Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ: “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng l
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN HẢI ĐÔNG
NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY
Ngành: Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
Mã số: 60 31 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Đăng Quế
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
(i) Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi, (ii) Số liệu trong luận văn được điều tra trung thực, (iii) Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Hải Đông
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Xây dựng Đảng & Chính quyền Nhà nước thuộc Học Viện Báo chí và Tuyên truyền - Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đảm bảo chất lượng giáo dục, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về nội dung xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước trong giáo dục làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Đăng Quế đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên
Học viên
Nguyễn Hải Đông
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6 1.1 Quan niệm về dân tộc thiểu số và cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số 6
1.2 Năng lực cán bộ, công chức - Tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ, công chức 8
Chương 2: NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐẮK LẮK - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN 21
2.1 Đặc điểm, vị trí, vai trò cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk 21
2.2 Thực trạng năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk 34
2.3 Đánh giá năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay 55
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐẮK LẮK 62
3.1 Quan điểm nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk 62
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk 65
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk 75
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 85
TÓM TẮT LUẬN VĂN 106
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam Một trong những nội dung quan trọng để giải quyết tốt vấn đề dân tộc là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có phẩm chất và năng lực Bởi vậy, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đã dần phát triển cả về số lượng và chất lượng, có nhiều đồng chí cán bộ người dân tộc thiểu số được giao những trách nhiệm quan trọng từ Trung ương đến địa phương, góp phần
to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, vùng dân tộc và
miền núi nói riêng
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số nói chung còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX đã chỉ rõ: “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm” [6, tr.34] Đây là thực trạng chung, trong đó có tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk là tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, đất rộng, người đông, có
nhiều tôn giáo và dân tộc cùng sinh sống (47 dân tộc); Đắk Lắk được coi là địa
bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội của Tây Nguyên và cả nước Chính vì vậy, đây luôn là trọng điểm chống
phá của các thế lực thù địch, chúng triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ”,
“nhân quyền”, “tôn giáo” và nhất là vấn đề “dân tộc” để chống phá ta Trong những năm gần đây chúng lập nên cái gọi là “Tin Lành Đêga”, “Nhà nước Đêga” để quy tụ, tập hợp lực lượng Đặc biệt, trong các năm 2001, 2004 và
năm 2008 chúng liên tiếp tổ chức gây rối, biểu tình, bạo loạn chính trị nhằm
Trang 7gây mất ổn định an ninh chính trị tại địa phương Để phòng chống có hiệu quả
âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tập trung nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức Trong
đó, chú trọng năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số từ tỉnh đến huyện có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tỉnh Đắk Lắk nói riêng và các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số nói chung
Với lợi thế là người dân tộc thiểu số sinh ra và lớn lên tại địa phương,
có chung tiếng nói, am hiểu phong tục, tập quán, gần gũi, gắn bó với buôn làng, đồng bào mình, nên hơn ai hết cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều lợi thế trong việc truyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số hiểu và thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân, gia đình và cộng đồng dân cư Thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh nói chung và cán bộ công chức người dân tộc thiểu số nói riêng đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan, lẫn khách quan cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk vẫn còn nhiều bất cập, thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Do đó, việc nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số từ xây dựng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí sử dụng và luân chuyển một cách có hiệu quả đội ngũ cán bộ này - là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
Từ lý do trên, tác giả chọn vấn đề: "Năng lực cán bộ, công chức người
đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Xây dựng Đảng & Chính quyền Nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam, một số tác phẩm có liên quan đến nội dung này như: Luận
văn thạc sĩ Triết học của Bùi Thị Minh Thuỵ về “Phát triển đội ngũ cán bộ
Trang 8chủ biên: “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội-
2001 Đề tài khoa học cấp nhà nước do cố GS.TS Bế Viết Đẳng làm chủ
nhiệm: "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách đối với các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội miền núi"; trong đó, có
dành một chương nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ, trí thức các DTTS gắn với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam Bài viết của Lê
Phương Thảo (2005), "Những thành tựu và kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Lịch sử Đảng
Lô Quốc Toản (1993), "Đổi mới chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm (2003), “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Quốc Phẩm (2004), "Một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số hiện nay", Tạp chí Lịch sử Đảng Phan Hữu Dật (chủ biên) (2001), “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Phan Tuấn Pha (2003),
“Thực trạng hệ thống chính trị các cấp ở Đắk Lắk, Một số vấn đề về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trần Đình Hoan (2002), "Luân chuyển cán bộ - khâu đột phá nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngang tầm thời kỳ phát triển mới", Tạp chí Cộng sản Trịnh Quang Cảnh (2002), "Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới" Tô Huy Rứa (1998), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng phục vụ công tác quy hoạch cán bộ, một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Chương trình xã hội cấp nhà
nước: KHXH-05, Hà Nội
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu và các bài báo khác viết
về đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức người dân tộc
Trang 9thiểu số nói riêng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk Việc đánh giá đúng thực trạng cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay để từ đó xác định quan điểm và
đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk vẫn là một đề tài cần tiếp tục nghiên cứu - nhất là được nghiên cứu từ góc độ chính trị
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc
thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Hệ thống hóa một số vấn đề về dân tộc thiểu số và đội ngũ cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số; năng lực của cán bộ, công chức; những tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số
+ Phân tích thực trạng - nguyên nhân để đánh giá năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay
+ Xác định quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk, thời gian 5 năm từ năm 2010 - 2015
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu
Trang 10số Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây trong nghiên cứu: Khảo sát, thu thập số liệu; phân tích, so sánh; thống kê và tổng hợp; tổng kết thực tiễn
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Nghiên cứu dưới góc độ lý luận - chính trị về thực trạng cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay, đề xuất những quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới để đáp ứng những yêu cầu hiện nay
6 Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy trong Trường chính trị, Hành chính về những nội dung liên quan tới cán bộ, công chức nói chung và năng lực cán bộ, công chức người đồng
bào dân tộc thiểu số nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể cung cấp những luận cứ khoa học giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Đắk Lắk tham khảo để xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc
thiểu số
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia ra làm 3 chương, 8 tiết
Trang 11Chương 1 NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGƯỜI ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Quan niệm về dân tộc thiểu số và cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.1 Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa dân tộc thiểu
số với dân tộc lạc hậu, dân tộc chậm tiến, dân tộc kém phát triển, dân tộc chậm phát triển… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia
Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với trên 90 triệu người Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại chiếm 13,8% dân số được quan niệm là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Trang 12Như vậy, khái niệm dân tộc thiểu số là dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc [5] Khái niệm dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là dân tộc đa số ở Việt Nam, nhưng lại được coi là dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là dân tộc đa số ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về dân tộc thiểu số
và dân tộc đa số cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới
1.1.2 Cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số
Về khái niệm cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay được dùng tương đối phổ biến ở nước ta Trên cơ sở các khái niệm dân tộc thiểu số, cán bộ, công chức cho thấy: Cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số là tập hợp của ba khái niệm Cán bộ, Công chức và Dân tộc thiểu số Khái niệm cán bộ, công chức dân tộc thiểu số chỉ những người cán
bộ, công chức đang công tác trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị có thành phần xuất thân là các dân tộc thiểu số
Tiêu chí để phân biệt “cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” trong đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị là thành phần dân tộc xuất thân
của người cán bộ đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” Tiêu chí
Trang 13này không có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã hội của người cán bộ, công chức Khi đã trở thành cán bộ, công chức thì dù có xuất thân từ
“dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải đảm nhận những công việc
được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi cương vị công tác của mình
Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về
cán bộ, công chức dân tộc thiểu số, như sau: “Cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” là những cán bộ, công chức được quy định tại Luật cán bộ, công chức, đang công tác, làm việc trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam
1.2 Năng lực cán bộ, công chức - Tiêu chí đánh giá năng lực cán
bộ, công chức
Cũng như mọi cán bộ, công chức của bất kỳ dân tộc nào, năng lực cán
bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số được khái niệm và có những yêu cầu, tiêu chuẩn cơ bản được cấu thành bởi những yếu tố nhất định sau:
1.2.1 Khái niệm năng lực cán bộ, công chức
Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ Nội dung và tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của
nó Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu xác định Nói một cách khác thì mỗi một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó
Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là
sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép
Trang 14cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong
đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động
đó đạt được kết quả mong muốn Ở góc độ này, chúng ta có thể định nghĩa:
Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao” Nói cách khác: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”; “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [11, tr660.661]
Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy… Như vậy, có thể hiểu năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Nếu không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được Ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, song tự chung năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố: Tri thức chuyên môn; kỹ năng hành nghề; thái độ với nghề
Dưới góc độ hành chính học, năng lực có ba cách tiếp cận sau: năng lực
là tập hơn ba nhóm yếu tố kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử một người có và
sử dụng để đạt được kết quả trong công việc; năng lực là những gì một người
có, biết và làm được để đạt được kết quả trong công việc; năng lực là những
gì một người phải có để hoàn thành công việc theo quy định Năng lực của
Trang 15mỗi người bao giờ cũng gắn liền với hoạt động của chính người đó và cả sản phẩm của chính hoạt động ấy Năng lực chỉ hình thành và phát triển trong hoạt động Kết quả hoạt động lại tùy thuộc và trình độ phát triển của năng lực được hình thành trong hoạt động này Như vậy, tùy theo hoạt động của con người có thể chia thành các loại năng lực khác nhau; năng lực luôn được xác định gắn liền với việc thực thi những loại công việc nhất định: Năng lực để đảm nhận vị trí công việc mang tính chuyên môn; năng lực để đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý
Năng lực cán bộ, công chức luôn gắn với các yếu tố: Loại công việc; quy trình thực thi công việc; kết quả Nói đến năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức là nói đến năng lực chung, năng lực tổng quát và năng lực cụ thể theo từng nhóm năng lực chung Năng lực tổng quát thường có thể chung cho nhiều loại tổ chức; chung cho từng nhóm đối tượng như nhóm cán bộ, nhóm công chức Năng lực cụ thể chính là chi tiết hóa năng lực tổng quát nhưng gắn chặt với họat động của tổ chức Cần phân biệt giữa năng lực cần có để thực thi công việc và tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào một vị trí Tiêu chuẩn mang tính quy định cứng, là điều kiện cần để bổ nhiệm, chủ yếu dựa trên các quy định như đòi hỏi về bằng cấp, lòng trung thành, phẩm chất (khó đo lường)… Còn năng lực chỉ thể hiện khi kiểm tra, đánh giá hoặc khi thực thi công việc; năng lực là điều kiện cần và đủ để làm tốt công việc được giao; năng lực có thể đo lường được thông qua việc đánh giá thực thi được hay không được công việc được giao Trong thực thi công việc được giao nếu năng lực thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, có thể dùng biện pháp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ, công chức
1.2.2.1 Về năng lực nhận thức
Về năng lực nhận thức, đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong tu dưỡng phấn đấu của mỗi cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức
Trang 16người đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, cụ thể như: Về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng; ý thức tổ chức kỹ luật; trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước
Phẩm chất chính trị, đạo đức là kết quả của sự kết hợp hài hòa biện chứng giữa đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị Trong tình hình hiện nay, phẩm chất chính trị của cán bộ, công chức chính là sự hiểu biết sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu do Đảng
đề ra dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, không hoang mang dao động về chính trị tư tưởng, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới đất nước, có bản lĩnh chính trị, nhạy bén, luôn nêu cao cảnh giác, có thái độ đúng đắn trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội, phân biệt rõ đối tượng, đối tác Nếu không có tầm nhìn xa, rộng, chỉ thấy lợi trước mắt, cục bộ địa phương mà quên đi lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, lợi ích của nhân dân thì đó là nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Bản lĩnh chính trị của cán bộ, công chức sẽ góp phần tạo nên sức mạnh của uy tín, sự thống nhất ý chí, hành động của Đảng, bảo đảm cho Đảng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa cách mạng đến thắng lợi Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cho thấy, khi nào Đảng thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, độc lập, sáng tạo thì cách mạng phát triển thuận lợi, giành được những thắng lợi to lớn Để xứng đáng với vai trò đó, vấn đề hàng đầu trong việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng hiện nay là “Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng”
Đạo đức cách mạng là cái gốc của người cán bộ, là nội dung quan
trọng của phẩm chất chính trị, đạo đức Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đức
là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” [12 tr.329] Đó là lòng trung thành với
Trang 17Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, luôn kiên định sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Do đó trong khi coi trọng hàng đầu phẩm chất chính trị đồng thời coi trọng trau dồi, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng Phấn đấu, tu dưỡng theo đạo đức mới, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết, có lối sống giản dị trong sạch, không xa hoa lãng phí, thực dụng chủ nghĩa… Những phẩm chất này phải tu dưỡng thường xuyên, bền bỉ trong mọi điều kiện hoàn cảnh Trước diễn biến phức tạp của đời sống xã hội, trong nước và quốc tế, đạo đức cách mạng của người cán bộ, công chức nói chung phải gắn liền với hành động cụ thể Đó là phải đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa
cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng, với tham nhũng và các tệ
nạn xã hội làm tổn hại đến thanh danh và uy tín của Đảng và chế độ ta
1.2.2.2 Về năng lực thực thi công vụ
Năng lực thực thi công vụ (Năng lực thực thi công việc chuyên môn)
là khả năng thực hiện các nhiệm vụ được giao Để thực thi công việc được giao, cán bộ, công chức phải có kiến thức, trình độ chuyên môn, năng lực;
kỹ năng thực hiện và thái độ, tinh thần trách nhiệm trong thực thi công việc:
Về kiến thức, trình độ chuyên môn, năng lực: Kiến thức và trình độ
chuyên môn có được do được đào tạo, bồi dưỡng ở các trường lớp tạo nên cho con người đó một thế giới quan khoa học, óc nhận xét, khả năng tư duy, xét đoán và quyết định hành động đúng quy luật, đúng mức độ và thời điểm Kiến thức cơ bản của một người thể hiện ở bằng cấp chuyên môn được đào tạo ở các trường lớp Người có bằng cấp chuyên môn thuộc lĩnh vực nào có nghĩa cá nhân đó có trình độ kiến thức ở lĩnh vực đó càng nhiều và kiến thức
đó được nhà nước công nhận qua việc cấp văn bằng
Tuy nhiên, việc đánh giá năng lực con người không chỉ qua văn bằng
họ có được mà cần phải đánh giá một cách tổng hợp hơn về nhiều khía cạnh,
Trang 18chẳng hạn như về trình độ hiểu biết kiến thức tự nhiên, xã hội Những loại kiến thức này vô cùng phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khác nhau Và những loại kiến thức này không nhất thiết cá nhân nào cũng phải học có bằng cấp mới biết, có người chỉ cần tham khảo, tìm hiểu qua các sách, báo, đài, các phương tiện thông tin đại chúng và việc tự tư duy vận dụng vào thực tiễn họ cũng có đủ năng lực để phát hiện ra thế giới khách quan một cách nhanh nhạy và chính xác, xử lý các vấn đề mà cuộc sống đặt
ra Trên thực tế, có người học nhiều nhưng vẫn chậm nhận ra được bản chất của hiện thực khách quan cần xử lý
Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ theo từng lĩnh vực nghề nghiệp, từng cương vị công tác là đòi hỏi tất yếu đối với người cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số nói riêng Kiến thức
và trình độ chuyên môn giúp người cán bộ, công chức có năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị các cấp ủy Đảng, hội đồng nhân dân các cấp và những quyết định, chính sách của chính quyền cấp trên Không có kiến thức
và trình độ chuyên môn cán bộ, công chức khó có thể thực thi nhiệm vụ được giao trong hoạt động thực tiễn
Thực tế cho thấy, ở bất kỳ lĩnh vực nào, muốn nâng cao uy tín của mỗi cán bộ, công chức thì cần phải thường xuyên nâng cao trình độ năng lực Chất lượng hiệu quả công việc phụ thuộc vào trình độ năng lực của người cán bộ, công chức, hay nói cách khác chất lượng hoàn thành nhiệm vụ chính là thước đo năng lực của người cán bộ Sinh thời Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc rèn đức, luyện tài cho mỗi cán bộ, công chức, Bác nói:
“Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa không giúp ích được gì ai”[13, tr.184] Tình hình hiện nay, một số cán bộ, công chức trong đó có
không ít cán bộ quản lý, lãnh đạo yếu về năng lực nhất là năng lực quản lý, điều hành, năng lực tổ chức, năng lực lãnh đạo Đánh giá về năng lực công chức của đơn vị mình, Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Thành
Trang 19phố Hà Nội cho biết, có khoảng 30% số công chức làm việc tốt, 35% số công chức, viên chức khá và trung bình; số còn lại chưa yên tâm khi giao công việc Có đến 20 - 30% số công chức đang hưởng lương nhà nước
