Có thể thấy các công trình nghiên cứu, bài viết trên đã cơ bản làm rõ về di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng, các di tích, danh thắng tiêu biểu của cả nước cũng
Trang 1HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐỖ HỮU DŨNG
QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN QUANG HIỂN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể 71.2 Nội dung quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể 18 1.3 Vai trò và những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể 21 Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 27
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội 27 2.2 Thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành
phố Hà Nội hiện nay 33 Chương 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 50
3.1 Quan điểm, phương hướng tăng cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay 50 3.2 Giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
ở Thành phố Hà Nội hiện nay 54 KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Di sản văn hóa là báu vật, là niềm tự hào của mỗi quốc gia, chứa đựng sức sống của một nền văn hóa với bản sắc riêng biệt trong đó thể hiện trình độ
và khẳng định vị thế của dân tộc Việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị
di sản văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa vật thể có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, quản lý, bảo tồn di sản văn hóa vật thể đã và đang là mối quan tâm có tính chất toàn cầu, trở thành chủ đề quan trọng được bàn thảo nhiều trên các diễn đàn quốc tế, khu vực và các quốc gia, địa phương
Ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới và phát triển toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể của dân tộc đã được coi trọng và nâng cao một bước Nhiều di sản văn hoá vật thể đã được giữ gìn, sưu tầm, nghiên cứu và từng bước phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dưới nhiều góc độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội và tạo ra một môi trường tốt phục vụ cho việc tham quan du lịch của nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế
Hà Nội - nơi lắng hồn thiêng sông núi ngàn năm đã là nơi gặp gỡ, giao thoa, hội tụ của nhiều nền văn minh lớn trong khu vực và trên thế giới, là nơi tiếp nhận và ảnh hưởng từ nhiều tư tưởng, tôn giáo như: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Dân chủ tư sản rồi đến Chủ nghĩa Mác - Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh, đã sàng lọc, tiếp biến để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, nét đẹp truyền thống của đất nước để có thể hội nhập và phát triển, tạo nên bản sắc riêng biệt của Thăng Long - Hà Nội Sự kết tinh đó đã để lại cho Thủ đô Hà Nội hôm nay nhiều di sản văn hoá vật thể phong phú, đa dạng và quý giá
Trang 4Nhưng hiện nay do ảnh hưởng từ mặt trái của cơ chế thị trường, xu hướng thương mại hóa cũng như sự buông lỏng trong quản lý của Nhà nước
và các cơ quan chức năng đã dẫn đến tình trạng các giá trị di sản văn hóa vật thể ở Hà Nội ngày càng bị mai một, lai căng Một số di sản văn hóa vật thể ở
Hà Nội không còn giữ được nét đẹp, giá trị truyền thống từ ngàn xưa để lại
Vấn đề quản lý di sản văn hóa đã được nhiều công trình quan tâm, nghiên cứu, song chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa ở Hà Nội Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác
giả lựa chọn đề tài “Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành
phố Hà Nội hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Quản
lý xã hội tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
2 Tình hình nghiên cứu
Có thể nói nghiên cứu về di sản văn hoá vật thể là một lĩnh vực quan trọng được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu trong các công trình, đề tài khoa học cũng như được đề cập tới trong hội nghị, hội thảo khoa học trong thời gian qua Tiêu biểu có các công trình cụ thể như:
- Nguyễn Văn Huy (2003), “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những
di sản văn hóa các dân tộc hiện nay”, Tạp chí Cộng sản
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Huy đã khái quát chung ngắn gọn về thực trạng di sản văn hóa của cả nước (cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) Tác giả đã nêu các nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa các dân tộc dưới góc độ của lĩnh vực văn hóa nói chung, chưa nêu rõ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng
- Tạp chí văn hóa nghệ thuật (2005), “Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc”, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Trang 5Bài viết này khái quát về về đặc điểm tự nhiên, thực trạng di sản văn hóa và làm rõ tính cấp thiết cần quản lý hiệu quả di sản văn hóa vùng Tây Bắc
- Nguyễn Viết Cường (2014), “Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện nay”, Tạp chí Di sản văn hóa số 2 (47)
Tác giả Nguyễn Viết Cường đã nêu rõ tầm quan trọng của các di tích đối với đời sống văn hóa của toàn thể dân tộc, đồng thời làm rõ những quan điểm của cá nhân về những sai lầm mà cộng đồng dân cư thường hiểu về di tích Từ thực trạng đó tác giả cho rằng cần phải tập trung giải quyết một số vấn đề như: tăng cường công tác tuyên truyền cho cộng đồng dân cư về lịch
sử, các giá trị văn hóa cần lưu giữ và phát huy tại các di tích, về ý thức của cộng đồng dân cư khi tham gia các lễ hội tại các di tích, về công tác trùng tu, chống xuống cấp đối với các di tích để khắc phục những tồn tại
- Lưu Minh Trị (2002, 2004, 2006, 2007), “Danh thắng, di tích và lễ hội Việt Nam” (tập I, II, III, IV), Nhà xuất bản Hà Nội
Trong cả bốn tập tác giả nghiên cứu và giới thiệu các di tích lịch sử, danh thắng nổi bật và các lễ hội đặc sắc của Việt Nam Trong mỗi tập tác giả phân tích làm rõ thực trạng bảo tồn các di tích, danh thắng và lễ hội Tuy nhiên, tác giả chưa đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý đối với các di tích, danh thắng và lễ hội
- Đỗ Thỉnh (2010), “Di tích và văn vật vùng ven Thăng Long”, Nhà
xuất bản Hội nhà văn
Tác giả chủ yếu tập trung đi sâu vào việc giới thiệu các di tích và những giá trị văn vật vùng ven Thăng Long, nhưng chưa nêu được các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể
- Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội - Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà
Nội (2000), “Thăng Long – Hà Nội, Thắng cảnh, di sản và kiến trúc”, (nhiều
tác giả), Nhà xuất bản Thanh niên
Trang 6Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các di tích, thắng cảnh và tập trung nghiên cứu về kiến trúc của các thắng cảnh, phân tích thực trạng trong việc quy hoạch kiến trúc đô thị phù hợp với các di tích, thắng cảnh Tuy nhiên, các tác giả chưa làm rõ được các quan điểm, phương hướng nhằm nâng cao vai trò của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Những công trình, bài viết kể trên là những công trình tiêu biểu nhất, bên cạnh đó còn một số công trình, bài viết được đăng trên các trang thông tin khác nhau
