Một trong những mục tiêu cụ thể của Chương trình là: Nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH; với các nhiệm vụ như: Phổ biến, tuyên truyền nâng cao kiến thức cơ bản về BĐKH, tác động củ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ XUÂN NGUYÊN
NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA ĐỘI NGŨ LÀM CÔNG TÁC
TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG HIỆN NAY
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Xuân Nguyên
Trang 3Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Xã hội học và tất cả các thầy cô trong Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nơi tôi đã học tập trong hai năm qua Trong thời gian đó, tôi đã nhận được sự chỉ dạy ân cần, tận tình của các thầy, các cô Đó là điểm tựa cơ bản để tôi có thể hoàn thành được luận văn này, đồng thời là hành trang về nghề nghiệp cho tôi trong suốt quá trình công tác sau này
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn đến PGS.TSVũ Hào Quang vì những kinh nghiệm nghiên cứu quý báu mà thầy đã mang lại cho tôi Những lời hướng dẫn, chỉ bảo rất thẳng thắn của thầy chính là nền tảng vững chắc và tin cậy để tôi dựa vào trong suốt quá trình nghiên cứu Mặc dù khoảng thời gian thực hiện luận văn không dài, nhưng tư duy xã hội học của tôi đã có cơ hội được trở nên thực tế hơn, sâu sắc hơn qua những chỉ bảo, hướng dẫn của thầy
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cha mẹ, gia đình đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, cho tôi được gửi lời cảm ơn tới các nhà báo tại các cơ quan báo chí ở Hà Nội đã giúp đỡ tôi thực hiện những cuộc phỏng vấn để tôi có thể hoàn thiện được luận văn này
Hà Nội, ngày 07/09/2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Xuân Nguyên
Trang 4BĐKH Biến đổi khí hậu
ĐBSCL Đồng Bằng sông Cửu Long
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1 Thao tác hóa các khái niệm 17
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 23
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về biến đổi khí hậu 29
1.4 Vai trò của các cơ quan truyền thông đại chúng trong truyền thông v ề biến đổi khí hậu 32
CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC VỀ BĐKH CỦA ĐỘI NGŨ LÀM CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 35
2.1 Thực trạng tiếp cận thông tin về biến đổi khí hậu của đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng 35
2.2.Các hoạt động thực tiễn về biến đổi khí hậu của đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng 41
2.3 Nhận thức về biến đổi khí hậu của đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng 45
2.4 Các yếu tố tác động đến nhận thức về biến đổi khí hậu của đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng 54
CHƯƠNG 3: NHU CẦU TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA NHÀ BÁO VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 65
3.1 Nhu cầu tiếp cận thông tin vềBĐKHcủa đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng 65
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp cận thông tin của đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng về biến đổi khí hậu 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
Danh mục tài liệu tham khảo 98
Phụ lục: Bảng hỏi 103
Trang 6Bảng 2.1 Nghe tới thông tin về BĐKH qua những nguồn nào 37
Bảng 2.2 Đánh giá các biểu hiện của biến đổi khí hậu 46
Bảng 2.3 Đánh giá nguyên nhân dẫn tới BĐKH 49
Bảng 2.4 Tương quan giữa giới tính và nguồn thông tin tiếp cận về BĐKH 55
Bảng 2.5 Tương quan giữa giới tính với việc trả lời đúng các phương án về biểu hiện của BĐKH 56
Bảng 2.6 Tương quan giữa nơi công tác với việc trả lời đúng các phương án về biểu hiện của BĐKH 61
Bảng 2.7 Tương quan giữa nơi công tác với việc trả lời đúng các phương án về nguyên nhân của BĐKH 62
Bảng 3.1 Nhu cầu của nhà báo về giảng viên tập huấn BĐKH 74
Bảng 3.2 Tương quan giữa nhóm độ tuổi và mức độ cần thiết tập huấn các kỹ năng làm báo đối với vấn đề BĐKH 86
Trang 7Hình 1.1 Bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow 28
Biểu đồ 2.1 Tiếp cận thông tin về BĐKH 36
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ tham gia tập huấn, hội thảo, sự kiện về BĐKH 39
Biểu đồ 2.3 Lý do tham gia tập huấn/hội thảo/sự kiện về BĐKH 39
Biểu đồ 2.4 Lý do không tham gia các chương trình về BĐKH 40
Biểu đồ 2.5 Làm việc liên quan đến BĐKH 41
Biểu đồ 2.6 Lý do tham gia công việc liên quan đến BĐKH 42
Biểu đồ 2.7 Đánh giá về viết báo và tổ chức sự kiện về BĐKH 43
Biểu đồ 2.8 Dự định tương lai làm việc liên quan đến BĐKH 44
Biểu đồ 2.9 Điểm của những câu trả lời đúng về biểu hiện của BĐKH 48
Biểu đồ 2.10 Điểm của những câu trả lời đúng về nguyên nhân của BĐKH 50
Biểu đồ 2.11 Tỷ lệ trả lời các hậu quả của BĐKH của nhà báo 51
Biểu đồ 2.12 Nhận thức của nhà báo về vùng chịu ảnh hưởng của BĐKH 53
Biểu đồ 2 13 Tương quan giữa giới tính và việc nghe tới những thông tin về BĐKH 55
Biểu đồ 2.14 Tương quan giữa giới tính và đánh giá BĐKH ảnh hưởng tới vùng nào nhất của Việt Nam 57
Biểu đồ 2 15 Tương quan giữa độ tuổi và nguyên nhân của BĐKH củ a hai nhóm từ 35 tuổi trở xuống và từ 36 tuổi trở lên 58
Biểu đồ 2.16 Cơ quan làm việc và hiểu biết về BĐKH 60
Biểu đồ 3.1 Nhu cầu tìm hiểu kiến thức chung về BĐKH 65
Biểu đồ 3 2 Các hình thức tìm hiểu thông tin về BĐKH mà nhà báo mong muốn 68
Biểu đồ 3.3 Nhu cầu tìm hiểu thông tin về ứng phó với BĐKH 69
Biểu đồ 3.4 Các hình thức tìm hiểu về BĐKH theo nhu cầu nhà báo 71
Trang 8Biểu đồ 3.7 Nhu cầu về hình thức học tập trong tập huấn của nhà báo 75
Biểu đồ 3.8 Mục đích của nhà báo khi tìm hiểu thông tin về BĐKH 76
Biểu đồ 3.9 Mức độ cần thiết của kỹ năng làm báo về BĐKH 77
Biểu đồ 3 10 Mức độ cần thiết tìm hiểu thông tin đạo đức nhà báo khi viết về BĐKH 78
Biểu đồ 3.11 Tương quan giữa giới tính và nguồn thông tin về BĐKH 80
Biểu đồ 3.12 Tương quan giữa giới tính và mức độ cần thiết tìm hiểu về BĐKH 82
Biểu đồ 3.13 Tương quan giữa giới tính và địa điểm tập huấn mong muốn 83
Biểu đồ 3.14 Tương quan giữa nhóm độ tuổi với nhu cầu thông tin về BĐKH và khóa tập huấn về BĐKH 85
Biểu đồ 3.15 Tương quan giữa nơi công tác với nhu cầu thông tin về BĐKH và khóa tập huấn về BĐKH 88
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với tiến trình lịch sử, Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường sinh thái trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước và xâm nhập mặn các vùng ven biển ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai Vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển trên tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của toàn nhân loại
Theo báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH, nhiệt
độ trung bình toàn cầu và mực nước biển tăng nhanh trong vòng
100 năm qua, đặc biệt trong khoảng 25 năm gần đây Ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 0,5 - 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Hiện tượng El Nino,
La Nina đã gây ra những ảnh hưởng nặng nề tới đời sống xã hội và ngày càng có xu hướng ra tăng BĐKH thực sự đã làm cho những thiên tai, đặc biệt là bão, lũ và hạn hán ngày càng khốc liệt [35]