nhưng không đáp ứng được công việc được giao
Thời đại luôn vận động và phát triển, cuộc sống luôn biến đổi, nhiệm
vụ yêu cầu luôn mới đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng phải không ngừng phấn đấu tự học, tự rèn nâng cao kiến thức, trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp
vụ Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu mới, cán bộ, công chức mới được quần chúng, nhân dân tín nhiệm, tin yêu và ảnh hưởng uy tín của họ mới rộng rãi và có tác dụng to lớn cuốn hút quần chúng, nhân dân, khẳng định niềm tin và giá trị trước quần chúng, nhân dân
Bên cạnh trình độ chuyên môn, năng lực còn phụ thuộc vào yếu tố sức khỏe Nhiều khi cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, năng lực tốt nhưng sức khỏe lại không bảo đảm nên dù cố gắng nhưng vẫn không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao do sức khỏe yếu, ốm đau, bệnh tật Sức khỏe
là một yếu tố tổ chức sinh lý của đại não, tứ chi, nội tạng và các bộ phận khác của một người Sức khỏe được thể hiện thông qua việc vận động cơ năng chỉnh thể của các tổ chức sinh lý như hoạt động hữu cơ, tổ chức, liên kết giữa các bộ phận trong cơ thể Sức khỏe là cơ sở và sự bảo đảm cơ bản
để cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Sức khỏe tốt, dồi dào không chỉ đảm bảo cho cán bộ, công chức có sức khỏe làm việc dẻo dai trong điều kiện bình thường, mà còn đáp ứng yêu cầu phải tập trung cường
độ lao động cao để giải quyết những vấn đề bức bách, làm việc trong những điều kiện khó khăn, môi trường khắc nghiệt kéo dài Sức khỏe tốt còn giúp cho cán bộ, công chức luôn có tâm hồn sảng khoái, tư duy minh mẫn, giúp
họ thực thi nhiệm vụ trong trạng thái tinh thần tốt với sự tỉnh táo và sáng suốt, đem lại hiệu quả cao
Trang 20Về kỹ năng thực hiện công việc: Là khả năng vận dụng những hiểu
biết có được vào hoạt động thực tế, mức độ vận dụng càng thành thạo, nhuần nhuyễn thì kỹ năng càng cao Có nhiều loại kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng phân tích, kỹ năng đánh giá, kỹ năng hành chính, kỹ năng ứng dụng, kỹ năng diễn đạt, truyền đạt… Kỹ năng
có được thường do quá trình làm việc thâm niên, kinh nghiệm tạo nên, ngoài
ra còn có yếu tố bẩm sinh (năng khiếu) và do kinh nghiệm truyền giao Người có kỹ năng tiến hành công việc tự tin, nhanh chóng và chất lượng, dễ thu hút sự hài lòng của mọi người có liên quan
Đối với cán bộ công chức người dân tộc thiểu số thì kỹ năng giao tiếp
là rất quan trọng Kỹ năng giao tiếp là hoạt động qua lại giữa các cá nhân, giữa cán bộ, công chức và người dân với nhau Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thực hiện cơ chế “một cửa” ở các cấp, các ngành, kỹ năng giao tiếp
là một trong những yếu tố giúp người cán bộ, công chức đạt được hiệu quả giải quyết công việc cho người dân Kỹ năng giao tiếp thể hiện ở khả năng nhận biết, phán đoán, sử dụng các phương tiện giao tiếp như: Động tác, cử chỉ, ngôn ngữ, điệu bộ, sắc thái tình cảm ánh mắt, khả năng tạo sức hút, lôi cuốn, hứng thú, tập trung…
Cùng với kỹ năng giao tiếp, người cán bộ, công chức dân tộc thiểu số còn phải có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin Kỹ năng này gồm khả năng thu thập, phân loại, sắp xếp, phân tích, kiểm tra, chọn lựa, xử lý và sử dụng thông tin Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ như ngày nay, đặc biệt là công nghệ thông tin, kỹ năng xử lý thông tin ngày càng quan trọng, có ý nghĩa rất lớn khi dự thảo và ra quyết định cũng như thực thi công việc
Một kỹ năng quan trọng nữa mà cán bộ, công chức nói chung, cán bộ công chức người dân tộc thiểu số nói riêng cần phải có đó là kỹ năng phân tích Đây là kỹ năng đòi hỏi sự không ngừng vươn lên về năng lực, trình độ
Trang 21đối với cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số Môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của người cán bộ, công chức luôn hàm chứa thời cơ, nguy cơ, mặt mạnh, mặt yếu… đòi hỏi người cán bộ, công chức luôn có sự phân tích để lựa chọn, đánh giá và đề ra các phương án giải quyết thích hợp
Ngoài kỹ năng phân tích, kỹ năng đánh giá cũng rất cần thiết đối với cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số Làm bất kỳ việc gì lớn hay nhỏ đều phải đánh giá khác quan, công bằng, không thiên vị Việc đánh giá những nhân tố mới, điển hình mới, mô hình mới ở địa phương gắn kết, liên quan mật thiết đến quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân chủ, công bằng, văn minh Thông qua việc đánh giá người cán bộ công chức có thể đề xuất các giải pháp góp phần thu hút nguồn lực bên ngoài và phát huy nội lực bên trong, góp phần thực hiện tốt nhiệm
vụ chính trị của địa phương cũng như chức trách, nhiệm vụ được giao…
Thái độ và tinh thần trách nhiệm trong thực thi công việc: Về thái độ
thực thi công việc là mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với công việc mà họ đang thực hiện Thái độ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực thực thi công việc của cán bộ, công chức Nhiều cán bộ, công chức có trình
độ, kiến thức tốt, kỹ năng vững chắc nhưng không hoàn thành được nhiệm
vụ do có thái độ không đúng Đó có thể là sự chủ quan, cẩu thả, bất cẩn, thiếu ý thức trách nhiệm hoặc thậm chí cố ý làm trái vì mục đích, động cơ khác Tuy nhiên, thái độ là một phẩm chất thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân Chúng ta có thể nhận biết được thái độ thông qua biểu hiện của nó ra ngoài bằng hành vi Do vậy, chỉ có thể đánh giá được thái độ thực thi công việc của cán bộ, công chức là tích cực hay tiêu cực thông qua việc làm cụ thể của họ Thái độ tích cực của cán bộ, công chức trong thực thi công việc được hình thành liên quan đến đạo đức và trách nhiệm công vụ, nó gắn liền với các yêu tố ảnh hưởng đến cả đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, công chức Do vậy, việc nâng cao thái độ tích cực trong thực thi công việc gắn liền với việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ phù hợp
Trang 22với công việc, vị trí, trách nhiệm mà họ phải thực hiện
Về tinh thần trách nhiệm là người luôn nhận thức rõ và tìm cách thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho lý tưởng, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân mà trước hết phải thực hiện thật tốt nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức phân công, thể hiện tốt chức trách của mình với bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, cơ quan, đoàn thể
Thực tiễn cuộc sống đặt ra rất nhiều vấn đề mới mẻ, có cả cơ hội lẫn thách thức, đòi hỏi mỗi người dù ở đâu, trên cương vị nào đều phải nhận thức rõ và thể hiện tốt chức trách nhiệm vụ của mình, không ngừng học tập
để làm giàu tri thức, rèn luyện bản lĩnh, tu dưỡng đạo đức, luôn luôn sáng tạo, biết nắm bắt thời cơ, vượt qua thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ được phân công
Trong thực tế hiện nay, bên cạnh những cán bộ, công chức có tinh thần trách nhiệm tốt, một bộ phận không nhỏ thiếu tinh thần trách nhiệm Biểu hiện của người thiếu tinh thần trách nhiệm là không ý thức đầy đủ về chức trách nhiệm vụ của mình, thiếu chủ động, sáng tạo, làm việc hời hợt, chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân Một số người do thiếu tinh thần trách nhiệm mà sinh ra sợ sai, sợ trách nhiệm, không có bản lĩnh, không dám sáng tạo, dễ thì làm, khó thì bỏ, thành tích thì vơ cho mình, khuyết điểm thì tìm cách đổ trách nhiệm cho người khác Người sợ trách nhiệm thường làm việc cầm chừng, cốt không để phạm phải khuyết điểm Vì luôn luôn lo sợ phải chịu trách nhiệm nên không muốn cải tiến công tác, không dám thay đổi những điều chưa hợp