Có thể thấy các công trình nghiên cứu, bài viết trên đã cơ bản làm rõ về
di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng, các di tích, danh thắng tiêu biểu của cả nước cũng như của Thành phố Hà Nội và các vấn đề liên quan đến quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể, song chưa có công trình, bài viết nào nghiên cứu quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay Đương nhiên, các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên có những cơ sở khoa học quan trọng để tác giả kế thừa và vận dụng trong khi thực hiện khóa luận của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội, phân tích các quan điểm chỉ đạo và phương hướng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
Trang 7Một là, phân tích cơ sở lý luận về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa
vật thể
Hai là, phân tích đánh giá thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn
hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay
Ba là, đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của các giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học mác - xít, khóa luận này sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận với
Trang 8thực tiễn, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phỏng vấn để thực hiện các mục tiêu của khóa luận
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
6.1 Ý nghĩa lý luận
Vận dụng các kiến thức chuyên ngành quản lý xã hội khóa luận đã làm
rõ thêm một số vấn đề lý luận về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể, góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức lý luận khoa học của khoa học xã hội nói chung và khoa học quản lý xã hội nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc nghiên cứu thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội, khóa luận giúp các chủ thể quản lý có cái nhìn toàn diện về những mặt đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quản lý đối với di sản văn hóa vật thể, từ đó có nhận thức và hành động tích cực để quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể có hiệu quả nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa đã từng được nghiên cứu rất nhiều
và có nhiều định nghĩa khác nhau Sở dĩ như vậy là do văn hóa được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Xã hội càng phát triển thì văn hóa cũng phát triển theo và văn hóa cũng chính là động lực thúc đẩy cho cuộc sống con người phát triển lên những bước cao hơn
Dưới góc độ triết học văn hóa được định nghĩa “ là triết lý về cuộc sống, về các giá trị, các tiêu chuẩn và quy chế, cách hành xử thực tế cũng như các sản phẩm vật thể và phi vật thể được tạo ra từ những nhân tố này Triết lý
và những sản phẩm này được con người kế thừa từ các thế hệ sau, để cuối cùng dưới mọi hình thức khác nhau, và bằng cách này hay cách khác, phân biệt những cá thể thuộc nền văn hóa này với cá thể những nền văn hóa khác”[23; tr.117]
Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam tiếp cận nghiên cứu theo nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau về văn hóa và đã đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Nhiều khi các định nghĩa về văn hóa trở thành đầu mối của các cuộc tranh luận lâu dài Vì vậy, khái niệm văn hóa cũng được hiểu theo nhiều cấp độ, thậm chí có những định nghĩa rất khác nhau, vẫn còn
là một khái niệm “để ngỏ” hay còn gọi là “khái niệm mở”
Trong các ngôn ngữ phương Tây, khái niệm văn hóa được bắt nguồn từ tiếng La Tinh: Cultus có nghĩa là trồng trọt, từ đó được hiểu rộng ra là chăm sóc, vun trồng, chăm sóc cây cối, chăm sóc con người, trồng cây - trồng người
Trang 10“ vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”(lời Chủ tịch
Hồ Chí Minh)
Theo học giả Đào Duy Anh thì hai tiếng văn hóa là chỉ chung tất cả những phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có thể nói: “văn hóa tức là sinh hoạt”[1, tr.13]
Theo Trần Ngọc Thêm văn hóa được hiểu như sau: “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa người với môi trường tự nhiên và xã hội”[21, tr.10]
UNESCO cho rằng: văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn hóa và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị truyền thống và đức tin [24 ;tr.2]
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Người đã lý giải giản dị và dễ hiểu rằng: “ vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo đó gọi là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[15; tr.431]
Kết luận chung là nếu chúng ta nhìn một cách tổng quát, văn hóa là một trong những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội, là một hệ thống giá trị về vật chất và tinh thần do con người tạo ra và được con người thừa nhận như những chuẩn mực chung, bao gồm trong đó có cái chân, cái thiện, cái mỹ
Trang 11Khái niệm di sản văn hóa rất rộng cần phải định nghĩa và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Cụ thể như:
Theo Từ điển Việt Nam Tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức - Sài Gòn,
Hà Nội năm 1954 thì: Di có nhiều nghĩa, trong trường hợp này Di có nghĩa là
để lại Văn là cái vẻ biểu hiển ra cho ta có thể nhìn thấy: văn vẻ, văn hóa Hóa
là biến đổi mà thành Văn hóa là “sự giáo dục do văn hóa đã thấm vào trí não người ta”[11; tr.151]
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội - Đà Nẵng, xuất bản năm 1998 thì: khái niệm di sản được chú thích là “tài sản của người chết để lại”; “cái của thời trước để lại”[16; tr.246]
Văn hóa được giải thích theo năm nghĩa: “ 1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần của con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (kho tàng văn hóa dân tộc) 2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói tổng quát - phát triển văn hóa, công tác văn hóa 3 Tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát) - học văn hóa, trình độ văn hóa 4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh - sống có văn hóa, ăn nói thiếu văn hóa 5 nền văn hóa của một thời kỳ
cổ xưa của lịch sử, được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật tìm được có những đặc điểm giống nhau”[16; tr.1062]
Di sản văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do cha ông ta đã đúc kết, xây dựng và truyền lại cho chúng ta đến ngày nay Di sản văn hóa dân tộc bao hàm nhiều giá trị và tinh hoa do các thế hệ tiền nhân để lại và lưu truyền Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước đã biết tôn trọng, sáng tạo và giữ gìn các giá trị văn hóa, đặc biệt đã biết sáng tạo và huy động sức mạnh văn hóa vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn
Trang 12trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Theo điều 4 của Luật
Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì:
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống văn hóa dân tộc và những tri thức dân gian khác
1.1.1.2 Khái niệm quản lý xã hội