Sự xuất hiện ngày càng nhiều những siêu bão, sóng thần, động đất… khiến cho cuộc sống của con người bị hủy hoại và đe dọa.Trong những năm gần đây, sức hủy diệt chưa từng thấy của những cơn bão, trận sóng thần và động đất liên tục xảy ra nữa Gần đây nhất, ngày 8/11/2013, siêu bão Haiyan đã để lại nỗi đau lớn cho người dân miền trung Philippines với thiệt hại khủng khiếp cả về người và tài sản sau khi quét qua nơi đây Sức hủy diệt của bão
Trang 10Haiyan không khác gì một trận sóng thần Siêu bão cấp 5 này có sức gió lên tới 314 km/h và giật 379km/h, thuộc hàng mạnh nhất về tốc độ gió trong lịch sử được ghi nhận của thế giới Một quan chức của tỉnh Leyte, nơi bị tàn phá nặng nề nhất, cho biết riêng nơi đây
đã có ít nhất 10.000 người chết.Theo Hội đồng Quản lý và Giảm thiểu nguy cơ thảm họa quốc gia Philippines, có đến 4,28 triệu người, thuộc 1.363 ngôi làng tại 36 tỉnh của quốc gia này bị ảnh hưởng bởi bão Haiyan Hàng nghìn ngôi nhà, trường học và một sân bay ở Tacloban đã bị san phẳng [50]
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng Ganges (Bangladesh) Theo các kịch bản BĐKH, vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta tăng khoảng 2 - 30
C, tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô lại giảm, lượng nước biển có thể dâng khoảng từ 75 cm đến 1m so với thời kỳ 1980 - 1999 Nếu mực nước biển dâng cao 1 m sẽ có khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập, trong
đó, TP Hồ Chí Minh sẽ bị ngập trên 20% diện tích; khoảng 10 - 12% dân số nước ta sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng khoảng 10% GDP Tác động của BĐKH đối với nước ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước [35]
Trang 11Trước những thách thức về tác động của BĐKH, Việt Nam luôn là một trong những quốc gia đi đầu trong việc tham gia và thực hiện các hiệp ước quốc tế nhằm giảm nhẹ tác động của BĐKH Ngày 30/8/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 1138/QĐ-TTG Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 - 2015 Một trong những mục tiêu
cụ thể của Chương trình là: Nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH; với các nhiệm vụ như: Phổ biến, tuyên truyền nâng cao kiến thức cơ bản về BĐKH, tác động của BĐKH cho đại đa số công chức, viên chức nhà nước, 75% học sinh, sinh viên, 50% cộng đồng dân cư [36]
Quyết định số 329/QĐ-BGDĐT, ngày 25/1/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt Đề án “Thông tin, tuyên truyền về ứng phó với BĐKH và phòng chống, chống thiên tai trong trường học giai đoạn 2013 - 2020 với mục tiêu: Bảo đảm đến năm 2015, 80% cán bộ, giáo viên, giảng viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục và cấp quản lý giáo dục được nâng cao nhận thức và kỹ năng thông tin, tuyên truyền về ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai; đạt 95% vào năm 2020 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai cho cha mẹ học sinh các cấp, đạt 80% vào năm 2020 Phối hợp với địa phương tuyên truyền nâng cao nhận thức về ứng phó với BĐKH và phòng chống thiên tai cho cộng đồng dân cư đạt 60% vào năm 2020 Để thực hiện các mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ và giải pháp là: Thông tin tuyên truyền, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người học, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cha mẹ học sinh và cộng đồng; Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền về ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai trong trường học; Nâng cao năng lực hệ thống thông tin, tuyên truyền
về ứng phó với BĐKH và phòng, chống thiên tai của ngành Giáo dục Để góp
Trang 12phần vào việc thực hiện tốt các chương trình, mục tiêu, kế hoạch, chiến lược,
đề án nêu trên thì truyền thông đại chúng (TTĐC) có một vai trò hết sức to lớn, trong đó người làm công tác TTĐC giữ vai trò quyết định.Để thực hiện tốt vai trò đó, người làm công tác TTĐC cần có nhận thức đúng về BĐKH, đồng thời xác định được nhu cầu thông tin về BĐKH Chính vì vậy, tác giả lựa chọn
đề tài “Nhận thức và nhu cầu thông tin về biến đổi khí hậu của đội ngũ làm
công tác truyền thông đại chúng hiện nay” là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đế BĐKH hiện nay được chia thành: các nghiên cứu về BĐKH thuần túy, được liệt kê, phân tích dưới hình thức (sự minh chứng) của khoa học tự nhiên; các nghiên cứu đánh giá nhận thức, thực trạng, nhu cầu của các nhóm xã hội về BĐKH và các nghiên cứu về BĐKH được phân tích trên các phương tiện TTĐC Có thể điểm qua một số những công trình tiêu biểu như sau:
Thứ nhất: nghiên cứu đánh giá nhận thức, thực trạng, nhu cầu của các
nhóm xã hội về BĐKH:
Khảo sát “Đánh giá nhận thức về biến đổi khí hậu tại cộng đồng đô thị” đăng trên Tạp chí Ấn Độ về sức khỏe môi trường và nghề nghiệp (2011), số 15(3), trang 109-112 Đây là nghiên cứu cộng đồng dân cư đô thị trên 18 tuổi tại Ấn Độ (n=733) về nhận thức BĐKH và vai trò của các hoạt động của con người trong BĐKH Kết quả nghiên cứu cho thấy có 92% người trả lời cho rằng khí hậu toàn cầu đang biến đổi; có gần 82% cho biết các hoạt động của con người đã tạo ra sự BĐKH Khảo sát cũng cho thấy truyền hình là nguồn cung cấp thông tin phổ biến nhất về BĐKH [55]
Khảo sát quốc gia những người làm dự báo khí tượng thủy văn trên truyền hình về BĐKH tại Mỹ năm 2010 cho biết: Hiệp hội thời tiết quốc gia
và Hiệp hội khí tượng thủy văn Mỹ đã tiến hành khảo sát qua mạng (online
Trang 13survey) thành viên của hai tổ chức này, những người làm chương trình dự báo thời tiết trên ti vi (n=571) Đây được xem là cuộc khảo sát lớn và đại diện về những người làm công tác dự báo thời tiết tại Mỹ Kết quả khảo sát cho thấy truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin có tính khoa học BĐKH là một trong những chủ đề phổ biến nhất được những người làm chương trình dự báo thời tiết bàn luận Có khoảng 2/3 số người trả lời cho biết họ quan tâm đến việc đưa tin và chuyển tải thông tin về BĐKH Tuy nhiên những người khảo sát cũng cho biết những khó khăn họ gặp phải trong việc đưa tin về BĐKH như thời lượng cho đưa tin về BĐKH ít so với các chương trình khác, hạn chế trong việc tiếp cận các hình ảnh và thông tin thích hợp về BĐKH, và hạn chế hiểu biết về BĐKH của chính những người đưa tin
về BĐKH [56]
Dưới một góc nhìn khác về BĐKH, cuốn sách: “Le changement
climatique - Une nouvelle Eerre sur la terre”, Yves Sciam, 2005 (BĐKH -
Một thời đại mới trên trái đất, Yves Sciama, Thúy Quỳnh dịch, nhà xuất bản trẻ, 2005) Nội dung của cuốn sách đã khẳng định rằng: sự kiện trái đất nóng dần lên là chắc chắn, rằng nguyên nhân do những hoạt động của con người đã được xác nhận và rằng chúng ta cần hành động khẩn trương [59]; đặc biệt đã khẳng định giới TTĐC tiến hành không tốt công việc của mình về vấn đề BĐKH, và đặt ra câu hỏi nguyên nhân vì đâu
Các sách, ấn phẩm, nghiên cứu về BĐKH đã chỉ ra sự ảnh hưởng, cách ứng phó, mô hình thích ứng, các kịch bản về BĐKH cho từng lĩnh vực, ngành
nghề Cụ thể như: Cuốn sách “Ứng phó với BĐKH trong hoạt động công
nghiệp, đô thị và xây dựng công trình” do Trần Đức Hạ (chủ biên), năm
