Khmer là một trong những dân tộc lớn, đã có nhiều cống hiến vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc ở Việt Nam với những phong tục, tập quán có giá trị cần được bảo tồn và phát huy nh
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRƯƠNG KIM HẢNH
VẤN ĐỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHỮNG PHONG TỤC,
TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ngành: Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐÌNH CẤP
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trương Kim Hảnh
Trang 3MỞ ĐẦU 1 Chương 1: GIÁ TRỊ CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7
1.1 Lý luận về phong tục, tập quán 71.2 Giá trị và giá trị của phong tục, tập quán 141.3 Cơ sở kinh tế - xã hội của việc hình thành phong tục, tập quán người Khmer Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay 19
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER NAM BỘ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 29
2.1 Những phong tục, tập quán trong đời sống của người Khmer Nam Bộ 292.2 Ảnh hưởng từ những phong tục, tập quán đó đến đời sống của người Khmer Nam bộ trong giai đoạn hiện nay 76
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHỮNG PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 83
3.1 Định hướng phát huy giá trị những phong tục, tập quán của người Khmer Nam Bộ hiện nay 833.2 Giải pháp phát huy giá trị và khắc phục mặt hạn chế trong phong tục, tập quán của người Khmer Nam Bộ ở giai đoạn hiện nay 86
KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với sự du nhập của các dân tộc từ bên ngoài vào đã làm cho bức tranh đa dân tộc của nước ta ngày càng mở rộng, phong phú hơn và hiện tại bức tranh đó đã có 54 dân tộc anh em Dù cư trú ở Việt Nam đã hàng nghìn năm hay mới vài ba trăm năm, dù đông dân hay ít người, mỗi dân tộc đều gắn bó số phận mình với lịch sử chung của của các dân tộc trong nước, các dân tộc đều cùng nhau tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc chung Ðặc biệt, những thử thách sống còn trước thiên tai khắc nghiệt và địch họa dữ dội liên tiếp xảy ra đã làm cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn, họ phải dựa vào nhau để chống chọi, để tồn tại và phát triển Trải qua quá trình đó, các dân tộc đã chung đúc được một truyền thống đoàn kết bền vững, hình thành nên một đại gia đình Việt Nam với 54 dân tộc anh em Khmer là một trong những dân tộc lớn, đã
có nhiều cống hiến vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc ở Việt Nam với những phong tục, tập quán có giá trị cần được bảo tồn và phát huy như:
Lễ hội Ok - Om - Bok, Lễ Chol Chnam Thmey, Lễ Sene Dolta,…
Nước ta đang trong tiến trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trước xu thế hội nhập và phát triển, việc bảo tồn, phát huy những yếu tố tích cực trong phong tục tập quán của các dân tộc nói chung, của dân tộc Khmer nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng Bởi lẽ, chúng ta hội nhập chứ không hòa tan, nếu không biết cách giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình thì chúng ta sẽ làm mất đi vị thế tự chủ của dân tộc khi vươn ra tầm thế giới Hơn nữa, việc giữ gìn và phát huy giá trị của những phong tục, tập quán là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong cộng đồng dân tộc Việt
Tuy nhiên, trong phong tục, tập quán của người Việt Nam nói chung và của người Khmer nói riêng trong quá trình tiếp biến, phát triển đã tạo nên bản
Trang 5sắc văn hóa, truyền thống riêng Bên cạnh những mặt tích cực thì trong những phong tục, tập quán đó vẫn còn những mặt tiêu cực làm ảnh hướng tới mọi mặt đời sống của họ Cho nên, việc hạn chế những mặt tiêu cực ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến những giá trị của phong tục, tập quán đó là một vấn
đề mang tính thời sự Với lí do đó, tôi chọn đề tài “Vấn đề phát huy giá trị
những phong tục, tập quán của người Khmer Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề dân tộc Khmer nói chung và truyền thống phong tục tập quán của người Khmer nói riêng, đã được nhiều tác giả nghiên cứu trên nhiều góc
độ khác nhau như:
“Người Việt gốc Miên” của tác giả Lê Hương, 1969 Tác giả đã giới thiệu
về người Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó có một vài phong tục tập quán, tuy chỉ ở mức tóm tắt, không mô tả chi tiết, nhưng cũng nêu được những nét chính của phong tục người Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long
“Người Khmer Cửu Long” do Viện Văn hóa phối hợp với Sở Văn hóa
và Thông tin tỉnh Cửu Long thực hiện,1987 Đây là một chuyên khảo về người Khmer ở hai tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long hiện nay và là nguồn tài liệu cơ bản để kế thừa trong việc nghiên cứu văn hóa truyền thống nói chung
và lễ hội dân gian của người Khmer ở Trà Vinh nói riêng
“Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ” của Thạch Voi, Nxb Tổng
hợp Hậu Giang, 1988 Tác giả đã viện dẫn nhiều nguồn tư liệu về quá trình hình thành dân tộc Khmer ở Nam Bộ, làm rõ quá trình phát triển của dân tộc Khmer
“Vấn đề Dân tộc học ở Đồng bằng Sông Cửu Long, do Mạc Đường
làm chủ biên, 1991 Tác giả đã tiếp cận nghiên cứu người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long về dân cư, kinh tế - xã hội, văn hóa vật chất, truyền
thống đấu tranh cách mạng
Trang 6“Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Trường Lưu
chủ biên, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, (1993) Các tác giả đã trình bày khái quát về người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, về tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật nhìn chung, các tác giả
đã đề cập khá toàn diện về dân tộc Khmer và lễ hội của người Khmer Nam Bộ
Tuyển tập “Truyện kể Khmer”, do Sơn Wang làm chủ biên, 1999, đã
cung cấp thêm một số truyện kể khá mới mẻ, chứa đựng những tư liệu mới trong nghiên cứu lễ hội và tín ngưỡng của người Khmer nói chung
“Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay”, luận án tiến sĩ của Trần Thanh Nam,
2001 Tác giả đã phân tích vai trò của đời sống tinh thần trong sự phát triển xã hội, các yếu tố thuộc đời sống tinh thần nói chung, đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ nói riêng, trong đó có nhiều yếu tố về truyền thống phong tục tập quán và những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long
“Một số giải pháp nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở miền
Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay”, đề tài khoa học do Học viện Chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực II chủ trì - thạc sĩ Lê Tăng chủ nhiệm đề tài, 2003 Đề tài trình bày thực trạng đời sống đồng bào dân tộc Khmer, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nâng cao đời sống và đề ra các giải pháp để nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ
“Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng Sông Cửu Long”,
Trần Văn Bổn, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2000
“Phong tục và nghi lễ vòng đời của người Khmer Nam bộ”, Trần Văn
Bổn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002
“Văn học dân gian Sóc Trăng” do Chu Xuân Diên làm chủ biên, 2002
Đây là công trình tập hợp nhiều thể loại văn học dân gian của các dân tộc
Trang 7Việt, Khmer, Hoa ở tỉnh Sóc Trăng; trong đó các thể loại văn học dân gian của người Khmer chiếm tỷ lệ khá lớn Chúng biểu hiện và phản ánh về tín
ngưỡng, lễ hội dân gian của cộng đồng này
“Vấn đề giáo dục vùng đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long” do
Lê Đình Thư chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2005
Cuốn sách đã trình bày những vấn đề có liên quan đến sự phát triển giáo dục - đào tạo vùng dân tộc Khmer đồng bằng sông Cửu Long; thực trạng sự nghiệp giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long từ giáo dục mầm non, đến hướng nghiệp vào cao đẳng, đại học; vấn đề dạy song ngữ, vấn đề quản lý giáo dục; vai trò của nhà chùa trong hoạt động văn hóa giáo dục ở vùng dân tộc Khmer Nam Bộ
“Hôn nhân và gia đình của người Khmer Nam bộ”, Nguyễn Hùng
Khu, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2012
“Vài nét về văn hóa dân gian của người Khmer”, Nguyễn Anh Động,