Quản lý là một dạng hoạt động xuất hiện rất sớm trong trong lịch sử, trở thành một hoạt động phổ biến mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ
và có liên quan đến mọi người, là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người nhằm hướng mọi hoạt động tới mục tiêu đề ra Xuất phát từ những mục đích nghiên cứu, các học giả đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về “Quản lý”
Theo Henry Fayol: Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, gồm 5 yếu tố tạo thành là kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát
Theo Hard Koont: Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành mục tiêu định ra
Trang 13Quản lý là thiết lập, khai thác các quan hệ cụ thể để hoạt động nhiều người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt được hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực
Kế thừa và phát triển các quan niệm về quản lý, có thể tổng hợp và rút
ra định nghĩa về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý thông qua sức mạnh quyền lực theo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách nghệ thuật và các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.[19; tr.14]
Từ khái niệm trên có thể thấy, quản lý chính là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, đó là mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; là sự tác động có ý thức và bằng quyền lực Quản lý là sự tác động theo chu trình bởi sự phối hợp giữa các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung; quản lý tồn tại trong môi trường luôn biến đổi Trong tất cả các hoạt động quản lý, quản lý xã hội là hoạt động phức tạp nhất Bởi đối tượng của quản lý xã hội rất đa dạng và luôn luôn vận động Do đó, yêu cầu cần huy động các chủ thể khác nhau trong xã hội tham gia vào quá trình quản lý
Quản lý xã hội là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đối với các hoạt động của đời sống xã hội nhằm hướng tới mục tiêu nhất định Một mặt hướng tới phát triển những giá trị tốt đẹp, mặt khác hạn chế những tác động tiêu cực tới xã hội hướng tới một xã hội phát triển toàn diện và ổn định.[19; tr.15]
Quản lý xã hội là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý xã hội, đối tượng quản lý xã hội, mục tiêu quản lý xã hội, công cụ, phương pháp quản lý xã hội và môi trường quản lý Các nhân tố này có mối
Trang 14quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật trong quản lý xã hội
1.1.1.3 Khái niệm quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Có thể khái quát hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể gồm những hoạt động sau:
- Xây dựng, hoàn thiện, sửa đổi bổ sung hệ thống thể chế và thiết chế
về di sản văn hoá vật thể Đầu tư ngân sách cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể của dân tộc
- Tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý, nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu, tổ chức bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá vật thể
- Tăng cường mối quan hệ hợp tác, giao lưu quốc tế về di sản văn hoá
- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên môn về quản lý, nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu và bảo vệ giữ gìn di sản văn hoá vật thể
- Tổ chức điều tra, kiểm tra việc triển khai và thực hiện Luật Di sản văn hoá trên thực tế
- Xử lý, giải quyết các vi phạm đối với di sản văn hoá vật thể của các tổ chức và công dân
- Xử lý, giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về di sản văn hoá vật thể
- Tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát việc xã hội hoá công tác bảo vệ, tôn tạo, trùng tu, sửa chữa và chống xuống cấp đối với các di sản văn hoá vật thể
Như vậy từ những hoạt động trên, có thể tổng hợp và rút ra định nghĩa
về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể như sau:
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là quá trình chủ thể quản
lý sử dụng các công cụ quản lý như chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sử dụng các cơ chế, thiết chế xã hội… nhằm phòng tránh, ngăn chặn những tác động tiêu cực tới những di sản văn hóa vật thể, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 151.1.2 Đặc điểm quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
* Về chủ thể quản lý
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành, mọi cá nhân trong xã hội Chủ thể quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể rất đa dạng, là tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền trong quá trình tác động vào đối tượng quản lý Bao gồm Đảng, Nhà nước và các chủ thể khác
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ thể trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc bảo tồn và quản lý di sản văn hóa vật thể Nhà nước quản lý di sản văn hóa vật thể thông qua việc thiết lập bộ máy quản lý Hiện nay, để quản lý văn hóa nói chung, quản lý di sản văn hóa vật thể nói riêng, ở nước ta đã thiết lập và ngày càng hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương Trong
đó chủ yếu bao gồm:
- Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung
Trang 16Theo nhiệm vụ quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý di sản văn hóa trên phạm vi cả nước Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý
di sản văn hóa tại địa phương Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý di sản văn hóa được quy định cụ thể trong Nghị định số 98/2010/ NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa
- Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch ở cấp tỉnh và các phòng Văn hóa - Thông tin ở cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể ở địa phương theo quy định của Luật Di sản văn hóa
- Các cơ quan nhà nước khác
Ngoài các cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng quản lý di sản văn hóa vật thể đã nêu trên tại các khu di tích, danh thắng có Ban quản lý di tích
Ở Thành phố Hà Nội có Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội – Trụ sở đặt tại 90 Thợ Nhuộm
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các thành viên của tổ chức, gia đình và nhân dân tham gia vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của di sản văn hóa vật thể
Các thiết chế xã hội khác
Bên cạnh các chủ thể trên, hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể còn
có sự tham gia của các thiết chế xã hội khác Sự tham gia quản lý xã hội của các thiết chế xã hội giữ vai trò quan trọng, quyết định tới sự thành công hay thất bại của hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể tại địa phương Các thiết chế xã hội khác như: các tổ chức, đoàn thể xã hội, các thiết chế làng xã, gia đình và toàn thể nhân dân tham gia quản lý trên các phương
Trang 17diện sau: tích cực và ủng hộ tham gia các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể tại địa phương như tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể, giám sát các hoạt động của bộ máy quản lý, đội ngũ cán bộ tham gia quản lý
* Về đối tượng quản lý