lý, chỉ làm theo nếp cũ dần dần dẫn tới bảo thủ, trì trệ Đây cũng là kiểu người nói một đằng làm một nẻo, nói không đi đôi với làm; đặt lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ lên trên lợi ích toàn thể, vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài, không lắng nghe ý kiến của những người chung quanh
1.2.2.3 Về năng lực thực thi nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý
Năng lực lãnh đạo, quản lý là khả năng dự báo, phán đoán, xử trí tình huống, khả năng hành động của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình
Trang 23thực hiện chức năng, nhiệm vụ Khả năng dự báo, phán đoán thực chất là nhà lãnh đạo, quản lý có tầm nhìn về tương lai Tầm nhìn là việc huy động sức lực, trí tuệ của mỗi cán bộ, công chức, mỗi tổ chức Tầm nhìn cho phép mỗi nhà lãnh đạo, quản lý biết được các đặc điểm của hệ thống tổ chức theo hình dung của họ Nhà lãnh đạo quản lý cần nguồn nhân lực như thế nào cho
tổ chức mình, cần các năng lực gì? Khả năng xử lý tình huống là việc nhà lãnh đạo, quản lý tìm hiểu để nắm bắt được những công việc đang diễn ra trong lĩnh vực công tác, hoạt động của mình Nhà lãnh đạo, quản lý phải cập nhật thông tin một cách đầy đủ, kịp thời cho mọi thành viên trong tổ chức của mình Còn khả năng hành động đó là việc nhà lãnh đạo, quản lý lên kế hoạch chiến lược đối với nguồn nhân lực, cho phép huy động, sử dụng đúng người, đúng lúc và đúng chỗ Vấn đề này phụ thuộc vào khả năng đọc và hiểu đúng môi trường cũng như hiểu rõ những năng lực cần thiết để thực thi công việc một cách hiệu quả nhất
Người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng thu nhận và xử lý thông tin liên quan đến các mặt của đời sống xã hội một cách nhanh chóng và có hiệu quả Có khả năng đưa ra những quyết định có tính chất tình huống cụ thể, chính xác và có tính khả thi Biết tổ chức thực hiện quyết định, tổ chức bộ máy, bố trí và phối hợp các lực lượng trong tổ chức mình; có khả năng đoàn kết, quy tụ cán bộ, đảng viên, công chức; có khả năng tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng; biết phát huy và khơi dậy sức mạnh cộng đồng để thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra
Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hiểu biết pháp luật; xây dựng được mối quan hệ mật thiết với dân, hiểu dân tôn trọng dân, học tập dân và luôn xuất phát từ lợi ích của dân để hành động Có như thế “dân mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ” Biết hình thành quy chế, biết áp đặt và thực thi quy chế, biết cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước thành những quyết định phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Biết dựa vào dân để lựa chọn cán bộ và quyết định các chủ trương, nhiệm vụ công
Trang 24tác lớn Biết tổ chức công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quyết định để duy trì, điều chỉnh tiến độ thực hiện quyết định, phát hiện kịp thời những vấn
đề mới nảy sinh để giải quyết, biết tìm ra những sai sót, lệch lạc để sửa chữa, hoàn chỉnh quyết định, bảo đảm quyết định được thực thi chính xác, hiệu quả
1.2.2.4 Về chất lượng cán bộ, công chức
Trước thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số hiện nay còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trình độ năng lực; vấn đề đặt
ra là cần phải nâng cao trình độ năng lực một cách toàn diện của đội ngũ này
Họ phải giỏi về chuyên môn, phải có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và biết vận dụng vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể một cách có hiệu quả Việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước của các cấp, các ngành
ở địa phương phải chính xác, phù hợp với phương hướng phát triển chung của đất nước Đồng thời với năng lực định hướng chính trị là năng lực tổ chức thực tiễn, tức là khả năng chuyển hóa các chủ trương, nghị quyết thành hiện thực trong cuộc sống, trong phong trào cách mạng của quần chúng; ngoài ra, cán bộ người DTTS còn phải có năng lực tập hợp, lôi cuốn đông đảo quần
chúng tích cực tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương Lẽ tất
nhiên, ở mỗi cương vị khác nhau (cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn ) và mỗi loại cán bộ khác nhau (cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể ) đều có yêu cầu về mức độ chuyên sâu khác nhau, nhưng dù ở bất cứ cương vị nào, bất cứ ở lĩnh vực nào thì yêu cầu về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực là ba yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng của từng người cán bộ Mỗi cán bộ người DTTS mạnh, có đủ đức, đủ tài sẽ tạo
thành chất lượng và sức mạnh tổng hợp của đội ngũ cán bộ người DTTS
Do vậy, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong tình hình hiện nay đòi hỏi cấp thiết phải nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ người DTTS Đội ngũ cán bộ này phải được trang bị kiến thức toàn diện về chính
Trang 25trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; kiến thức cơ bản và cơ sở Đồng thời, phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, giáo dục tư tưởng, đạo đức cách mạng; nâng cao trình độ văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong hoạt động chuyên môn, văn hóa trong sinh hoạt Nhiều năm qua, trong các chỉ thị, nghị quyết của tỉnh có liên quan đến công tác cán bộ, đều nhấn mạnh: cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số, nhưng đến
nay chất lượng đội ngũ cán bộ này vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập
Trang 26Chương 2 NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐẮK LẮK - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN
2.1 Đặc điểm, vị trí, vai trò cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Điều kiện phát triển tự nhiên, vị trí địa lý, kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk
2.1.1.1 Vị trí địa lý, diện tích, dân cư, đơn vị hành chính
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý
Trang 27- Phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà
- Phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông
- Phía Tây giáp Campuchia
2013 đạt 1.827.786 người, mật độ dân số đạt hơn 139 người/km² Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt 440.443 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.387.343 người Dân số nam đạt 922.175 người, dân số nữ đạt 905.611 người Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh Có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 13 huyện; trong đó có 184 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 152 xã, 20 phường và 12 thị trấn
DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, DÂN TỘC PHÂN THEO ĐƠN VỊ HUYỆN
(người)
Mật độ dân số
6 Huyện Buôn Đôn 1.410,40 63.372 45 32.197 31.175 6.824 29.984
7 Huyện Cư M'Gar 824,43 170.801 207 86.172 84.629 16.185 82.566
8 Huyện Ea Kar 1.037,47 149.203 144 75.407 73.796 9.697 45.439
9 Huyện M'Đrắk 1.336,28 71.022 53 36.095 34.927 6.763 32.787