Nxb Văn hóa Thông tin, 2014 Tác giả đã sưu tầm, ghi chép một số nét về lĩnh vực sinh hoạt trong văn hóa dân gian người Khơ Me ở phía nam Việt Nam
Có thể nói, các công trình nghiên cứu về dân tộc Khmer rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên, với đề tài tôi chọn lựa lại nghiên cứu ở một góc độ khác đó là:
Vấn đề phát huy giá trị những phong tục, tập quán của người Khmer Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay (Qua khảo sát ở tỉnh Sóc Trăng và Cà Mau)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Từ việc nghiên cứu những giá trị trong phong tục tập quán
cơ bản của người Khmer Nam Bộ, luận văn đề ra phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những giá trị đó ở cộng đồng này hiện nay
- Nhiệm vụ:
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Trình bày lý luận chung về phong tục tập quán và giá trị của phong tục, tập quán nói chung
Trang 8+ Trình bày những phong tục, tập quán cơ bản của người Khmer Nam Bộ
và rút ra giá trị của chúng với cộng đồng người Khmer trong giai đoạn hiện nay
+ Nêu những phương hướng, giải pháp để phát huy các giá trị tích cực của những phong tục, tập quán trên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tìm hiểu những phong tục tập quán đặc
trưng của người Khmer Nam Bộ và giá trị của nó trong giai đoạn hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Dân tộc Khmer Nam Bộ Tuy nhiên, với khuôn
khổ và thời gian hạn chế của một đề tài luận văn, tác giả chỉ đi thực tế, nghiên cứu phong tục tập quán của họ ở hai tỉnh Sóc Trăng và Cà Mau trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên những chính sách dân tộc của Đảng, những nghiên cứu về dân tộc Khmer nói chung; những tài liệu, thành quả nghiên cứu trước đây về truyền thống phong tục tập quán của Người Khmer nói riêng
- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu; nghiên cứu thực tế các phong tục, tập quán của người Khmer
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa lý luận chung về giá trị của phong tục, tập quán và trình bày những phong tục, tập quán cơ bản của người Khmer Nam
Bộ, đồng thời đề ra những phương hướng, giải pháp để phát huy các giá trị đó trong giai đoạn hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lí luận:
Luận văn tìm hiểu một cách hệ thống phong tục, tập quán của người Khmer Nam bộ, góp phần làm phong phú thêm hoạt động nghiên cứu văn hóa các dân tộc ở nước ta hiện nay
Trang 9- Về mặt thực tiễn:
+ Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về phong tục tập quán của các dân tộc nói chung và dân tộc Khmer nói riêng
+ Góp phần làm cơ sở cho những chính sách cụ thể với các địa phương
có người Khmer sinh sống để phát huy tính tích cực của họ
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành 3 chương, 7 tiết
Trang 10Chương 1 GIÁ TRỊ CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Lý luận về phong tục, tập quán
1.1.1 Khái niệm phong tục, tập quán
Phong tục, tập quán là một đề tài được nghiên cứu ở nhiều góc độ, tài liệu, trong những thời gian khác nhau Trong các tài liệu đó, các tác giả đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phong tục, tập quán:
Theo quan niệm dân gian: “Phong tục, tập quán” là những thói quen được đưa vào nếp sống hàng ngày Mỗi dân tộc đều có những thói quen cá biệt lúc ban đầu; về sau, do sự tiếp xúc với nhau nên có những sự ảnh hưởng, bắt chước và có những cái giống nhau
Theo Từ điển Việt - Việt:
+ Phong tục là những thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống
xã hội, được mọi người công nhận và làm theo
+ Tập quán là thói quen hình thành từ lâu và đã trở thành nếp trong đời sống xã hội của một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và làm theo
Theo Từ điển Hán - Việt: "Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi Tục
là thói quen lâu đời Phong tục có nội dung bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội" [2, tr 127]
Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Phong tục là lối sống, thói quen đã thành
nề nếp, được mọi người thừa nhận, tuân theo" [77, tr 1338]
Theo các quan niệm trên, phong tục, tập quán được hiểu một cách thống nhất và đồng nhất với những thói quen trong đời sống con người
Theo Từ điển Việt Nam phổ thông: "Phong tục là thói tục chung của
nhiều người từ lâu đời" [58, tr 223]
Trang 11Theo quan điểm của PGS, TS Phùng Trung Tập, Đại học Luật Hà Nội:
“Phong tục” được hiểu là những hoạt động sống của con người, được
hình thành trong suốt chiều dài lịch sử và ổn định thành nề nếp, được mọi thành viên trong cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện có tính kế thừa từ
thế hệ này sang thế hệ khác trong cộng đồng nhất định “Tập quán” là những
phương thức ứng xử giữa người với người đã được định hình và được xem như một dấu ấn, một điểm nhấn tạo thành nề nếp, trật tự trong lối sống của cá nhân trong quan hệ nhiều mặt tại một cộng đồng dân cư nhất định [theo 59]
Theo quan điểm trên ta thấy: Phong tục được vận dụng linh hoạt và nó
không phải là một nguyên tắc bắt buộc, nhưng phong tục không thể tùy tiện, nhất thời và thay đổi mạnh mẽ như các quan hệ đời thường Tuy nhiên, không phải mọi phong tục đều có thể tồn tại mãi mãi và phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của các thời kỳ kế tiếp Thời gian sẽ đào thải những phong tục không còn phù hợp với các quan niệm mới, nền sản xuất mới và theo đó, quan
hệ mới phát sinh, những phong tục không phù hợp tự nhiên cũng mai một,
mất đi trong sự phát triển không ngừng của quan hệ sản xuất mới Tập quán
có đặc điểm là cố định, bất biến, do vậy, rất khó thay đổi Trong những quan
hệ xã hội nhất định, tập quán được biểu hiện và định hình một cách tự phát hoặc được hình thành và tồn tại ổn định thông qua nhận thức của chủ thể trong một quan hệ nhất định và tập quán được bảo tồn thông qua ý thức của
quá trình giáo dục có định hướng rõ nét Câu ngạn ngữ: “Luật vua thua lệ
làng” đã phản ánh đúng thực trạng về tập quán của mỗi dân tộc ở Việt Nam
Theo quan niệm của Thúc Trâm Hoàng Hán Việt tân từ điển [33] thì:
+ Phong tục: chỉ những biểu hiện nhất trí về tinh thần của số đông người, trải qua lâu đời, đúc thành khuôn phép nhất định, đủ ràng buộc hành vi
và chi phối cuộc đời thực tế của cá nhân
+ Tập quán: Thói quen của cá nhân Phong tục, lề thói của một xứ
Trang 12Nhưng, theo Từ điển Tiếng Việt, Tập quán là thói quen [57]
Với cách định nghĩa này ta thấy, về cơ bản, phong tục khác với tập quán ở chỗ: Tập quán, trong chừng mực nào đó là những thói quen sơ khai Còn phong tục, giả định như một sự thỏa thuận giữa các thành viên từ những tập quán phát triển lên Hay nói cách khác, phong tục thì phải chờ xã hội tiến đến một mức nào
đó mới có được Đó là những quy định Nhưng các quy định ấy đều phát triển trên cơ sở tập quán, hoặc là một tập quán kéo dài, được thừa nhận
Như vậy, phần lớn các cách hiểu trên, phong tục, tập quán đều được coi là một hiện tượng di truyền xã hội, chi phối cuộc sống và hoạt động của từng cộng đồng xã hội Với mỗi cộng đồng có thể có những phong tục tập quán khác nhau nhưng chúng đều là những những yếu tố tâm lý chung của cộng đồng đó
Trong Từ điển Triết học do M.M.Rozentan chủ biên định nghĩa:
Phong tục - Những đặc điểm hành vi của một cộng đồng xã hội nào
đó của con người và phụ thuộc vào tâm lý xã hội, những tập quán độc đáo tồn tại trong những điều kiện của một hình thái xã hội nhất định hoặc tiêu biểu cho đạo đức của một tập thể , giai cấp, dân tộc nào đó Phong tục bộc lộ nội dung thực tế chứ không bộc lộ những yêu cầu đạo đức cần hướng tới [51, tr.450]
Theo chúng tôi, tập quán không phải là những thói quen cá nhân mà là thói quen mang tính cộng đồng Hơn nữa tập quán cũng giống như phong tục, tuy có sự ổn định tương đối, tuy khó nhưng vẫn có thể thay đổi do sự biến đổi của xã hội và tác động của các biến đổi đó đến cộng đồng Phong tục, tập quán thể hiện ở những đặc điểm hành vi của một cộng đồng nhất định Sự khác nhau của phong tục tập quán thể hiện rõ ở đặc điểm là tập quán thường thể hiện ở những hoạt động mang tính kỹ thuật như tập quán du canh, du cư; tập quán trồng lúa nước; tập quán trong xây dựng nhà ở, còn phong tục thường biểu hiện qua các lễ hội, nghi lễ cưới xin, tang ma v.v
