LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội hiện nay” là công trình nghiên cứu c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quá trình học Cao học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của Ban Giám đốc, Khoa Tuyên truyền, Trung tâm Thông tin Khoa học, các Trung tâm, Ban, Phòng và các cá nhân liên quan khác Đội ngũ thầy, cô giảng dạy đã giúp đỡ tôi trưởng thành hơn rất nhiều so với hồi đầu mới vào Học viện Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này, tôi đã được hướng dẫn tận tình bởi PGS, TS Lương Khắc Hiếu trong suốt quá trình tư duy và viết Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy
Cuối cùng tôi xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong sự nghiệp cao quý
Lê Ngọc Thanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Giáo dục văn hóa đối
thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội hiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2015
Lê Ngọc Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: GIÁO DỤC VĂN HÓA ĐỐI THOẠI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 9
1.1 Đối thoại, văn hóa đối thoại và văn hóa đối thoại trong các hoạt động
xã hội của sinh viên 91.2 Giáo dục văn hóa đối thoại và sự cần thiết của việc giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên hiện nay………24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VĂN HÓA ĐỐI THOẠI VÀ THỰC TRẠNG VĂN HÓA ĐỐI THOẠI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 41
2.1 Những yếu tố tác động đến văn hóa đối thoại trong hoạt động xã hội của sinh viên Đại học Hà Nội hiện nay 41 2.2 Thực trạng giáo dục văn hóa đối thoại trong hoạt động xã hội cho sinh viên Đại học Hà Nội 47 2.3 Thực trạng văn hóa đối thoại trong hoạt động xã hội của sinh viên Đại học Hà Nội 60
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC VĂN HÓA ĐỐI THOẠI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI HIỆN NAY 69
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên Đại học Hà Nội hiện nay 69 3.2 Một số giải pháp tăng cường giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội hiện nay 75
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….96
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
BCH: Ban Chấp hành
ĐTNCS HCM: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
ĐHHN: Đại học Hà Nội
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, nhiều Diễn đàn, Hội thảo và Đối thoại là những hình thức hoạt động phổ biến, đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, học tập, nghiên cứu khoa học, có sức thu hút mạnh mẽ đối với sinh viên Tuy nhiên, công tác giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên vẫn chưa được quan tâm đúng mức và chưa đạt được hiệu quả cao như mong đợi
Mỗi cá nhân cần được khẳng định về trí tuệ và nhân cách, về quan điểm
và thái độ, hành động trong cuộc sống Sinh viên cũng không phải ngoại lệ
Thông qua các hình thức hoạt động đối thoại, ta có thể hiểu rõ hơn tâm lý, tình cảm, sở thích, nguyện vọng, quan điểm, thái độ của đối tượng sinh viên Ngược lại, sinh viên có điều kiện tự thể hiện và khẳng định mình
Tuổi trẻ với tư duy mới, nhiều sáng tạo và năng động luôn được kỳ vọng
sẽ xây dựng tương lai tốt đẹp hơn của mỗi quốc gia Việt Nam cũng vậy, giới trẻ hiện nay được mong đợi sẽ đem tới sức sống mới trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Sống trong thời đại toàn cầu hóa, những tác động, ảnh hưởng của cộng đồng quốc tế đối với nước ta là điều không tránh khỏi Có những nhân tố tích cực và cả thiếu tích cực tác động tới quá trình phát triển Yêu cầu đặt ra đối với giới trẻ nước nhà chính là phương pháp và cách thức thẩm định, đánh giá, chọn lọc giải pháp phù hợp để điều chỉnh, thích nghi và phát triển
Trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, đối thoại đóng vai trò như là một phương tiện thực thi dân chủ, một công cụ giao tiếp mang tính bình đẳng trong xã hội Mục tiêu của đối thoại là thu được phản ứng mong đợi từ cả phía chủ thể lẫn khách thể, nhưng không phải bằng mọi giá Vì vậy, đối thoại góp phần hình thành nhân cách sinh viên cũng như nâng cao trình độ và năng lực thực hành dân chủ cho họ
Thêm vào đó, văn hóa đối thoại cũng là một cách thức giúp đỡ sinh viên
tự giáo dục theo chủ đề về Ðoàn, Hội đặt ra một cách có mục đích Nói cách khác, giáo dục văn hóa đối thoại cho sinh viên không chỉ giúp họ trưởng thành về mặt
Trang 8nhân cách mà còn là một phương thức thu hút sinh viên tham gia vào các hoạt động xã hội nói chung và các hoạt động chính trị - xã hội nói riêng
Có thể nói rằng, sinh viên (đại diện tiêu biểu cho giới trẻ tri thức) Việt Nam hiện nay đang sống trong thời đại tri thức nên vấn đề xây dựng văn hóa đối thoại sẽ rất thuận lợi và đang trở thành một nhu cầu của họ Tiếp bước thắp lên
“ngọn đuốc tự hào” truyền thống, họ có thể kế thừa và phát huy những giá trị xuyên suốt trong chiều dài lịch sử dân tộc mà lớp lớp cha ông gìn giữ cùng với tiếp thu kiến thức của nhân loại sẽ giúp họ tự tin vững bước khẳng định bản thân kết hợp tinh thần yêu nước luôn “cháy rực trong tim” Để từ đó, văn hóa đối thoại dần dần được hình thành trong họ, giúp họ nâng cao tinh thần sống vì cái mới tốt đẹp hơn Khi ấy, họ có thể biến tư tưởng tốt đẹp thành những hành động cao thượng chứa đựng nhiều tính nhân văn sâu sắc Có như vậy, chúng ta mới có thể cùng nhau chung tay, góp sức xây dựng đất nước phát triển bền vững đúng định hướng như mong đợi của toàn thể quần chúng nhân dân
Đại học Hà Nội (ĐHHN) là một trường đào tạo đa ngành ở bậc đại học và sau đại học Hiện nay, số lượng sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của Nhà trường ở tất cả các hệ là 13.322 người Trường đào tạo 20 chuyên ngành ngôn ngữ nước ngoài Từ năm 2002 Trường đào tạo thêm các chuyên ngành Quản trị - Kinh doanh, Du lịch, Quốc tế học, Công nghệ thông tin, Kế toán, Tài chính – Ngân hàng bằng tiếng Anh Sinh viên của Trường, do môi trường và yêu cầu đào tạo, là những người tiên tiến, năng động, nhạy cảm với cái mới Họ tham gia nhiều hoạt động xã hội khác nhau, tiếp xúc, trao đổi trong học tập và trong cuộc sống không chỉ với giảng viên, cán bộ Nhà trường mà còn với giảng viên, chuyên gia quốc tế Sự đa dạng của các hoạt động giao tiếp, hoạt động học tập, hoạt động xã hội đòi hỏi sinh viên ở đây phải có kỹ năng sống phong phú, có văn hóa cao trong ứng xử, giao tiếp, có nghệ thuật khi tham gia vào các hoạt động đối ngoại Tuy nhiên, trình độ văn hóa giao tiếp, văn hóa đối thoại của sinh viên gần đây dù có được tăng cường giáo dục nhiều hơn, nhưng về cơ bản vẫn chưa đủ, chưa đáp ứng mục tiêu đào tạo trong thời kỳ hội nhập Nhằm góp một phần nhỏ vào quá trình nâng cao trình độ văn hóa đối thoại cho sinh viên nói
Trang 9chung và sinh viên ĐHHN nói riêng, tác giả chọn vấn đề “Giáo dục văn hóa đối
thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội hiện nay” làm đề tài Luận văn thạc sĩ Chính trị học, chuyên ngành Công tác tư tưởng
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.1 Những công trình nghiên cứu về đối thoại và văn hóa đối thoại
- Nguyễn Văn Đệ (2006), “Quan hệ Thầy - Trò với việc rèn luyện kỹ năng
giao tiếp cho sinh viên trong Nhà trường đại học hiện nay”, Hội thảo Khoa học