2013; cuốn sách “Mô hình thích ứng với BĐKH cấp cộng đồng tại vùng trũng
thấp ở tỉnh Thừa Thiên Huế” do Lê Văn Thăng (chủ biên), năm 2011; “Chủ động ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường-
Trang 14Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng
Trung ương, năm 2013; “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam”
của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2012 Các sách viết, giáo trình về môi trường, BĐKH phục vụ cho giáo viên, sinh viên nói riêng, những người
quan tâm đến vấn đề môi trường, BĐKH nói chung: Giáo trình “BĐKH”, do Đặng Duy Lợi và Đào Ngọc Hùng thực hiện, năm 2014; Bộ tài liệu “Hướng
dẫn giáo viên về nâng cao nhận thức về môi trường và BĐKH” Tài liệu gồm
3 quyển: (1)Thông tin dành cho giáo viên- Nhận thức về môi trường, (2) Hoạt
động trong lớp dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức về môi trường, (3) Tài liệu phục vụ cho các hoạt động trong lớp - Nâng cao nhận thức về môi trường của Finona Fareley, do Chu Văn Cường, Nguyễn Thị Việt Phương và
cộng sự dịch, năm 2013 Một trong các mục đích của bộ tài liệu là giúp nâng cao nhận thức môi trường và BĐKH trong các trường học, nhất là bậc tiểu
học; giáo trình về BĐKH:“Giáo trình con người và môi trường” do Lê Văn Khoa chủ biên, năm 2013; “Tài liệu tập huấn đào tạo tập huấn về BĐKH” do Trương Quang Học (chủ biên), năm 2011); “Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác
động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng” của Viện Khoa học
Khí tượng Thủy văn và Môi trường, năm 2012; “Những kiến thức cơ bản về
BĐKH” của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, năm 2012;
“Một số điều cần biết về BĐKH” của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường
Việt Nam, do Trương Quang Học (chủ biên), năm 2011; “Sổ tay hướng dẫn
phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai” của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt
bão Trung ương, năm 2010; ”Sổ tay tuyên truyền BĐKH” của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội - Sở Tài nguyên và Môi trường, năm 2012; “Sổ tay
tuyên truyền về công tác bảo vệ Môi trường” của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam, năm 2012; “BĐKH và các biện pháp thích ứng, giảm thiểu ảnh hưởng
của BĐKH đến vùng ven biển - Tài liệu tuyên truyền, phổ biến kiến thức về
Trang 15phòng chống thiên tai, khắc phục sự cố môi trường biển, hải đảo” của Tổng
cục Biển và Hải đảo Việt Nam - Trung tâm Đào tạo và truyền thông biển, hải đảo, năm 2013 Mục đích chính của các cuốn sách này đều nhằm phổ biến rộng rãi những kiến thức cơ bản và nâng cao, các quy hoạch, chiến lược về môi trường, BĐKH cho nhóm người, cho cộng đồng trong từng công việc, ngành nghề cụ thể
Bài báo “Nỗi sợ hãi sẽ không mang lại hiệu quả: Thúc đẩy sự tham gia tích cực về BĐKH thông qua việc sử dụng hình ảnh” của tác giả Saffron O'Neill và Sophie Nicholson-Cole đăng tải trên Tạp chí Truyền thông khoa học(2009), số 30 (3), trang 355-379, đã bàn về việc sử dụng hình ảnh truyền thông về BĐKH Các nhà nghiên cứu cho rằng hình ảnh chính là công cụ truyền thông hiệu quả trong việc truyền tải thông tin BĐKH Tuy nhiên hiện nay chính truyền thông hình ảnh về BĐKH lại đang tạo lực cản lớn cho hoạt động này bởi BĐKH là cái gì đó vẫn còn trừu tượng, khó hiểu và khó để nhận biết thông qua hình ảnh Trong nghiên cứu của mình, Saffron O’Neill và Sophie Nicholson-Cole cho rằng việc sử dụng hình ảnh thể hiện sự sợ hãi, tiêu cực sẽ thu hút được sự chú ý của độc giả nhưng sẽ bị hạn chế trong việc khuyến khích cá nhân hành động [57]
Trong bài nghiên cứu của mình về Truyền thông về nguy cơ BĐKH trong
một thế giới hoài nghi đăng tải trên trang BĐKH năm 2011, tác giả John D
Sterman cũng đồng quan điểm với O’Neill và Nicholson-Cole khi cho rằng nên sử dụng hình ảnh không có tính đe dọa, sợ hãi, gắn với các hoạt động và quan tâm thường ngày của độc giả sẽ tạo được sự gần gũi và cam kết hành động của cá nhân trong hoạt động chống BĐKH John Sterman cho rằng truyền thông hiệu quả về BĐKH đòi hỏi việc áp dụng nhiều mô hình truyền thông, trong đó bao gồm cả việc tạo ra sự tương tác có tính trải nghiệm để khán giả nhận thấy điều gì sẽ xảy ra với bản thân họ khi lượng khí carbon dioxide tăng dần lên trong bầu khí quyển [58]
Trang 16Báo cáo kết quả nghiên cứu “Nhận thức và tiếp cận thông tin về
BĐKHcủa người dân hiện nay” do Ths Dương Thu Hương, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền thực hiện năm 2013 dựa trên việc phân tích số liệu từ cuộc điều tra quy mô toàn quốc của dự án Climate Asia thuộc tổ chức BBC Media action với cỡ mẫu được chọn là 3486 hộ gia đình tại 7 khu vực từ bắc vào nam Kết quả phân tích từ số liệu của cuộc điều tra cho thấy tỷ lệ người dân đã nghe đến cụm từ BĐKH hoặc các thông tin liên quan chiếm đến 58%,
có gần ¼ tổng số người được hỏi trả lời họ chưa nghe và 16% nghe nhưng không hiểu gì Cũng theo tác giả, một trong những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức cho người dân là: “Tập trung ưu tiên trong các chiến lược truyền thông đến các nhóm hiện nay đang ít có cơ hội được tiếp cận thông tin về BĐKH, địa phương hóa các chiến lược truyền thông, hướng tới truyền thông thay đổi hành vi một cách bền vững” [12]
Nghiên cứu: “Nhận thức của người dân tại TPHCM về tác hại của biến
đổi khí hậu” do TS Lê Văn Khoa và cộng sựở Sở Tài nguyên - Môi trường
TPHCM thực hiện năm 2011 Qua phân tích số liệu, tác giả đã chỉ ra rằng, các đối tượng người dân đều có sự quan tâm, hiểu biết căn bản về BĐKH, nhưng việc hiểu đúng và có hành động phù hợp để ứng phó với BĐKH vẫn còn có hạn chế [15]
Nhìn vào số lượng và nội dung các công trình nghiên cứu có thể thấy: BĐKH là một vấn đề được các cấp, các ngành, các nhà khoa học hết sức quan tâm trong tình hình hiện nay Ứng phó với BĐKH là một nhiệm vụ cấp bách
và lâu dài của Việt Nam và của toàn nhân loại
Thứ 2: Các nghiên cứu về BĐKH được phân tích trên các phương tiện TTĐC:
Nghiên cứu“Báo chí đưa tin về biến đổi khí hậu”, khoa Xã hội học, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Viện Friedrich Ebert (FES), năm 2012.Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích nội dung văn bản truyền
Trang 17thông bằng tiếp cận nghiên cứu định tính Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh chung về cách đưa tin, các khía cạnh thông tin về BĐKH được truyền tải trên hai loại hình báo in và báo mạng điện tử, đồng thời gợi ý các giải pháp đối với các nhà báo, nhà quản lý truyền thông và các cơ quan chức năng trong việc nâng cao hiệu quả truyền tải thông tin về BĐKH, góp phần hướng tới những giải pháp giảm nhẹ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH trong hiện tại và tương lai [43]
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của BBC Media Action năm 2013 về
“Người dân Việt Nam đang thích ứng với BĐKH thế nào và truyền thông có
thể làm gì để hỗ trợ họ” đã chỉ ra giới trẻ thành thị là một trong ba đối tượng