Muốn quản lý hiệu quả, các chủ thể quản lý xã hội phải nắm vững và hiểu rõ về đối tượng quản lý
Đối tượng của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể được xác định là di sản văn hóa vật thể và những vấn đề xoay quanh di sản văn hóa vật thể Bao gồm tổng thể các hoạt động kiểm kê, phân tích, đánh giá hiện trạng của các di tích, danh thắng…, hoạt động trùng tu, tôn tạo, bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa vật thể, và các hoạt động khác có liên quan đến di sản văn hóa vật thể Đối tượng của quản lý di sản văn hóa vật thể luôn gắn với truyền thống lịch sử của dân tộc Vì vậy, chủ thể quản lý cần phải hiểu nguồn gốc, giá trị văn hóa lịch sử, hiểu được quy luật và tính quy luật của đối tượng quản lý để có thể đưa ra được các phương pháp, chủ trương, chính sách phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu quản lý
Yêu cầu để sử dụng hiệu quả phương pháp này: phải có hệ thống pháp luật quản lý xã hội đồng bộ, đầy đủ, cụ thể, ổn định, phù hợp với đông đảo công dân, cơ quan, tổ chức; phải có hệ thống các cơ quan quản lý chức năng
Trang 18cùng đội ngũ công chức có trình độ, kiến thức về di sản văn hóa vật thể và có nhân cách tốt; phải có cơ quan thanh tra, kiểm soát của nhà nước công tâm, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những sai phạm về di sản văn hóa vật thể
Phương pháp này được thực hiện thông qua các quyết định, chỉ thị, thông tư và các văn bản quy phạm pháp luật khác về di sản văn hóa vật thể của các cơ quan quản lý, giúp cho nhà quản lý giải quyết nhanh chóng, hiệu quả mọi mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong quá trình quản lý
- Phương pháp giáo dục, thuyết phục
Là sự tác động lên đối tượng quản lý thông qua các quá trình, quan hệ tâm lý, tình cảm, nhận thức giúp đối tượng có được thái độ, tình cảm và nhận thức tích cực từ đó tham gia hiệu quả vào hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể
Phương pháp này được thực hiện thông qua các hoạt động như tuyên truyền, vận động, giáo dục… thông qua hệ thống các sách, báo, phương tiện truyền thông, đội ngũ làm công tác tuyên truyền
Để sử dụng hiệu quả phương pháp này, cần đảm bảo các điều kiện như:
đa dạng hóa các loại hình truyền thông và nội dung truyền thông đại chúng nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục một cách rộng rãi, phổ biến; Nhà nước phải có đường lối và thể chế chính trị đúng đắn, bảo vệ và thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân; phải có cơ quan chức năng và đội ngũ công chức
có phẩm chất và trình độ và cần có hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp
Thông qua phương pháp này, ý thức của cộng đồng về bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của di sản văn hóa vật thể được nâng cao từ đó tham gia quản lý di sản văn hóa vật thể tích cực và có ý thức tự giác hơn
- Phương pháp kinh tế
Trang 19Là phương pháp chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích vật chất, làm cho đối tượng quản lý tự giác chấp hành đúng các quy đinh, quy tắc quản lý
Thực chất việc sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý di sản văn hóa vật thể là việc dùng lợi ích vật chất để kích thích đối tượng thực hiện những hoạt động bảo vệ các di sản văn hóa vật thể để các di sản còn mãi với thời gian, và phát huy được những giá trị trong văn hóa truyền thống của dân tộc; sử dụng biện pháp kinh tế chi phối lên động cơ hành động của con người nhờ đó biến con người thụ động thành chủ động, sáng tạo đưa ra các sáng kiến bảo vệ cũng như giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong các di sản văn hóa vật thể để nhân rộng ra tất cả các địa phương trong cả nước
Trong quản lý và bảo vệ di sản văn hóa vật thể, biện pháp kinh tế cũng phát huy được tác dụng của nó Cụ thể như thành lập các quỹ bảo vệ di sản văn hóa vật thể Đồng thời xét khen thưởng đối với những người có thành tích cao trong bảo vệ di sản văn hóa vật thể, và kỷ luật, xử phạt đối với những cá nhân, gia đình, tổ chức có hành vi xâm phạm làm ảnh hưởng đến di sản văn hóa vật thể hay vi phạm pháp luật trong quá trình quản lý di sản văn hóa vật thể để từ đó nêu cao tinh thần tự giác bảo vệ và phát huy những giá trị truyền thống của mọi người dân trong xã hội
1.2 Nội dung quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
1.2.1 Hoạch định chiến lược, chính sách và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Hoạch định chiến lược, chính sách quản lý xã hội, chủ trương bảo tồn
và phát huy những giá trị văn hóa nói chung và văn hóa vật thể nói riêng là một nội dung quan trọng trong quản lý xã hội của các chủ thể quản lý Đây là giai đoạn lập kế hoạch, mở đường cho cả quy trình quản lý, là cơ sở, tiền đề tiến hành các giai đoạn tiếp theo trong quá trình quản lý Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là nội
Trang 20dung quan trọng trong quản lý di sản văn hóa vật thể của các chủ thể quản lý nhằm xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, đầy đủ, cụ thể và khoa học, làm cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa vật thể
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định cụ thể, trong đó có các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc, được Nhà nước đảm bảo thực hiện trên thực tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội Bao gồm các văn bản như Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật khác như: nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị…
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di sản văn hóa vật thể cần được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể Đồng thời các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa vật thể phải phản ánh được yêu cầu của việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý Những văn bản này phải là công cụ hữu hiệu để các chủ thể quản lý tác động lên các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý di sản văn hóa vật thể
1.2.2 Kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ quản lý di sản văn hóa vật thể
Hoạt động quản lý văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng thành công hay không phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ quản lý văn hóa Bởi quản lý chính là hoạt động của con người, do con người do đó nó phải được tiến hành thông qua bàn tay khéo léo của con người theo một bộ máy tổ chức nhất định làm nhiệm vụ quản lý
Để hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể có hiệu quả, yêu cầu phải xây dựng được bộ máy quản lý đồng bộ, có sự phân công chức năng, nhiệm vụ
rõ ràng giữa các bộ phận và phân cấp quản lý từ trung ương đến cơ sở theo
Trang 21nguyên tắc tập trung dân chủ Trong bộ máy quản lý di sản văn hóa vật thể phải
có những cán bộ làm công tác quản lý có kiến thức, trình độ, kỹ năng để thực hiện đầy đủ chức năng quản lý và hoàn thành mọi nhiệm vụ được phân công
1.2.3 Chỉ đạo tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, pháp luật về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Khi chiến lược, chính sách pháp luật về quản lý di sản văn hóa vật thể được ban hành, bộ máy quản lý văn hóa sẽ triển khai các hoạt động của mình,
ra quyết định thuộc thẩm quyền, thực hiện những nhiệm vụ cụ thể và những giải pháp cụ thể để điều chỉnh để điều hành quá trình thực hiện chính sách, pháp luật phù hợp với thực tế, xây dựng mối quan hệ quản lý phối hợp theo chiều dọc và chiều ngang Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, các nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý chỉ đạo cho cấp dưới và đến từng thành viên để
tổ chức thực hiện
Ngoài hệ thống chuẩn mực về mặt pháp luật, trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, pháp luật về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể các chủ thể quản lý cần quan tâm đến chuẩn mực phong tục tập quán do cộng đồng đề xuất Đây cũng là biện pháp nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp Tuy nhiên, khi tiến hành xây dựng các quy ước cần phải tính đến sự phù hợp pháp luật, phù hợp văn hóa nếp sống của từng địa phương có như vậy thì hoạt động quản lý mới đạt được hiệu quả tối đa
1.2.4 Thanh tra, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược, chính sách, pháp luật và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa vật thể
Mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra là nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý kịp thời những vi phạm trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa vật thể Đây chính là hoạt động nhằm đảm bảo pháp chế trong quản lý xã hội
Trang 22Nếu hoạt động quản lý mà không có hoạt động thanh tra, kiểm tra sẽ tạo điều kiện cho những sai sót xảy ra
Hoạt động thanh tra, kiểm tra có thể được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất Tuy nhiên để tránh được những sai phạm cần phải kiểm tra thường xuyên bởi kiểm tra thường xuyên giúp nhà quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện kế hoạch, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực quản lý văn hóa vật thể Từ đó có những đánh giá khách quan về mặt tích cực và hạn chế của công tác trên thực tế, xử lý kịp thời những vi phạm, đồng thời khuyến khích những nhân tố tích cực giúp hoạt động quản lý đạt hiệu quả cao nhất
Đánh giá là việc xem xét, nhận định về các giá trị, kết quả thu được khi thực hiện chiến lược, chính sách Đánh giá kết quả thực hiện chính sách là một công việc tương đối phức tạp bởi khó xác định được căn cứ nhất quán để đánh giá, cơ sở của việc đánh giá không cụ thể
Trong quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể cần phải kết hợp hài hòa giữa hoạt động thanh tra, kiểm tra với hoạt động đánh giá kết quả thực hiện chiến lược, chính sách để có thể vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chiến lược, chính sách vừa chấn chỉnh công tác thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
1.2.5 Điều tra, sưu tầm, quản lý bộ dữ liệu, thông tin đầy đủ, chính xác về di sản văn hóa vật thể
Trong hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể việc điều tra, sưu tầm và quản lý bộ dữ liệu thông tin về các di sản văn hóa vật thể là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc lập quy hoạch, kế hoạch về việc trùng tu, tôn tạo và làm hồ sơ căn cứ để xét công nhận di tích địa phương, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt…Đồng thời, nhằm chịu trách nhiệm với hậu thế
về tính chính xác của những thông tin dữ liệu của các di sản văn hóa vật thể từ
xã xưa để lại và những dữ liệu điều tra, nghiên cứu mới thu thập được
Trang 23Do vậy cần phải quản lý thường xuyên, liên tục và toàn diện, chính xác
về di sản văn hóa vật thể, coi việc quản lý bộ dữ liệu, thông tin về di sản văn hóa vật thể là một nội dung quan trọng phải tiến hành ngay và có bộ phận chuyên trách Có rất nhiều hình thức quản lý bộ dữ liệu, thông tin về di sản văn hóa vật thể như: thông qua đội ngũ cán bộ văn thư văn phòng, thông qua
hệ thống máy tính điện tử, thông qua kho lưu trữ truyền thống để lưu trữ những sách báo, tài liệu liên quan
1.2.6 Tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát việc xã hội hoá công tác bảo vệ, tôn tạo, trùng tu, sửa chữa và chống xuống cấp đối với các di sản văn hoá vật thể
Tổ chức chỉ đạo và kiểm soát việc xã hội hóa công tác bảo vệ, tôn tạo trùng tu, sửa chữa và chống xuống cấp đối với các di sản văn hoá vật thể là một hoạt động quản lý có tầm quan trong trong giai đoạn hiện nay Để hoạt động quản lý này có hiệu quả, trước hết cần phải tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức tôn trọng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể trong mọi tầng lớp nhân dân
Đồng thời, việc triển khai công tác đấu thầu và tổ chức thi công tu bổ các
di tích các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phụ trách quản lý các di sản văn hóa vật thể phải thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở và cùng đơn vị thi công, trùng tu lên kế hoạch trùng tu, tôn tạo, sửa chữa để tránh việc sửa chữa trùng tu
di tích mất đi những giá trị truyền thống nguyên bản vốn có từ xa xưa để lại
1.3 Vai trò và những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
1.3.1 Vai trò của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là biện pháp chỉ đạo, tổ chức các hoạt động nhằm bảo vệ di sản văn hóa vật thể Đây là một quá trình thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau như: xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật về di sản văn hóa, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về di
Trang 24sản văn hóa cho người dân; thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý những vi phạm trong lĩnh vực văn hóa Các hoạt động này nhằm định hướng và hướng dẫn các chủ thể thực hiện các chương trình, kế hoạch bảo vệ di sản văn hóa vật thể
Không có quản lý xã hội, không có các biện pháp chỉ đạo, tổ chức và quản lý của các chủ thể quản lý di sản văn hóa thì việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể sẽ diễn ra tự phát, dẫn đến tình trạng xâm phạm, trùng tu, chống xuống cấp không đúng với giá trị truyền thống của các di sản văn hóa vật thể
Đặc biệt, đất nước ta ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, nhiều loại hình di sản như Đình, Chùa, Miếu và các di tích kiến trúc nghệ thuật, lịch sử văn hoá có nguy cơ xuống cấp, bị lấn chiếm và xâm hại của con người rất cần phải có hoạt động quản lý xã hội, chính sách, kế hoạch của các chủ thể quản
lý để có thể kịp thời chống xuống cấp, tôn tạo, tu sửa và nâng cấp các di sản văn hóa vật thể để có thể lưu giữ những nét đẹp, giá trị văn hóa truyền thống
mà cha ông ta đã để lại
Trong giai đoạn hiện nay quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể không chỉ nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc mà còn nhằm phát huy và khai thác giá trị của các di sản văn hóa vật thể, tạo ra nhiều cơ hội lớn cho phát triển du lịch, phát tiển kinh tế đất nước Trong định hướng phát triển du lịch hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể đóng vai trò quan trọng trong xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng cao phát triển thành thương hiệu du lịch nổi tiếng, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế
Có thể thấy rằng, di sản văn hóa vật thể có vai trò quan trọng đối với đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư và quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là một vấn đề quan trọng để ổn định, phát triển kinh tế - xã hội,
Trang 25giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập với các nền văn hóa trên thế giới
1.3.2 Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là đặc biệt quan trọng, góp phần lưu giữ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp mà ông cha
để lại Đồng thời, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của đất nước Trong quá trình quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể có rất nhiều yếu tố tác động đến theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể bao gồm:
- Sự định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được coi là yếu tố đầu tiên quyết đến sự thành công trong quản lý Đây chính là những công cụ, phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng người trong việc đạt được mục tiêu đề ra Theo quy luật chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý Bên cạnh đó, đối tượng quản lý cũng tác động vào chủ thể quản lý nhằm cùng đạt được mục tiêu quản lý chung thông qua việc xác định và quá trình thực hiện công việc chung nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có tác động trực tiếp đến nội dung, phương pháp và hiệu quả quản lý di sản văn hóa vật thể Nếu chủ trương, chính sách, pháp luật ban hành đúng, nghiêm minh và kịp thời sẽ là đòn bẩy định hướng và thúc đẩy quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể đạt được mục tiêu quản lý và ngược lại
- Tính đồng bộ hợp lý của chính sách, pháp luật quản lý xã hội về di sản văn hóa
Trang 26Sự đồng bộ của các chính sách, pháp luật về quản lý di sản văn hóa vật thể và những văn bản khác liên quan có tác động đến hiệu quả của hoạt động quản lý Nếu các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ban hành không có sự chồng chéo, mâu thuẫn thì sẽ đảm bảo cho hoạt động quản lý Ngược lại, nếu những chính sách và văn bản khi ban hành có nhiều bất cập, không xuất phát từ nhu cầu thực tế sẽ là lực cản đối với hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể
- Đời sống văn hóa tinh thần và ý thức bảo tồn di sản văn hóa vật thể của cộng đồng dân cư
Đời sống văn hóa tinh thần và ý thức bảo tồn di sản văn hóa vật thể của cộng đồng dân cư cũng có những tác động nhất định đối với hoạt động quản
lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể Nếu đời sống văn hóa tinh thần và ý thức bảo tồn di sản văn hóa vật thể của cộng đồng dân cư tốt, trình độ dân trí cao, bản thân mỗi cá nhân trong xã hội đó sẽ tự nhân thức được về tầm quan trọng của di sản văn hóa vật thể để có hành động cụ thể nhằm bảo vệ di sản văn hóa vật thể đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, giúp các chủ thể có thể tiến hành hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể và ngược lại Chính ý thức bảo vệ di sản chưa tốt của con người cũng có thể là nguyên nhân chính gây hủy hoại, xuống cấp và thậm chí mất đi những nét đẹp, giá trị nguyên bản của các di sản văn hóa vật thể
Thực tế cho thấy trong thời gian qua những sai phạm trong trùng
tu, sửa chữa hay những xâm phạm về di tích, cổ vật chủ yếu đều được cộng đồng dân cư phát hiện và báo cho cơ quan nhà nước để kịp thời xử lý Vì vậy, đời sống văn hóa tinh thần và ý thức bảo tồn di sản văn hóa vật thể của cộng đồng tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể đạt hiệu quả cao hơn và ngược lại
Trang 27- Yếu tố số lượng đội ngũ cán bộ quản lý và trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ quản lý xã hội về văn hóa
Cán bộ quản lý văn hóa có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý di sản văn hóa vật thể Theo số lượng của trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành văn hóa thì toàn ngành văn hóa thông tin có gần 45.000 công chức Trực thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch quản lý là 4.308 người trong đó cán bộ quản lý gồm lãnh đạo, cục, vụ và tương đương 258 người; trưởng phó phòng ban thuộc Bộ khoảng 1.500 người, khối quản lý nhà nước về văn hóa thông tin là 625 người Cán bộ văn hóa trực thuộc quản lý cấp huyện, tỉnh là trên 40.000 người, trong đó ở các sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố 22.284 người, cấp huyện là khoảng 22.000 người
Trên phương diện chủ thể quản lý, trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ quản lý xã hội về văn hóa có tác động tích cực hoặc tiêu cực tới hoạt động quản lý Nếu các cán bộ, công chức
là người có năng lực họ sẽ có khả năng hoạch định chính sách, pháp luật, lập
kế hoạch, quy hoạch quản lý di sản văn hóa vật thể phù hợp với điều kiện thực tế cũng như dễ dàng phát hiện những vi phạm và đưa ra được giải pháp hữu hiệu nhằm quản lý hiệu quả di sản văn hóa vật thể Ngược lại, nếu đội ngũ những người thực hiện chức năng quản lý mà không được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, năng lực quản lý và năng lực chuyên môn thì có thể dẫn đến những sai lầm trong quá trình quản lý hoặc quản lý kém hiệu quả
- Sự phối hợp hoạt động trong công tác quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể của các ban ngành, chính quyền địa phương
Công tác quản lý di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng rất đa dạng và phức tạp Vì vậy cần có sự phối hợp, phân công công việc, trách nhiệm giữa các ban, ngành để quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể đạt hiệu quả Để giữ gìn và phát huy các giá trị của các di sản văn hóa
Trang 28vật thể không phải là trách nhiệm của một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào mà
là nghĩa vụ của tất cả mọi người, của cộng đồng dân tộc trong và ngoài nước Cần có sự phối kết hợp mang tính đồng bộ giữa các cấp, các ngành, chính quyền địa phương để các di sản văn hóa vật thể có thể trường tồn mãi mãi với thời gian
- Sự hội nhập về kinh tế dẫn đến sự hội nhập, giao lưu giữa các nền văn hóa cùng với sự tác động của kinh tế thị trường
Sự hội nhập về kinh tế dẫn đến sự hội nhập, giao lưu giữa các nền văn hóa và sự tác động của kinh tế thị trường có những tác động tích cực và tiêu cực tới những nét đẹp trong truyền thống văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng
Kinh tế ngày càng phát triển, sự mở rộng giao lưu ngày càng rộng rãi Một mặt, sẽ tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần trong nhân dân, du nhập những giá trị văn hóa mới từ các nền văn hóa trên thế giới Mặt khác, trong quá trình giao lưu, hội nhập, lối sống thực dụng của nền kinh
