1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh thái nguyên hiện nay

77 28 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 626,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các công trình trên chỉ nghiên cứu ở phạm vi chung trên cả nước hoặc ở các địa phương khác, chưa có công trình ngiên cứu cụ thể nào về quản lý xã hội đối với hoạt động khai thá

Trang 1

Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: ThS TRẦN THÁI HÀ

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực Những kết luận trong khóa luận chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

TÁC GIẢ KHÓA LUẬN

Lường Thị Duyên

Trang 3

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI

HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN 7

1.1 Một số khái niệm liên quan 7 1.2 Nội dung và các chủ thể quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản 13 1.3 Nguyên tắc và vai trò quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản 18

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 22

2.1 Khái quát về tỉnh Thái Nguyên 22 2.2 Thực trạng quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nhuyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay 29

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 52

3.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản 52 3.2 Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay 55

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước Việt Nam có vị trí địa lý, địa chất độc đáo, nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn là Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh các quá trình phong hóa thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các nguồn tài nguyên Do đó, Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú bao gồm các loại như: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, tài nguyên du lịch…Trong đó tài nguyên khoáng sản đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước… Vì vậy việc quản lý các hoạt động khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản, là hết sức cần thiết

Nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, tỉnh Thái Nguyên có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú Hiện có khoảng 34 loại hình khoáng sản phân bố tập trung ở các vùng lớn như: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Trại Cau (Đồng Hỷ), Thần Sa (Võ Nhai)…với trữ lượng lớn khoảng 84,6 triệu tấn Trong đó có một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn như: trữ lượng than lớn thứ 2 trong các tỉnh thành trên cả nước bao gồm cả than mỡ và than đá (than mỡ có khoảng trên 15 triệu tấn, than đá có tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn); quặng Titan có tổng trữ lượng khoảng 19,83 triệu tấn chiếm 30% trữ lượng của cả nước Đặc biệt Thái Nguyên là tỉnh duy nhất trong cả nước có mỏ quặng gốc titan (mỏ Cây Châm); riêng mỏ Núi Pháo trên địa bàn huyện Đại Từ được các cơ quan chuyên môn đánh giá có trữ lượng Vonfram khoảng 21 triệu tấn lớn thứ 2 trên thế giới sau một mỏ tại Trung Quốc Ngoài ra tỉnh Thái Nguyên còn có trữ lượng Flo lớn nhất thế giới khoảng 19,2 triệu tấn và trữ lượng đáng kể bismuth, đồng, vàng và một số kim loại khác Sự phong phú về tài nguyên khoáng sản trong đó có gồm nhiều loại hình có ý nghĩa như sắt, than đá đã tạo cho Thái Nguyên một lợi

Trang 5

thế so sánh lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng Đây là thế mạnh đưa Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp lớn của cả nước

Trong những năm qua việc khai thác và chế biến tài nguyên khoáng sản

đã góp phần đưa tỉnh Thái Nguyên phát triển nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của vùng Đông Bắc Việt Nam Tuy nhiên tình trạng khai thác khoáng sản chưa bền vững và những bất cập trong quản lý tài nguyên đang dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên, hủy họa môi trường, làm mất cân bằng hệ sinh thái, đặc biệt là ở những địa phương có các điểm mỏ

Vấn đề cấp thiết đặt ra là phải có các phương hướng cũng như những giải pháp hợp lý để các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản đạt hiệu quả cao nhất và bền vững cả về kinh tế-xã hội cả về môi trường, môi sinh

Với những lý do trên em chọn đề tài “Quản lý xã hội đối với hoạt động

khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Khai thác tài nguyên khoáng sản là một hoạt động rất đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước Vì vậy, quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Hiện nay dưới những góc độ khác nhau có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này

Từ tháng 9 năm 2003 đến tháng 9 năm 2005 nhóm nghiên cứu thuộc

khối cơ quan của Đại học Thái Nguyên đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh

hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản tới du lịch sinh thái ở lưu vực sông Công, tỉnh Thái Nguyên” do tác giả Trần Viết Khánh chủ nhiệm Nhóm

nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản tới

du lịch sinh thái ở lưu vực sông Công, trong đó đưa ra ảnh hưởng lớn nhất đó

Trang 6

là về ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm nguồn nước gây ra hậu quả xấu đến các hoạt động du lịch

Viện Tư vấn phát triển, Tổng hội địa chất Việt Nam, tiến hành

nghiên cứu đánh giá “Thực trạng về quản lý khai thác và sử dụng tài

nguyên khoáng sản Việt Nam” và đưa ra báo cáo cụ thể về vấn đề này

Báo cáo chỉ rõ: “Bên cạnh những đóng góp tích cực, ngành khai thác khoáng sản cũng đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, tiêu cực, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động khoáng sản trên phạm vi cả nước Nhiều quy định của Luật Khoáng và phương thức tổ chức thực hiện không còn phù hợp, một số vấn đề phát sinh trong hoạt động khoáng sản chưa được điều chỉnh theo chủ trương mới của Đảng và Nhà nước; chưa tương thích với một số luật liên quan khác đã được điều chỉnh hoặc ban hành mới như Luật Bảo

vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai… và chưa phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia” Qua đó đóng góp thêm những luận cứ khoa học, phân tích thực tiễn về ngành khai thác khoáng sản cho các cơ quan quản lý Nhà nước và Quốc hội, đặc biệt trong bối cảnh Luật khoáng sản sửa đổi, bổ sung

Tác giả Phạm Chung Thủy tiến hành đề tài “Pháp luật về hoạt động

khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam” (Luận văn Thạc sĩ ngành

Luật kinh tế bảo vệ năm 2012) Tác giả tiến hành nghiên cứu làm rõ cơ sở

lý luận về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản và điều chỉnh pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật hiện hành

về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản

Trang 7

Nhìn chung những đề tài hay nghiên cứu trên đều có chung đối tượng

là các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở các lĩnh vực khác nhau là khai thác, chế biến hoặc sử dụng Tuy nhiên các công trình trên chỉ nghiên cứu ở phạm vi chung trên cả nước hoặc ở các địa phương khác, chưa có công trình ngiên cứu cụ thể nào về quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên

Đề tài “Quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng

sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” sẽ hệ thống hóa những vấn đề lý luận về

quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, chỉ ra thực trạng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, khóa luận phải thực hiện

ba nhiệm vụ sau:

Một là: làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý xã hội đối với hoạt

động khai thác tài nguyên khoáng sản

Hai là: phân tích, đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên khoáng sản

ở tỉnh Thái Nguyên và công tác quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn

Ba là: kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác

quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu đối với những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu hoạt động của các chủ thể trong quản lý xã hội đối với việc khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến tháng 4 năm 2015

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Cơ sở lý luận

Khóa luận được nghiên cứu, thực hiện trên cơ sở quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học quản lý, quản lý xã hội và quản lý nhà nước trên

các lĩnh vực của đời sống xã hội

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích – tổng hợp Phương pháp thu thập thông tin là: nghiên cứu; phân tích tài liệu quá khứ; phân tích báo cáo qua các thời kì, các năm, báo cáo tổng kết; quan sát trực tiếp…

6 Giá trị lý luận và thực tiễn

Trên cơ sở kế thừa những công trình đã nghiên cứu cùng với việc thu thập, phân tích,quan sát và tổng hợp những vấn đề có liên quan, khóa luận có những đóng góp mới đó là:

Về giá trị lý luận: trên cơ sở các kiến thức chuyên ngành quản lý và

khoáng sản, khóa luận đã đưa ra một số cơ sở lý luận về quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý cho các chủ thể

Về giá trị thực tiễn: khóa luận đánh giá những thành tựu, hạn chế trong

quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái

Trang 9

Nguyên, phân tích nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó và đề ra một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản nói chung, hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng Khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành quản lý xã hội

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý xã hội đối với hoạt động

khai thác tài nguyên khoáng sản

Chương 2: Thực trạng quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài

nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý xã

hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Quản lý và quản lý xã hội

* Quản lý

Quản lý là một dạng lao động xuất hiện rất sớm trong lịch sử, là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người nhằn hướng tới mục tiêu đã đề ra

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả đã đưa

ra những quan điểm khác nhau về quản lý như sau:

Henrry Fayol, một nhà quản lý và lý thuyết gia về quản trị, người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và người có tầm ảnh hưởng to lớn trong

lịch sử tư tưởng quản lý thời kỳ cận – hiện đại tới nay quan niệm rằng: Quản

lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.[17,tr.24]

Theo Hard Koont: Quản lý là xây dụng và duy trì một môi trường tốt

gúp con người hoàn thành hiệu quả mục tiêu đề ra

Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển

Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực.[7,tr.33]

Ngoài ra còn rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý như:

Trang 11

Từ điển Tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học định nghĩa: “Quản lý là trông

coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.[16,tr.772]

Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốc

gia chỉ rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và

hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý”.[8,tr.8]

Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có

hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu

đã đề ra”.[9,tr.15]

Một cách tổng quát, quản lý là quá trình “tổ chức và điểu khiển các

hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và

lao động Quản lý là một lĩnh vực rộng, đa dạng, phức tạp và luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội ở những giai đoạn nhất định

Từ những quan niệm trên có thể rút ra định nghĩa về quản lý như sau:

“Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, theo những quy trình khác nhau, nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong những điều kiện biến động khác nhau của môi trường”

Qua đó thấy rằng quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, đó là mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, là sự tác động có ý thức và tác động bằng quyền lực Quản lý là sự tác động theo chu trình bởi sự phối hợp giữa các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung

và nó tồn tại trong môi trường luôn biến đổi

* Quản lý xã hội

Quản lý xã hội là những tác động có ý thức của chủ thể xã hội – cá nhân hoặc tổ chức vào xã hội nhằm sắp xếp và duy trì các phẩm chất đặc thù của xã hội, đáp ứng sự tồn tại và phát triển của xã hội trong tất cả các lĩnh vực

Trang 12

hoạt động của nó như lao động, học tập, văn hóa, chính trị, tôn giáo và các công tác xã hội khác

Trong tất cả các hoạt động quản lý, quản lý xã hội là hoạt động phức tạp nhất Bởi đối tượng của quản lý xã hội rất đa dạng và luôn vận động Do

đó yêu cầu cần huy động các chủ thể khác nhau trong xã hội tham gia vào quá trình quản lý

Quản lý xã hội là một quy trình bao gồm những yếu tố cơ bản: đối tượng quản lý, chủ thể quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, môi trường quản lý… Các nhân tố này có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau để hình thành nên những quy luật và tính quy luật trong quản lý xã hội

Đối tượng quản lý xã hội là con người với các hoạt động và các quan

hệ của cộng đồng các con người trong xã hội, cùng các tài nguyên khác ngoài

con người

Chủ thể quản lý xã hội là hệ thống những người quản lý; cộng động người

có tổ chức được giao cho các cơ quan chức năng nhằm thực hiện các tác động bằng quản lý Sự đặc thù của chủ thể quản lý xã hội được quy định bởi tính chất tác động của nó, sự tác động hướng vào con người và do con người thực hiện

Khách thể của quản lý xã hội là hệ thống xã hội được quản lý mà các

yếu tố là xã hội, nhóm xã hội, các nhóm xã hội tác động qua lại với nhau nhằm thực hiện lợi ích chung và riêng

Công cụ quản lý xã hội làt ng th nh ng ph ng ti n h u hình và

vô hình mà các ch th qu n lý s d ng đ tác đ ng lên m i ch th trong xã h i nh m th c hi n m c tiêu qu n lý Để quản lý xã hội, Nhà nước phải sử dụng nhiều công cụ khác nhau như chính sách, pháp luật, kế hoạch kết hợp với văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc để biến đường lối, chính sách thành hiện thực; làm cho dân tin và ủng hộ; ý định của chủ thể quản lý phải là mong muốn của đối tượng quản lý thông qua việc cấu trúc xã hội một cách hợp lý; có một cơ chế sử dụng nhân lực và tài

Trang 13

nguyên, các mối quan hệ đối ngoại thuận lợi, đặc biệt là cơ chế sử dụng nhân tài; với phương pháp, hình thức, nghệ thuật quản lý thích hợp nhất

Phương pháp quản lý xã hội là phương thức hay tổng thể các thủ thuật,

các phương sách, các quy trình chuẩn bị và thông qua, tổ chức và giám sát

thực hiện các quyết định quản lý Để quản lý xã hội đạt hiệu quả, cần vận

dụng kết hợp các phương pháp khác nhau phù hợp với từng đối tượng như phương pháp hành chính, phương pháp cưỡng chế, phương pháp thuyết phục, phương pháp tự quản lý

1.1.2 Tài nguyên, tài nguyên khoáng sản và quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

* Khái niệm tài nguyên

Tài nguyên là thuật ngữ được dùng với nhiều nghĩa khác nhau Với tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, khái niệm tài nguyên được mở rộng ra nhiều lĩnh vực hoạt động của con người

Theo nghĩa rộng: tài nguyên bao gồm tất cả các yếu tố tự nhên có giá trị, thông tin trên trái đất và trong vũ trụ có liên quan mà con người có thể sử dụng cho mục đích tồn tại và phát triển của mình