(nông dân, giới trẻ thành thị, người dân duyên hải Trung bộ) được truyền thông về BĐKH quan tâm và hướng đến Họ tiếp cận thông tin về BĐKH từ tivi 95%, báo, tạp chí 58%, mạng internet 52% và từ nghe đài 31% [2]
Nghiên cứu “Thực trạng đưa tin về BĐKH trên truyền hình”, khoa Xã
hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Viện FES, năm
2013 Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính trong phân tích nội dung văn bản, hình ảnh truyền thông để tiến hành nghiên cứu Ngoài việc khẳng định thêm một số các kết quả của nghiên cứu năm 2012 còn phát hiện thêm một số điểm mới Đó chính là sự phản ánh đa dạng hơn các biểu hiện và nguyên nhân của BĐKH, các giải pháp cũng được phản ánh cụ thể hơn so với kết quả nghiên cứu trước Nghiên cứu còn đưa ra một số các khuyến nghị với các nhà quản lý báo chí và với các nhà báo nhằm nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình liên quan tới BĐKH để công chúng có sự nâng cao
về nhận thức, nhu cầu, từ đó có hành vi đúng đắn ứng phó với BĐKH [44]
Nghiên cứu “Nhận thức và nhu cầu thông tin về BĐKH của đội ngũ làm
công tác truyền thông hiện nay”, khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền phối hợp với Viện FES, năm 2014 Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và sử dụng phương pháp
Trang 18phỏng vấn bán cấu trúc Nghiên cứu đưa ra kết quả thực trạng nhận thức và nhu cầu của đội ngũ làm công tác truyền thông về BĐKH Trong các đối tượng được phỏng vấn có 75 nhà báo [45]
Ngoài ra, đã có nhiều hội thảo khoa học của các cấp cơ sở, cấp ngành, cấp quốc gia về các vấn đề của BĐKH; đặc biệt các hội thảo, lớp tập huấn về BĐKH cho các nhà báo cũng đã được tổ chức.Mục tiêu chính của các hội thảo, lớp tập huấn là cung cấp kiến thức, thông tin về BĐKH; những giải pháp khắc phục hậu quả BĐKH; các kịch bản BĐKH; nhận thức và tiếp nhận thông tin về BĐKH của người dân; thực trạng đưa tin, kỹ năng báo chí về vấn đề BĐKH; những kỹ năng nghiệp vụ cho các phóng viên, biên tập viên, nhà quản lý, biên tập về BĐKH nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền về các vấn đề của BĐKH trên các kênh thông tin đại chúng với mục đích nâng cao nhận thức, cách ứng phó, thích ứng với BĐKH cho cộng đồng trong từng lĩnh vực, vấn đề cụ thể…
Như vậy, đề tài “Nhận thức và nhu cầu thông tin về BĐKH của đội ngũ
làm công tác TTĐC hiện nay” có đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên
cứu riêng, không trùng lặp với các nghiên cứu đã công bố Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả có thể kế thừa kết quả nghiên cứu và bảng hỏi của các công trình nghiên cứu có liên quan; luận văn đi sâu tìm hiểu thực trạng nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐCvề BĐKH
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức, đáp ứng được nhu cầu thông tin của đội ngũ này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu và thao tác hóa khái niệm: Nhận thức, nhu cầu, thông tin, nhu cầu thông tin, truyền thông, TTĐC, đội ngũ làm công tác TTĐC, BĐKH
Trang 19Khảo sát, mô tả được nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH
Phân tích được các yếu tố tác động đến nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH
Từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH, góp phần vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ của hoạt động TTĐC trong ứng phó với BĐKH
4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐCvề BĐKH
4.2 Khách thể nghiên cứu
Các nhà báo đang làm việc tại các cơ quan báo chí ở Hà Nội
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Tháng 2 - 5 năm 2015
- Phạm vi về không gian: Các cơ quan báo chí ở Hà Nội
5 Biến số phân tích, giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1 Biến số phân tích
5.1.1 Biến số độc lập
- Đặc điểm nhân khẩu học: giới tính, tuổi, trình độ học vấn
- Đặc điểm công việc: cơ quan, nơi công tác, chức vụ, số năm công tác,
vị trí việc làm
5.1.2 Biến số phụ thuộc
- Nhận thức của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH:
+ Nhận thức về các biểu hiện của BĐKH
+ Nhận thức về các nguyên nhân gây ra BĐKH
+ Nhận thức về các hậu quả của BĐKH
+ Nhận thức về các giải pháp ứng phó với BĐKH
Trang 20- Nhu cầu của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH:
+ Nhu cầu tìm hiểu thông tin chung về BĐKH
+ Nhu cầu về khóa tập huấn về BĐKH
+Nhu cầu nâng cao kỹ năng làm báo về BĐKH
5.1.3 Biến số can thiệp
- Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về BĐKH
- Thời gian, thời lượng đưa tin về BĐKH trên các kênh TTĐC
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH hiện nay còn
mô ̣t số hạn chế
- Đội ngũ làm công tác TTĐC có nhu cầu tìm hiểu kiến thức chuyên sâu và nhu cầu tâ ̣p huấn nâng cao kỹ năng, tri thức về BĐKH
- Các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, đơn
vị công tác có ảnh hưởng trực tiếp tới nhận thức và nhu cầu thông tin về BĐKH của đội ngũ làm công tác TTĐC
Trang 21- Nguyên nhân BĐKH
- Hậu quả BĐKH
- Giải pháp ứng phophó với BĐKH
Đặc điểm kinh tế, xã hội, môi trường
Quan điển của Đảng và nhà nước về BĐKH trên các kênh TTĐC Đưa tin về BĐKH trên
TTĐC
Nhận thức và nhu cầu của đội ngũ làm công tác TTĐC
về BĐKH
về BĐKH
- Tập huấn kiến thức về BĐKH
- Tập huấn kỹ năng làm báo
Trang 226 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
- Đề tài sử dụng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng tiếp cận
- Dựa trên quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về BĐKH để tìm hiểu nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH
- Vận dụng lý thuyết xã hội học TTĐC, thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết hành động truyền thông chiến lược của Harbermas trong phân tích và luận giải vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài; nắm bắt tổng quan nhận thức của người dân về vấn đề BĐKH, đồng thời phát hiện ra những khía cạnh mới chưa được nghiên cứu đề cập hoặc chưa được phân tích sâu Phân tích thông qua các nghiên cứu về BĐKH đã được công bố, thông tin trên mạng internet
và các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng ba ̉ng hỏi (Ankét)
Số lượng mẫu phỏng vấn dự tính: 400 bảng hỏi
Phương pháp chọn mẫu:
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân chùm, mỗi chùm
là một cơ quan báo chí tại Hà Nội (mỗi cơ quan báo chí hỏi toàn bộ những người
có thể phỏng vấn được tại thời điểm nghiên cứu) Trong đó dự định:
+ 100 người là nhà báo hiện đang công tác tại các cơ quan báo in (ngày, tuần) và tạp chí
+ 100 người là nhà báo hiện đang công tác tại các báo phát thanh
+ 100 người là nhà báo hiện đang công tác tại các báo truyền hình
Trang 23+ 100 người là nhà báo hiện đang công tác tại các báo mạng điện tử Số phiếu thực tế phát ra là:
+ 105 người là nhà báo hiện đang công tác tại các cơ quan báo in (ngày, tuần) và tạp chí
+ 105 người là nhà báo hiện đang công tác tại các báo phát thanh
+ 110 người là nhà báo hiện đang công tác tại các báo truyền hình
+ 105 người là nhà báo hiện đang công tác tại các báo mạng điện tử Kết quả thu được: Với 425 phiếu phát ra , số phiếu thu về là 400; số phiếu sau khi làm sa ̣ch là 367 phiếu chiếm 91,75%, cụ thể: 101 phiếu báo in,
81 phiếu đài phát thanh, đài truyền hình là 108 phiếu, 77 phiếu báo mạng điện