tế thì trường, xét ở một góc độ phương diện nào đó đã làm lai căng và lu mờ các giá trị truyền thống, lối kiến trúc và những giá trị nguyên bản của các di sản văn hóa vật thể
Như vậy, chương 1 của khóa luận đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa với ba nội dung chính: một là, làm rõ khái niệm và đặc điểm quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể; hai là, chỉ ra các nội dung quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể; ba là, vai trò và những yếu
tố tác động đến quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể Đây là cơ sở để tác giả triển khai nghiên cứu Chương 2 và Chương 3 của khóa luận
Trang 29Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý
Hà Nội có vị trí nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên,Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình ở phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km2, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn
Địa hình Hà Nội thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với
độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp,
ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng Hà Nội hiện nay vừa
có núi, có đồi và địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, trong đó đồng bằng chiếm tới ¾ diện tích tự nhiên của thành phố Với địa hình trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các di sản văn hóa vật thể
Thời tiết, khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Hà Nội có đặc trưng nổi bật
là gió mùa ẩm, nóng và mưa nhiều về mùa hè, lạnh và ít mưa về mùa đông; được chia thành bốn mùa rõ rệt trong năm: Xuân, Hạ, Thu, Đông Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời khá dồi dào Tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 120 kcal/cm², nhiệt độ trung bình năm 24,9°C, độ ẩm trung bình 80 - 82% Lượng mưa trung bình trên 1700mm/năm
Trang 30(khoảng 114 ngày mưa/năm) Với khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa có tác động đến các di sản văn hóa vật thể, nhiều loại hình di sản như Đình, Chùa, Miếu
và các di tích kiến trúc nghệ thuật, lịch sử văn hoá có nguy cơ xuống cấp nhanh chóng
Hệ thống sông ngòi
Hà Nội được hình thành từ châu thổ sông Hồng, nét đặc trưng của vùng địa lí thành phố Hà Nội là “Thành phố sông hồ” hay “Thành phố trong sông” Nhờ các con sông lớn nhỏ đã chảy miệt mài hàng vạn năm đem phù sa về bồi đắp nên vùng châu thổ phì nhiêu này Hiện nay, có 7 sông chảy qua Hà Nội: sông Hồng, sông Đuống, sông Đà, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Đáy, sông Cà
Lồ Ngoài ra hiện nay Hà Nội còn tới hàng trăm hồ đầm lớn nhỏ được phân
bổ ở khắp các phường, xã của thủ đô Hà Nội Nổi tiếng nhất là các hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Quảng Bá, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thanh Nhàn, Linh Đàm, Yên Sở, Giảng Võ, Đồng Mô, Suối Hai…
Hệ thống sông ngòi và những hồ đầm này của Hà Nội không những là một kho nước lớn mà còn là hệ thống điều hòa nhiệt độ tự nhiên làm cho vùng
đô thị nội thành giảm bớt sức hút nhiệt tỏa nóng của khối bê tông, sắt thép, nhựa đường và các hoạt động của các nhà máy…Hệ thống sông gòi, hồ đầm của Hà Nội không những tạo ra cho thành phố khí hậu mát lành mà còn là những danh lam thắng cảnh, những vùng văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng(ngày 01 tháng 8 năm 2008) có diện tích tự nhiên 3.324,92 km2, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp
17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn
Năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8,8%; bằng 1,52 lần mức tăng chung cả nước; thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 128.902 tỷ
Trang 31đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.257 USD/người /năm (2012), tỷ lệ làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa đạt , tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 90%
Thành phố Hà Nội trước kia đã nổi tiếng với những làng nghề phong phú, thể hiện qua câu thành ngữ quen thuộc "Hà Nội 36 phố phường" Sau khi Hà Tây được sát nhập vào Hà Nội, Hà Nội còn có thêm nhiều làng nghề danh tiếng khác Theo số liệu cuối năm 2008, toàn Hà Nội có 1.264 làng nghề, là nơi tập trung làng nghề đông đúc bậc nhất Việt Nam
Hà Nội cũng là một trong ba vùng tập trung nhiều hội lễ của miền Bắc Việt Nam Cũng như các vùng đất khác, những lễ hội truyền thống ở khu vực
Hà Nội được tổ chức nhiều nhất vào mùa xuân Tất cả những đặc điểm kinh tế
- xã hội này có những tác động tích cực đến hoạt động quản lý xã hội đối với văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng
2.1.3 Khái quát về di sản văn hóa vật thể
Thủ đô Hà Nội được mở rộng từ ngày 01/8/2008 đã tiếp nhận thêm nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh từ tỉnh Hà Tây, Hoà Bình cũ và huyện Mê Linh của huyện Vĩnh Phúc Cho đến nay Thành phố Hà Nội thực hiện sự quản lý nhà nước đối với số lượng di tích, danh thắng nhiều nhất trong cả nước Theo tư liệu năm 2014 của Ban quản lý Di tích và Danh thắng
Hà Nội thì Hà Nội sau khi hợp nhất với Hà Tây, Hoà Bình, Mê Linh thì số lượng di tích, danh thắng tăng lên đến trên 5.175 di tích, danh lam thắng cảnh
và trở thành tỉnh thành có nhiều di tích nhất trong nước Số di tích đã xếp hạng chiếm tới 42,65% (2.209 di tích)
Trang 32xưa là chốn "Cửa Khổng sân trình", là "Thánh đường Nho học", nơi đào tạo
và biểu dương nhân tài của đất nước, nay là di sản văn hóa Việt Nam Tại đây còn có 82 văn bia các Tiến sĩ đỗ đạt các thời, đã được tổ chức văn hóa UNESCO xếp hạng là di sản tư liệu lịch sử của thế giới
Di tích quốc gia đặc biệt có 12 di tích (2014), di tích cấp quốc gia có
1205, cấp tỉnh, thành phố có 1.156 di tích Trong tổng số các di tích lịch sử, văn hóa trên có gần 300 di tích cách mạng - kháng chiến; 292 di tích và địa điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ( theo thống kê mới nhất vào tháng 9 năm 2014 của Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội)
Như vậy, tính đến thời điểm này, cả nước đã có 62 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, trong số đó Hà Nội có 12/62 di tích được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt ( Theo thống kê của Cục Di sản Văn hóa tháng 4 năm 2015)
Thứ hai, di tích cách mạng - kháng chiến
Cùng với các di tích lịch sử - văn hoá, các di tích cách mạng - kháng chiến đã và đang góp phần tô điểm, làm sáng lên truyền thống yêu nước hào hùng đồng thời cũng thể hiện tinh thần yêu chuộng hoà bình, tự do, trọng đạo
lý của Thủ đô ngàn năm tuổi Hiện nay, các di tích cách mạng - kháng chiến trên địa bàn thủ đô Hà Nội có thể chia thành các nhóm như sau:
- Các di tích liên quan đến phong trào yêu nước chống thực dân Pháp Tiêu biểu như: Mộ các chiến sĩ hy sinh trong vụ Hà Thành đầu độc năm 1911 ở Bưởi (phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy), Ngôi nhà số 10 Hàng Đào ( cơ sở của phong trào Đông Kinh nghĩa thục), Khách sạn Hà Nội (Việt Nam Quang Phục hội)…
- Các di tích liên quan đến việc thành lập các tổ chức cộng sản từ năm