Theo nghĩa hẹp: tài nguyên là nguồn vật chất tự nhiên mà con người dùng nó làm nguyên liệu, nhiên liệu cho các hoạt động chế tác của mình

Trong khuôn khổ để tài chỉ xem cét tài nguyên với ý nghĩa tài nguyên thiên nhiên

Luật Khoáng sản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2010 đã chỉ rõ: Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự

nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm

cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ

* Khái niệm tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày

Trang 14

Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản, tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống và đối với tự nhiên.[26]

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tài nguyên khoáng sản Việt Nam được đánh giá là rất phong phú và đa dạng do đặc điểm địa hình và khí hậu như: đá vôi, cát, đất sét, sắt, dầu khí, đồng…trong đó một số loại có trữ lượng lớn như than đá với trữ lượng và chất lượng cao nhất khu vực Đông Nam Á Bên cạnh một số loại khoáng sản kể trên thì những khoáng sản khác

có trữ lượng nhỏ và phân tán

* Sự hình thành tài nguyên khoáng sản Việt Nam

Đối với các mỏ nội sinh thì mỗi vận động tại núi lửa và núi uốn nếp đều có một số khoáng sản đặc trưng Đồng thời tính chất của mỗi dung nham, mafic, felsic và các đất đá mà dung nham xuyên qua rồi làm biến chất do tiếp xúc và trao đổi cũng có vai trò quan trọng Các đứt gãy hoạt động như những kênh dẫn vì thế mỏ thường tập trung ở các đứt gãy lớn mà ở Việt Nam là đứt gãy Cao Bằng – Lạng Sơn, đứt gãy đồng Mỏ - Thái Nguyên, đứt gãy sông Hồng, đứt gãy sông Cả… Các vùng bị siết ép mạnh khi xảy ra vận động uốn nếp cũng là nơi tập trung mỏ như vùng giữa sông Cầu và sông Gấm, giữa sông Đà và sông Mã

Đối với mỏ ngoại sinh, quan trọng nhất là than và dầu khí Than đá Quảng Ninh có nguồn gốc biển cạn, bị biến chất mạnh thành antraxit Than nâu hình thành tại các vũng hồ đệ tam, than bùn hình thành tại các đầm lầy

đệ tứ Dầu mỏ và khí đốt tập trung tại các trầm tích đệ tam tại các vùng trũng sông Hồng, sông Cửu Long và thềm lục địa, nhất là thềm lục địa Nam Bộ

* Phân loại tài nguyên khoáng sản

Theo chức năng sử dụng, khoáng sản được chia thành 3 nhóm lớn: + Khoáng sản kim loại

+ Khoáng sản phi kim loại

Trang 15

+ Khoáng sản cháy: than (than đá, than nâu, than bùn), dầu mỏ (dầu

+ Thủy khoáng bao gồm: nước khoáng và nước ngọt ngầm dưới đất + Nhiên liệu khống – hóa bao gồm: apatit và các muối khoáng khác như: photphat, barit, borat

Theo trạng thái vật lý có thể phân chia khoáng sản như sau:

+ Khoáng sản rắn: quặng kim loại đen, kim loại màu, đá…

+ Khoáng sản lỏng: dầu mỏ, nước khoáng

+ Khoáng sản khí: khí đốt, khí trơ

* Quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Xuất phát từ khái niệm quản lý xã hội có thể định nghĩa: quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản là sự tác động có ý thức, có

tổ chức, có định hướng của các chủ thể quản lý thông qua các công cụ như chế tài, thiết chế xã hội… nhằm phòng tránh, ngăn chặn những tác động tiêu cực tới tài nguyên khoáng sản, bảo vệ, phát triển khoáng sản phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội

Trang 16

1.2 Nội dung và các chủ thể quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

1.2.1 Nội dung quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Một là, xây dựng và ban hành chủ trương chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên khoáng sản

Đây là nội dung quan trọng, xây dựng chủ trương chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật là xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động khai thác và

sử dụng tài nguyên khoáng sản

Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào

đó của các chủ thể quản lý, bao gồm các mục tiêu mà các chủ thể quản lý muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu của chính sách bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường

Chính sách về quản lý các hoạt động khai thác khoáng sản là tập hợp các chủ trương và hành động của các chủ thể quản lý nhằm tạo ra sự phát triển bằng cách tác động vào các hoạt động như: thực hiện thăm dò, cấp phép khai thác,tính tiền cấp quyền trong khai thác, chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường trong khai thác…

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản chứa đựng những quy tắc, chuẩn mực mang tính pháp lý do nhà nước ban hành theo thủ tục luật định và đảm bảo thực hiện trên thực tế nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Bao gồm các văn bản như: Hiến pháp, Luật, bộ Luật, các văn bản dưới luật khác như Nghị định, Nghị quyết, Thông tư, Chỉ thị… Các văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo tính khoa học toàn diện, khả thi và tránh chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau

Trang 17

Hai là, kiện toàn bộ máy quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác quản lý và thực hiện các nhiệm vụ trong hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản đề ra

Các cơ quan quản lý thực hiện giáo dục, bồi dưỡng kiến thức nhằm nâng cao trình độ quản lý và trình độ chuyên môn, kĩ thuật cho đội ngũ người làm công tác quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, tăng cường

cơ sở vật chất kĩ thuật cho cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản

Ba là, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật đã ban hành

Các cơ quan quản lý tiến hành các hoạt động nhằm hiện thực hóa, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách đó trên thực tế

Ban chỉ đạo và các tổ chuyên viên về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tổ chức và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn các địa phương thực hiện và thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên khoáng sản thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và các văn bản liên quan đến lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản cần được tiến hành đa dạng hóa dưới nhiều hình thức, thực hiện tốt các chương trình phối hợp trong công tác tuyên truyền của

cơ quan chuyên môn quản lý tài nguyên khoáng sản với các ban ngành, đoàn thể, chính trị - xã hội, kịp thời cung cấp thông tin về tài nguyên khoáng sản cho mọi tầng lớp nhân dân để biết nhận thức về bảo vệ tài nguyên khoáng sản thành ý thức tự giác thường trực và hành động cụ thể của mọi cấp, mọi ngành, mỗi doanh nghiệp và mỗi người dân Việc thực hiện đưa các nội dung bảo về tài nguyên khoáng sản vào hệ thống nội dung giáo dục quốc dân phải được đẩy mạnh

Trang 18

Các chương trình truyền thông bảo vệ tài nguyên khoáng sản được phát rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, các trang thông tin điện tử của tỉnh, huyện

