn để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong quản lý, điều hành hoạt động du lịch
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở tìm hiểu một số khái niệm cơ bản trong lí luận về quản lý nhà nước về du lịch như: quan niệm du lịch, quản lý du lịch, quan niệm quản lý nhà nước về du lịch… đã tạo ra tiền đề tiên quyết giúp chúng ta nắm bắt và hiểu rõ hơn về nội dung quản lý nhà nước về du lịch Bản thân công tác quản lý nhà nước về du lịch cũng nằm trong sự chuyển biến chung của hoạt động quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, ngành du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm ở nước ta, do đó, vai trò quản lý của nhà nước ngày càng được chú trọng và đề cao Đồng thời những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về
du lịch ở chính quyền cấp tỉnh được nêu ra trong Luật du lịch sẽ là cơ sở pháp
lý để tìm hiểu về quản lý du lịch địa phương trong chương tiếp theo
Trang 39Chương 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY- THỰC TRẠNG,
NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
2.1 Tiềm năng du lịch Thái Nguyên tác động đến quản lí du lịch của tỉnh
2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng trung du-miền núi Đông Bắc nước ta, có diện tích tự nhiên 3.541 km2 và giáp các tỉnh sau: phía bắc giáp tỉnh Bắc Cạn, phía tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía nam giáp thủ đô Hà Nội Ở vào cửa ngõ giao lưu giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với đồng bằng Bắc bộ, Thái Nguyên
có lợi thế lớn trong hành trình phát triển Đây là địa phương nổi tiếng không chỉ bởi là vùng đất lưu giữ nhiều dấu ấn văn hóa-lịch sử dân tộc lịch sử đấu tranh cách mạng, là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta hơn nửa thế kỷ trước mà còn bởi đây là địa chỉ với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, nên thơ Khái quát một vài nét về đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế
xã hội của Tỉnh sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về địa phương này
Trang 40* Thủy văn, sông hồ
Thái Nguyên có hai con sông chính chảy qua địa phận là sông Cầu, sông Công và chịu ảnh hưởng rất lớn về chế độ thủy văn của hai con sông này Thái Nguyên có nhiều hang động, hồ nước, suối, thác đẹp tao nên những điểm du lịch xanh kỳ thú như: hồ Núi Cốc, hồ Phú Xuyên, hồ Suối Lạnh, hồ Bảo Linh, hồ Vai Miếu, thác Cửa Tử, đát Ngao
* Đất đai
Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, diện tích rừng trồng khoảng 44.450 ha (năm 2014) Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng, cung cấp nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, làm giấy Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 23% diện tích tự nhiên, cây trồng hàng năm chủ yếu là cây chè Ngoài sản xuất lương thực, tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, chăn nuôi bò sữa
* Khoáng sản
Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ 2 trong cả nước bao gồm than
mỡ, than đá được phân bố tập trung ở các huyện Đại Từ và Phú Lương, tiềm năng than mỡ khoảng trên 15 triệu tấn, trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn; than đá có trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn Khoáng sản kim loại có nhiều ở tỉnh Thái Nguyên như: quặng sắt, thiếc,chì, kẽm, vàng ngoài ra còn có đồng, thủy ngân Khoáng sản phi kim loại như: pyrit, barit, photphorit tổng trữ lượng khoảng 60.000 tấn Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại Tiềm năng sắt tạo cho tỉnh một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thái Nguyên gồm 9 đơn vị hành chính (2 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện), Tỉnh lỵ là thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công , thị xã Phổ Yên và 6 huyện: Đại Từ, Phú Bình, Định Hóa, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương