Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa luôn là một nội dung giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm thúc đẩy phát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SOULIXAI LUANG LATH
XUẤT, NHẬP KHẨU CỦA THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN,
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
SOULIXAI LUANG LATH
XUẤT, NHẬP KHẨU CỦA THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN,
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Ngành : Kinh tế Chính trị
Mã số : 60 31 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THÌN
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực; các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Bản luận văn này là sự nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi dưới sự giúp đỡ của người hướng dẫn khoa học (ngoài phần đã trích dẫn)
Tác giả luận văn
Soulixai Luanglath
Trang 4Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thìn– người đã hướng dẫn đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế , Học viện Báo Chí và Tuyên Truyền , các thầy cô trong Ban quản lý đào tạo cùng tất cả các thầy cô giáo của Học viê ̣n Báo chí và Tuyên truyền đã giúp đ ỡ tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn này Cám ơn các cơ quan, ban, ngành của Thủ đô Viêng Chăn đã tạo điều kiện cho tôi được tìm hiểu, khai thác tài liệu để thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ rất nhiều về vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành chương trình học tập cũng như luận văn tốt nghiệp của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Soulixai Luanglath
Trang 5MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÊ XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 7
1.1 Xuất nhập khẩu hàng hóa 7 1.2 Hội nhập quốc tế 18 1.3 Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong hội nhập kinh tế quốc
tế và bài học rút ra cho thủ đô Viêng Chăn, CHDCND Lào 24
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO GIAI ĐOẠN 2010 - 2014 31
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa hiện nay ở Thủ đô Viêng Chăn 31 2.2 Thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn 37 2.3 Đánh giá chung về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Thủ đô Viêng Chăn 44
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH HOA ̣T ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO ĐẾN NĂM 2020 62
3.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu và cơ chế chính sách xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2020 62 3.2 Những giải pháp cơ bản đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2020 70
KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1: Diện tích, dân số các đơn vị hành chính 32
Bảng 2.2: Thị trường xuất khẩu của thủ đô Viêng Chăn năm 2014 38
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn từ năm 2010-2014 40
Bảng 2.4: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và giá trị xuất khẩu 41
Bảng 2.5: Kim ngạch nhập khẩu của thủ đô Viêng Chăn (2010- 2014) 43
Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng (GDP) của Thủ đô Viêng Chăn từ năm 2010-2014 46
Bảng 2.7: Cơ cấu mặt hàng và giá trị nhập khẩu 97
Hình 2.1: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Thủ đô Viêng Chăn năm 2014 42
Hình 2.2: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Viêng Chăn phân theo nhóm 43
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
FTA Hiệp hội di chuyển quốc tế
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa luôn là một nội dung giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Thực hiện chính sách mở cửa với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa kinh tế đối ngoại, hoạt động xuất khẩu được coi là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân Thực tế đã chứng minh, xuất khẩu là một phương hướng hữu dụng nhất để hội nhập và tận dụng những cơ hội trong quá trình hội nhập để tăng trưởng và phát triển kinh tế Xuất khẩu phát triển kéo theo sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, là điều kiện để nâng cao cuộc sống nhân dân, giải quyết công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Sau gần 40 năm xây dựng và phát triển đất nước kể từ ngày giải phóng (1975), nền kinh
tế Lào đã có những chuyển biến đáng kể, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân ngày một nâng cao
Thủ đô Viêng Chăn của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào được mệnh danh "Thành phố của mặt trăng" với những nét cổ kính xen lẫn hiện đại Thủ đô nằm trong khu đô thị đặc biệt Viêng Chăn Ngày trước thủ đô Viêng Chăn nằm trong tỉnh Viêng Chăn nhưng đến năm 1989 đã tách ra làm đôi: tỉnh Viêng Chăn và khu đô thị đặc biệt Viêng Chăn Thủ đô Viêng Chăn nằm
ở phía tây bắc CHDCND Lào, trên một nhánh sông Mekong, chính là biên giới tự nhiên giữa Lào và Thái Lan Thành phố không chỉ là biểu tượng về chính trị, kinh tế, giáo dục mà là còn hiện thân của những giá trị văn hoá truyền thống rực rỡ của dân tộc Lào Trong những năm qua hoạt động xuất nhập khẩu của Thủ đô Viêng Chăn đóng một vai trò quan trọng trong những thành tựu của nền kinh tế nước CHDCND Lào Qua thực tế, nước CHDCND
Trang 9Lào đã chứng minh, xuất khẩu nhập hàng hóa của cả nước nói chung và của Thủ đô nói riêng là một công cụ hữu dụng nhất nhằm hội nhập và tận dụng những cơ hội trong quá trình hội nhập để tăng trưởng và phát triển kinh tế Thủ đô Viêng Chăn cũng đã tận dụng tốt những cơ hội để đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa như: thực hiện mở cửa nền kinh tế bằng chiến lược hướng mạnh về xuất nhập khẩu (XK) trên các nguyên tắc: đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ thương mại quốc tế trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, phấn đấu vì mục tiêu hoà bình
- độc lập - ổn định, hợp tác và phát triển Nhờ đó xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn trong thời gian qua đã đạt những kết quả quan trọng, kim ngạch xuất nhập khẩu ngày một tăng.Tuy nhiên, trong những năm qua hoạt động xuất khẩu hàng hóa chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế, tài nguyên thiên nhiên và con người của Thủ đô, kim ngạch xuất nhập khẩu còn nhỏ, thị trường xuất nhập khẩu cũng còn hạn chế… Vì vậy cần phải tìm ra những giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa ở Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào là rất cần thiết
Từ những lý do nêu trên mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Xuất, nhập khẩu của
thủ đô Viêng Chăn, Cộng hòa Dân Chủ Nhân dân Lào trong hội nhập quốc tế” làm luận văn tốt nghiệp, chuyên ngành kinh tế chính trị của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của CHDCND Lào nói chung và của Thủ đô Viêng Chăn nói riêng là một trong những chủ đề dành được nhiều
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Lào cũng như các quốc gia trên thế giới trong những năm gần đây Nhiều chương trình nghiên cứu cấp quốc gia, nhiều đề tài khoa học cấp bộ, ngành, cũng như nhiều luận văn, luận án tiến sĩ kinh tế cả ở Việt Nam và Lào đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến chủ đề này Có thể nêu lên một số đề tài tiêu biểu sau đây:
Trang 10+ Năm 2003, Luận án Tiến sỹ của Chăm Seng Phim Ma Vông với đề
tài “Đổi mới quản lý Nhà nước về thương mại ở CHDCND Lào” (Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), có đưa ra kinh nghiệm của một số nước về đổi mới quản lý Nhà nước về thương mại và bài học đối với Lào Tác giả cũng đã đề cập đến các nhân tố của chính sách thương mại Tuy nhiên đề tài
mà tác giả nghiên cứu chỉ nhằm đổi mới quản lý Nhà nước về thương mại, mà chưa phân tích sâu về đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
+ Luận án Tiến sỹ Bounna Hanexing Xay, với đề tài “Hoàn thiện chính sách quan lý của Nhà nước về thương mại của nước CHDCND Lào đến năm 2020” (Đại học KTQD- 2010) đã đề cập đến cơ chế, chính sách, hệ thống
tổ chức bộ máy nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về thương mại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý và đảm bảo thực hiện những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; nêu ra một số phương hướng, giải pháp để hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước về thương mại của nước CHDCND Lào đến năm 2020
+ Luận án TS Phongtisouk Siphomthaviboun, đề tài “Hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của CHDCND Lào đến năm 2020” (Đại học
KTQD) đã phân tích và đề xuất hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của CHDCND Lào theo một khung phân tích thống nhất Thông qua việc phân tích thực tiễn vận dụng chính sách thương mại quốc tế của Lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và luận án đề xuất các quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Lào trong thời gian tới chẳng hạn như tăng cường hoàn thiện chính sách thuế quan, cụ thể hóa hạn ngạch thuế, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường theo ngành hàng và theo công cụ áp dụng ở các thị trường xuất khẩu
+ Tác giả Phoxay Sitthisonh trong công trình nghiên cứu của mình về
“Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Savannaket nước CHDCND Lào”,
Trang 11năm 2006 cũng đã đề cập tổng quan về xuất khẩu hàng hóa, các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của tỉnh, đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hóa của tỉnh đến năm 2005 Tuy nhiên đề tài chỉ mới tập trung nghiên cứu trong phạm vi một tỉnh của nước CHDCND Lào và mới về tình hình xuất nhập khẩu đối với hàng hóa nói chung
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và cập nhật về vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề này là quan trọng và cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó, đánh giá thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Từ đó, đề xuất các quan điểm và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sắp tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ các vấn đề và câu hỏi sau đây:
+ Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về xuất nhập khẩu
+ Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Thủ đô Viêng Chăn CHDCND Lào giai đoạn 2010- 2014 diễn ra như thế nào, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Thủ đô Viêng Chăn
+ Đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá ở Thủ đô Viêng Chăn trong những năm sắp tới
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng một số phương pháp phổ biến trong nghiên cứu của kinh tế chính trị như:
+ Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê
+ Ngoài ra, luận văn còn chú ý sử dụng các phương pháp thu thập thông tin truyền thống, phương pháp chuyên gia để tìm hiểu một số vấn đề trong quá trình đánh giá thực trạng và dự báo xu hướng phát triển của xuất khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn nước CHDCDN Lào
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Một là, luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về xuất nhập khẩu hàng hóa trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế Luận văn đã phân tích được kinh nghiệm đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của một số nước
Trang 13và vùng lãnh thổ có điều kiện tương đồng với Thủ đô Viêng Chăn, qua đó rút
ra các bài học kinh nghiệm nhằm tham khảo, vận dụng trong quá trình đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa ở Thủ đô Viêng Chăn
- Thứ hai, luận văn đã đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá ở Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, qua đó chỉ ra được những thành tựu đã đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá ở CHDCND Lào những năm vừa qua
- Thứ ba, trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận văn đã tổng kết những quan điểm, mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất
và xuất nhập khẩu hàng hóa ở Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2020
Những giải pháp đề xuất trên là phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của CHDCND Lào cũng như đối với Thủ đô Viêng Chăn vì vậy nó có tính khả thi khi vận dụng nhằm đẩy mạnh xuất nhập khẩu trong giai đoạn sắp tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất, nhập khẩu hàng hóa trong quá trình hội nhập quốc tế
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 2010-2014
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập, khẩu hàng hóa của Thủ đô Viêng Chăn nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2020
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÊ XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG
HÓA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 Xuất nhập khẩu hàng hóa
1.1.1 Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa
Theo qui định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh XNK thì hoạt động kinh doanh XNK phải nhằm phục vụ nền kinh tế trong nước phát triển trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh sẵn có về lao động, đất đai và các tài nguyên khác của nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật
và qui trình công nghệ sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất nước, đáp ứng các yêu cầu cơ bản và cấp bách về sản xuất và đời sống, đồng thời góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều hoà cung cầu để ổn định thị truờng trong nước
XNK là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân XNK là hoạt động dễ đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia XNK không dễ dàng khống chế được
XNK là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài nhằm phát triển sản xuất kinh doanh đời sống Song mua bán ở đây có những nét riêng phức tạp hơn trong nước như giao dịch với người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn,đồng tiền
Trang 15thanh toán bằng ngoại tệ mạnh, hàng hoá vận chuyển qua biên giới cửa khẩu, cửa khẩu các quốc gia khác nhau phải tuân theo các tập quán quốc tế cũng như địa phương
Hoạt động XNK được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu từ điều tra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá XNK, thương nhân giao dịch, các bước tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng tổ chức thực hiện hợp đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao quyền
sở hữu cho người mua, hoàn thành các thanh toán Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải được nghiên cứu đầy đủ,kỹ lưỡng đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau,tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất, phục
vụ đầy đủ kịp thời cho sản xuất, tiêu dùng trong nước
Đối với người tham gia hoạt động XNK trước khi bước vào nghiên cứu, thực hiện các khâu nghiệp vụ phải nắm bắt được các thông tin về nhu cầu hàng hoá thị hiếu, tập quán tiêu dùng khả năng mở rộng sản xuất, tiêu dùng trong nước, xu hướng biến động của nó Những điều đó trở thành nếp thường xuyên trong tư duy mỗi nhà kinh doanh XNK để nắm bắt được Mặc
dù XNK đem lại nhiều thuận lợi song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế:
+ Cạnh tranh dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán hàng XNK Nếu không có sự kiểm soát của Nhà nước một cách chặt chẽ kịp thời sẽ gây các thiệt hại khi buôn bán với nước ngoài Các hoạt động xấu về kinh tế xã hội như buôn lậu, trốn thuế, ép cấp, ép giá dễ phát triển
+ Cạnh tranh sẽ dẫn đến thôn tính lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế bằng các biện pháp không lành mạnh như phá haoaị cản trở công việc của nhau…việc quản lý không chỉ đơn thuần tính toán về hiệu quả kinh tế mà còn phải chú trọng tới văn hoá và đạo đức xã hội
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động xuất nhập khẩu
- Xuất nhập khẩu là hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương
Trang 16- Xuất - nhập khẩu là hoạt động buôn bán diễn ra trên phạm vi ngoài quốc gia
- Hoạt động xuất - nhập khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trong nước Điều này được thể hiện ở chỗ:
+ Thị trường rộng lớn khó kiểm soát
+ Chịu sự ảnh hưởng của nhiều các yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp…của các quốc gia khác nhau Tập quán, pháp luật: 2 bên mua, bán có quốc tịch khác nhau, pháp luật khác nhau, tập quán kinh doanh khác nhau, do vậy phải tuân thủ luật kinh doanh cũng như tập quán kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế
+ Thanh toán bằng đồng ngoại tệ, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế
+ Xuất - nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia, nó rất phong phú và đa dạng, thường xuyên bị chi phối bởi các yếu
tố như chính sách, luật pháp, văn hóa, chính trị…của các quốc gia khác nhau
+ Nhà nước quản lý hoạt động xuất - nhập khẩu thông qua các công cụ chính sách như: chính sách thuế, hạn ngạch, các văn bản pháp luật khác, quy định các mặt hàng xuất - nhập khẩu…
+ Thời gian lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu:
Thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu bao giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động kinh doanh nội địa do phải thực hiện hai giai đoạn mua hàng và 2 giai đoạn bán hàng Đối với hoạt động xuất khẩu là mua ở thị trường trong nước bán cho thị trường ngoài nước, còn đối với hoạt động nhập khẩu là mua hàng hóa của nước ngoài và bán cho thị trường nội địa Do đó để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, người ta chỉ xác định khi hàng hóa đã luân chuyển được một vòng hay khi đã thực hiện xong 1 thương vụ ngoại thương, có thể bao gồm cả hoạt động nhập khẩu và hoạt động xuất khẩu
Trang 17- Hàng hóa kinh doanh xuất nhập khẩu:
Hàng hóa trong kinh doanh xuất nhập khẩu bao gồm nhiều loại trong
đó xuất khẩu chủ yếu những mặt hàng có thế mạnh trong nước (rau quả tươi, hàng mây đan, thủ công mỹ nghệ ), còn nhập khẩu chủ yếu những mặt hàng mà trong nước không có, chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng, chất lượng, thị hiếu (hàng tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng ) Thời gian giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán: Thời điểm xuất nhập khẩu hàng hóa và thời điểm thanh toán tiền hàng thường không trùng nhau mà có khoảng cách kéo dài Phương thức thanh toán: Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng là phương thức thanh toán bằng thư tín dụng
1.1.3 Vai trò của xuất nhập khẩu hàng hóa đối với nền kinh tế quốc dân
Một là, vai trò của nhập khẩu hàng hóa
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế (TMQT), nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà sản xuất trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất trong nước
sẽ không có lợi bằng xuất khẩu,làm được như vậy sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng,thế mạnh của nền kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kĩ thuật
Chính vì vậy mà nhập khẩu có vai trò như sau:
- Nhập khẩu thúc đẩy nhanh quá trình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 18- Bổ xung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo một sự phát triển cân đối ổn định.khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế
- Nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất tạo việc làm ổn định cho người lao động góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân
- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu góp phần nâng cao chất lượng sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá ra thị trường quốc tế đặc biệt là nước nhập khẩu Có thể thấy rằng vai trò của nhập khẩu là hết sức quan trọng đặc biệt là đối với các nước đang phát triển (trong đó có CHDCND Lào) trong việc cải thiện đời sống kinh tế, thay đổi một số lĩnh vực, nhờ có nhập khẩu mà tiếp thu được những kinh nghiệm quản lí, công nghệ hiện đại …thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, nhập khẩu phải vừa đảm bảo phù hợp với lợi ích của xã hội vừa tạo ra lợi nhuận các doanh nghiệp, chung và riêng phải hoà với nhau Để đạt được điều đó thì nhập khẩu phải đạt được yêu cầu sau:
- Tiết kiệm và hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn nhập khẩu: trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường việc kinh doanh mua bán giữa các nước đều tính theo thời giá quốc tế và thanh toán với nhau bằng ngoại tệ
tự do Do vậy, tất cả các hợp đồng nhập khẩu phải dựa trên vấn đề lợi ích và hiệu quả là vấn đề rất cơ bản của quốc gia, cũng như mỗi doanh nghiệp đòi hỏi các cơ quan quản lí cũng như mỗi doanh nghiệp phải:
+ Xác định mặt hàng nhập khẩu phù hợp với kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội, khoa học kĩ thuật của đất nước và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
+ Giành ngoại tệ cho nhập khẩu vật tư để phụ sản xuất trong nước xét thấy có lợi hơn nhập khẩu
+ Nghiên cứu thị trường để nhập khẩu được hàng hoá thích hợp,với giá
cả có lợi phục vụ cho sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân
Trang 19- Nhập khẩu thiết bị kĩ thuật tiên tiến hiện đại:
Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và nhận chuyển giao công nghệ,kể cả thiết bị theo con đường đầu tư hay viện trợ đều phải nắm vững phương trâm đón đầu đi thẳng vào tiếp thu công nghệ hiện đại.Nhập phải chọn lọc,tránh nhập những công nghệ lạc hậu các nước đang tìm cách thải ra Nhất thiết không vì mục tiêu “ tiết kiệm” mà nhập các thiết bị cũ, chưa dùng được bao lâu,chưa đủ để sinh lợi đã phải thay thế Kinh nghiệm của hầu hết các nước đang phát triển là đừng biến nước mình thành “bãi rác”của các nước tiên tiến
- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng nhanh xuất khẩu
Nền sản xuất hiện đại của nhiều nước trên thế giới đầy ắp những kho tồn trữ hàng hoá dư thừavà những nguyên nhiên vật liệu.Trong hoàn cảnh đó,việc nhập khẩu dễ hơn là tự sản xuất trong nước.Trong điều kiện ngành công nghiệp còn non kém của Việt Nam, giá hàng nhập khẩu thường rẻ hơn, phẩm chất tốt hơn Nhưng nếu chỉ nhập khẩu không chú ý tới sản xuất sẽ
“bóp chết”sản xuất trong nước.Vì vậy, cần tính toán và tranh thủ các lợi thế của nước ta trong từng thời kì để bảo hộ và mở mang sản xuất trong nước vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa vừa tạo ra được nguồn hàng xuất khẩu mở rộng thị trường ngoài nước
Hai là, vai trò của xuất khẩu hàng hóa
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh để đem lại lợi nhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy kinh tế Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo đIều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ Như vậy xuất khẩu có vai trò hết sức to lớn thể hiện qua việc:
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
Trang 20Công nghiệp hoá đất nước đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, vật tư và công nghệ tiên tiến Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: Liên doanh đầu tư với nước ngoài Vay nợ, viện trợ, tài trợ Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ Xuất khẩu sức lao động Trong các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ…cũng phải trả bằng cách này hay cách khác Để nhập khẩu, nguồn vốn quan trọng nhất là từ xuất khẩu Xuất khẩu quyết định qui mô và tốc độ tăng của nhập khẩu
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triển thuận lợi
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng lực sản xuất trong nước Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến thế giới từ bên ngoài
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường
+ Xuất khẩu cồn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm,
hạ giá thành
- Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống của nhân dân
Trang 21- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế gắn chặt với phân công lao động quốc tế Thông thường hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải quốc tế… Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế, thực
hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
Thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau thường là đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa Chính vì vậy hoạt động kinh doanh XNK cũng phải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
mà các nhân tố này có thể mang tính vĩ mô hoặc mang tính vi mô Cụ thể hoạt động kinh doanh XNK chịu ảnh hưởng của những nhân tố sau:
- Nhân tố mang tính toàn cầu
Đó là nhân tố thuộc về hệ thống thương mại quốc tế Mặc dù xu hướng chung trên thế giới là tự do mậu dịch và các nỗ lực chung để giảm bớt hàng rào ngăn cản đối với kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh XNK luôn phải đối diện với các hạn chế thương mại khác nhau Phổ biến nhất là thuế quan, một loại thuế do chính phủ nước ngoài đánh vào những sản phẩm nhập khẩu Thuế quan có thể được qui định để làm tăng thu nhập cho quốc gia hay để bảo
hộ cho các doanh nghiệp trong nước Nhà xuất khẩu cũng có thể đối diện với một hạn ngạch (quota) là việc đề ra những giới hạn về số lượng những hàng hoá mà nước nhập khẩu phải chấp nhận đối với những loại sản phẩm nào đó
Mục tiêu của hạn ngạch là để bảo lưu ngoại hối và bảo vệ công nghệ cũng như công ăn việc làm trong nước Một sự cấm vận là hình thức cao nhất của hạn ngạch, trong đó việc nhập khẩu các loại sản phẩm trong danh sách
Trang 22cấm vận bị cấm hoàn toàn Kinh doanh XNK cũng có thể bị hạn chế do việc kiểm soát ngoại hối là việc điều tiết lượng ngoại tệ hiện có và tỷ giá hối đoái
so với đồng tiền khác Các nhà kinh doanh XNK cũng có thể phải đối diện với một loạt các hàng rào phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu, những sự quản
lý, điều tiết định hình như phân biệt đối xử với các nhà đấu thầu nước ngoài, các tiêu chuẩn sản phẩm mang tính phân biệt đối xử với hàng nước ngoài
- Hội nhập kinh tế quốc tế
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cấu hoá thì sự phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng Chính vì thế mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội trên thế giới đều ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước Lĩnh vực XNK hơn bất cứ một hoạt động nào khác bị chi phối mạnh mẽ nhất, ở đây cũng do một phần tác động của các mối quan hệ kinh tế quốc tế Khi xuất khẩu hàng hoá từ nước này sang nước khác, người xuất khẩu phải đỗi mặt với các hàng rào thuế quan, phi thuế quan Mức độ lỏng lẻo hay chặt chẽ của các hàng rào này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước nhập khẩu và xuất khẩu
Ngày nay, đã và đang hình thành rất nhiều liên minh kinh tế ở các mức
độ khác nhau, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký kết với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế Nếu quốc gia nào tham gia vào các liên minh kinh tế này hoặc ký kết các hiệp định thương mại thì sẽ có nhiều thuận lợi trong hoạt động XNK của mình Ngược lại, đó chính là rào cản trong việc thâm nhập vào thị trường khu vực đó
- Tỷ giá hối đoái
Trên phương diện lý thuyết, tỷ giá, lạm phát, chính sách thương mại là những nhân tố tác động đến xuất nhập khẩu của một quốc gia, trong đó có thể coi tỷ giá là nhân tố chính Khi các yếu tố khác không đổi, đồng nội tệ tăng
Trang 23giá làm cho hàng hóa trong nước trở nên đắt tương đối so với hàng hóa nước ngoài, điều này sẽ khuyến khích nhập khẩu hàng hóa nước ngoài và hạn chế xuất khẩu hàng hóa trong nước đưa đến xuất khẩu ròng giảm Ngược lại, đồng nội tệ giảm giá sẽ tạo điều kiện cho xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
- Chế độ chính sách luật pháp của Nhà nuớc và quốc tế
Đây là yếu tố mà doanh ngiệp kinh doanh XNK cần nắm rõ và tuân thủ Bởi vậy nó thể hiện ý chí thống nhất chung của quốc tế Hoạt động XNK được tiến hành giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, nên nó chịu sự tác động của chính sách chế độ, luật pháp của quốc gia đó, đồng thời tuân theo những qui định, luật pháp của quốc gia đó và nó phải tuân theo những qui định, luật pháp quốc tế chung Nhân tố thuộc môi trường văn hoá Mỗi nước đều có những tập tục, qui tắc, kiêng kỵ riêng Chúng được hình thành heo truyền thống văn hoá của mỗi nước và có ảnh hưở ng to lớn đến tập tính tiêu dùng của khách hàng nước đó Tuy sự giao lưu văn hoá giữa các nước đã làm xuất hiện khá nhiề tập tính tiêu dùng chung cho mọi dân tộc, song những yếu
tố văn hoá truyền thống vẫn còn rất bền vững có ảnh hưởng rất mạnh đến thói quen và tâm lý tiêu dùng Đặc biệt chúng thể hiện rất rõ trong sự khác biệt giữa truyền thống phương Đông và phương Tây, giữa các tôn giáo và giữa các chủng tộc Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động xuất khẩu Nó quyết định sự hấp dẫn của thị trường thông qua việc phản ánh tiềm lực thị trường và hệ thống cơ sở hạ tầng của một quốc gia Trong những năm gần đây, môi trường kinh tế quốc tế có nhiều thay đổi do
xu hướng nhất thể hoá nền kinh tế có nhiều mức độ khác nhau như khu vực mậu dịch tự do, khu vực thống nhất thuế quan, khu vực thị trường chung…Những xu hướng này có tác động đến hoạt động xuất khẩu của các quốc gia theo hai hướng: tạo ra sự ưu tiên cho nhau và kích thích tăng trưỏng của các thành viên
Trang 24- Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Việc thực hiện hoạt động XNK không thể tách rời công việc vận chuyển và thông tin liên lạc Nhờ có thông tin mà các bên có thể cách nhau tới nửa vòng tráI đất vẫn thông tin được với nhau để thoả thuận tiến hành hoạt động kịp thời Việc vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khác là công việc nặng nề tốn nhiều chi phí của hoạt động XNK Do đó, nếu hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc của một nước thuận tiện sẽ giúp cho việc thực hiện hoạt động XNK được tiến hành dễ dàng, nhanh chóng và ngược lại
- Hệ thống tài chính ngân hàng:
Hiện nay hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệp tới tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế dù lớn hay nhỏ, dù ở bất kỳ thành phần kinh tế nào Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng Dựa trên các quan hệ, uy tín, nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng rất thuận lợi mà các doanh nghiệp tham gia hoạt đông XNK sẽ được đảm bảo về mặt lợi ích
- Khả năng sản xuất, chế biến của nền kinh tế trong nước
Kinh doanh thương mại nói chung và kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng là mua bán hàng hoá chứ không phải để tiêu dùng cho chính mình Các doanh nghiệp XNK hoạt động trên thị trường đầu vào nhằm chuẩn bị đầy đủ các yếu tố đầu vào trong đó quan trọng nhất là hàng hoá Nguồn hàng của doanh nghiệp XNK là toàn bộ và cơ cấu hàng hoá thích hợp với nhu cầu của khách hàng đã và đang có khả năng huy động trong kỳ kế hoạch
- Doanh nghiệp và sức cạnh tranh trên thị trường
Doanh nghiệp không thể XNK được hàng hoá nếu doanh nghiệp không có khả năng thu mua, chế biến và tiếp cận được với khách hàng nước Doanh nghiệp phải biết tận dụng thế mạnh để có một chỗ đứng vững chắc
trên thị trường
Trang 251.2 Hội nhập quốc tế
1.2.1 Khái niệm hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của.kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập diễn
ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia
Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế” Tựu chung, có ba cách tiếp cận chủ yếu sau:
Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên
bang, cho rằng hội nhập (integration) là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ Để đánh giá sự liên kết, những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế
Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W Deutsch là trụ cột, xem hội nhập
trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu
Trang 26như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa… từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh (security community) Theo Deutsch,
có hai loại cộng đồng an ninh: loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa
Kỳ, và loại cộng đồng an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu Như vậy, cách tiếp cận thứ hai này xem xét hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng
Cách tiếp cận thứ ba xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/hành
vi các nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi
Từ lý luận và thực tiễn, việc cần thiết là xác định một cách tiếp cận phù hợp đối với khái niệm “hội nhập quốc tế” để làm nền tảng xây dựng chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế của nước CHDCND Lào trong giai đoạn mới Theo đó, chúng tôi cho rằng cách tiếp cận phù hợp nhất là xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện và thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định Hội nhập quốc tế ở đây được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết là các quốc gia, chủ thể chính của quan hệ quốc tế có
đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc
tế Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế
Trang 271.2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh
tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình theo cấp độ liên kết từ thấp đến cao như sau:
- Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho
nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức
độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại
Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất
- Khu vực mậu dịch tự do (FTA) là hình thức liên kết trong đó 2 hoặc nhiều nước thỏa thuận cắt giảm và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quantrong thương mại giữa các thành viên trong khối, tạo môi trường thuận lợi cho thương mại phát triển tiến tới xây dưng khu thương mại tự do của các nước nhưng các thành viên trong khối vẫn duy trì chính sách thương mại riêng của mình với các đối tác ngoài khối Lợi ích của khu mậu dịch tự do là:
+ Tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích phát triển thương mại nội
bộ, giảm giá hàng hóa xuất khẩu do cắt giảm thuế và phi thuế, tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa của khối đó trên thị trường thế giới;
+ Nâng cao sức cạnh tranh của các thành viên;
+ Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư quốc tế, khuyến khích đầu tư nội khối;
Trang 28- Liên minh thuế quan là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các quốc gia cam kết nôi dung hợp tác như trong FTA nhưng lại áp dụng các biểu thuế quan và các quy định phi thuế quanchung cho toàn khối trong quan hệ thương mại với các nước bên ngoài, Các thành viên trong khối không còn độc lập về chính sách thương mại;
- Thị trường chung là liên kết kinh tế quốc tế ở mức độ cao hơn liên minh thuế quan, trong đó các thành viên ngoài việc áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong trao đổi thương mại thì còn phải thỏa thuận và cho phép di chuyển tự do các yếu tố cơ bản của sản xuất: hàng hóa; dịch vụ; tư bản & lao động giữa các nước thành viên, xây dựng cơ chế chung điều tiết thị trường và từng bước hình thành thị trường khu vực thống nhất trong đó hàng hóa, dịch vụ, sức lao động, vốn được lưu chuyển hoàn toàn tự do;
- Liên minh kinh tế là liên kết kinh tế quốc tế ở mức độ cao hơn Thị trường chung về sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, tư bản, sức lao động; thông tin Công nghệ giữa các quốc gia thành viên Ngoài ra các thành viên còn thống nhất thực hiện các chính sách kinh tế tài chính tiền tệ và cùng nhau thiết lập bộ máy tổ chức điều hành sự phối hợp kinh tế giữa các nước, thay thế một phần chức năng quản lý kinh tế của chính phủ từng bước nhằm tạo ra một không gian kinh tế thống nhất, một cơ cấu kinh tế tối ưu, xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các nước thành viên;
- Liên minh tiền tệ là hình thức Liên kết kinh tế cao nhất, ngoài các đặc trưng đã có trong liên minh kinh tế thì còn có những đặc trưng sau:
+ Hình thành đồng tiền chung thống nhất
+ Thống nhất chính sách lưu thông tiền tệ
+ Xây dựng hệ thống ngân hàng chung thay cho ngân hàng Trung ương của các thành viên;
Trang 29+ Xây dựng chính sách tiền tệ, tài chính, tín dụng chung đối với các nước đồng minh và các tổ chức tiền tệ quốc tế và tiến tới thực hiện liên minh
chính trị
Trong xu thế hội nhập song phương và đa phương hiện nay, một nước
có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập
từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70) Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
1.2.3 Những cơ hội và thách thức đối với các nền kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.1 Cơ hội
- Hội nhập quốc tế tạo điều kiện để phát huy lợi thế so sánh, thúc đẩy việc tham gia vào phân công lao động quốc tế, tranh thủ được lợi ích của việc phân bổ nguồn tài lực hợp lý trên bình diện quốc tế để từ đó phát huy cao độ nhân tố sản xuất hữu dụng của từng quốc gia
- Trên cơ sở các hiệp định đã ký kết, các chương trình phát triển kinh
tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội…được phối hợp hài hòa giữa các nước thành viên Nhờ đó, từng quốc gia thành viên có cơ hội và điều kiện thuận lợi
để khai thác tối ưu lợi thế của mình, từng bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng hiệu quả hơn Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước thành viên không chỉ theo hướng có lợi nhất, mà còn
Trang 30dẫn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế mới có tính chất khu vực Thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế khác không chỉ giữa các nước thành viên, mà còn giữa khối với các quốc gia ngoài khối
- Tự do luân chuyển hàng hoá, dịch vụ và vốn với việc giảm hoặc xoá
bỏ hàng rào thuế quan, đơn giản hoá thủ tục, cắt giảm kiểm soát hành chính sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, giảm thất nghiệp và tăng thêm lợi ích cho người tiêu dùng Tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới, tăng nhanh vòng quay vốn
và tạo điều kiện để đa dạng hoá các loại hình đầu tư, nâng cao hiệu quả, hạn chế rủi ro đầu tư
- Tạo cơ hội, điều kiện và khả năng thuận lợi cho việc xích lại gần nhau giữa các thành viên không những về trình độ phát triển, mà cả về cơ cấu tổ chức, hệ thống pháp luật và chính sách, năng lực quản lý và vận hành nền kinh tế, cho phép các bên có thể điều chỉnh lẫn nhau các chiến lược và kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân
- Thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao vốn, kỹ năng quản lý, qua đó mở rộng địa bàn đầu tư cho các nước, đồng thời giúp các nước tiếp nhận đầu tư có thêm nhiều cơ hội phát triển
1.2.3.2 Thách thức
- Sự bất ổn định của thị trường tài chính quốc tế Nguồn tài chính được phân bố không đồng đều, tập trung vào một số trung tâm tài chính lớn là các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá càng làm cho dòng vốn chảy mạnh hơn và tất yếu rủi ro sẽ lớn hơn
- Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, các nước nhất là các nước đang phát triển phải giảm dần thuế quan và bỏ hàng rào phi thuế quan, nghĩa là bỏ hàng rào mậu dịch, thì các hàng hoá dịch vụ nước ngoài sẽ ồ ạt đổ vào, bóp chết hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước
Trang 31- Quá trình toàn cầu hoá phát triển đã làm tan vỡ các hàng rào bảo hộ của các quốc gia Do vậy các quốc gia không chỉ chịu tác động tích cực của quá trình này mà còn phải chịu cả những chấn động của hệ thống kinh tế toàn cầu trong các lĩnh vực tiền tệ, tài chính, nguyên nhiên liệu… Các nước càng yếu kém, các chính sách kinh tế vĩ mô càng không đủ thông thoáng phù hợp với các định chế quốc tế, hệ thống ngân hàng - tài chính càng lạc hậu… thì càng chịu tác động nặng nề hơn
- Nguy cơ tụt hậu của một số quốc gia Trong quá trình hội nhập một số quốc gia tranh thủ được lợi ích của hội nhập mậu dịch quốc tế và thị trường tài chính quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng
mở rộng thương mại, thu hẹp dần khoảng cách với các nước phát triển thì một
số nước khác lại không có khả năng hội nhập vào quá trình phát triển thương mại, thu hút vốn đầu tư tất yếu sẽ bị đẩy lùi xa hơn nữa về phía sau
- Mối đe doạ của quá trình toàn cầu hoá là xu hướng hình thành thế độc quyền, tập trung quyền lực vào một số tập đoàn đầu sỏ quốc tế
Ngoài ra còn có những mặt tiêu cực khác nữa như sự chênh lệch về trình độ giữa nước giàu và nước nghèo có thể tăng lên, sự xung đột giữa các nền văn học…
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đem đến cho các nước những cơ hội thuận lợi lớn đồng thời cũng đứng trước những khó khăn thách thức nghiêm trọng Song những tác động tiêu cực này có thể lớn nhỏ đến đâu điều đó lại tuỳ thuộc vào chính sách hội nhập quốc tế của các quốc gia Một chính sách hội nhập quốc tế đúng đắn và thích hợp thì tác động của quá trình này sẽ bị hạn chế và ngược lại
1.3 Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong hội nhập kinh tế quốc tế và bài học rút ra cho thủ đô Viêng Chăn, CHDCND Lào
Trang 321.3.1 Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của thủ đô Băng Cốc, Thái Lan
Thái Lan là một nước đã làm rất tốt việc phát triển thị trường xuất khẩu Băng Cốc, là thủ đô và đồng thời là thành phố đông dân nhất của Thái LanTrong những năm gần đây, lãnh đạo thủ đô đã thể hiện quyết tâm trong việc hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân để thực hiện các chiến lược phát triển, tạo điều kiện cho hàng hóa Băng Cốc xâm nhập vào những thị trường mới Lãnh đạo Băng Cốc cũng đưa ra các biện pháp xúc tiến xuất khẩu hữu hiệu đó là kế hoạch cắt giảm và miễn thuế đối với nguyên liệu thô, miễn và giảm thuế nhập khẩu, thuế kinh doanh đối với các thiết bị máy móc
Thủ đô khuyến khích sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu vào việc phát triển xuất khẩu, đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu cả về sản phẩm lẫn thị trường Băng Cốc đã mạnh dạn thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, chính sách tỷ giá linh hoạt và hệ thống thanh toán tự do Những chính sách này đã đóng góp đáng kể vào việc phát triển thị trường ngoài nước Sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, kinh tế của Thái Lan nói chung và thủ đô và Băng Cốc nói riêng bắt đầu phục hồi từ năm 1999 với tốc độ tăng trưởng trung bình là 4.2%/năm nhờ xuất khẩu tăng trưởng mạnh và ba chương trình kích thích tài khóa của Chính phủ
Hiện tại thủ đô Băng Cốc đang phát triển một nền nông nghiệp hoàn chỉnh với sự đa dạng hóa và chuyên môn hóa nhiều loại vật nuôi, cây trồng ở mỗi vùng, miền trong cả nước và hướng vào mục tiêu xuất khẩu Nhìn chung, những chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên là kết quả của việc thực hiện những chính sách phát triển kinh tế một cách hợp lý và hiệu quả Trong đó, chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu và thị trường đã được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm tận dụng những ưu thế về tài nguyên, nhân lực và vị
Trang 33trí địa lý, đồng thời phân một cách tối ưu các nguồn lực quốc gia Sự hoàn thiện các chính sách này gắn liền với quá trình công nghiệp hóa của thủ đô trong gần 30 năm qua Đặc biệt, trong giai đoạn từ đầu những năm 1980 trở lại đây, chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã tạo ra sự phát triển vượt bậc cho nền kinh tế của Băng Cốc , và giúp thủ đô vững bước trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Đạt được những thành tựu trên là do lãnh đạo thủ đô đã xác định được một chiến lược kinh tế thích hợp, đưa ra được các chính sách, kế hoạch cụ thể
và công khai cho tổng thể nền kinh tế và ngành nghề Băng Cốc đã chuyển từ chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đến ưu tiên xuất khẩu dựa trên nguồn vốn, công nghệ của nước ngoài và nguồn nhân lực rẻ trong nước; lấy xuất khẩu và dịch vụ làm đầu tầu cho tăng trưởng kinh tế; chuyển từ chính sách khai hoang, phục hóa đến đa dạng hóa cây trồng vật nuôi phục vụ cho xuất khẩu
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong xuất khẩu hàng hoá từ đầu thập niên 1970 nhưng Băng Cốc vẫn chưa thành công trong việc xuất khẩu hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao, như: ô tô, xe máy, hàng điện tử điện lạnh, máy tính, ti vi, v.v Khiếm khuyết này thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu hàng hoá ở Băng Cốc những mặt hàng này trong cơ cấu xuất khẩu hàng năm chưa đóng vai trò nổi bật Băng Cốc vẫn còn cố gắng để thay đổi cơ cấu xuất khẩu theo hướng xuất khẩu hàng hoá có hàm lượng chất xám cao
1.3.2 Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa của Thủ đô
Hà Nội - Việt Nam
Thành phố đã quan tâm xây dựng bộ máy và tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động xúc tiến thương mại, thành lập trung tâm xúc tiến thương mại
và chuyển giao công nghệ, tổ chức phòng trưng bày và giới thiệu sản phẩm Công tác dự báo thị trường, cung cấp thông tin thương mại, giới thiệu và
Trang 34quảng cáo sản phẩm được quan tâm đẩy mạnh thông qua nhiều hình thức thích hợp như: mở các website, biên tập và xuất bản hàng nghìn đĩa CD, profile và catalogue giới thiệu về thương mại Hà Nội nói chung quảng bá về sản phẩm xuất khẩu của Hà Nội nói riêng
Thành phố đã phối hợp với Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam lựa chọn và hướng dẫn gần 30 doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu Hà Nội tham gia sàn giao dịch điện tử (www.vnemarket.com), bước đầu đa thương mại điện tử vào hoạt động Bên cạnh đó, đã phối hợp với các cơ quan xúc tiến thương mại của Trung ương, các tổ chức quốc tế, các trường đại học, viện nghiên cứu trên địa bàn tổ chức mỗi năm hàng chục cuộc hội thảo, đào tạo, tập huấn nhằm cung cấp kiến thức về pháp luật thương mại quốc tế, tập quán tiêu dung, kênh phân phối ở các thị trường trọng điểm cũng như nâng cao kỹ năng xúc tiến thương mại, nghiệp vụ xuất nhập khẩu cho cac doanh nghiệp
Những hoạt động trên đã có tác dụng thiết thực cung cấp thông tin cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để truyền tải các thông tin cần thiết tới các hội nghị và diễn đàn quốc
tế, thúc đẩy hoạt động giao lưu thương mại giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Ngoài ra thành phố còn hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện khảo sát thị trường, tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, thông qua đó tạo điều kiện và cơ hội cho các doanh nghiệp giao luư, tiếp xúc với các đối tác trong nước và quốc tế ký kết các hợp đồng thương mại
Những hoạt động xúc tiến thương mại trên đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của thành phố Năm 2013, mặc dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội vẫn tăng 10,17% đạt mức 560 usd/ người, chiếm hơn 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; 6 tháng đầu năm 2014 tăng 16,8% (đạt 885 triệu usd); cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã thay đổi theo hướng tích cực: nhóm hàng nông sản
Trang 35chiếm 32,2% năm 2013 giảm xuống 31,8% năm 2012; hàng dệt may tăng tương ứng từ 24,1% lên 25,8%; giày dép tăng 4,3% lên 4,7% Sản… phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp thủ đô đã có chỗ đứng trên các thị trường lớn
nh EU, Trung Quốc, các nớc ASEAN, Nhật, Hoa Kỳ…
1.3.3 Bài học kinh nghiệm đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa cho Thủ đô Viêng Chăn
Qua nghiên cứu bài học kinh nghiệm về những thành công của ba quốc gia trên về thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Thủ đô Viêng Chăn như sau
Thứ nhất, Thủ đô Viêng Chăn cần sớm định hình một hệ thống văn bản pháp qui đầy đủ và chi tiết để tạo lập cơ sở hoạt động cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế; Các chính sách, hệ thống văn bản pháp lý bao gồm như chính sách thị trường, chính sách mặt hàng, hệ thống hỗ trợ doanh nghiệp như hình thức tín dụng xuất khẩu, hỗ trợ thông tin thị trường, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển, và mở rộng thị trường mới
Thứ hai, sản xuất ra các sản phẩm phù hợp với thị hiếu, và nhu cầu của người tiêu dùng nước xuất khẩu tới; Muốn thâm nhập vào bất kỳ thị trường nào, điều cốt lõi các doanh nghiệp Lào, và Thủ đô phải xây dựng, và sản xuất
ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nước xuất khẩu, đồng thời giá cả và chất lượng phải hợp lý Đây là bài học đặc biệt quan trọng từ các doanh nghiệp Thái Lan và Việt Nam mà các doanh nghiệp Thủ đô Viêng Chăn có thể học hỏi được Ngoài ra, các doanh nghiệp Lào cũng có thể học tập từ đồng nghiệp Việt Nam, Thái Lan trong việc năng động, sáng tạo, nắm bắt được yếu tố tôn giáo, văn hóa của thị trường mà mình hướng tới để tạo cho sản phẩm có độ hấp dẫn khác biệt so với các sản phẩm cạnh tranh của các nước khác Tuy nhiên, một vấn đề hiện này đối với hàng hóa xuất khẩu của nước Lào nói chung, và các doanh nghiệp Lào nói riêng khả năng cạnh tranh về giá là khá yếu, và đang yếu thế khi cạnh tranh với các doanh nghiệp tại các
Trang 36quốc gia khác, đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam
Ba là, tạo sự liên kết các doanh nghiệp Lào cùng xuất khẩu hàng hóa và liên kết giữa doanh nghiệp Lào với các đối tác: Các doanh nghiệp Lào cần sớm hình thành và tạo lập được những liên kết với nhau trên cùng thị trường hoặc với các đối tác tại thị trường kinh doanh Có thể sử dụng kinh nghiệm của Hoa Kì để hình thành những liên kết theo nhiều hình thức để tăng cơ hội
và hợp tác lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Lào với các bạn hàng trên thế giới
Bốn là, tích cực, chủ động tham gia vào các diễn đàn khu vực và thế giới Việc tham gia vào các diễn đàn khu vực và thế giới sẽ giúp cho các doanh nghiệp của Lào có nhiều cơ hội tiếp cận với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên thế giới Bởi các cuộc hội thảo, hội nghị quốc tế thường là nơi
tụ họp của nhiều các doanh nghiệp đi tìm bạn hàng, ñối tác kinh doanh Thêm vào đó, việc mở ra các diễn đàn quốc tế cũng chính là mục tiêu của nhiều quốc gia trong việc tạo một nơi gặp gỡ, thiết lập, và tìm kiếm thị trường cho doanh nghiệp quốc gia mình trong quá trình nền kinh tế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay
Năm là, thực hiện chính sách hỗ trợ đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước; Cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp xuất khẩu, Chính phủ Lào cũng nên có các chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa Các hỗ trợ về thuế, các chính sách ưu đãi,
hỗ trợ về thông tin thị trường, và nhiều các hình thức hỗ trợ khác
Sáu là, Chính phủ và các cơ quan ban ngành của nước CHDCND Lào nên thường xuyên tổ chức các chuyến thăm cấp cao tới các quốc gia trên thế giới
Đây là hình thức vừa tạo điều kiện nâng cao mối quan hệ thâm giao giữa các quốc gia với Lào, mà còn là cơ sở để thiết lập các quan hệ thương mại song phương giữa Lào và các quốc gia đối tác
Trang 37Bảy là, tổ chức nhiều hội chợ triển lãm quốc tế Đây sẽ là nơi quảng bá
hình ảnh đất nước, con người và hàng hóa Lào dễ tiếp cận nhất ñối với người
tiêu dùng nước sở tại nói riêng và các doanh nghiệp quốc tế nói chung
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
- Thủ đô Viêng Chăn hiện có 9 huyện là Chanthabuly, Sikhottabong, Xaysettha, Sisattanak, Naxaythong, Xaythany, Hatxayfong, Sangthong, Parknguem Quy mô diện tích, dân số, mật độ dân số, trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các huyện có sự chênh lệch nhau rất lớn (huyện lớn nhất là Naxaythong có diện tích gấp 39 lần huyện nhỏ nhất là Chanthabuly)
Trang 39Bảng 2.1: Diện tích, dân số các đơn vị hành chính
Tên huyện Số bản làng
(bản)
Diện tích (km²)
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/km²)
Nguồn: Niên giám thống kê Viêng Chăn 2010
Thứ hai, về đặc điểm địa hình
Thủ đô Viêng Chăn nằm kẹp giữa 3 phía là các dãy núi cao và phía còn lại là sông MêKông Địa hình bao gồm 2 vùng rõ rệt: Vùng thứ nhất, là phần phía Nam của đồng bằng Viêng Chăn, thuộc lưu vực sông Nặm Ngừm, có diện tích khoảng 3.298 km², chiếm khoảng 84,13% diện tích tự nhiên Vùng này có dạng lòng chảo, được bao bọc bởi các dãy núi cao là Phou Pha Năng ở phía Tây, Phou Khao Khoai ở phía Bắc Đây là vùng tương đối bằng phẳng, với khoảng trên 70% diện tích có độ cao không quá 200m so với mực nước biển;
Vùng thứ hai, là phần còn lại của thành phố (huyện Sangthong) nằm ở phía Tây dãy núi Phou Pha Năng, thuộc lưu vực các sông Nặm Ton và Nặm Sang có diện tích là 623,1 km², chiếm 15,87% diện tích tự nhiên toàn Thủ đô
Trang 40* Về khí hậu thuỷ văn, tài nguyên thiên nghiên
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 của năm tiếp theo
- Tài nguyên đất
Các số liệu điều tra đất đai (căn cứ theo cách phân loại của FAO/UNESCO)
do Trung tâm phân hạng đất Đồng Độc thuộc viện nghiên cứu nông- lâm nghiệp - Bộ Nông Lâm nghiệp Lào thực hiện năm 1993 và do
Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Việt Nam thực hiện năm
1997 -1998 cho thấy, đất đai Viêng Chăn bao gồm 11 nhóm với 26 loại đất chính, trong đó nhóm đất Alisols là lớn nhất với 38,07% tiếp theo là nhóm Acrisols với 30,85%
Nghiên cứu tài nguyên đất đai Thủ đô Viêng Chăn có nhận xét sau:
- Điều kiện đất đai vùng Thủ đô Viêng Chăn thích hợp để phát triển một nền nông lâm nghiệp phong phú đa dạng, từ các loại cây ngắn ngày như cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm đến cây dài ngày như các loại cây ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới, cây công nghiệp lâu năm
- Các vùng đất thích hợp cho phát triển nông nghiệp thường phân bố thành các vùng lớn và tập trung, địa hình bằng hoặc lượn sóng nhẹ, thuận lợi cho khai thác sử dụng Đây là ưu thế có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển nông nghiệp, đặc biệt là đối với việc phát triển một nền sản xuất quy mô lớn và tập trung
- Tổng diện tích đất có tiềm năng nông nghiệp của Thủ đô khá lớn, khoảng 120.000-125.000 ha, như vậy hiện tại còn lại khoảng 35.000-40.000
ha đất có tiềm năng nông nghiệp, trong đó có khả năng khai thác đưa vào sử dụng được khoảng 28-32 nghìn ha (gồm cả mặt nước có thể nuôi trồng thủy sản) Tổng tiềm năng đất đai có khả năng lâm nghiệp cần được phủ xanh để bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sản xuất và đời sống cũng khá lớn, khoảng 60.000-70.000 ha