10 Huyện Krông Pắc 625,81 206.379 330 104.618 101.761 13.711 68.346
11 Huyện Krông Bông 1.257,49 91.760 73 46.515 45.245 6.303 37.114
12 Huyện Krông Ana 356,09 85.035 239 43.077 41.958 4.166 21.106
13 Huyện Lăk 1.256,04 64.130 51 31.660 32.470 9.806 43.943
Trang 28Mật độ dân số
xã, thành phố; 02 Đảng bộ khối; 04 Đảng bộ lực lượng vũ trang và 01 Đảng
bộ cơ sở Trường Đại học Tây Nguyên; có 807 tổ chức cơ sở đảng (381 Đảng
bộ và 415 chi bộ); có 4 Đảng bộ bộ phận và 5.184 chi bộ trực thuộc Đảng bộ
cơ sở Tổng số đảng viên 62.884 đồng chí (đảng viên dự bị 4.597 đồng chí, đảng viên nữ 21.122 đồng chí, đảng viên là người dân tộc thiểu số 9.577 đồng chí, đảng viên trong các tôn giáo có 609 đồng chí, đảng viên là đoàn viên thanh niên có 14.383 đồng chí)
Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14,
26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana Các huyện
có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, Ea Hleo…
Trên địa bàn tỉnh, ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng
cơ học, chủ yếu là di dân tự do, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống (47 dân tộc), mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng Đặc biệt là văn hoá truyền thống của
Trang 29các dân tộc Ê Đê, M'Nông, Gia Rai… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T'rưng; các bản trường ca Tây Nguyên
là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức UNESCO công nhận
là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú
về văn hóa của Đắk Lắk
Dân tộc Ê Đê thuộc ngữ hệ Malayô - Pôlinêdiêng, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Bắc và phía Nam: từ Ea Hleo, Buôn Hồ xuống M’Đrắk
và kéo dài lên Buôn Ma Thuột Dân tộc M'nông thuộc ngữ hệ Môn-Khơme, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Nam và dọc biên giới Tây Nam
* Địa hình của tỉnh Đắk Lắk rất đa dạng, nằm ở phía Tây và cuối dãy
Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc
DÂN SỐ PHÂN THEO THÀNH PHẦN DÂN TỘC
Dân số trung bình (người)
1 Kinh 1.216.795 25 Giẻ Triêng 83
Trang 30TT Dân tộc Dân số trung
Dân số trung bình (người)
Nguồn: Theo Niên giám Thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2014
* Khí hậu toàn tỉnh Đắk Lắk được chia thành hai tiểu vùng Vùng phía
Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể
2.1.1.2 Kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua đạt
Trang 31mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh bình quân giai đoạn 2010-2015 đạt 9,7% Cơ cấu kinh tế (giá so sánh năm 2010): Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 41,6%; công nghiệp xây dựng chiếm 17,5%; dịch vụ chiếm 40,9% Tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước trong 5 năm đạt 17.932 tỷ đồng, bằng 6,9% so với GDP, tăng bình quân 3,4%/năm Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 3.608 triệu USD; tổng kim ngạch nhập khẩu 84 triệu USD… Các hoạt động văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục, phát thanh truyền hình, công tác xoá đói giảm nghèo và thực hiện các chính sách an sinh xã hội có nhiều cố gắng; mạng lưới giao thông được nâng cấp, 100% xã có đường ôtô đến trung tâm, 100% xã có
điện lưới quốc gia, tỷ lệ phủ sóng phát thanh - truyền hình là 100%…[43]
2.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất: Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu
đãi cho Đắk Lắk đó là tài nguyên đất Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là
khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen
Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt với những đặc điểm về khí
hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đắk Lắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt
Tài nguyên rừng: Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk
Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yok Đôn và các khu bảo tồn NamKar, ChưYangsin có nhiều loại động vật quý hiếm ghi
Trang 32trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh
Tài nguyên khoáng sản: Đắk Lắk không những được thiên nhiên ưu đãi
về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm Như sét cao lanh (ở M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên
50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh
2.1.1.4 Các ngành dịch vụ
Thương mại: Với vị trí nằm ở trung tâm khu vực Tây Nguyên, Đắk Lắk
thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, trong những năm qua tỉnh được đánh giá có sức mua lớn nhất khu vực Hệ thống các Siêu thị, Trung tâm Thương mại và chợ trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu mua sắm cho các du khách đến tham quan và đầu tư tại Đắk Lắk Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh như Cà phê với sản lượng bình quân hằng năm 400.000 tấn, cao su 30.000 tấn, điều 25.000 tấn, hồ tiêu 12.000 tấn, ca cao 700 tấn, sắn 450.000 tấn, mật ong trên 5.000 tấn Bên cạnh các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như trên Đắk Lắk còn có thế mạnh trong các lĩnh vực sản phẩm nội thất; hàng thủ
công mỹ nghệ, lưu niệm, thổ cẩm, Trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Hàng hoá
do các doanh nghiệp trên địa bàn sản xuất ra đã được xuất khẩu sang 59 quốc gia và vùng lãnh thổ với số lượng và chủng loại các mặt hàng phong phú với
kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 650 triệu USD
Du lịch: Đắk Lắk được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết
đến như một điểm du lịch hấp dẫn với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của
Trang 33nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, cụm thác Gia Long - Dray Sap, cụm du lịch Buôn Đôn, thác Krông Kma, Diệu Thanh, Tiên Nữ… Toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 02 di tích lịch sử văn hoá, 13 di tích kiến trúc nghệ thuật, 8 di tích khảo cổ, 71 di tích thắng cảnh, 25 danh lam thắng cảnh Có 9
di tích được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích quốc gia, Bảo tàng Đắk Lắk có hơn 8.000 hiện vật văn hoá lịch sử
2.1.1.5 Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Đường bộ: Mạng đường Quốc lộ có tổng chiều dài 576,5 km gồm các
tuyến Quốc lộ 26, 27, 29, 14, 14C; tổng các cầu trên các đường Quốc lộ là
114 cầu với chiều dài 4.198,6 m Mạng đường tỉnh với tổng chiều dài 457 km Mạng đường huyện có chiều dài 1.403,82 km Mạng đường xã của các huyện
có chiều dài 3.220,07 km Mạng đường thôn, buôn tương đối phát triển với tổng chiều dài 4.079,32 km
Đường thủy: có khoảng 544 km đường sông do các sông Sêrêpôk,
Krông Nô, Krông Na… tạo thành Hệ thống bến thủy nội địa gồm có 04 bến xếp cát là Quỳnh Ngọc, Giang Sơn, Lang Thái và Cư Pâm Các bến đò ngang sông gồm có: Buôn Trấp, Bình Hòa, Quảng Điền, Krông Nô và Buôn Jul
Đường hàng không: Cảng hàng không Buôn Ma Thuột đã có các chuyến
bay tới thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vinh và ngược lại Từ năm
2010, Cảng hàng không Buôn Ma Thuột đã được đầu tư, nâng cấp, cải tạo đường hạ cất cánh có chiều dài 3.000 m, rộng 45 m với các trang thiết bị phụ trợ, đèn đêm Tháng 12/2011 đã đưa vào sử dụng nhà ga mới với tổng diện tích
chuyến bay giờ cao điểm (2 chuyến đi, 2 chuyến đến) với loại máy bay Airbus321 và tương đương, phục vụ 400 hành khách/giờ cao điểm (2 chiều)