Bốn là, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định, chủ trương chính sách đã ban hành; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Thực hiện nội dung này nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý kịp thời những vi phạm trong lĩnh vực quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Đây chính là các hoạt động nhằm đảm bảo pháp chế trong quản lý xã hội Quản lý mà không có thanh tra, kiểm tra sẽ tạo điều kiện cho những sai sót phát sinh và khi phát hiện ra những việc làm sai trái nếu không xử lý nghiêm minh kịp thời thì hậu quả là khó lường trước

Tiến hành tổng kết những kết quả đã đạt được, nhận thức rõ những hạn chế còn tồn tại đánh giá ưu điểm, nhược điểm từ đó đưa ra phương hướng và biện pháp thực hiện

1.2.2 Các chủ thể quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Hiện nay, để quản lý tài nguyên và môi trường nói chung, quản lý tài nguyên khoáng sản nói riêng, ở nước ta đã thiết lập và ngày càng hoàn thiện

hệ thống các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương

Thứ nhất, Đảng cộng sản Việt Nam

Chủ thể quản lý xã hội đối với công tác quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản rất đa dạng, phong phú Trong đó, Đảng cộng sản Việt Nam là chủ thể quan trọng nhất, giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho hoạt động khai thác khoáng sản Đảng thực hiện vai trò chỉ đạo, định hướng của mình trong hoạt động khai thác khoáng sản trên các nội dung sau: ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị và các văn bản khác nhằm triển khai hoạt động khai

Trang 19

thác khoáng sản với những mục tiêu và phương thức thực hiện phù hợp với điều kiện hoàn cảnh xã hội, đất nước; bố trí phân công cán bộ trực tiếp chỉ đạo hoạt động khai thác khoáng sản; tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên

và toàn dân tham gia hoạt động khai thác khoáng sản; kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, chương trình về hoạt động khai thác khoáng sản

Thứ hai, Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp

Theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý tài nguyên khoáng sản trên phạm vi cả nước

Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý tài nguyên khoáng sản tại địa phương Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý tài nguyên khoáng sản được quy định cụ thể trong luật khoáng sản

Thứ ba, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan chuyên môn trực thuộc

Do yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường phù hợp với xu thế phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, Quốc hội đã quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường nói chung, tài nguyên khoáng sản nói riêng

Thủ tướng chính phủ đã ký Nghị định số 91/2002/NĐ-CP về “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường”

“Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng, thủy văn, đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước ”

Trong cơ cấu của Bộ Tài nguyên và Môi trường có Cục quản lý tài nguyên khoáng sản thực hiện chức năng chuyên môn quản lý tài nguyên khoáng sản

Trang 20

Sở Tài nguyên và Môi trường ở cấp tỉnh và Phòng Tài nguyên và Môi trường ở cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản ở địa phương theo quy định của luật khoáng sản

Thứ tư, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc

Ngoài Đảng cộng sản Việt Nam, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường là các cơ quan chủ chốt giữ vai trò quan trọng, việc quản lý hoạt động khai thác khoáng sản còn có sự tham gia quản lý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mình Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết nhân dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, Pháp luật, giám sát hoạt động của nhà nước, đại biểu hội đồng nhân dân, cán bộ, viên chức nhà nước

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các thành viên của tổ chức, gia đình và nhân dân tham gia bảo vệ tài nguyên khoáng sản

Các chủ thể khác:

Ngoài các cơ quan chính thực hiện chức năng quản lý tài nguyên khoáng sản đã nêu trên, do tài nguyên khoáng sản gắn với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau cho nên việc quản lý tài nguyên khoáng sản do nhiều cơ quan cùng phối hợp thực hiện như cơ quan quản lý về nông

nghiệp, công nghiệp

Ngoài các cơ quan Nhà nước là lực lượng chủ yếu tiến hành quản lý tài nguyên khoáng sản, pháp luật về tài nguyên và môi trường còn quy định “Các tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch

Trang 21

vụ có chất thải nguy hại hoặc tiểm ẩn gây ra sự cố môi trường phải có bộ phận chuyên môn hoặc cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường”

Hiện nay Nhà nước đang có những chính sách thúc đẩy và khuyến khích các tổ chức, cộng đồng dân cư tham gia tích cực và tự nguyện vào việc

quản lý và bảo vệ tài nguyên khoáng sản

1.3 Nguyên tắc và vai trò quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

1.3.1 Nguyên tắc quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài Nguyên khoáng sản

Vận dụng các nguyên tắc quản lý xã hội nói chung, việc quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Một là, nguyên tắc về sự phát triển của hệ thống quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Nguyên tắc này chỉ rõ sự thay đổi thường xuyên của hệ thống quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, do sự mở rộng các mối quan hệ của nó với những hệ thống khác thường xuyên nảy sinh gây ra Nguyên tắc này đòi hỏi xem xét các vấn đề quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản không những về mặt logic, mà còn tính đến yếu tố kế thừa Đồng thời phản ánh sự chuyển biến từ những hình thức quản lý cũ sang những hình thức quản lý mới hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tiễn tình hình quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Hai là, nguyên tắc về mối liên hệ, tác động qua lại và quy định lẫn nhau của chủ thể và khách thể quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Một đặc điểm của hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản là lợi ích của con người được nhận thức trên những cơ sở và xu hướng khách quan của

sự phát triển xã hội và thực hiện lợi ích ấy có liên quan đến sự nhận thức đầy

đủ những điều kiện hoạt động khách quan Trong những hoạt động quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, bao giờ cũng có yếu tố chủ quan,

Trang 22

những yếu tố ấy chỉ phát huy đầy đủ và mạnh mẽ khi nào nhận thức được những quy luật khách quan của khách thể

Ba là, nguyên tắc về quan hệ cụ thể - lịch sử với quá trình quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Phải xem xét quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản không phải là công việc diễn ra độc lập mà nó còn nằm trong mối liên hệ với sự phát triển kinh tế bền vững Chỉ có thể nhận thức đúng quá trình quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản khi tính đến điều kiện phát triển của nó một cách đầy đủ Trong khi nhấn mạnh tính cụ thể của nhận thức về quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, lưu ý tới thay đổi thường xuyên của những điều kiện chủ quan, tới sự thay đổi của những quy luật phát triển của những hiện tượng gắn liền với sự thay đổi của hiện tượng ấy

Bốn là, nguyên tắc quan điểm tổng hợp đối với việc nghiên cứu quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Quan điểm tổng hợp đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý xã hội một cách khoa học, không có quan điểm tổng hợp thì không thể giải quyết được những vấn đề quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản hiện đại hơn Quan điểm này đòi hỏi phải xây dựng và áp dụng rộng rãi khoa học

về quản lý xã hội về khai thác tài nguyên khoáng sản khoa học, có tính tổng hợp cao