Trang 13Trong luận văn này, tôi xem xét phong tục tập quán một cách thống nhất, dựa trên sự giống nhau cơ bản của phong tục và tập quán, dưới góc độ triết học, như những đặc điểm hành vi của một nhóm xã hội, phụ thuộc vào
tâm lý của nhóm xã hội đó Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là một bộ
phận của tâm lý xã hội, thể hiện những đặc điểm hành vi của một cộng đồng người Những đặc điểm hành vi này tương đối ổn định, được truyền từ đời này qua đời khác trong một cộng đồng xã hội, chi phối cuộc sống và hoạt động của cộng đồng đó.Trong luận văn này, có lúc phong tục tập quán được gọi tắt là tập tục
Với cách hiểu trên, tôi chú ý đến các biểu hiện của phong tục tập quán trong các yếu tố bị chi phối bởi tâm lý cộng đồng, những thói quen, hành vi của cộng đồng trong hoạt động kinh tế; đặc trưng hành vi của cộng đồng trong các lễ hội, hoạt động tôn giáo; trong cách tổ chức cộng đồng; trong các nghi lễ cưới xin, ma chay; trong cách thức xây dựng nhà ở, chùa chiền v.v
1.1.2 Cơ sở hình thành phong tục, tập quán
Phong tục, tập quán được xem như một bộ phận cấu thành ý thức xã hội, được hình thành trên cơ sở của tồn tại xã hội hay những yếu tố đời sống vật chất của xã hội Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh rằng: đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất, không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa
là không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong chính hiện thực vật chất Sự biến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ không giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức thời đại đó Các Mác viết:
Không thể nhận định được về một thời đại đảo lộn như thế, căn
cứ vào ý thức của thời đại đó Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và quan hệ sản xuất
xã hội [43, tr.15]
Trang 14Theo quan niệm của C.Mác và Ăngghen thì sự sản xuất ra những ý niệm,
ý thức gắn liền với hoạt động vật chất và sự giao tiếp của con người, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của mỗi con người C.Mác và Ăngghen khẳng định:
Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng như họ bị quy định bởi một sự phát triển nhất định của lực lượng sản xuất của họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi nhất của những sự giao tiếp đó Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được Ý thức của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người [44, tr 37] Như vậy, phong tục, tập quán được hình thành qua quá trình sản xuất, trong quản lý xã hội, trong đời sống hàng ngày của các cộng đồng xã hội Bản thân các phong tục, tập quán cũng nằm trong cuộc đấu tranh xã hội đã, đang
và sẽ tiếp diễn mãi giữa cái cũ và cái mới Để hình thành nên phong tục, tập quán của một dân tộc cần rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố đời sống vật chất cùng toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất, các quan hệ vật chất trong xã hội đóng vai trò quan trọng Cụ thể như: điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội; vấn đề tái sản xuất sức sản xuất xã hội; thế giới quan; sự tác động của các luồng văn hóa; công cuộc di cư, bảo vệ bờ cõi
Trước hết yếu tố đầu tiên chi phối điều kiện sống và hoạt động của con người là hoàn cảnh tự nhiên, nơi cộng đồng cư trú Yếu tố này tác động đến cách thức liên kết, quan hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng Điều kiện này có
ý nghĩa hết sức to lớn trong quá trình hình thành cộng đồng và những yếu tố tâm lý của họ Các dân tộc ở những vùng tự nhiên khác nhau có thể có sự liên kết khác nhau giữa các gia đình, dòng tộc trong khu vực họ cư trú Trong những điều kiện tự nhiên khác nhau, họ có những tập quán khác nhau trong sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống họ và hình thành các yếu tố tâm lý khác phù
Trang 15hợp Khi đất đai còn rộng rãi, các dân tộc miền núi thường có tập quán du canh,
du cư trong sản xuất, người dân Hmông ở trên núi cao phải sống ở gần nguồn nước và luôn biết giữ gìn nguồn nước đó Người dân ven biển có đền thờ Ông
và có lễ hội Nghinh Ông ở nhiều nơi Tuy điều kiện địa lý không phải là yếu tố quyết định nhưng nó trực tiếp tác động đến đời sống hàng ngày của cộng đồng người và là điều kiện, cơ sở của các tập quán lao động , sản xuất của họ
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến ý thức xã hội nói chung và phong tục tập quán nói riêng là dân số và mật độ dân số Dân số và mật độ dân số ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong sự phát triển sản xuất vật chất và đời sống của cộng đồng Từ đó, tình hình dân số có nhiều tác động đến sự hình thành
và di truyền các phong tục tập quán của các cộng đồng người từ thế hệ này đến thế hệ khác Để duy trì sự tồn tại và phát triển, mỗi dân tộc, cộng đồng có những thói quen trong giữ gìn và phát triển nòi giống Các phong tục tập quán
và các nghi lễ cưới xin, sinh đẻ ra đời phù hợp với các điều kiện vật chất và quan niệm của cộng đồng Với các dân tộc ít người, nhiều khi có những phong tục riêng có như bắt vợ, ngủ thăm, trai gái được tự do yêu thương nhau khi còn ít tuổi Để giữ gìn cộng đồng, nhiều dân tộc chỉ cho phép kết hôn trong nội bộ tộc người mà cấm đoán việc cưới gả với dân tộc cộng đồng khác
Do tôn trọng việc duy trì nòi giống, nhiều dân tộc có những tục lệ cưới hỏi cầu kỳ, nghi lễ long trọng Các phong, tục tập quán do ảnh hưởng của sự phát triển giống nòi in đậm trong đời sống văn hóa của các cộng đồng người
Yếu tố vật chất quyết định nhất đến phong tục tập quán của một cộng đồng là đời sống kinh tế của chính họ Với những điều kiện tự nhiên nhất định, các cộng đồng người có những tập quán nhất định trong hoạt động sản xuất ra của cải vật chất và có những thói quen sinh hoạt phù hợp Ở vùng đồng bằng, người dân có tập quán và kinh nghiệm trồng lúa nước Khi sản xuất phát triển nhiều quy định được hình thành trong cuộc sống “phú quý sinh
Trang 16lễ nghĩa” Các lễ vật trong các lễ hội là sản phẩm của nền kinh tế của một cộng đồng người Khi nền kinh tế còn lạc hậu, hoạt động sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên thì trong các phong tục tập quán có nhiều nghi lễ thể hiện sự tôn kính, biết ơn Thần thánh, trời đất Các phong tục, tập quán trong việc xây dựng nhà ở, trong kiến trúc và sử dụng các vật liệu phụ thuộc nhiều vào sự phát triển kinh tế nói chung Như vậy, những điều kiện vật chất luôn là cơ sở để hình thành đời sống tinh thần nói chung cũng như phong tục, tập quán của một cộng đồng người nói riêng
Tuy nhiên, là một yếu tố tinh thần, phong tục tập quán chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tinh thần khác một cách sâu đậm
Thứ nhất, phải kể đến trình độ thế giới quan mà cộng đồng đó có được
Các nghi lễ thờ cúng thần linh biểu hiện quan niệm của cộng đồng với tự nhiên Các quan niệm đó ăn sâu vào đời sống của cộng đồng, chi phối các thói quen định hình của họ Đặc biệt, trong các quan niệm thì quan niệm tôn giáo tác động mạnh nhất Tôn giáo tạo cho con người một niềm tin vững chắc vào một đấng cứu thế nào đó, chi phối những thói quen hành vi của cả cộng đồng người, của mỗi con người từ lúc ra đời đến lúc chết Vì vậy trong các lễ nghi gắn liền với đời sống con người như đặt tên, cưới xin, tang ma đều bị tôn giáo chi phối Phong tục, tập quán của các cộng đồng theo các tôn giáo khác nhau hết sức khác nhau
Thứ hai, sự giao lưu giữa các cộng đồng người, việc sống xen kẽ của
họ với nhau sẽ ảnh hưởng tác động đến đời sống của các cộng đồng đó Đặc biệt, khi có sự hòa hợp về hôn nhân giữa nam nữ các cộng đồng khác nhau Cùng với việc học hỏi lẫn nhau trong lĩnh vực sản xuất, các yếu tố tinh thần, phong tục, tập quán cũng lây lan từ dân tộc này sang dân tộc khác, tạo nên sự thống nhất về một số yếu tố tinh thần của các dân tộc trong một vùng lãnh thổ
Trang 17Thứ ba, phong tục, tập quán cũng như các yếu tố tinh thần của các cộng
đồng người còn ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của cả cộng đồng Vì vậy, khi
đã hình thành rồi thì phong tục, tập quán có sự bền vững tương đối, được di truyền từ đời này qua đời khác Khi điều kiện kinh tế xã hội đã thay đổi, các phong tục tập quán vẫn có thể tồn tại, chi phối đời sống của một cộng đồng