1926 đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945 Tiêu biểu như: Ngôi nhà 5D Hàm Long (nơi thành lập Chi bộ cộng sản đầu tiên ở Hà Nội tháng 3/1929), Ngôi nhà 90 Thợ Nhuộm (nơi đồng chí Trần Phú khởi thảo Luận cương cách
Trang 33mạng tư sản dân quyền tháng 10/1930), Ngân hàng quốc gia (nơi đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng bí thư của Đảng viết cuốn “Tự chỉ trích”)…
- Các di tích liên quan đến thời kỳ cách mạng tháng 8 năm 1945: Chùa
Hà, nhà bà Hai Nhã (Cầu Giấy), nhà cụ An (Tây Hồ), quảng trường Nhà hát lớn, Quảng trường 1- 5, Bắc Bộ phủ, nhà số 101 Trần Hưng Đạo, nhà số 48 Hàng Ngang (Hoàn Kiếm), khu di tích Phủ Chủ tịch (Ba Đình)…
- Các di tích thuộc thời kỳ toàn quốc kháng chiến và cuộc kháng chiến
9 năm chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954): Di tích lưu niệm Vạn Phúc - Hà Đông (nơi Chủ tịch Hồ Chí minh viết bản kêu gọi toàn quốc kháng chiến), di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở chùa Một Mái (Sài Sơn, Quốc Oai) nhà máy điện Yên Phụ, Trại giam Nhà Tiền (Ba Đình), Viện Pasteur, Pháo đài Xuân Canh, địa đạo Nam Hồng (Đông Anh)…
- Các di tích thuộc thời kỳ chống Mỹ cứu nước: Hồ Hữu Tiệp (hồ nước
ở Ngọc Hà, nơi máy bay B52 Mỹ bị bắn rơi), cầu Long Biên, tượng đài tưởng niệm những người dân Khâm Thiên bị bom Mỹ giết hại, hầm chỉ huy của Thành uỷ ở Võng Thị - Tây Hồ…
Các di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn thủ đô là những di tích đã gắn liền với quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân thủ đô Hà Nội nói riêng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Mỗi di tích ấy đều mang trong nó nhiều giá trị khác nhau mà ngày nay chúng ta cần phải bảo vệ và phát huy nhằm giáo dục truyền thống anh hùng cách mạng cho các thế hệ đi sau
Thứ ba, về danh lam, thắng cảnh, tiêu biểu có: Sông Hồng, Hồ Tây,
Chợ Đồng Xuân, Cầu Thăng Long, Cầu Long Biên, Cầu Chương Dương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Trúc Bạch, Khu du lịch Vườn Quốc Gia Ba Vì, Hồ Quan Sơn, Thắng tích núi Trầm, Làng Cổ Đường Lâm, Khu du lịch Đồng Mô, Khoang Xanh - Suối Tiên, Thác Đa…
Trang 34Thứ tư, các nhà bảo tàng
Hà Nội có rất nhiều bảo tàng Chưa thống kê chi tiết các bảo tàng, nhà truyền thống chuyên ngành có quy mô nhỏ, chỉ tính đến các bảo tàng lớn thì Thủ đô Hà Nội có đến khoảng 30 bảo tàng với các lĩnh vực khác nhau Tiêu biểu như: Viện Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Viện bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Bưu điện, Bảo tàng Công an nhân dân, Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Không Quân, Bảo tàng Văn học Việt Nam, Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng lịch sử Quốc gia…
Bảo tàng là nơi còn lưu giữ được rất nhiều giá trị văn vật gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước, không chỉ mang những giá trị về mặt vật chất
mà còn mang nhiều giá trị tinh thần là điểm đến cho du khách trong và ngoài bước tới tham quan và nghiên cứu
Thứ năm, các cổ vật, báu vật được lưu giữ ở Thủ đô Hà Nội
Các cổ vật, báu vật tiêu biểu ở Hà Nội có thể kể đến như: Trống đồng
Cổ Loa, Tháp đồng Đào Thịnh được phát hiện năm 1961 tại thôn Đào Thịnh, tỉnh Yên Bái Hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam Đây là chiếc tháp đồng có kích thước lớn nhất được phát hiện từ trước cho đến nay, là một loại hình hiện vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Lẫy nỏ Đồng thời Đông Sơn có niên đại khoảng 2.300 năm, Tượng người cõng nhau thổi khèn được PaJot phát hiện ở Đông Sơn - Thanh Hóa và đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Cột rồng cuốn Thăng Long bằng đá niên đại thế kỷ XI - XII, Cánh cửa gỗ chùa Phổ Minh đang được lưu giữ trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, đầu rồng gốm men xanh Đây là đầu rồng gốm phủ men xanh được sưu tầm trong khu vực Thành
Cổ Hà Nội, hiện đang lưu giữ trong một sưu tập tư nhân ở Hà Nội
Trang 352.2 Thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay
2.2.1 Những kết quả đã đạt được và nguyên nhân
và phát huy các giá trị văn hóa vật thể của cả nước nói chung và di sản văn hóa vật thể ở Hà Nội nói riêng
Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đến Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng sau thì Đảng và Nhà nước ta đã cùng có các nhận định đúng đắn hơn về vai trò của văn hóa, vai trò của văn hóa vật thể trong đời sống xã hội; Luật Di sản văn hóa được ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2001 và đến ngày 18 tháng 6 năm 2009 luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật Di sản văn hóa số 28/QH10 được Quốc Hội nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua Luật sửa đổi bổ sung và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa đã ngày càng hoàn thiện, càng đáp ứng tốt hơn với yêu cầu của thực tiễn liên quan đến hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa vật thể
Sau khi luật Di sản văn hóa ra đời, căn cứ vào đó Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra quyết định số 1706/QĐ-BVHTT ngày 24 tháng 7 năm
Trang 362001 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị Di tích lịch
sử - Văn hóa, danh lam thắng cảnh tới năm 2020”; Ngày 11 tháng 11 năm
2002 Chính phủ ra Nghị định số 92/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa Trong đó cũng quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể đối với loại hình di sản văn hóa vật thể;
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Quyết định 1211/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05 tháng 9 năm 2012 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012 – 2015 với dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể của các dân tộc Việt Nam”, “chống xuống cấp, tu bổ và tôn tạo di tích” và một số văn bản khác Thành phố Hà Nội luôn thực hiện tốt theo chiến lược, chủ trương, và các văn bản đó
Để tăng cường công tác quản lý di tích và nâng cao chất lượng bảo quản, tu bổ di tích, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội đã chỉ đạo Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội, các phòng, ban chuyên môn và các địa phương triển khai Chỉ thị số 73/CT-BVHTTDL ngày 19/5/2009 của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch về việc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản tu bổ và phục hồi di tích, quán triệt chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của từng cấp, từng địa phương trong công tác quản lý nhà nước
về di sản văn hoá UBND Thành phố Hà Nội cũng đã quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL ngày 03/02/2010 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hoá, tín ngưỡng tại di tích trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa được ban hành bởi các cơ quan nhà nước ở trung ương, thời gian qua, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã ban hành một số văn bản chỉ đạo, điều hành thực hiện