Năm là, nguyên tắc phản ánh

Trong quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản thì nguyên tắc này thể hiện tác dụng quyết định của tiến trình phát triển xã hội khách quan với chủ thể Coi thường nguyên tắc phản ánh khách quan sẽ dẫn tới chủ nghĩa chủ quan trong quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Sáu là, nguyên tắc thừa nhận tính chất biện chứng của quy luật phát triển khách quan về quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Nguyên tắc này có tính chất thế giới quan, vạch rõ tính tất yếu của việc chuyển lên một hình thức quản lý cao hơn, nguyên tắc này cho phép

Trang 23

thấy rõ biện chứng cũng như những biện pháp của việc chuyển lên hình thức mới ấy, đồng thời cũng chỉ rõ vai trò của những tập thể lao động và

tổ chức xã hội trong quá trình quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Những nguyên tắc phương pháp luận chung của quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản luôn vận động Chúng phát triển cùng với sự phát triển của nhận thức các hiện tượng và quá trình quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, cùng với sự mở rộng phạm vi quản lý tác động tự giác đối với sự phát triển của xã hội, cũng như cùng với sự thay đổi thường xuyên của bản thân xã hội và góp phần quan trọng trong sự phát triển của những nguyên lý quản lý ấy

1.3.2 Vai trò của quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài nguyên khoáng sản trong đời sống xã hội đặc biệt là vai trò đối với sự phát triển kinh tế để nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước, do đó quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản là vấn đề thiết yếu Vai trò quan trọng của quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản đó là:

Một là, quản lý xã hội góp phần định hướng chiến lược, quy hoạch tổng

thể về khai thác khoáng sản Việc định hướng chiến lược, quy hoạch tổng thể của các cơ quan quản lý về khai thác khoáng sản có vai trò hết sức quan trọng

để đảm bảo việc quản lý khai thác hợp lý, tiết kiệm, phân bố sản lượng khai thác theo từng vùng một cách có cân đối Vai trò này giúp cho việc cấp phép khai thác cho các doanh nghiệp được phân bố hợp lý, tránh mất cân đối giữa các vùng trong khai thác

Hai là, quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác khoáng sản có vai trò

to lớn trong việc chỉ cho phép khai thác những mỏ đã được đánh giá về địa chất, tác động môi trường, trữ lượng, chất lượng, không làm ảnh hưởng đến

Trang 24

cảnh quan thiên nhiên, môi trường, an ninh quốc phòng và di sản văn hóa Vai trò của quản lý xã hội giúp cho việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên và môi trường trong khai thác khoáng sản được thực hiện hợp lý, tiết kiệm, chủ động, có kế hoạch

Ba là, các cơ quan quản lý xã hội sẽ giúp cho việc hiện thực hóa đường

lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về khai thác khoáng sản được tiến hành có hiệu quả trên thực tế

Bốn là, quản lý xã hội trong khai thác khoáng sản sẽ góp phần đảm bảo

quyền và lợi ích của người dân trong việc tiến hành các hoạt động khai thác, bảo vệ con người và bảo vệ môi trường ở khu vực có khoáng sản khai thác Bên cạnh đó, quản lý xã hội sẽ thanh tra và xử lý nghiêm minh những hành vi

vi phạm các quy định trong hoạt động khai thác khoáng sản của các tổ chức,

cá nhân

Do giá trị kinh tế cao nên hiện nay tài nguyên khoáng sản đang bị khai thác quá mức dẫn đến tình trạng bị cạn kiệt và hủy hoại môi trường Vì vậy việc quản lý xã hội đối với các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản có vai trò quan trọng không chỉ trong tăng trưởng và phát triển kinh tế mà còn có

ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ, giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá này, đồng thời giữ vững sự ổn định về chính trị của quốc gia cũng như đảm bảo công bằng trong đời sống xã hội

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

2.1 Khái quát về tỉnh Thái Nguyên

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội

Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số gồm 180 xã, trong đó có khoảng 120 xã vùng cao và miền núi còn lại là các xã đồng bằng và trung du

Với vị trí thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km, cách biên giới Trung Quốc 200km, cách trung tâm Hà Nội 75km và cảng Hải Phòng 200km, Thái Nguyên là điểm nút giao lưu qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ

3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn, Cao Bằng và cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc, quốc lộ 1B Lạng Sơn, quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang; hệ thống đường sông

Đa Phúc – Hải Phòng; đường sắt Thái Nguyên – Hà Nội – Lạng Sơn

* Đặc điểm tự nhiên

Về địa hình:

Thái Nguyên có địa hình đặc trưng là đồi núi xen kẽ với ruộng thấp, chủ yếu là núi đá vôi và đồi dạng bát úp Địa hình không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác Địa hình là một lợi thế của Thái Nguyên

Trang 26

trong canh tác nông lâm nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác

Về khí hậu:

Thái nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến hết tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2000mm đến 2500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Vào mùa đông khí hậu được chia thành 3 vùng rõ rệt: vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai; vùng lạnh vừa nằm ở huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai; vùng ấm gồm các huyện Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9oC) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2oC) là 13,7oC Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Nhìn chung, khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp

Về đất đai:

Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả năng để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, công nhiệp, du lịch và các loại hình dịch vụ khác Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, điện tích rừng trồng khoảng 44.450 ha, đây là một lợi thế to lớn trong việc phát triển phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 23% diện tích đất

tự nhiên, cây trồng chủ yếu là cây chè, ngoài sản xuất lương thực, tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, chăn nuôi bò sữa

Thái Nguyên là vùng đất thích hợp để phát triển cây chè, chè Thái Nguyên đặc biệt là chè Tân Cương từ lâu là đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước Toàn tỉnh hiện có 15.000 ha chè đứng thứ 2 cả nước sau tỉnh Lâm Đồng, trong đó có trên 12.000 ha chè kinh doanh, hàng năm cho sản lượng khoảng

Trang 27

trên 70.000 tấn búp chè tươi Đất trồng cây ăn quả của tỉnh hiện có khoảng trên 15.000 ha, có thể phát triển các loại cây như vải, mơ, cam, quýt…

Tỉnh Thái Nguyên có hai con sông chính chảy qua địa phận là sông Công, sông Cầu và chịu ảnh hưởng lớn về chế đội thủy văn của hai con sông này

* Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.562,82km2 , dân số khoảng 1,2 triệu người trong đó có 08 dân tộc là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chí, H’mông, Sán Chay, Hoa, Dao