Phong tục, tập quán là một yếu tố tinh thần thể hiện bản sắc của một dân tộc.Trong yếu tố tinh thần này cũng có những giá trị tích cực cần lưu giữ, cũng như những hạn chế cần khắc phục
1.2 Giá trị và giá trị của phong tục, tập quán
1.2.1 Khái niệm giá trị
Khái niệm giá trị được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực như triết học, kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, và có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, giá trị được định nghĩa như sau:
Giá trị là: 1- Cái được xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần 2 - Xác định hiệu lực của một việc làm 3 - Kết quả của mọi điều kiện để sản xuất ra hàng hóa 4 - Số đo của một đại lượng hay số được thay thế bằng ký hiệu
Trong đề tài này, giá trị được hiểu theo nghĩa 1 [77, tr 725]
Theo Từ điển Triết học của Liên Xô, định nghĩa:
Giá trị - Những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới chung quanh, nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của các khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, cái thiện
và ác, cái xấu nằm trong những hiện tượng xã hội hoặc đời sống
tự nhiên) [51, tr.206]
Trong Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết định nghĩa: Giá trị là sự
khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới chung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá
Trang 18trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thể và mục
đích [theo 21, tr.10]
Theo I.H.Fichter - nhà xã hội học Hoa Kỳ: “Tất cả cái gì có lợi ích, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có một giá trị” [Trích theo 21, tr.10]
Theo Durkheim thì “Giá trị dù có đặc tính bề ngoài đối với tất cả các
thành viên của xã hội, giá trị xã hội có thuộc tính ép buộc về mặt đạo đức vì bản thân nó phụ thuộc vào hiện thực khách quan, đồng thời nó lại là một phần của chính hiện thực khách quan đó” [Trích theo 21, tr.10]
Theo quan điểm của nhà xã hội học T.Pason thì giá trị như là quy tắc
cao nhất của hành vi, nhờ đó mà sự đồng thuận, nhất trí được thực hiện cả trong nhóm nhỏ trong xã hội tổng quát Giá trị tham gia vào việc định hướng giá trị của hệ thống xã hội, nó quyết định xu hướng hành động xã hội Do vậy, giá trị cũng là cái chức năng tất yếu của xã hội để duy trì và hình thành trật tự
xã hội [theo 21, tr.10]
Theo Ths Tạ Thị Hồng Hạnh:
Giá trị là những niềm tin bền vững và lâu dài về những điều được
coi là quan trọng trong các tình huống khác nhau, niềm tin này định hướng các quyết định và hành động của chúng ta Hay nói cách khác, giá trị chính là nhận thức về những điều tốt hay xấu, đúng hay sai Giá trị không chỉ đại diện cho những điều ta muốn mà còn là những điều ta phải làm, theo cách xã hội mong muốn Giá trị sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn mục tiêu của chúng ta và các phương tiện
để đạt được mục tiêu đó [32]
Trang 19Như vậy, từ những cách định nghĩa nêu trên, ta có thể hiểu giá trị - chỉ
tính có ích, có ý nghĩa của sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích con người Ở đây, các sự vật, hiện tượng được xem xét dưới góc độ đáng hay không đáng mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không đối với đời sống xã hội
1.2.2 Giá trị của phong tục, tập quán
Từ định nghĩa về phong tục, tập quán và định nghĩa về giá trị, ta có thể
khái quát: Giá trị của phong tục tập quán là những mặt tích cực của phong tục,
tập quán; có ý nghĩa phù hợp với nhu cầu và lợi ích của cộng người, do cộng đồng đã sáng tạo ra, hình thành, khẳng định và phát triển trong quá trình lịch sử của cộng đồng đó, nhằm hướng con người tới chuẩn giá trị chân thiện mỹ
Giá trị của phong tục, tập quán gồm những nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, phong tục tập quán tạo ra tính thống nhất cho một xã hội
Tập quán là những thói quen, nhưng nếu không đúng với phong tục thì thói quen ấy sẽ bị loại ra khỏi cuộc sống cộng đồng
Đối với phong tục được xem như những quy định, quy ước, những lẽ sống của một cộng đồng lúc đầu không có văn bản, về sau - dần dần hình thành văn bản Những quy định ấy không phải từ trên trời rơi xuống mà nó được chắt lọc ra, đúc kết lại từ cuộc sống lao động, chiến đấu, thờ cúng Việc đúc kết, chọn lọc như vậy là để con người chấp nhận nhau, công nhận nhau, hòa vào nhau, ăn chịu nhau, sống hòa thuận với nhau, không hà hiếp, không cướp bóc của nhau Sống được với nhau như thế mới gọi là cộng đồng Quan hệ được với nhau như thế thì gọi là quan hệ xã hội tốt đẹp
Như vậy, phong tục không phải là một, không phải có phong tục này rồi mới có phong tục khác Đồng một lúc, con người tạo ra một loạt quan hệ và do
đó tạo ra một loạt phong tục Các phong tục đan cài vào nhau như một tấm lưới Con người từ lúc mới sinh ra đã được đặt vào tấm lưới chằng chịt những mối
Trang 20quan hệ, những quy định có sẵn Con người lớn dần lên mà không bao giờ cảm thấy xa lạ trước cộng đồng mình Và trong chừng mực nào đó, khi giao tiếp với các cộng đồng khác, gần mình, cũng không thấy xa lạ Như vậy, phong tục đã tạo ra một tính thống nhất như thế nào đó cho lối sống của cộng đồng và xã hội Con người hiểu phong tục, làm đúng phong tục thì đời sống sẽ yên ổn
Thứ hai, trong một số trường hợp, phong tục, tập quán là trung tâm
hòa giải
Tục ngữ có câu: Sống mối người mỗi nết
Chết mỗi người mỗi tật
Nếu trong một cộng đồng, một tập thể mà sống theo kiểu “mỗi người mỗi nết” thì sẽ xảy ra tình trạng đánh lộn, cãi vã Vì vậy, phong tục, tập quán làm chức năng trung gian, hòa giải Như vậy, mỗi người đều có quyền sống theo cách riêng Xã hội cần phải công nhận cái cá tính của con người Cũng như thế, mỗi gia đình, làng xóm đều có lối sống riêng Nhưng tất cả cái riêng
ấy phải nằm trong cái chung Cái riêng không nằm gọn hết vào cái chung Cái chung cũng không bao gồm hết cái riêng Thế nhưng tất cả phải nằm trong những quy định của phong tục, tập quán Sự quy định này, lắm lúc, không ai bảo ai mà tất cả đều chấp nhận rồi trở thành thuần phong mỹ tục chung cho cả một vùng lớn
Thứ ba, phong tục, tập quán mang giá trị giáo dục con người
Tính giáo dục của phong tục, tập quán gồm hai chiều Chiều thuận là tự răn đe, tự giáo dục, tự ghép mình vào trong tập thể cộng đồng Phong tục ban đầu sinh ra là ý người nhưng ông bà ta nói thì: Phong tục là ý trời, làm sai phong tục là sai ý trời; trời phạt những kẻ làm ăn trái với luân thường đạo lý Hoặc theo chiều ngược lại thì phong tục, tập quán giúp người trong nhà, trong làng xóm phải theo dõi nhau, giúp đỡ nhau, bảo ban nhau, đôn đốc nhau giữ đúng phong tục
Trang 21Ngoài ra, tính giáo dục của phong tục, tập quán còn thể hiện qua việc nó làm cho con người ở cộng đồng này phải tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng bạn Từ đó tạo nên sự tôn trọng giữa người với người trong xã hội
Thứ tư, phong tục, tập quán mang tính xã hội hóa
Bằng việc củng cố sự thống nhất lối sống trong từng làng, và bằng sự giữ gìn tôn trọng lối sống của các làng lân cận, phong tục, tập quán tạo ra sự thống nhất trong xã hội Hoặc nói cách khác, các phong tục khi đụng độ nhau thì có ít nhiều điều chỉnh để tạo sự thống nhất cho cả một vùng rộng lớn hơn Tôn trọng phong tục, tập quán của một làng tức là đã xã hội hóa phong tục, tập quán của làng ấy Và nếu tự điều chỉnh một chút nào đó trong phong tục, tập quán của làng mình thì cũng chính là để xã hội hóa cao hơn phong tục, tập quán tốt đẹp của làng mình Nhưng xã hội hóa ở đây không chỉ là tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, mà còn đồng hóa phong tục, tập quán với nhau, còn là hội tụ ý chí và cảm xúc với nhau Thông hiểu, tôn trọng phong tục, tập quán của nhau sẽ tạo ra khả năng thâm nhập vào tận bên trong cá thể và xã hội
Thứ năm, phong tục, tập quán thỏa mãn đời sống tâm linh
Mối quan hệ hài hòa giữa con người và xã hội đã có thể được cân bằng nhờ phong tục, tập quán; nhưng hơn thế, sự hài hòa giữa con người với đời sống tâm linh cao gấp 100 lần quan hệ trên cũng được phong tục tập quán giải tỏa
Trong phong tục thờ các thần nguyên thủy, thờ thành hoàng, thờ các bậc anh linh, thờ cúng tổ tiên trong gia đình, con người được siêu thăng hoặc được thỏa mãn phần hồn, yên tâm với người đã khuất
Thứ sáu, phong tục, tập quán góp phần vun đắp tình yêu quê hương,
yêu Tổ quốc, giống nòi Ví dụ như phong tục thờ các anh hùng dân tộc, tưởng
nhớ tổ tiên, Sẽ giúp cho thế hệ sau tưởng nhớ đến công lao của những người
Trang 22đi trước, từ đó nâng cao lòng tự hào dân tộc, tích cực ra sức bảo vệ thành quả của đất nước, quê hương
1.3 Cơ sở kinh tế - xã hội của việc hình thành phong tục, tập quán người Khmer Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay
1.3.1 Vài nét về lịch sử của người Khmer Nam Bộ
Người Khmer Nam Bộ có nguồn gốc từ đâu? Họ từ Campuchia xuống hay từ biển vào? Đó là vấn đề với rất nhiều ý kiến Theo một số kết quả nghiên cứu về nhân chủng học và khảo cổ học trong những thập niên gần đây cũng đã hé mở một số vấn đề về nguồn gốc và quá trình hình thành tộc người Khmer ở Nam Bộ
Về mặt khảo cổ học, kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy: ở thời kỳ
đồ đá mới, ít nhất có ba loại hình nhân chủng cư trú ở Camphuchia: Nêgrittto, Proto Mélanesien và Indonesien Hiện nay, các nhóm Mélanesien và Indonesien vẫn còn hiện diện trong các nhóm dân tộc ở vùng đồi núi Campuchia Ngôn ngữ của các nhóm này gần gũi với người Thái và Xêmăng
ở Malacka Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng ngôn ngữ của các nhóm này có thể đã phổ biến ở Đông Dương trong thời kỳ đồ đá mới Trong khi đó tiếng Khmer có mặt ở vùng này chậm hơn
Về mặt nhân chủng học, bác sĩ G Olivier - một nhà nhân chủng học
nổi tiếng người Pháp cho biết, người Khmer (Camphuchia) có họ gần gũi với nhóm người tiền Mã Lai, nhưng cũng không đồng nhất lắm mà đã lai tạp nhiều do họ từ hướng Tây Bắc đi xuôi vào các hành lang của Campuchia trước năm 2000 (trước công nguyên) cộng cư với dân bản địa Từ thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ X sau công nguyên, nhiều người Ấn Độ đã di
cư đến đây làm ăn, tạo ra quá trình pha trộn chủng tộc với người Campuchia Đến thế kỷ XI trở đi, người Mã Lai, người Thái, di cư rầm rộ vào Campuchia đã làm cho chủng tộc người Khmer bị lai tạp thêm và ngày càng
Trang 23khó xác định Trong khi đó, ở Đồng bằng Nam Bộ ngày nay cũng đã tồn tại một bộ phận lớn người Khmer cổ (theo cách gọi của chúng ta) Xét về sự hình thành tộc người này, Giáo sư Ruffié - nhà nhân chủng học người Pháp
đã đưa ra những luận cứ xác định nguồn gốc của tộc người Khmer Nam Bộ dựa trên thành tựu về huyết chủng học, nghiên cứu về tính chất di truyền của máu huyết Trên cơ sở nghiên cứu huyết chủng học của các sắc dân trên phạm vi dân tộc, đã cho phép Ruffié xác lập được cơ sở khoa học về sự khác nhau giữa những yếu tố huyết học của các sắc dân nơi đây Những yếu tố huyết học đã được phát hiện là ABO, RHESUS, KELL, DIÉGO, SUT, TER, UIa, HBE, HBC Trên cơ sở so sánh những đặc điểm huyết chủng, Ruffié đã thành lập bản đồ chủng loại máu theo sắc dân hoàn toàn mới và chỉ ra sự khác biệt nổi bật về huyết cầu HBE giữa các dân tộc: người Việt 1%, người Thái 15%, người Campuchia 28%, Đối với người Khmer Nam Bộ, chỉ số này là 2% Bằng cách xác định sự phân phối và tỷ lệ của nó, người ta tìm lại được những biên giới của đế quốc xa xưa đã chiếm cứ Lào, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai và hạ Miến Điện Người ta ghi nhận huyết cầu này đã hiện diện
ở miền Nam Việt Nam nhiều hơn ở miền Bắc Việt Nam Chứng minh khoa học này cho phép ta xác định tộc người Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long gốc vốn là tộc người Phù Nam mà từ cuối thế kỷ 6 trở đi đã bị tộc người Campuchia hoặc Chân Lạp thống trị và đồng hóa dần dần trong vòng 12 thế
kỷ (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV) Cho đến khi Đồng bằng Nam Bộ thuộc quyền quản lý của triều đình nhà Nguyễn thì tính chất đồng hóa trên mới được xóa bỏ và cho đến nay, đương nhiên người Khmer Nam Bộ đã trở thành một thành viên quan trọng trong cộng đồng cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung và ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng
Về mặt lịch sử, vào khoảng đầu công nguyên, vùng đất Nam Bộ Việt
Nam đã hình thành quốc gia có tên gọi Phù Nam
Trang 24Phù Nam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay của Việt Nam, cư dân chủ thể là người Mã Lai - Đa Đảo có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển Trong thời kỳ cường thịnh, Phù Nam đã mở rộng ảnh hưởng, chi phối toàn bộ vùng vịnh Thái Lan và kiểm soát con đường giao thông huyết mạch từ Nam Đông Dương sang Ấn Độ qua eo Kra
Phù Nam hùng mạnh từ thế kỷ I đến thế kỷ VI thì suy tàn Thời kỳ hưng thịnh của Phù Nam, nơi đây đã hình thành và phát triển nền văn hóa
Óc Eo rực rỡ (từ thế kỷ II đến thế kỷ VIII) đánh dấu một bước có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc chinh phục Đồng bằng Sông Cửu Long Sau thời
kỳ phát triển rực rỡ, đến thế kỷ VI Phù Nam suy tàn, vào đầu thế kỷ VII, Chân Lạp, vốn là một thuộc quốc của Phù Nam đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của Phù Nam (phần lãnh thổ này tương ứng với Nam Bộ của Việt Nam ngày nay)
Nước Chân Lạp do người Khmer xây dựng, lại nằm ở phía Đông Bắc Phù Nam, nên có thể những nhóm tộc người Môn-Khmer cổ đã có mặt trên vùng đất giáp ranh và sống xen kẽ với người Mã Lai - Đa Đảo Sau khi chiếm Phù Nam thì vùng đất Nam Bộ Việt Nam được sáp nhập vào Lãnh thổ của Chân Lạp, lúc này “trong một số sách của Trung Quốc đã xuất hiện tên gọi
“Thủy Chân Lạp” để chỉ phần lãnh thổ của Phù Nam và phân biệt với vùng đất “Lục Chân Lạp”, tức vùng đất gốc của Chân Lạp” Trong giai đoạn này,
có nhiều vương quốc nhỏ vốn là thuộc quốc của Phù Nam nổi lên thành những nước mạnh, tấn công vào những nước lân cận
Trong số đó có Srivijaya của người Java Vào nửa sau thế kỷ VIII, quân đội nước này đã liên tục tiến công vào các quốc gia trên bán đảo Đông Dương Kết cục là Thủy Chân Lạp bị quân Java chiếm Cả vương quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya Cục diện này mãi đến năm 802 mới kết
Trang 25thúc Trong vòng gần một thế kỷ, vùng đất Nam Bộ lại nằm dưới quyền kiểm soát của người Java
Đến cuối thế kỷ VIII văn hóa Óc Eo cũng bắt đầu suy tàn, và nhiều thế
kỷ tiếp theo vùng Nam Bộ lại trở nên hoang vu
Từ thế kỷ X trở đi do biển rút dần những vùng ven biển nổi lên những giồng đất, giồng cát màu mỡ, thu hút cư dân đến cư trú Từ thế kỷ XII, những người nông dân Khmer nghèo, trốn chạy sự bóc lột hà khắc, nạn lao dịch nặng
nề của giai cấp phong kiến và các triều đại Ăng-Kor, đã tìm cách di cư đến vùng Nam Bộ
Từ thế kỷ XV, khi đế chế Ăng - Kor sụp đổ, người dân Cam-Pu-Chia càng rơi vào cảnh đói nghèo và bị đàn áp nặng nề bởi bọn phong kiến ngoại tộc Thái Lan Để thoát khỏi ách áp bức ngoại tộc, người Khmer (kể cả quan lại, sư sãi và trí thức Khmer đương thời) đã tìm đến Nam Bộ ngày một đông
Đến thế kỷ XVII, đã bắt đầu có những lưu dân người Việt từ vùng đất Thuận - Quảng đến khẩn hoang và lập những làng người Việt đầu tiên ở Nam
Bộ “Năm 1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái của mình là công chúa Ngọc Vạn cho quốc Vương Chân Lạp… Dưới sự bảo hộ của Bà Hoàng Hậu người Việt, cư dân từ vùng Thuận - Quảng vào sinh sống, làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai ngày một đông thêm”
Bên cạnh những cuộc di cư đó còn có sức ép của triều đình nhà Nguyễn, buộc triều đình Ăng-Kor vào năm 1625, phải chấp nhận chính thức 40.000 hộ người Việt Nam vào Nam Bộ sinh sống Đến năm 1765 thì toàn địa phận Nam Việt ngày nay thuộc về tay chúa Nguyễn, người Chân Lạp chỉ còn giữ đất Cao Man mà thôi Cuộc tranh chấp này kết thúc vào năm 1859, vào triều đại Âng Đuông ở Campuchia
Cùng với nhóm cư dân người Việt, trong thời gian này cũng xuất hiện những người Hoa Nam - Trung Quốc, không khuất phục triều đình Mãn
Trang 26Thanh di cư vào vùng đồng bằng màu mỡ này góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ - Việt Nam
Khi người Việt, người Hoa và tiếp đến là người Chăm đến vùng Nam Bộ này, đã đoàn kết với người Khmer, cùng nhau “chung lưng đấu cật” cải tạo vùng đất sình lầy, đầy thú dữ dần dần trở thành một vùng đất màu mỡ, trù phú
Trong suốt quá trình cộng cư gần 3 thế kỷ qua, các dân tộc ở Nam Bộ