tử Về độ tuổi: Từ 35 tuổi trở xuống là 63.5%, từ 36 tuổi đến 60 tuổi là 36.5% Về giới tính có 42.5% là nam, 57.5% là nữ Về trình độ học vấn: Cao đẳng, đại học là 89.4%, còn lại sau đại học là 10.6% Số năm công tác trong
cơ quan báo chí có 65.9% là dưới 10 năm công tác, còn lại 34.1% là từ 10 năm trở lên
6.2.3 Phương pháp pho ̉ng vấn sâu
Cùng với cuộc điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc , đề tài tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu nhằm bổ sung một số thông tin có chiều sâu về nhận thức
và nhu cầu của nhà báo đối với công tác truyền thông về BĐKH Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định tính là phương pháp chọn mẫu thuận tiện Tổng số mẫu phỏng vấn sâu: 16 phỏng vấn sâu, cụ thể: mỗi loại hình báo chí
có 02 cuộc phỏng vấn sâu đối với nhà báo phụ trách (Giám đốc/tổng biên tập, phó giám đốc/phó tổng biên tập, trưởng ban, phó ban, trưởng phòng, phó phòng ) về mảng môi trường, BĐKH và 02 cuộc phỏng vấn sâu đối với nhà báo có kinh nghiệm và chưa có kinh nghiệm thực hiện tác phẩm báo chí về mảng môi trường và BĐKH
6.2.4 Phương pháp xử lý thông tin
- Thông tin định lượng: được xử lý bằng phần mềm xử lý dữ liệu định lượng IBM SPSS statistics 20.0
Trang 24- Thông tin định tính: được mã hóa, xử lý, phân tích bằng phần mềm Nvivo 8.0
7 Điểm mới và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
7.1 Điểm mới của luận văn
- Nghiên cứu truyền thông và nhận thức, nhu cầu của những người trong
đội ngũ làm công tác TTĐC hiện nay là hướng nghiên cứu mới
- Đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu của xã hội học để mô tả đặc
điểm chân dung nhà báo Việt Nam thông qua kiến thức hiểu biết và nhu cầu thông tin về BĐKH
7.2 Ý nghĩa lý luận
- Nghiên cứu góp phần hệ thống lại những vấn đề lý luận về xã hội học TTĐC trong nghiên cứu BĐKH quan đó làm rõ vai trò của các phương tiện TTĐC trong tuyên truyền vận động các vấn đề xã hội
7.3 Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp thông tin khoa học về nhận thức và nhu cầu thông tin của đội ngũ làm công tác TTĐC về BĐKH
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông tin bổ ích cho các cơ quan quản
lý báo chí và cơ quan báo chí để tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho các nhà báo sáng tạo tác phẩm báo chí về BĐKH
- Kết quả nghiên cứu của đề tài còn được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ, giảng viên của Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong nghiên cứu và giảng dạy lồng ghép về BĐKH
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 25Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thao tác hóa các khái niệm
1.1.1 Nhận thức
Quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến tới khách thể Sự nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thể hiện qua các giai đoạn
từ thấp đến cao như sau:
(1) Nhận thức cảm tính: vận dụng cảm giác, tri giác, biểu tượng
(2) Nhận thức lý tính: vận dụng khái niệm, phán đoán, suy lý;
(3) Nhận thức thực tiễn, ở đây tri thức được kiểm nghiệm đúng hay sai
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở của động lực, mục đích của nhận thức Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà là để cải tạo thế giới Do đó, ở giai đoạn này, nhận thức có chức năng chỉ đạo đối với thực tiễn Để tiến hành quá trình nhận thức, cần phải sử dụng rất nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic, trừu tượng hoá và khái quát hoá, vận dụng con đường nhận thức đi từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể [39, tr.239]
Trong phạm vi luận văn, nhận thức được hiểu là việc đọc, nghe, hiểu và ghi nhớ của các nhà báo về các khái niệm, biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp ứng phó với BĐKH hiện nay như thế nào
1.1.2 Nhu cầu
Theo từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Việt (chủ biên), nhu cầu được hiểu như sau:
Trang 26Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nào đó; Về đại thể người ta chia những nhu cầu của con người thành hai loại cơ bản: nhu cầu sinh học và nhu cầu văn hóa (cũng gọi là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần); Mỗi người có nhu cầu riêng, đồng thời toàn xã hội còn có những nhu cầu chung Nhu cầu xã hội không phải chỉ là tổng của nhu cầu cá nhân, mà còn bao gồm những nhu cầu để duy trì và phát triển xã hội với tư cách tổng thể (an ninh, bảo hiểm xã hội, môi trường sinh thái…); Nhu cầu là cơ sở của lợi ích, tức là những động cơ trực tiếp của hành vi con người [41, tr.211-213]
Trong luận văn, nhu cầu được sử dụng mang ý nghĩa là sự cần thiết, mong muốn, nguyện vọng của nhà báo về việc tìm hiểu thông tin chung, tham gia các khóa tập huấn và nâng cao kỹ năng làm báo về BĐKH
để chỉ chất lượng, nội dung của thông báo nói chung Trong trường hợp này người ta xem xét chất lượng, nội dung thông báo bằng lượng thông tin được chuyển đến đối tượng tiếp nhận" [26, tr.19] Thông tin trong khuôn khổ của luận văn là các nội dung về BĐKH và liên quan đến BĐKH được phản ánh thông qua nhận thức và nhu cầu của đội ngũ làm công tác TTĐC
Trang 271.1.4 Nhu cầu thông tin
Nhu cầu thông tin (NCTT) là đòi hỏi mang tính chất tự phát và tự giác của con người (cá nhân, nhóm xã hội) trong những điều kiện nhất định về những tin tức, những thông báo thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, những đòi hỏi đó quy định sự lựa chọn thông tin của con người
NCTT luôn thuộc về một chủ thể nhất định (cá nhân hoặc nhóm xã hội),
nó xuất hiện ở mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội, cho nên, NCTT vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của hoạt động Trong các hoạt động sống của mình, con người không những cần thông tin về đối tượng mà còn cần thông tin
về phương thức hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hoạt động
Tuỳ thuộc vào cấp độ của hoạt động, con người sẽ có NCTT ở nhiều cấp độ khác nhau, từ những thông tin khái quát đến những thông tin cụ thể và chi tiết phản ánh đối tượng Hoạt động của con người càng phong phú đa dạng thì NCTT càng phong phú đa dạng
để đáp ứng những hoạt động đó và ngược lại Tuy nhiên, NCTT ở từng cá nhân có thể được ý thức nhưng đôi khi không được ý thức, bởi vì NCTT không chỉ mang tính tự giác thông qua hoạt động có ý thức của con người mà còn mang tính tự phát của chủ thể Mặt khác, NCTT của con người còn được hình thành do tác động có mục đích của chủ thể truyền tin [13, tr.54-58]
1.1.5 Truyền thông
“Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “commūnicāre”
có nghĩa đen là chia sẻ thông tin , là loa ̣i hoa ̣t đô ̣ng có mu ̣c đích giữa hai hay nhiều người nhằm c huyển tải và tiếp nhâ ̣n những ý nghĩa thông qua mô ̣t hê ̣ thống các tín hiê ̣u và các quy tắc dấu hiê ̣u ho ̣c được chia sẻ” [24]
Nội hàm của truyền thông là n ội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với
Trang 28cộng đồng, xã hội Nhờ truyền thông giao tiếp mà con người tự nhiên trở thành con người xã hội Truyền thông từ tiếng Anh: Communication có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông…
Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức
+ Thứ nhất, truyền thông là một quá trình, có nghĩa, nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian xác đi ̣nh Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung cần thiết, mà có tiếp diễn sau đó Đấy là quá trình trao đổi và chia sẻ, có nghĩa là
ít nhất phải có hai thực thể và không chỉ có một bên cho và một bên nhận, mà
cả hai bên đều cho và nhận
+ Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kì quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng, “truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa” [26, tr.13]
Trong cuốn sách“Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do
Nguyễn Văn Dững chủ biên đã đưa ra khái niệm: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/cộng đồng/xã hội” [7,tr.13]
“Nếu căn cứ vào kênh chuyển tải thông điệp và phương thức tiến hành truyền thông thì truyền thông được nói đến trong đề tài là truyền thông gián tiếp, bởi chủ thể truyền thông không tiếp xúc trực tiếp với đối tượng tiếp nhận
mà thực hiện quá trình truyền thông nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ
Trang 29thuật làm lực lượng trung gian truyền dẫn, truyền thông qua các phương tiện TTĐC như báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử” [7,tr.16-17]; và quá trình truyền thông đó được hiểu là quá trình truyền tải và chia sẻ thông tin về BĐKH tới công chúng báo chí thông qua các kênh TTĐC
1.1.6 Truyền thông đại chúng
Theo cuốn sách “Truyền thông đại chúng”, Tạ Ngọc Tấn cho rằng:
“truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng” [30, tr.10]
Trong cuốn sách “Xã hội học báo chí”, Trần Hữu Quang đã đưa ra
khái niệm: “Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình…” [25, tr.16]
Nhìn từ các yếu tố cấu thành, báo chí có vai trò trung tâm, nền tảng trong hệ thống các phương tiện TTĐC (Sách, báo in, phát thanh, truyền hình, mạng điện tử, quảng cáo, điện ảnh, internet, tờ rơi, tờ gấp…bởi nó có vai trò chi phối, quyết định sức mạnh, tính chất, khuynh hướng của TTĐC Vì vậy, chúng ta thường dùng thuật ngữ báo chí để chỉ các phương tiện TTĐC, đồng thời khi nói đến TTĐC trước hết là nói đến báo chí
Để tránh việc hiểu nhầm chúng ta cần phân biệt rõ hai thuật ngữ: “truyền thông đại chúng” và “các phương tiện truyền thông đại chúng” Thuật ngữ “các phương tiện truyền thông đại chúng” (bao gồm báo chí, phát thanh, truyền hình ) được dùng để chỉ những công cụ kỹ thuật hay những kênh mà phải nhờ vào đó người ta mới
có thể tiến hành quá trình truyền thông đại chúng, nghĩa là tiến hành việc phổ biến, loan truyền thông tin tới mọi người Có thể hiểu nó chính là những phương tiện kỹ thuật được sử dụng để thực hiện quá trình TTĐC hay chính là phương tiện mang thông điệp [54]
Trang 30“Các phương tiện TTĐC chủ yếu mang chức năng cung cấp thông tin, kiến thức và giải trí cho người dân Nó không chỉ là cơ quan phát ngôn đầy quyền uy của một tổ chức nào đó mà còn phải là diễn đàn của tất cả mọi người”[9, tr.99]
Còn thuật ngữ “truyền thông đại chúng được dùng để chỉ một quá trình xã hội: quá trình chuyển tải thông tin một cách rộng rãi ra công chúng” [25, tr.16]
Trong nghiên cứu này, TTĐC được hiểu là quá trình truyền đạt thông tin về BĐKH đến đông đảo nhân dân thông qua các phương tiện TTĐC (báo
in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử)
1.1.7 Đội ngũ làm công tác truyền thông đại chúng
Đội ngũ làm công tác TTĐC chính là chủ thể truyền thông (nhà truyền thông Trong phạm vi đề tài, đội ngũ làm công tác TTĐC được hiểu là các nhà báo làm việc tại cơ quan báo chí và không nhất thiết phải là những người được cấp thẻ nhà báo như Luật báo chí năm 1999 (Điều 14) quy định: “Nhà báo phải là người
có quốc tịch Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, có đủ các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và nghiệp vụ báo chí do Nhà nước quy định đang hoạt động hoặc công tác thường xuyên với một cơ quan báo chí Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo” [28]
Như vậy, nhà báo được hiểu là người làm công tác báo chí như: phóng viên, biên tập viên, các trưởng ban, phó ban, thư ký tòa soạn, phó tổng biên tập, tổng biên tập, phó giám đốc, giám đốc, tổng giám đốc….Còn cơ quan báo chí thì theo Luật báo chí năm 1989 quy định “Cơ quan báo chí là cơ quan thực hiện một loại hình báo chí”
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật báo chí năm
1999 (Điều 3) thì Báo chí nói trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình,
Trang 31chương trình nghe nhìn - thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài [47]
1.1.8 Biến đổi khí hậu
Năm 2007, Ban liên chính phủ (IPCC) định nghĩa: BĐKH là
sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [48, tr.28]
Trong cuốn giáo trình “Biến đổi khí hậu” do Đặng Duy Lợi và Đào
Ngọc Hùng thực hiện đã đưa ra khái niệm về BĐKH như sau: “BĐKH (Climate Change): Sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài thường là vài thập kỉ hoặc hàng trăm năm và lâu hơn được gọi là biến đổi khí hậu” [14, tr.12]
Theo National Research Council – The National Acedemies: “BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm” [53]
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng
Khi bàn đến lý thuyết xã hội học TTĐC tức là nói đến các lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu TTĐC Dưới góc độ của xã hội học thì TTĐC được coi như là một quá trình xã hội Đó là quá trình truyền đạt thông tin một cách
Trang 32rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các kênh TTĐC như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử
Năm 1910, nhà xã hội học Max Weber đã chỉ rõ tác động của TTĐC tới
sự ổn định và phát triển của xã hội Ông đã luận chứng về mặt phương pháp luận cho sự cần thiết của môn Xã hội học báo chí và đưa ra phạm vi các vấn
đề nghiên cứu đó hướng vào các tập đoàn, các tầng lớp xã hội khác nhau, phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà báo, coi trọng phương pháp phân tích trên báo chí và phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con người Theo ông, “TTĐC là quá trình xã hội bởi nó có sự liên kết từ nhiều yếu
tố như: nguồn tin, thông điệp và người nhận và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Lập luận của ông chỉ rõ tác dụng của báo chí trong việc hình thành
ý thức quần chúng và vạch mối liên hệ của nhân tố này với hành động xã hội của các các cá nhân, các tầng lớp xã hội” [11, tr.20 - 21]
Cũng theo Trần Hữu Quang, ông cho rằng: TTĐC là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố: “Hoạt động truyền thông (chẳng hạn như đi săn tin, quay phim,chụp hình… rồi viết bài, biên tập, và cuối cùng là xuất bản, phát hành, hoặc phát sóng); các nhà truyền thông (bao gồm các tổ chức truyền thông như các tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình… và các phóng viên, biên tập viên…) và công chúng độc giả hoặc khán thính giả” [25, tr.17]
Trong cuốn sách “Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do