Hệ thống điện: Hệ thống điện Đắk Lắk gồm các nhà máy thủy điện
(NMTĐ) công suất lớn đấu nối vào lưới điện quốc gia như: NMTĐ Buôn Kuốp; NMTĐ Buôn Tua Sarh; NMTĐ Sêrêpốk 3, NMTĐ Sêrêpốk 4, NMTĐ
Trang 34Krông H’Năng, NMTĐ Sêrêpốk 4A với tổng công suất 794 MW Năm 2013 đạt tổng sản lượng điện 2.677 triệu KWh Ngoài các nguồn thủy điện lớn, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk còn có 14 thủy điện vừa và nhỏ đấu nối vào lưới điện 35,22kV với tổng công suất 84,09 MW, năm 2013 có tổng sản lượng điện đạt
396 triệu KWh
Hệ thống Bưu chính viễn thông: Hiện nay, có 184/184 xã phường, thị
trấn có điện thoại, đạt tỉ lệ 100%; mạng di động đã phủ sóng 15/15 huyện, thị
xã, thành phố Tốc độ phát triển máy điện thoại hàng năm tăng nhanh, đến hết năm 2013, tổng thuê bao điện thoại là 1.577.976 thuê bao (Cố định là 96.840 thuê bao, Di động là 1.481.136 thuê bao) đạt mật độ 87,83 thuê bao/100 dân Tổng số thuê bao Internet 42.524 thuê bao, đạt mật độ là 13,38 máy/100 dân;
tỷ lệ người sử dụng 46,82%
2.1.2 Đặc điểm cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk
Cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk là
những con người được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trên vùng đất đặc thù của đất nước Họ không những mang trong mình những nét chung của con người Việt Nam truyền thống và hiện đại, mà cuộc sống cộng đồng dân tộc và cộng đồng dân cư tại nơi họ sinh sống đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của họ Trong lịch sử mỗi dân tộc, đều có hình thức tổ chức
xã hội riêng, những phong tục tập quán, nếp nghĩ, cách làm đều in đậm
những bản sắc riêng biệt Họ hoạt động trên địa bàn lãnh thổ rộng lớn và
trong môi trường xã hội phong phú, đa dạng, phức tạp Họ phải xử lý hàng loạt mối quan hệ xã hội: giữa những người đồng tộc và khác tộc; những phong tục, tập quán, tâm lý, thói quen giống nhau và khác nhau Điều đó đòi hỏi họ không chỉ nắm vững đường lối, chính sách, pháp luật chung của Đảng
và Nhà nước, mà còn phải có sự hiểu biết sâu sắc về dân tộc mình và các dân tộc anh em trên cùng địa bàn; họ cần có không chỉ lý trí, quyết tâm cao mà
Trang 35còn phải có tình cảm sâu sắc, lòng kiên nhẫn và sự nhạy cảm
Cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số có lối sống thẳng thắn, chân thật, mộc mạc, giản dị, trọng danh dự Có thái độ yêu, ghét rõ ràng đối với bạn và thù Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lực tự cường và
có niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng
Trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp, nhất là vùng sâu, vùng xa; cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ tuyên truyền mà trực tiếp tham gia, miệng nói, tay làm hướng dẫn đồng bào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo
Cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ít có điều kiện học tập thuận lợi để nâng cao trình độ mọi mặt, nên họ thường gặp nhiều khó khăn trong công tác và cuộc sống đời thường
Tư tưởng tự ty và ảnh hưởng của tâm lý, tập quán cũ, lạc hậu còn rơi rớt lại một số nơi đã kìm hãm tính năng động trong suy nghĩ; một bộ phận cán
bộ người dân tộc thiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa còn bàng quan, thờ ơ trước cuộc sống
Chính sách của Đảng, Nhà nước chưa bù đắp được những nhu cầu phong phú và đa dạng trong cuộc sống đời thường của cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số; nhưng với tình cảm cách mạng gắn bó máu thịt với sự phát triển đi lên của cộng đồng các dân tộc, họ hăng hái, nhiệt tình thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
2.1.3 Vị trí, vai trò cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu
số ở tỉnh Đắk Lắk
Là tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, Đắk Lắk có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (47 dân tộc) Do đó, đội ngũ cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số luôn giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh Cư trú, sinh ra và lớn lên ngay tại địa phương, ngay từ nhỏ đã gắn bó với núi rừng, với buôn
Trang 36làng, hơn ai hết cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số là những người thông thuộc địa hình, hiểu được phong tục, tập quán, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đồng bào nên lời nói, việc làm của họ có tính thuyết phục rất cao Chính vì yêu quê hương, đồng cảm, hiểu được nỗi khổ của đồng bào mình nên họ không ngại khó, ngại khổ, tích cực, chủ động hướng dẫn đồng bào xây dựng nếp sống mới, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, phát triển sản xuất hàng hóa, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh không ngừng phấn đấu vì sự phát triển, tiến bộ của cộng đồng
Để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đòi hỏi sự quan tâm của các ngành các cấp từ Trung ương đến địa phương, cần phải phát huy tất cả các nguồn lực, trong đó quan trọng nhất, hiệu quả nhất vẫn là nguồn lực nội tại trong đồng bào dân tộc thiểu số và quan trọng nhất đó chính là nguồn lực con người Đội ngũ cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số chính là những đại biểu ưu tú nhất của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương, họ có trách nhiệm vận động, hướng dẫn, cùng với đồng bào mình làm chủ quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; là nòng cốt giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương Một dân tộc muốn phát triển, không thể chỉ trông chờ nguồn lực từ bên ngoài, mà dân tộc ấy phải chú trọng đến việc phát huy nội lực, phải quyết tâm, nỗ lực phấn đấu, tự thân vận động vươn lên, phát huy trí tuệ, năng lực sáng tạo; không thụ động, trông chờ, ỷ lại, cam chịu nghèo nàn, lạc hậu Thực tế Đắk Lắk đã chứng minh, ở vùng đồng bào dân tộc, dù có tăng cường bao nhiêu cán bộ, công chức người Kinh có năng lực đến đâu đi nữa, cũng không thể thay thế được đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số
Cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số chính là người đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, phát huy được tác dụng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Họ chính là cầu nối giữa đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước Vì vậy,
Trang 37vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ, công chức ở đây rất quan trọng, vừa thể hiện chiều rộng, chiều sâu ở công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, vừa thể hiện ở kết quả của phong trào đó có được mọi người hưởng ứng hay không Việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống phải được thể hiện qua kết quả của phong trào, trong nhận thức, tư duy và trong hành động của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Một chủ trương đúng, một nghị quyết hay nhưng thiếu đội ngũ cán
bộ có năng lực để triển khai, thiếu phương pháp vận động quần chúng phù hợp thì chủ trương, nghị quyết đó khó có thể đi vào cuộc sống Đối với đội ngũ cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số, nếu được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, được rèn luyện, thử thách thì họ sẽ đóng vai trò tích cực, có hiệu quả nhất trong việc triển khai chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Là người dân tộc thiểu số sinh ra