đã đoàn kết lao động sản xuất, cải tạo địa bàn sinh tụ, đoàn kết chống sự áp bức, bóc lột của phong kiến, sự xâm lược của ngoại bang, bảo vệ lãnh thổ chung của cả cộng đồng, họ đã cùng có chung vận mệnh lịch sử, có chung lợi ích… quá trình đó đã tạo điều kiện cho các dân tộc có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa, nên đã hình thành một diện mạo văn hóa vùng đa dạng, phong phú bên cạnh những sắc thái văn hóa riêng của từng tộc người
1.3.2 Dân số và phân bố dân cư của người Khmer Nam Bộ hiện nay
Người Khmer Nam Bộ có tổng dân số trên 1.300.000 người (chiếm khoảng 7% dân số của vùng này) Địa bàn cư trú tập trung của họ là ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và một số ít ở các tỉnh, thành khác như Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh… Trong đó, cư trú tại tỉnh Sóc Trăng 397.014 người, (chiếm 30,7 % dân số toàn tỉnh); Trà Vinh 317.203 người (chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh); Kiên Giang 210.899 người (chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh); Cà Mau 29.845 người; An Giang 90.271 người; Bạc Liêu 70.667 người; Thành phố Hồ Chí Minh 24.268 người; Vĩnh Long 21.820 người; Cần Thơ 21.414 người; Hậu Giang 21.169 người; Bình Phước 15.578 người; Bình Dương 15.435 người; Tây Ninh 8.035 người;… [8]
Như vậy, ở Cà Mau và Sóc Trăng, số lượng người Khmer không phải là nhiều nhất nhưng do tính ổn định mà các phong tục, tập quán của họ ở đây vẫn
có thể đại diện cho toàn vùng Nam bộ
Trang 271.3.3 Khái quát về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Khmer Nam Bộ hiện nay
Thứ nhất, người Khmer Nam Bộ phần lớn sống ở vùng sâu, vùng xa -
nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém và đa số họ là nông dân, trình
độ học vấn thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn
Người Khmer Nam Bộ phần lớn là nông dân, sống chủ yếu dựa vào nghề nông, một số ít sống bằng nghề thủ công Tuy nhiên, độc canh cây lúa vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cách sản xuất của họ Bên cạnh đó, trình độ văn hóa của người Khmer Nam Bộ vẫn còn thấp so với mặt bằng chung, ảnh hưởng đến việc tiếp thu và vận dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cây trồng, vật nuôi còn chậm, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường; hoặc chưa mạnh dạn chuyển đổi
cơ cấu sản xuất, cây trồng vật nuôi Chính vì vậy mà đời sống của người Khmer Nam Bộ còn gặp rất nhiều khó khăn Tỷ lệ hộ nghèo của người Khmer Nam Bộ còn khá cao (25%)
Cơ cấu kinh tế của người Khmer Nam Bộ
Tính ổn định việc làm tính theo bình quân đầu người trong cộng đồng đạt mức trung bình khá - khoảng 65,52%
Trang 28Thứ hai, người Khmer Nam Bộ cần cù, chịu khó trong lao động, sống
mộc mạc, thật thà, chất phát, có tư duy trực quan, cụ thể
Người nông dân nói chung, nông dân Khmer Nam Bộ nói riêng rất cần
cù, chịu thương, chịu khó, yêu lao động, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”
để mong có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Trong quan hệ với mọi người, người Khmer sống chân tình, mộc mạc, thật thà, chất phác Họ thích sống đơn giản, không muốn tranh giành, chỉ tin những gì mắt thấy tai nghe, ghét thói ba hoa, trừu tượng Khi có khách đến nhà, có của ngon, của quý họ sẵn sàng đem
ra đãi khách Khi tin tưởng ai, họ giúp hết sức, hết lòng mà không cần tính toán, trả ơn Cũng vì vậy, họ rất ghét sự lừa gạt, dối trá
Trong hoạt động, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, người Khmer Nam Bộ phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, còn nặng tư duy trực quan cụ thể
Do đó, họ có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, thiếu năng động Khi chuyển sang cơ chế thị trường, người Khmer rất bỡ ngỡ Do quen sống với kinh nghiệm, cách làm cũ, nên họ thiếu linh hoạt, chậm nắm bắt cái mới; không mạnh dạn thay đổi cách làm ăn, sản xuất, kinh doanh
Người Khmer Nam Bộ vốn là những người dân chất phát và thuần hậu, tất cả đều là tín đồ Phật giáo, lấy ăn ngay ở thật làm đầu, nên hầu như hiếm khi xảy ra mặt tiêu cực xã hội nào đáng kể
Thứ ba, người Khmer một lòng, một dạ đi theo Đảng, gắn bó với
Đảng, kiên quyết đấu tranh chống áp bức, bóc lột và giặc ngoại xâm
Nhân dân ta nói chung, người Khmer Nam Bộ nói riêng rất căm ghét bọn đế quốc xâm lược, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong kháng chiến, nhiều nhà sư tham gia kháng chiến cống hiến cho cách mạng và tích cực vận động sư sãi, tín đồ Phật tử cùng tham gia Chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Cà Mau, qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong
Trang 29đồng bào Khmer ở địa phương này có đến 400 gia đình có công với cách mạng, 200 gia đình liệt sĩ, 150 gia đình thương binh, 04 Mẹ Việt Nam anh hùng, 01 Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang Đó là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đối với sự cống hiến lớn lao, sự hy sinh của người Khmer
vì nên độc lập tự do của Tổ quốc
Thứ tư, người Khmer Nam Bộ có đời sống văn hóa tinh thần phong
phú, ngôi chùa là điểm sáng văn hóa tâm linh của họ
Do tính chất quần cư đan xen với các tộc người khác và do sự giao thoa của các nền văn hóa, các tín ngưỡng, tôn giáo nên đời sống văn hóa, tinh thần của người Khmer rất phong phú, đa dạng Điều này thể hiện trên nhiều phương diện:
- Người Khmer rất yêu nghệ thuật, rất say mê âm nhạc, ca hát, nhảy múa Dường như trong dòng máu của người Khmer đều có sẵn những năng khiếu âm nhạc tuyệt vời Người Khmer tự hào có cây đàn Chapei, đàn Ta Khê, với những điệu múa Răm Vong, múa Lâm Lêu, múa Saravanl, là hình thức múa cá nhân, tập thể mang tính cộng đồng, phục vụ lễ hội, tết cổ truyền của họ
- Nói đến đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer không thể không kể đến những ngôi chùa Ai đã từng đến Sóc Trăng chắc chắn sẽ có ấn tượng tốt với cảnh trí của các ngôi chùa trong những rừng cây xanh tốt Ở tỉnh Sóc Trăng có đến 98 ngôi chùa Khmer Đặc biệt, phải kể đến chùa Khleang
cổ kính với 480 năm tuổi, đến chùa Dơi, chùa Đất sét độc đáo Ở Cà Mau, số lương chùa ít hơn (22 ngôi) trong đó cũng có những ngôi chùa được xây dựng
từ năm 1788 như chùa Rạch Rồng Chùa chiền có ý nghĩa đặc biệt đối với người Khmer, gắn bó với họ từ lúc sinh ra cho đến khi từ biệt cuộc đời Đây không chỉ là trung tâm tôn giáo là nơi linh thiêng để mọi người bày tỏ lòng thành kính với Đức Phật, mà còn là trung tâm văn hóa của phum, sóc, là nơi cộng đồng dân cư tụ hợp chung sức cùng nhau gánh vác, chia sẻ những khó
Trang 30khăn trong cuộc sống đời thường Bên cạnh đó, chùa còn là trường học của người Khmer Đây thật sự là nơi bảo tồn chữ viết, văn hóa Khmer, dạy giáo
lý, đạo đức, dạy nghề, là môi trường tốt để rèn luyện đạo hạnh của con người Ngoài ra, chìa còn là “Từ đường” của người Khmer Thân nhân của các gia đình chết, sau khi hỏa tán, tro cốt được gửi vào chùa Đến ngày tuần tiết, sóc vọng, những ngày lễ, thân nhân người chết đến chùa dâng hương lễ Phật cũng là tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên được siêu thoát về cõi cực lạc
Những đặc điểm về kinh tế xã hội như đã nêu trên, người Khmer Nam
Bộ đã hình thành cho cộng đồng dân tộc mình những phng tục, tập quán vừa mang nét đặc trưng của nền cư dân nông nghiệp, mang đạm dấu ấn Phật giáo Tiểu thừa; lại vừa mang tính đa dạng và vô cùng phong phú, giúp cho dân tộc Khmer khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Mỗi cộng đồng dân tộc đều có những nề nếp, thói quen riêng, thể hiện trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và trở thành những quy tắc, buộc mọi người trong cộng đồng đó phải tuân theo Những thói quen ấy chính là phong tục, tập quán của họ và nó được hình thành trên cơ sở của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; vấn đề tái sản xuất sức sản xuất xã hội; thế giới quan; sự tác động của các luồng văn hóa; công cuộc di cư, bảo vệ bờ cõi của cả cộng đồng
Bản thân phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng luôn hàm chứa những giá trị phù hợp với lợi ích và nhu cầu của từng cá nhân trong cộng đồng ấy và
nó được thể hiện cụ thể trên các phương diện sau: Thứ nhất, phong tục, tập quán tạo ra “lực thống nhất” cho một xã hội; Thứ hai, phong tục, tập quán là