Nguyễn Văn Dững chủ biên đã định nghĩa về TTĐC như sau: “Từ phương diện kênh hay phương diện truyền thông, truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo vào công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) nhằm thông tin, chia sẻ, lôi kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế,văn hóa, xã hội đã và đang đặt ra” [7, tr.130]
Trang 33Đặc biệt muốn nhấn mạnh đến cơ chế tác động, hiệu quả và hiệu ứng
xã hội của TTĐC; bởi khi nhà truyền thông (ở đây cụ thể là nhà báo) hiểu và nhận thức được quy trình và cơ chế tác động của TTĐC sẽ giúp nhà báo kiểm soát được toàn bộ quy trình, hiệu quả của hoạt động TTĐC
Theo Nguyễn Văn Dững, mô hình cơ chế tác động của TTĐC
được diễn giải: “Xuất phát từ các sự kiện và những vấn đề của cuộc sống, từ nhu cầu, nguyện vọng của công chúng và mục đích truyền thông, nhà truyền thông lựa chọn sự kiện và vấn đề để thiết kế thông điệp…Thông điệp và sản phẩm truyền thông được mã hóa chuyển tải qua các kênh truyền thông, tác động vào ý thức quần chúng, công chúng xã hội, dư luận xã hội tạo ra hiệu ứng xã hội; trên cơ sở đó góp phần nâng cao nhận thức, mở rộng hiểu biết, thay đổi thái độ và hành vi của công chúng - nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu truyền thông và nhu cầu phát triển Những tích cực ấy
gọi là hiệu quả truyền thông Hiệu lực là năng lực tạo ra hiệu ứng
xã hội, khả năng thực tế gây nên những chấn động xã hội, thu hút
sự chú ý của công chúng và dư luận xã hội [7, tr.143]
Trong nghiên cứu, lý thuyết xã hội học TTĐC được áp dụng dưới góc
độ độ các nhà báo cần phải thấm nhuần quy trình và cơ chế TTĐC, trên cơ sở
đó, lựa chọn khi nào truyền thông về BĐKH và truyền thông như thế nào (từ khâu lựa chọn thông tin, thiết kế thông điệp, lựa chọn kênh truyền thông…)
để đạt được mục đích, hiệu quả và hiệu lực của truyền thông
1.2.2 Lý thuyết Hành động truyền thông chiến lược của J Harbermas
Jürgen Habermas sinh ngày18 tháng 6 năm 1929 tại Düsseldorf, tỉnh Rhine, nước Đức, là một nhà xã hội học theo chủ thuyết phê phán và chủ nghĩa thực dụng trong xã hội ho ̣c hiện đại Ông tập trung vào nghiên cứu các lĩnh vực công và hành động truyền thông duy lý Trên cơ sở đó phát triển lý
Trang 34thuyết xã hội học về truyền thông, nhận thức luận, quyền tự do dân chủ của con người trong xã hội hiện đại Habermas cho rằng chủ nghĩa tư bản đã lợi dụng địa vị thống trị của mình trong việc sử dụng và quản lý thông tin qua việc hợp pháp hóa các cơ quan truyền thông Việc tha hóa thông tin dẫn đến mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội hiện đại cũng tương tự như việc tha hóa lao động trong xã hội tư bản mà Mác đã đề cập đến Thông tin dẫn đến lợi nhuận
tư bản cùng với nền tự do và dân chủ kiểu tư bản cuối thế kỷ XX cũng giống như lợi nhuận mà nhà tư sản đã bóc lột từ lao động của người công nhân mà Mác đã phân tích Tuy nhiên Harbermas khác Mác ở chỗ ông không chỉ coi lao động như là quan hệ “có tính loài” hay quan hệ tư bản mà còn là loại quan
hệ duy lý mục đích và tương tác xã hội (truyền thông) Người nắm được “tin” sẵn sàng làm méo mó thông tin vì lợi ích của mình Khi nhà tư bản nắm quyền cai trị, họ sẽ hợp pháp hóa các thông tin đó trong truyền thông để nó trở thành cái chân lý, cái thật Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự méo mó trong truyền thông: thứ nhất là sự hợp lý hóa hành động truyền thông bởi hệ
tư tưởng tư bản; thứ hai là hợp lý hóa các phương tiện truyền thông tư bản Habermas kịch liệt phê phán sự bất bình đẳng và thiếu tự do dân chủ trong truyền thông Ông nhấn mạnh loại hành động truyền thông duy lý mục đích là loại truyền thông mà xã hội hiện nay sẽ tiến tới, tức là loại truyền thông trung thực, tự do, trong đó thông tin không bị bóp méo và mọi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật về việc đưa tin và sử dụng tin Hành động truyền thông cần được công khai, bình đẳng, không bị bóp méo và mọi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật về việc đưa tin cũng như s ử dụng tin Hành động duy lý mục đích được chia thành hai dạng khác nhau nhưng có mối liên
hệ mật thiết với nhau đó là hành động duy lý công cụ và hành động duy lý chiến lược hay gọi tắt là hành đ ộng chiến lược Hành động duy lý công cụ hướng vào công cụ để đạt mục đích; hành động duy lý chiến lược hướng vào
Trang 35việc tổ chức các đối tác để đạt mục đích Tức là chiến lược lựa chọn các đối tác cùng hành động, cùng sử dụng một loại phương tiện cụ thể để đạt mục đích Truyền thông trung thực chỉ diễn ra khi con người được quyền và có cơ hội như nhau trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông Ngoài ra, Habermas phân biệt hành động truyền thông và diễn thuyết (diễn ngôn) Hành động truyền thông diễn ra trong đời sống thường ngày; Diễn thuyết là hình thức truyền thông được rút ra từ những trải nghiệm, những tuyên bố về sự xác nhận có giá trị, những lời khuyên, nhận xét , bình luận , cảnh báo v.v Diễn thuyết có tạo ra sự đồng thuận trong công chúng hay không phụ thuộc vào bốn đặc điểm của hành động diễn thuyết sau: (1) Cách nói dễ hiểu; (2) Sự bày
tỏ một nhận định, một bình luận v.v, có độ trung thực đáng tin cậy; (3) Người nói là người đáng tin cậy, có uy tín; (4) Người phát ngôn có quyền trong lĩnh vực mình bình luận hay tuyên bố Với những quan điểm và phương pháp nghiên cứu xã hội học như trên, trong xã hội học phương Tây, người ta xếp Jürgen Habermas thuộc trường phái Mác xít vì ông đứng trên quan điểm lịch
sử và cấu trúc xã hội để phê phán nền chính trị xã hội tư sản đương thời [23]
Áp dụng lý thuyết Hành động truyền thông chiến lược của Harbermas vào luận văn để phân tích liệu các nhà truy ền thông coi BĐKH
là chủ đề có được quan tâm hay không; và nếu được quan tâm thì ý đồ, ý tưởng, mục đích, của các nhà truyền thông trong việc thiết kế và truyền tải các nội dung về BĐKH như thế nào để thu hút công chúng Các nhà truyền thông phối hợp các công cu ̣ truyền thông nào để đa ̣t tới chấ t lượng và hiê ̣u quả truyền thông BĐKH
1.2.3 Thuyết nhu cầu của Maslow
Lý thuyết thang bậc nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1907) người Mỹ là lý thuyết về sự phát triển cá nhân và động lực được công bố vào năm 1943 Theo A Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ
Trang 36mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân Theo bậc thang nhu cầu của A Maslow, các nhu cầu gồm có hai cấp: cấp cao và cấp thấp Cấp thấp gồm có nhu cầu sinh học và an ninh, an toàn Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng
và sự hoàn thiện Các nhu cầu này được chia thành 5 bậc từ thấp đến cao theo mức độ quan trọng của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người
Hình 1.1: Bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow
Bậc 1 Những nhu cầu về sinh học cơ bản: Là những nhu cầu
cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục…Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất trong thang nhu cầu của A Maslow
Bậc 2 Những nhu cầu về an ninh và an toàn: Khi con người
đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ có nhu cầu cao hơn… Đó là những nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình…Nhu cầu an ninh