và lớn lên tại địa phương, có chung tiếng nói, am hiểu phong tục, tập quán, gần gũi, gắn bó với buôn làng, đồng bào mình; giao tiếp với đồng bào bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ nên đồng bào dễ hiểu, dễ cảm thông và tin tưởng với những điều mà cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số tuyên truyền, phổ biến, đây là lợi thế mà cán bộ người Kinh không thể có được…
2.1.4 Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền tỉnh Đắk Lắk về cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số thời gian qua
Là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh Đắk Lắk luôn chú trọng đến công tác xây dựng cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu
số, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, sử dụng, luân chuyển cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số Tỉnh Đắk Lắk đã ban hành nhiều chương trình, nghị quyết, chỉ thị về vấn đề này, cụ thể như: Nghị quyết số 05 ngày 14/01/2005 của Tỉnh ủy về lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số xác định mục tiêu là từ năm 2010 trở đi, phấn đấu nâng tỷ
Trang 38lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức hành chính - sự nghiệp đạt 15% trở lên, trong đó chú trọng cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số tham gia các chức danh chủ chốt ở các cấp như Cấp uỷ tỉnh, huyện và tương đương từ 20% trở lên; cấp uỷ cơ sở nói chung đạt 15% trở lên, trong đó cấp ủy xã, phường, thị trấn đạt 23% trở lên Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đạt 35% trở lên; cấp huyện, thành phố đạt 27% trở lên; cấp xã, phường, thị trấn đạt 30% trở lên Trong đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp từ tỉnh đến cơ sở (gồm bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân) phải có cán bộ dân tộc thiểu số [29]
Chương trình số 11 ngày 08/11/2007 của Tỉnh ủy về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh giai đoạn 2006-2010 đã xác định mục tiêu chung là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất năng lực và trình độ các mặt, đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, có sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương Về chỉ tiêu cụ thể, đến năm 2010: Số cán bộ, công chức có trình độ cao đẳng đại học trở lên phải đạt 60%, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải đạt 100%; tỷ lệ cán bộ nữ trong cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành chiếm từ 10-15% trở lên; tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số phải chiếm từ 18-20% tổng số cán bộ, công chức toàn tỉnh; các chức danh chuyên môn ở xã, phường, thị trấn phải được đào tạo, bồi dưỡng đạt trình độ trung cấp chuyên môn trở lên chiếm
tỷ lệ 50%, trình độ sơ cấp, trung cấp lý luận chính trị trở lên chiếm 60%, đã qua bồi dưỡng sơ cấp về quản lý kinh tế, quản lý nhà nước trở lên chiếm 30% [34]
Cụ thể hóa Nghị quyết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 28, ngày 17/10/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chính sách cán bộ công chức cấp tỉnh và cấp huyện của tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2008 - 2010 và Quyết định số 05, ngày 31/01/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành chính sách cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp huyện
Trang 39của tỉnh, giai đoạn 2008 - 2010…
2.2 Thực trạng năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk
2.2.1 Ưu điểm
2.2.1.1 Về số lượng, cơ cấu, chất lượng
Nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số bảo đảm đủ về số lượng và hợp lý về cơ cấu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đủ kiến thức, kỹ năng về quản lý và chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sự nghiệp này chỉ có thể thành công khi có đủ số lượng cán bộ người dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội từng địa
phương, phù hợp với yêu cầu công tác của từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực
Trong điều kiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ này còn
nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công việc Do
đó, yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số ngày càng
chuẩn hóa, chuyên môn hóa thì đảm bảo đủ số lượng là điều vô cùng cần thiết
Trước thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số hiện nay còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trình độ năng lực; vấn đề đặt
ra là cần phải nâng cao trình độ năng lực một cách toàn diện của đội ngũ này
Họ phải giỏi về chuyên môn, phải có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và biết vận dụng vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể một cách có hiệu quả Việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước của các cấp, các ngành
ở địa phương phải chính xác, phù hợp với phương hướng phát triển chung của đất nước Đồng thời với năng lực định hướng chính trị là năng lực tổ chức thực tiễn, tức là khả năng chuyển hóa các chủ trương, nghị quyết thành hiện thực trong cuộc sống, trong phong trào cách mạng của quần chúng; ngoài ra,
Trang 40cán bộ người DTTS còn phải có năng lực tập hợp, lôi cuốn đông đảo quần
chúng tích cực tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương Lẽ tất
nhiên, ở mỗi cương vị khác nhau (cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn ) và mỗi loại cán bộ khác nhau (cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể ) đều có yêu cầu về mức độ chuyên sâu khác nhau, nhưng dù ở bất cứ cương vị nào, bất cứ ở lĩnh vực nào thì yêu cầu về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực là ba yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng của từng người cán bộ Mỗi cán bộ người DTTS mạnh, có đủ đức, đủ tài sẽ tạo
thành chất lượng và sức mạnh tổng hợp của đội ngũ cán bộ người DTTS
Do vậy, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong tình hình hiện nay đòi hỏi cấp thiết phải nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ người DTTS Đội ngũ cán bộ này phải được trang bị kiến thức toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; kiến thức cơ bản và cơ sở Đồng thời, phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, giáo dục tư tưởng, đạo đức cách mạng; nâng cao trình độ văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong hoạt động chuyên môn, văn hóa trong sinh hoạt Nhiều năm qua, trong các chỉ thị, nghị quyết của tỉnh có liên quan đến công tác cán bộ, đều nhấn mạnh: cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số, nhưng đến nay chất
lượng đội ngũ cán bộ này vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập
Khi xây dựng đội ngũ cán bộ các dân tộc, đồng thời với các tiêu chuẩn cán bộ, chúng ta còn phải vận dựng một cách linh hoạt nguyên tắc cơ cấu hợp
lý các loại cán bộ Trong đó, tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ công chức người DTTS phải gắn liền với yêu cầu của địa phương và những tiêu chuẩn cán bộ, công chức do Nhà nước quy định Tính cụ thể, tính vận dụng để xây dựng tiêu chuẩn và cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số chính là xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và điều kiện thực tế của địa phương
để định ra những tiêu chí phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực công tác, trong đó có “sàn” về trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị, quản