trung tâm hòa giải, làm cán cân công lý; Thứ ba, phong tục, tập quán mang giá trị giáo dục con người; Thứ tư, phong tục, tập quán mang tính xã hội hóa;
Trang 31Thứ năm, phong tục, tập quán thỏa mãn đời sống tâm linh; Thứ sáu, phong
tục, tập quán góp phần vun đắp tình yêu quê hương, yêu Tổ quốc, giống nòi, chống xâm lược của kẻ thù Tất cả những yếu tố này có ý nghĩa vô cùng to lớn, góp phần hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ
Riêng đối với người Khmer Nam Bộ, xét về phương diện kinh tế, xã hội, Người Khmer Nam Bộ hết sức chân phương, chất phác và còn gặp khá
khó khăn trong cuộc sống như: Thứ nhất, phần lớn, họ sống ở vùng sâu, vùng
xa - nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém và đa số họ là nông dân,
trình độ văn hóa thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn; Thứ hai, cần cù, chịu
khó trong lao động, sống mộc mạc, thật thà, chất phát, có tư duy trực quan, cụ
thể; Thứ ba, người Khmer một lòng, một dạ đi theo Đảng, gắn bó với Đảng, kiên quyết đấu tranh chống áp bức, bóc lột và giặt ngoại xâm; Thứ tư, người
Khmer Nam Bộ có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, ngôi chùa là điểm sáng văn hóa tâm linh của họ Đây là cơ sở cho việc hình thành phong tục, tập quán đặc trưng của họ
Trang 32Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN
TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER NAM BỘ
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Những phong tục, tập quán trong đời sống của người Khmer Nam Bộ
2.1.1 Những phong tục, tập quán về đời sống vật chất
Thứ nhất, phong tục, tập quán trong kiến trúc, điêu khắc, hội họa
Cũng như các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam, những giá trị thẩm mỹ của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ bắt nguồn từ ý thức làm đẹp cuộc sống Từ việc trang trí cho một công cụ sản xuất, một đạo cụ sân khấu, một nhạc khí, trang trí họa tiết, hoa văn cho các ngôi chùa, nhà cửa, đến làm đẹp cho cơ thể và nhân cách của con người Chính vì vậy, nền mỹ thuật dân gian Khmer Nam Bộ không tự hạn chế trong một mô típ trang trí mà rất
đa dạng và phong phú gắn bó với đời sống xã hội Đặc biệt, là mỹ thuật dân gian dành phần lớn tài năng sáng tạo cho việc trang trí các đạo cụ phục vụ cho
âm nhạc, múa và sân khấu
Kiến trúc là một loại hình nghệ thuật cơ bản, thể hiện sâu sắc bản sắc văn hóa, trình độ phát triển văn hóa của con người, của cộng đồng dân tộc Kiến trúc Khmer Nam Bộ là loại hình nghệ thuật được thể hiện đầy đủ nhất, tập trung nhất tại ngôi chùa Phật giáo Khmer, nhất là ở tòa chính điện ngôi chùa Từ thiết kế, bố cục hình dáng cho đến trang trí mỹ thuật của ngôi chùa đều thể hiện quan niệm nhất quán của người Khmer Tòa chính điện ở trung tâm khuôn viên chùa, chiều dài của tòa chính điện bao giờ
Trang 33cũng phải bằng hai chiều ngang, chiều cao bằng chiều dài Chóp nóc ngôi chùa thường nhìn rõ nhất là hình tam giác nhọn, mái cong Chính điện có hành lang bao quanh, bao giờ cũng quay về hướng Đông Nếu các di tích lịch sử - văn hóa, hay nơi thờ tự tôn giáo của người Kinh quay về hướng Nam thì quan niệm của người Khmer Nam Bộ là Phật ở hướng Tây quay sang hướng Đông để ban phước, cho nên chùa phải theo hướng Đông để hợp với hướng tượng
Xem xét nghệ thuật kiến trúc chùa có thể thấy khá rõ quan niệm của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ, thể hiện những yếu tố tích cực, tiến bộ Trong nghệ thuật trang trí kiến trúc, con rồng thường được thể hiện trên bộ mái và những cột cái trong chính điện Trong Phật thoại, rồng là con vật linh thiêng, tự nó đã biến thành chiếc thuyền đưa Phật vượt biển tới các nơi
để giảng kinh thuyết pháp, cứu độ chúng sinh Người Khmer Nam Bộ đưa rồng lên mái chùa, với ý nghĩa mong Phật dừng ở chùa của họ để cứu vớt chúng sinh Một hình thức trang trí khác cũng khá đặc sắc được thể hiện ở những đường cong tượng trưng đuôi rắn, những đầu rắn và hình tượng rắn nhiều đầu, đó là những hình thức trang trí thường được bố cục trên bộ mái chùa Tuy nhiên, do đặc điểm riêng của từng chùa mà có khi đưa vào một
số chi tiết khác Ở mặt ngoài các ngôi chùa, thường không có hội họa mà chủ yếu trang trí kiến trúc với các hình chạm, hình đắp, hoặc tượng tròn Các đề tài được đề cập thường xuyên là hình tượng: Rồng (Niêk), tiên nữ hình chim (Têp-Pro-Nam), chim thần (Ga-Ru-Da hay Ma-Ha-Krut) và các
vũ nữ chim (Kây-No), Chằng (Yak), Rìa Hu, Linga…
Ngoài ra, các mô típ trang trí còn sử dụng các hình tượng hoa văn liên quan tới giới thực vật Nhưng phổ biến nhất, vẫn là hình tượng hoa sen Đây
Trang 34là loại hoa linh thiêng của đạo Phật và đạo Bà La Môn, mang tính biểu trưng cho việc thờ cúng nên nó thường là đề tài chính yếu tham gia trong các bố cục trang trí của chùa Khmer Nam Bộ Những bức vẽ trong chính điện là những bức tranh thường lấy đề tài từ các phật thoại, về cuộc đời đức Phật từ khi sinh ra đến khi vào cõi niết bàn Cũng có chùa vẽ những tích truyện dân gian, những cảnh triết lý về cuộc đời, những cảnh khuyến thiện, răn ác, những yếu tố văn hóa tích cực, tiến bộ
Nghệ thuật điêu khắc của người Khmer Nam Bộ đã đạt đến trình độ khá hoàn mỹ, thể hiện tài năng sáng tạo của các nghệ nhân Khmer Tiêu biểu nhất trong nghệ thuật điêu khắc của người Khmer Nam Bộ phải kể đến loại hình điêu khắc trên chất liệu đá, như các tượng thần Su-Ri-A, thần Ha-Ri-Ha-Na, thần Ga-Nê-Xa… Một bộ phận quan trọng của nền nghệ thuật điêu khắc và tạc tượng được thể hiện trên các tượng Phật trong các ngôi chùa Khmer Nam Bộ Chùa Khmer chỉ có tượng Phật Thích Ca, song không phải là một loại tượng, mà thường gồm 5 hóa thân khác nhau của đức Phật trong kiếp tu hành của mình Tượng Phật đắc đạo là pho tượng chính và to nhất nằm ở vị trí trung tâm của ngôi chính điện Về hình thức, tất cả các pho tượng đều tượng trưng cho trí tuệ, quyền lực và sự vĩnh hằng cao cả Cách bố trí các họa tiết, hoa văn, hình tượng chùa Khmer rất phức tạp nên việc xây dựng chùa kéo dài hằng chục năm hoặc lâu hơn, tốn rất nhiều tiền của, công sức và thời gian Có những công trình mất hơn mười năm vẫn chưa hoàn thành Những vùng phật tử nghèo thì thời gian còn kéo dài hơn do khả năng đóng góp của phật tử có hạn, phật tử phải tiếp tục đóng góp cho đến khi hoàn thiện ngôi chùa
Trang 35Ngôi chùa của người Khmer Nam Bộ
Rắn trong kiến trúc và điêu khắc ở chùa của
người Khmer Nam Bộ
Chùa của người Khmer Nam Bộ Hoa văn được điêu khắc bằng hình tượng
rồng một cách đặc sắc
Trang 36Thứ hai, về tập quán cư trú
“Phum”, “Sóc” là những đơn vị tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer giống như làng, xóm của người Việt Các phum, sóc này xen kẽ với các làng, xóm của người Việt, và ngay cả trong các phum, sóc ngoài số đông người Khmer còn có người Việt, người Hoa chung sống Phum và sóc không phải là đơn vị hành chính chính thức Sóc là một đơn vị xã hội khu vực Từ “sóc” theo tiếng Khmer có nhiều ý nghĩa: là xứ, vùng, địa phương, quê hương, vùng quê, miệt vườn Ở người Campuchia, Sóc là đơn vị hành chính tương đương cấp quận, huyện, nhưng đối với người Khmer Nam Bộ, mới được dùng để chỉ một đơn vị cư trú theo quy mô của xã hội tự quản truyền thống Vì không nằm trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước nên thông thường hiện nay đồng bào Khmer đồng nhất Phum và Sóc theo cách gọi của mình với nghĩa định vị nơi mình cư trú mà thôi Ranh giới của sóc được lưu giữ trong ký ức của người Khmer, cũng có nơi được đánh dấu bằng các bờ ruộng, dòng kênh và cả những cột đá Ngoài phần đất làm nơi ở, xây dựng nhà cửa, chùa Phật, các sóc có ruộng đất ở quanh đó để canh tác nông nghiệp Thường mỗi sóc có nhiều phum họp lại Sự ngăn cách giữa các Sóc ở Nam Bộ nói chung là khó xác định, phần
vì ranh giới chỉ là một vật tượng trưng sơ sài hoặc không có vật làm mốc, phần
vì sự quan hệ theo tính chất “mở” mạnh mẽ giữa các Sóc nên vô hình chung đã xóa đi ranh giới giữa các Sóc Do đó, để định tính được các sóc thì cách phổ biến là xác định thông qua ngôi chùa Khmer Thông thường mỗi Sóc có một ngôi chùa Khmer, nhưng cũng có nhiều sóc chưa có chùa thì cùng sinh hoạt tại
một ngôi chùa của sóc gần đó “Phum” theo tiếng Khmer có nghĩa là một