và an toàn thể hiện cả thể chất và tinh thần Con người mong muốn
có sự bảo vệ cho sự sống của mình khỏi các nguy hiểm
Nhu cầu về
sự hoàn thiện
Nhu cầu được đánh giá, tôn trọng
Những nhu cầu được
thể hiệnNhững nhu cầu về an toàn, an
ninhNhững nhu cầu sinh học cơ bản
Trang 37Bậc 3 Những nhu cầu được thể hiện: Là những nhu cầu về tình
yêu, được chấp nhận, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay đoàn thể nào đó
Bậc 4 Những nhu cầu được đánh giá và tôn trọng: Theo A
Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận
là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin
Bậc 5 Những nhu cầu về sự hoàn thiện: Là những nhu cầu về
chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, mong muốn phát triển toàn diện
cả về thể lực và trí tuệ…[27, tr.78 - 85]
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow trong đề tài nghiên cứu nhằm chỉ ra nhu cầu thông tin của các nhà báo về BĐKH thuộc nhu cầu bậc cao Một trong các nhu cầu bậc cao ở đây, chính là nhu cầu được thể hiện, khẳng định bản thân, được tôn trọng trong nghề nghiệp Muốn vậy, các nhà báo phải thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình Đó chính là việc định hướng, thực hiện được các tác phẩm báo chí hay, có tính hiệu quả xã hội cao BĐKH toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng và khốc liệt Chính vì vậy, BĐKH là một trong các chủ đề được báo chí đề cập và phản ánh Bởi vậy, việc hiểu biết và nhu cầu thông tin về BĐKH của các nhà báo đã, đang
và sẽ là quan trọng và cần thiết đối với các nhà báo
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về biến đổi khí hậu
Nhận thức rõ những ảnh hưởng to lớn và nghiêm trọng do BĐKH gây
ra, Đảng và Nhà nước đã sớm quan tâm , có những chủ trương , chính sách, giải pháp để chỉ đạo ứng phó ki ̣p thời Đảng đã định hướng chỉ đạo trong các văn kiện, nghị quyết qua các kỳ Đại hội: Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X
Trang 38về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với mục tiêu tạo điều kiện sống an toàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và các vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai, chủ động triển khai một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với BĐKH toàn cầu; Nghị quyết số 13- NQ/TW ngày 16/11/2012 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại với quan điểm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải gắn với tiết kiệm đất canh tác, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và ứng phó với BĐKH Tại Đại hội lần thứ XI của Đảng, Văn kiện Đại hội đã có những định hướng rõ nét chỉ đạo công tác ứng phó với BĐKH Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhận định: “Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người Đó
là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH toàn cầu…, đồng thời cũng định hướng cụ thể:
“Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội
và nghĩa vụ của mọi công dân Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình BĐKH và thảm họa thiên nhiên Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia” Nghị quyết số 24/NQ/TW ngày 03/06/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH tăng cường và bảo vệ tài nguyên môi trường Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã nêu rõ quan điểm “Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với BĐKH”, với mục tiêu phát triển “Hạn chế tác tại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với BĐKH, nhất là nước biển
Trang 39dâng”… Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 coi BĐKH là vấn
đề cấp bách liên quan đến vận mệnh của xã hội loài người, ảnh hưởng toàn diện đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường nước ta,
đã định hướng công tác chủ động ứng phó có hiệu quả với BĐKH, phòng, chống thiên tai là “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, BĐKH và đánh giá tác động để chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và Chương trình quốc gia về ứng phó với BĐKH, nhất là nước biển dâng Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế” [33, tr.205 – 208]
Nhận thức được tầm quan trọng trước những thách thức về tác động của BĐKH,Việt Nam luôn là một quốc gia đi đầu trong việc tham gia và thực hiện các hiệp ước quốc tế nhằm giảm nhẹ tác hại BĐKH Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc (UNFCCC) tháng 11 năm 1994 và phê chuẩn Nghị định thư Kyoto tháng 9 năm 2002 Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao làm cơ quan đầu mối của Chính phủ tham gia và thực hiện Nghị định thư Kyoto [48, tr.312] Tại Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 4/3/2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao là cơ quan quản lý nhà nước về BĐKH, Cục Khí tượng thủy văn và BĐKH là cơ quan tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý, điều phối các vấn đề liên quan đến BĐKH
Trong khuôn khổ của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, bộ máy tổ chức thực hiện Chương trình gồm Ban Chỉ đạo quốc gia, Ban Chủ nhiệm và Văn phòng Chương trình; ở địa phương, có Văn phòng Chương trình của tỉnh Để tăng cường công tác chỉ đạo, điều phối liên ngành thực hiện các chiến lược, chương trình, đề án, dự án liên quan đến BĐKH, Ủy ban Quốc gia về BĐKH được thành lập theo Quyết định số 43/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài và Môi trường là cơ quan thường
Trang 40trực của Ủy ban Quốc gia Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy, Quốc hội và Chính phủ đã sớm xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với BĐKH như: Luật đê điều, Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ phát triển rừng, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Pháp lệnh phòng, chống lụt bão; Pháp lệnh khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi; Pháp lệnh bảo vệ công trình khí tượng thủy văn; Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2020; Quyết định số158/2008/QĐ-TTgngày 2/2/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Chương trình đã trở thành định hướng và chiến lược cơ bản quốc gia để ứng phó với BĐKH Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH được thực hiện trên phạm vi toàn quốc theo ba giai đoạn: giai đoạn khởi động (2009 - 2010), giai đoạn triển khai (2001 - 2015) và giai đoạn phát triển (sau 2015); Quyết định số 1474/QĐ-TTg ngày 5/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH; Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5/12/2011của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH [33, tr.209 – 211]
1.4 Vai trò của các cơ quan truyền thông đại chúng trong truyền thông về biến đổi khí hậu
BĐKH là vấn đề mang tính toàn cầu, một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, giải pháp để chỉ đạo ứng phó Việc nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm về ứng phó với BĐKH là trách nhiệm trước hết của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mọi tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân Công tác thông tin, tuyên truyền ứng phó với BĐKH trong thời gian qua đã được triển khai với nhiều