Thái Nguyên được cả nước biết đến là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 trên cả nước sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh với 6 trường Đại học, 11 trường Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề, mỗi năm đào tạo được khoảng 100.000 lao động

Là một trung tâm y tế của vùng Đông Bắc với 01 bệnh viện đa khoa trung ương, 09 bệnh viện cấp tỉnh và 14 trung tâm y tế cấp huyện Là một nơi

có nhiều địa danh du lịch lịch sử, sinh thái – danh thắng, có nhiều danh thắng lớn như Hồ Núi Cốc, hang Thần Sa – Thác mưa bay, hồ thủy lợi Văn Lăng và khu đô thị hai bờ Sông Cầu…

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm gần đây có nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng trưởng về năng lực sản xuất, các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần Kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy đã cải thiện nhưng vẫn thiếu và xuống cấp; lĩnh vực xã hội còn nhiều bức xúc, tai nạn giao thông tuy có nhiều biện pháp kiềm chế nhưng vẫn chưa có xu hướng giảm Với sự chỉ đạo quyết tâm

và nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh nên tình hình kinh tế - xã hội đã thu được kết quả đáng kể, kinh tế tiếp tục pháp triển theo chiều hướng tích cực

Trang 28

2.1.2 Tài nguyên khoáng sản và hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

* Tài nguyên khoáng sản tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc – Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú về chủng loại và trữ lượng, tỉnh Thái Nguyên có nhiều loại khoáng sản có ý nghĩa lớn đối với cả nước, có một số loại khoáng sản nối bật đó là:

Than: được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trong các tỉnh thành cả nước bao gồm than mỡ, than đá được phân bố chủ yếu ở 2 huyện Đại

Từ và Phú Lương, tiềm năng than mỡ có trên 15 triệu tấn, trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn, chất lượng tương đối tốt tập trung ở các mỏ: Phấn Mễ, Làng Mỏ, Âm Hồn Than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và tham dò khoảng 90 triệu tấn tập trung ở các mỏ Bá Sơn, Khánh Hòa, Núi Hồng

Khoáng sản kim loại có nhiều ở Thái Nguyên

Quặng sắt có 47 mỏ và điểm quặng trong đó có 2 cụm mỏ lớn: cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn có hàm lượng Fe 58,8% - 60,8% Cụm mỏ sắt Tiến Bộ nằm trên trục đường ĐT 259 có tổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn Quặng titan đã phát hiện 18 mỏ và điểm quặng sa khoáng, quặng gốc phân bố chủ yếu ở huyện Phú Lương và Đại Từ, trong đó

có 01 mỏ thăm dò và khai thác (mỏ Cây Châm huyện Phú Lương), tổng trữ lượng dự kiến khoảng 18 triệu tấn

Thiếc có ở 3 mỏ thuộc huyện Đại Từ: mỏ Phục Linh, Núi Pháo, Đá Liền Tổng trữ lượng của 3 mỏ này là khoảng 13.600 tấn

Vonfram ở mỏ Núi Pháo thuộc huyện Đại Từ trữ lượng khoảng 110.260 tấn

Chì kẽm tập trung ở Hang Hít (huyện Đồng Hỷ); Thần Sa, Cúc Đường (huyện Võ Nhai) quy mô không lớn

Vàng bao gồm vàng sa khoáng ở khu vực Thần Sa, dãy núi Bồ Cu (huyện Võ Nhai; khu vực Ngàn Me, Cây Thị (huyện Đồng Hỷ); khu vực phía tây huyện Phổ Yên

Trang 29

Ngoài ra còn có đồng, thủy ngân… có trữ lượng nhỏ đang được phát hiện ở mức độ điều tra sơ bộ

Khoáng sản phi kim loại có pyrit, barit, photphorit… trong đó dáng chú

ý là photphorit ở một số điểm: Núi Văn, Làng Mới, La Hiên, tổng trữ lượng khoảng 60.000 tấn

Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng trong đó đáng chú

ý là đất sét xi măng ở 2 mỏ là Cúc Đường và Khe Mo, trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn Đá cacbonnat bao gồm đá vôi xây dựng, đá vôi xi măng, đôlômit tìm thấy ở nhiều nơi Riêng đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉ 100 tỷ m3, trong

đó 3 mỏ Núi Voi, La Hiên, La Giang có trữ lượng 222 triệu tấn, ngoài ra gần đây còn phát hiện mỏ sét cao lanh tại xã Phú Lạc, huyện Đại Từ có chất lượng tốt hàm lượng AL2CO3 cao, trữ lượng dự kiến khoảng 20 triệu m3 Đó là vùng nguyên liệu dồi dào cho sự phát triển ngành vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng và đá ốp lát

Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú

về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa lớn trong cả nước Tiềm năng sắt tạo cho Thái Nguyên một lợi thế so sánh lớn trong việc các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng… để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước

* Hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Qua tổng hợp các tài liệu địa chất, đến năm 2012 trên địa bàn tỉnh có trên 250 mỏ và điểm khoáng sản (trong đó có 176 mỏ, điểm khoáng sản đã được công bố trong sổ mỏ và trên 74 mỏ, điểm khoáng mới phát hiện, đang được khảo sát, thăn dò đánh giá trữ lượng), gồm 24 loại khoáng sản, thuộc 5 nhóm: nhiên liệu khoáng, khoáng sản kim loại, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản làm vật liệu xây dựng và nước khoáng Trong đó có một số khoáng sản có trữ lượng lớn như: Vonfram khoảng trên 100 triệu tấn, than khoảng 80 triệu tấn, Sắt khoảng 40 triệu tấn, titan khoảng 8 triệu tấn, Chì – Kẽm khoảng 0,5 triệu tấn, đá vôi xi măng khoảng 200 triệu tấn [20]

Trang 30

Tính đến 31/12/2010, trên địa bàn tỉnh có 69 tổ chức, doanh nghiệp được cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản; trong đó có 18 doanh nghiệp nhà nước, 02 công ty liên doanh, 16 công ty cổ phần, 14 công ty trách nhiệm hữu hạn 6 doanh nghiệp tư nhân và 4 hợp tác xã; 43 giấy phép thăm dò

đã được cấp (gồm 06 giấy phép do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp và 37 giấy phép do Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp); 110 mỏ đã cấp giấy phép khai thác gồm: 47 mỏ khoáng sản kim loại, 12 mỏ than, 06 mỏ khoáng chất công nghiệp, 07 mỏ khoáng sản làm nguyên liệu xi măng, 37 mỏ vật liệu xây dựng thông thường và 01 mỏ nước khoáng.[20]

Tính đến 01/01/2013 số doanh nghiệp đang hoạt động trong tỉnh phân theo quy mô vốn ngành công nghiệp khai khoáng là:

Phân theo quy mô vốn Lĩnh vực

khai thác Từ 0,5 tỷ

đến dưới 5 tỷ

Từ 5 tỷ đến 50 tỷ

Từ 50 tỷ đến dưới 200 tỷ

Từ 200 tỷ đến dưới 500 tỷ

Từ 500 tỷ trở lên Than cứng

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2013)

Tính đến tháng 5 năm 2014, trên địa bàn tỉnh có 79 tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản trên tổng số 169 giấy phép khai thác khoáng sản được cấp, trong đó: Các Bộ, ngành Trung ương cấp 21 giấy phép; Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp 148 giấy phép.[15]

Trang 31

Trong thời gian qua, với sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, công tác quản

lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh

đã có những chuyển biến tích cực Các hoạt động khoáng sản về cơ bản đã từng bước được chấn chỉnh, đi vào nền nếp, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hàng năm, các doanh nghiệp đã đóng góp một phần tài chính đáng kể vào ngân sách của tỉnh, trong 2 năm (2012 và 2013) các đơn vị khai thác khoáng sản đã nộp vào ngân sách tổng cộng trên 741,564 tỷ đồng (năm 2012 là trên 346,389 tỷ đồng; năm 2013 trên 395,175

tỷ đồng) Ngoài việc nộp ngân sách nhà nước, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện tốt chính sách bảo hộ quyền lợi của nhân dân nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến thông qua việc tuyển dụng lao động tại địa phương, hỗ trợ địa phương xây dựng, sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng Các đơn vị hoạt động khoáng sản trên địa bàn đã sử dụng trên 6.000 lao động tại địa phương nơi có hoạt động khoáng sản; đóng góp, hỗ trợ địa phương nâng cấp, sửa chữa, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, nhà tình nghĩa, nhà văn hoá, trường học…) với trị giá trên 70 tỷ đồng

Nhìn chung các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động khoáng sản đã chấp hành tốt các quy định của Luật khoáng sản và các pháp luật có liên quan; thực hiện đúng các nội dug của giấy phép, tuân thủ quy trình, quy phạm an toàn lao động, thiết kể mỏ và các biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường Trong quá trình hoạt động, một số đơn vị đã đầu tư mua thiết

bị, máy móc, sử dụng công nghệ khai thác, chế biến tiên tiến, làm tăng giá trị của một số khoáng sản như than, quặng sắt, titan, chì,kẽm…

Các hoạt động khai thác khoáng sản về cơ bản đã đáp ứng được nguyên liệu cho các cơ sở chế biến và sử dụng khoáng sản phục vụ cho phát triển kinh tế trên địa bàn như quặng sắt cho các nhà máy luyện gang, thép với công suất trên 0,2 triệu tấn/năm; quặng chì kẽm cho các nhà máy sản xuất kẽm kim loại với tổng công suất 0,2 triệu tấn/năm; than cho các

Trang 32

nhà máy nhiệt điện với công suất trên 100 MW; quặng titan cho các nhà máy luyện xỉ titan và sản xuất pigment với tổng công suất khoảng 0,1 triệu tấn/năm; đá vôi và sét cho các nhà máy xi măng với tổng công suất khoảng 1 triệu tấn/năm; các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình dân dụng.[20]

2.2 Thực trạng quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nhuyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

2.2.1 Những thành tựu đạt được trong quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Trong những năm qua công tác quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tự đáng kể trên các mặt

Về xây dựng, ban hành chủ trương, chính sách pháp luật về quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Ở Trung ương, một số văn bản chỉ đạo và văn bản quy phạm pháp luật xương sống trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản được ban hành và có hiệu lực hiệu quả trong cuộc sống như:

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản;

Nghị định số 82/2009/NĐ-CP ngày 12/10/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản;

Luật khoáng sản do Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2010;

Trang 33

Nghị định số 15/2012/NĐ-CP, ngày 09/03/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản, năm 2010;

Nghị định số 22/2012/NĐ-CP, ngày 26/3/2012 của Chính phủ quy định

về đấu giá quyền khai thác khoáng sản;

Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 quy định về xử phạt vị phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

Ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua, các cơ quan quản lý đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành thực hiện cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, chương trình hành động, kế hoạch bảo vệ tài nguyên khoáng sản đó là:

Chỉ thị số 08/CT-UBND, ngày 05/02/2008 về tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

Quyết định số 37a/2008/QĐ-UBND ngày 06/7/2008 về banh hành quy định về lựa chọn nhà đầu tư trong hoạt động khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

Quyết định số 44/2009/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về điều chỉnh mức giá tối thiểu một số loại tài nguyên khoáng sản để tính mức thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

Công văn số 2013/UBND-KTN ngày 26/9/2012 về việc rà soát, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản theo giấy phép được cấp trước luật khoáng sản năm 1996;

Quyết định số 09/2012/QĐ-UBND ngày 21/5/2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành đề án “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015”;

Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành điều chỉnh, bổ sung bảng giá tối thiểu để tính thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

Quyết định số 1694/QĐ-UBND ngày 08/7/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt dự án “Khoanh định khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản tỉnh Thái Nguyên”;

Trang 34

Quyết định số 2776/QĐ-UBND ngày 01/11/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt kế khoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2014-2015;

Ngoài ra Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh còn thường xuyên ban hành các báo cáo theo tháng, quý, năm để đánh giá những công việc đã thực hiện

và đưa ra kế hoạch, phương hướng cho giai đoạn mới

Về kiện toàn hệ thống chủ thể quản lý xã hội đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Tài nguyên và Môi trường tiếp tục được hoàn thiện, kiện toàn, từng bước đáp ứng được yêu cầu triển khai nhiệm vụ; kỷ luật, kỷ cương hành chính, ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành đã được nâng lên

Trong những năm qua, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản Việc thành lập

Bộ Tài nguyên và Môi trường một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản, thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên

Đối với tỉnh Thái Nguyên việc kiện toàn bộ máy để quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản đã được triển khai thực hiện tương đối đồng

bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên được kiện toàn theo Quyết định số 599/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm 2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên

là cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước và Khí tượng thủy văn, tài nguyên khoáng sản, môi trường và đo đạc bản đồ trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật

Sở Tài nguyên và Môi trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức ,

Trang 35

biên chế và nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Tổ chức bộ máy của Sở Tài nguyên và Môi trường được sắp xếp lại theo Quyết định số 599/QĐ-UBND ngày 14/3/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên Hiện nay, tổ chức bộ máy của sở gồm 7 phòng chuyên môn, 01 chi cục và 6 đơn vị sự nghiệp Cụ thể như sau:

- Các phòng chuyên môn của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh bao gồm: + Văn phòng Sở

+ Thanh tra Sở

+ Phòng Quản lý đo đạc và bản đồ

+ Phòng Quản lý đất đai

+ Phòng Tài chính đất bồi thường và giải phóng mặt bằng

+ Phòng Quản lý tài nguyên khoáng sản

+ Phòng Quản lý tài nguyên nước và khí tượng thủy văn

- Chi cục bảo vệ môi trường

- Các đơn vị sự ngiệp bao gồm:

+ Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường

+ Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường

+ Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất

+ Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường

+ Quỹ bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên

+ Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Thái Nguyên

Về biên chế: Tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hiện nay của Sở là 274 người Trong đó, cán bộ lãnh đạo Sở: 5 người (Giám đốc Sở và 04 Phó Giám đốc Sở); cán bộ quản lý cấp phòng và tương đương:

Trang 36

Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc xét tuyển 19 viên chức vào làm việc tại các đơn vị trực thuộc Sở; Thi tuyển 04 công chức bổ sung cho các phòng chuyên môn, đảm bảo dân chủ, công khai, đúng quy định

Trong năm 2013, thực hiện Chỉ thị số 02/CT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường và nhằm nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo và cán bộ công chức, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc, trong đó cụ thể hóa các quy định của Nhà nước, của tỉnh để quy định rõ hơn chế độ trách nhiệm; nguyên tắc, lề lối, chế độ làm việc, ứng xử trong khi làm việc; chế độ công vụ; các mối quan hệ công tác; công việc tiếp dân đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Đồng thời đã ban hành kế hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý và chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức nhằm tạo điều kiện để rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách cán bộ cán bộ trẻ, có triển vọng, giúp cán bộ trưởng thành, vững vàng hơn trong công tác, đáp ứng yêu cầu cán bộ trước mắt là lâu dài của các đơn vị và của Sở Đồng thời định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán

bộ, công chức, viên chức nhằm chủ động phòng ngừa tham nhũng trong quản

lý ngân sách, tài sản của Nhà nước, trong việc cán bộ trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp

Năm 2013, Sở đã cử 32 cán bộ đi bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, 03 cán bộ dự thi nâng ngạch chuyên viên lên chuyên viên chính; đăng ký

02 cán bộ học Cao cấp lý luận chính trị

Riêng đối với cán bộ chuyên môn về quản lý lĩnh vực khoáng sản Ban chỉ đạo quản lý khoáng sản, tổ chuyên viên giúp việc Ban chỉ đạo, Đội kiểm tra liên ngành của tỉnh và của 04 huyện có nhiều khoáng sản (Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Phú Lương) đã được thành lập, kiện toàn và hoạt động theo quy chế Tại các địa phương có ít khoáng sản (huyện Phú Bình, Định Hóa, Phổ Yên, Thành phố Thái Nguyên, Thị xã Sông Công) đã thành lập tổ công tác liên ngành để tham mưu và giúp Uỷ ban nhân dân trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn [14]

Trang 37

Đối với các cơ quan quản lý hoạt động khai thác khoáng sản việc kiện toàn ban chỉ đạo quản lý khoáng sản các cấp được phân định rõ ràng:

Ở cấp tỉnh:

Kiện toàn ban chỉ đạo quản lý khoáng sản và Tổ chuyên viên giúp việc Ban chỉ đạo, đảm bảo phù hợp với tình hình cụ thể của tường giai đoạn Thành phần Ban chỉ đạo gồm: Đồng chí lãnh đạo Uỷ ban nhân dân làm Trưởng ban, các thành viên Ban chỉ đạo là lãnh đạo các sở, ngành: Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Công thương, Xây dựng, Giao thông vận tải, Khoa học và công nghệ, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tài chính, Lao động Thương binh và Xã hội, Kế hoạch đầu

tư, Viện kiểm sát nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh

Ban chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, cơ quan thường trực và tổ chuyên viên giúp việc Ban chỉ đạo

Ban chỉ đạo và tổ chuyên viên giúp việc xây dựng kế hoạch công tác hàng năm, kế hoạch kinh phí đảm bảo cho hoạt động

Ở cấp huyện:

Đối với các huyện có nhiều khoáng sản như Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại

Từ, Phú Lương: kiện toàn Ban chỉ đạo quản lý khoáng sản và tổ công tác giúp việc ban chỉ đạo; xây dựng quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên

Tại các huyện có ít khoáng sản như: Phú bình, Phổ Yên, Định Hóa, Thị

xã Sông Công và Thành phố Thái Nguyên: thành lập tổ công tác liên ngành quản lý khoáng sản, gồm các thành viên đại diện: Phòng Tài nguyên và Môi trường (tổ trưởng) Công an, Đội quản lý thị trường, Chi cục thuế, Phòng Công thương

Trang 38

Ở cấp xã:

Đối với các xã, thị trấn có nhiều khoáng sản: thành lập Ban chỉ đạo quản lý khoáng sản của xã; xây dựng quy chế hoạt động, phân công, phân nhiệm cho từng thành viên Ban chỉ đạo Thành phần Ban chỉ đạo gồm: đồng chí lãnh đạo Uỷ ban nhân dân xã làm trưởng ban, các thành viên gồm: cán bộ tài nguyên và môi trường (địa chính), công an xã, xã đội, cán

bộ tư pháp, hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận tổ quốc, trưởng các thôn xóm

Đối với các xã ít khoáng sản: thành lập tổ công tác quản lý khoáng sản

do cán bộ tài nguyên và môi trường (địa chính) làm tổ trưởng Các thành viên gồm: công an xã, cán bộ tư pháp, trưởng các thôn xóm

Về tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về quản lý hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản

Một là, về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hoạt động khai thác khoáng sản

Trong những năm gần đây công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao kiến thức cộng đồng tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý tài nguyên khoáng sản luôn được đẩy mạnh, chú trọng

Căn cứ vào kế hoạch công tác hành năm, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã xây dựng kế hoạch thực hiện công tác tuyên truyền phổ biến nội dung pháp luật về hoạt động khoáng sản cho người dân

Sở Tài nguyên và Môi trường (cơ quan thường trực Ban chỉ đạo quản lý tài nguyên khoáng sản tỉnh) đã tổ chức triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản đến các ngành chức năng trong tỉnh, ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã, các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác khoáng sản Trong đó đặc biệt chú trọng đến các huyện có các điểm nóng về hoạt động khai thác khoáng sản trái phép

Chuyên mục Tài nguyên và Môi trường của Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, website của Sở Tài nguyên và Môi trường thường

Ngày đăng: 11/11/2021, 17:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w