khoảng đất, một vùng đất cư trú của một nhóm dân cư nhỏ Theo cấu trúc truyền thống, phum là nơi trú ngụ của một số gia đình (5 đến 10 gia đình) theo hai mối quan hệ chính là quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân Hiện nay, cấu trúc phum truyền thống có phần bị phá vỡ, tính chất mở phát triển mạnh
mẽ hơn do quá trình phát triển dân số cộng đồng các dân tộc do sự thay đổi
Trang 37quan hệ sản xuất, do sự tăng nhanh lực lượng lao động đa sắc tộc, đa nguồn gốc và tiến trình giao lưu văn hóa Do đó, ngày nay số lượng phum thuần Khmer ngày càng thu hẹp, thay vào đó là các dạng Phum hỗn hợp Việt, Hoa, Khmer được hình thành dựa trên các mối quan hệ kinh tế, láng giềng và kể cả quan hệ di trú tự do của lưu dân từ nơi khác đến Về đại thể, phum là một đơn
vị xã hội cơ bản với quy mô lớn nhỏ khác nhau cùng định cư trên một vùng nhất định thường là các giồng đất cao Những giồng này cao hơn mặt ruộng từ 1,5m đến 2m, ở đó có nước ngọt và khí hậu thoáng mát
Chính điều kiện cư trú và vai trò của ngôi chùa trong phum, sóc đã gắn kết chặt chẽ cộng đồng cư dân trong một Phum, Sóc và sự cố kết cả cộng đồng dân tộc Khmer
Thứ ba, về nhà ở
+ Trong cách bố trí nhà ở: Phù hợp với quan niệm và hoàn cảnh địa lý
Miền tây Nam bộ, vật liệu kiến trúc từ nguồn cây gỗ trong rừng Bộ khung nhà theo kiểu khung liền cột, chịu lực chắc chắn, chân mái dốc để tránh tác động của thời tiết Song, do quá trình cộng cư lâu dài và các điều kiện môi sinh đã làm thay đổi khá cơ bản về nhà ở của người Khmer Nam Bộ Điều kiện nhà ở phản ánh vị trí xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế của chủ nhà, nhưng nhìn chung còn tồn tại 3 loại nhà: nhà tạm, nhà bán kiên cố, nhà kiên cố
Nhà tạm là loại phổ biến nhất đối với hộ nghèo, thông thường được xây
dựng bằng những vật liệu đơn sơ, tạm bợ Cấu trúc của nhà này rất đơn giản Nếu nhà một gian thì diện tích từ 15 - 20 m2, vách cạnh nhỏ 3m, vách cạnh lớn 5m, cao 2,5m, bộ sườn nhà thường là 6 cột chính (2 cột lớn, 4 cột nhỏ), mái lá, vách lá, nền đất Mái nhà thấp lại không có hàng ba đủ rộng nên vách không trổ cửa sổ, do đó nhà rất tối tăm và ẩm thấp bên trong Nếu nhà phát triển thành nhiều gian thì bộ sườn nhà cơ bản sẽ từ 12 cột trở lên Phía sau nhà là chuồng nuôi gia súc, xung quanh có thể thêm ao cá, líp rau
Trang 38Nhà bán kiên cố là nhà của những người Khmer thuộc tầng lớp trung
lưu Nhà có kích thước khá rộng và cao, thường vách cạnh nhỏ là 8m, cạnh lớn
là 12m, cao 4,5m, gồm 6 cột lớn, 4 cột nhỏ Toàn bộ cột được đặt trên tảng đá
kè hình vuông chôn một phần dưới đất Ngoài gian chính, có người còn nối thêm gian phụ nhằm tăng thêm diện tích mặt bằng sinh hoạt Nhà người Khmer thường trổ cửa ra vào đặt ở giữa vách cạnh lớn như nhà của người Việt Dù nhà
cỡ nhỏ hay cỡ lớn thì hầu hết đều thuộc nhà 2 mái, mái trước nối với mái sau, mái nhà được lợp và vách được dựng bằng lá dừa nước, có nhà lợp bằng lá xé,
có nhà lợp bằng lá chằm Thường phía sau nhà có các chuồng gia súc, gia cầm
Nhà kiên cố là nhà của tầng lớp khá giả, trung lưu ở thị trấn, thị tứ Nhà
này thường được xây dựng dưới dạng gạch hay vách ván, mái lợp tôn hay ngói, nền nhà tráng xi măng hay đất gạch Đây thường là nhà của tầng lớp khá giả, trung lưu ở thị trấn, thị tứ Kích thước nhà thường khá to, vách cạnh lớn 15m, vách cạnh nhỏ 10m, cao 6m Nếu bằng gỗ thì bộ sườn nhà bằng gỗ quý gồm 16 cột - 8 cột lớn và 8 cột nhỏ Phối cảnh nội thất nhà ở của người Khmer có đặc điểm chung là tính đối xứng, nghĩa là nếu chia đôi ngôi nhà theo chiều dọc thì hai bên được bố trí buồng, cửa bằng nhau Một đặc điểm khác để phân biệt ngôi nhà của người Khmer Nam Bộ là bao giờ ở hiên nhà (hàng ba) cũng để một cái chõng hay giường bằng tre ở bên trái hoặc bên phải - nơi đây dùng để ngồi chơi, hóng mát hoặc ăn cơm Từ cửa chính bước vào, ở giữa phòng kê một bộ bàn ghế tiếp khách, hai bên là bộ ván hay đi văng dành cho thanh niên hoặc người già Sát với vách ngăn phòng trong là chiếc tủ gỗ tạp hoặc tủ kính, bên trong tủ trưng gối thêu màu sặc sỡ, chén kiểu hoặc ly tách Phía sau vách ngăn là phòng ngủ dành cho phụ nữ hoặc những đôi vợ chồng, kế đến là nhà kho chứa vật dụng, đồ dùng trong nông nghiệp và cuối cùng là nhà bếp Ngay chính giữa trung tâm ngôi nhà, thường là bàn thờ Phật phía trên, liền đó là bàn thờ ông bà hay cha mẹ, người thân đã khuất
Trang 39Như vậy, có thể thấy rằng toàn bộ ngôi nhà truyền thống thể hiện rất rõ tập quán về tổ chức không gian sinh hoạt gia đình với ý thức khai thác tận dụng những yếu tố sẵn có của chính bản thân môi sinh cư trú tự nhiên xung quanh là chính Nếu liên hệ giữa phương thức quần cư và không gian cư trú ngoại vi ngôi nhà sẽ cho thấy được tính độc đáo của yếu tố văn hóa thích nghi, tận dụng môi trường, rất phù hợp với kiểu lao động một nắng hai sương, tranh thủ thời gian để sản xuất và khuynh hướng gắn liền với thiên nhiên của người Khmer
Thứ tư, tập quán trong lao động sản xuất
Trước đây, người Khmer chỉ gieo trồng một vụ trong năm nhờ vào nguồn nước mưa, kỹ thuật khá tiến bộ, họ đã biết dùng sức kéo trâu bò để cày bừa ruộng đất, biết gieo sạ lúa hoặc cấy lúa Ở một vài địa phương người Khmer đã biết đến việc sử dụng các đập nước để ngăn giữ nước ngọt, hoặc giảm tình trạng bị nhiễm mặn, nhiễm phèn đất đai Họ có nhiều giống lúa chịu được hạn hán, nước mặn, nước phèn và cho năng suất cao, chất lượng gạo thơm ngon Hiện nay, việc canh tác lúa nước của người Khmer Nam Bộ đã có nhiều thay đổi, họ đã biết sử dụng phân bón hóa học, các phương tiện cơ giới
để cày bừa, bơm nước và thuốc trừ sâu Nhờ vậy, nhiều vùng người Khmer đã làm từ hai đến ba vụ gieo trồng trong một năm, năng suất lúa cao hơn trước Ngoài việc canh tác lúa, ở một số địa phương, người Khmer còn gieo trồng các loại hoa màu như rau, đậu, dưa, hành Bên cạnh nghề trồng lúa nước, người Khmer còn có một số nghề thủ công như dệt vải, dệt chiếu, làm đồ gốm, làm đường thốt nốt, rèn, mộc, Nhiều nghề thủ công đã bị mai một hoặc còn rất ít ỏi như nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt, làm đồ gốm Ở một vài vùng ven biển, người Khmer còn biết làm muối và đánh bắt cá Trong thời gian gần đây, Người dân Khmer ở ven biển Sóc Trăng và Cà Mau đã chú ý đến nuôi trồng hải sàn để phát triển kinh tế Trong các gia đình người Khmer
có chăn nuôi gia súc như heo, gà, trâu, bò dùng để ăn thịt hoặc làm sức kéo
Trang 40Tuy nhiên, những hoạt động thủ công, chăn nuôi, đánh cá chưa tách khỏi sản xuất nông nghiệp, người Khmer chỉ làm các nghề này vào lúc rảnh rỗi việc đồng áng, góp vào thu nhập cho cuộc sống hàng ngày Nhìn chung, kinh tế của người Khmer trước đây mang tính tự cung tự cấp, một vài nơi sản phẩm của họ được đem ra trao đổi, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt khác Hiện nay, nhiều vùng sản xuất nông nghiệp của người Khmer đang chuyển sang hướng sản xuất nông sản hàng hóa, hàng gia dụng thủ công cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Đặc biệt là trong thời gian gần đây, Người dân Khmer ở ven biển Sóc Trăng và Cà Mau đã chú ý đến nuôi trồng hải sản để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của họ
Thứ năm, phong tục, tập quán trong trang phục
Trang phục của nữ giới: Với chiếc váy xampot, quấn ngang hông và
giắt về một phía, gấu váy cao trên cổ chân Váy xampot thường được làm bằng vải tơ tằm, dệt tay, có nhiều họa tiết và nhiều màu sắc Áo wên, áo
srây hoặc áo tằm wong (tầm vong) là loại áo dài của người Khmer, làm
bằng vải màu đen Áo được may bít tà, rộng và dài qua đầu gối, cổ xẻ trước ngực nên khi mặc phải chui đầu Tay áo thường bó chặt, sườn áo có ghép thêm bốn miếng vải dọc từ nách đến gấu Các loại áo này thường được mặc chung với quần đen như người Việt hoặc mặc với váy xampot Còn Kama
là loại khăn rằn của người Khmer nhưng nay cũng thường thấy được sử dụng trong cư dân người Chăm và người Việt ở Nam bộ Do kỹ thuật
nhuộm vải bằng quả mạc nưa (maklưa) nên Kama có màu đen tuyền, bóng
và lâu phai nhạt Loại Kama do người Khmer dệt có hoa văn hình karô, màu đỏ hoặc màu xanh nổi lên trên nền hình chữ nhật hoặc hình vuông màu trắng nên thường đẹp và bền Kama còn dùng làm khăn lau mặt, làm khăn choàng, khăn tắm, quấn đầu, thắt lưng, làm bao đựng vật dụng đi đường và làm võng cho em bé nằm