Công nghệ toàn quốc "Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục", do Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên tổ chức
- Nguyễn Văn Bản (2007), “Hoạt động đối thoại với sinh viên và những
vấn đề đặt ra về tư vấn cho sinh viên ngành Tiểu học và Mầm non trong quá trình đào tạo ở Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp”, Kỷ yếu “Công tác hướng
dẫn và tư vấn cho sinh viên”, Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp
- Lương Khắc Hiếu (2007), “Đối thoại trong phát biểu miệng”, Tạp chí
Lý luận chính trị và Truyền thông, số 3
- Lương Khắc Hiếu (2008): Nghệ thuật phát biểu miệng, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội
2.2 Những công trình nghiên cứu về các hoạt động xã hội của sinh viên
- Dương Huy Cẩn (2006), “Tăng cường hoạt động tự học, tự rèn luyện kỹ
năng sư phạm cho sinh viên hóa học bằng phương pháp dạy học vi mô”, Kỷ yếu
“Hội thảo khoa học toàn quốc”, Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội
- Phạm Đình Văn (2007), “Hướng dẫn sinh viên ứng dụng internet vào
việc tìm kiếm, trao đổi và lưu giữ thông tin trong quá trình học tập ở bậc Đại học”, Kỷ yếu “Công tác hướng dẫn và tư vấn cho sinh viên”, Trường Đại học
Trang 10trình nào nghiên cứu tổng thể về nội dung, hình thức, và phương pháp đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên để đề ra các giải pháp giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên
- Nguyễn Văn Đệ (2006), “Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp với việc
nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên người dân tộc thiểu số”, Hội thảo "Hỗ trợ
học sinh, sinh viên thiệt thòi: Phương pháp tiếp cận và kinh nghiệm thực tiễn",
do Dự án "Những nẻo đường đến đại học" - Tài trợ bởi Quỹ Ford, Hoa Kỳ
- “Thống kê các công trình tham gia Giải thưởng sinh viên NCKH cấp Bộ
trong giai đoạn 1999-2009”, Hội đồng khoa học ĐHHN
- “Hoạt động khoa học của sinh viên, Quý I/2010”, Hội đồng khoa học
ĐHHN
- “Hội nghị Khoa học Sinh viên Khoa tiếng Italia năm học 2007-2008”,
Hội đồng khoa học ĐHHN
- “Ứng dụng CNTT trong việc nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu”
(Application of IT on climate change awareness improvement), ThS GV Trần
Hữu Tâm hướng dẫn, Hội đồng khoa học ĐHHN
- “Kỹ nghệ tri thức và hệ thống” (KSE), Hội nghị khoa học quốc tế, tổ
chức tại Trường Đại học Hà Nội, từ ngày 14 tới ngày 17 tháng 10 năm 2011
- Nguyễn Thị Cúc Phương, “Đổi mới chương trình cử nhân ngôn ngữ
Pháp theo định hướng nghề”, Số 32, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, Phòng Khoa
học, ĐHHN
- Ðỗ Quỳnh Hương, “Thiết kế và thử nghiệm một số mô-đun dạng tình
huống – vấn đề có sử dụng CNTT trong giảng dạy tiếng năm thứ nhất ở khoa tiếng Pháp”, Số 32, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, Phòng Khoa học, ĐHHN
2.4 Những công trình nghiên cứu về văn hóa đối thoại trong hoạt động
xã hội của sinh viên và sinh viên Đại học Hà Nội
- Nguyễn Việt Tiến, “Cặp câu hỏi-trả lời và các phương châm hội thoại”,
Số 32, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, Phòng Khoa học, ĐHHN
- Nguyễn Mai Yên, “Các phương tiện ngôn ngữ diễn đạt phép lịch sự trong
tiếng Đức”, Số 32, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, Phòng Khoa học, ĐHHN
Trang 11- Nguyễn Văn Kỷ, “Biến phòng “chat” thành lớp học: Gợi ý cho giáo
viên và người học ngoại ngữ”, Số 32, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, Phòng
Khoa học, ĐHHN
- Đỗ Thị Hồng Phương, “Đánh giá chéo giữa sinh viên trong giờ kỹ năng
thuyết trình”, Số 32, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, Phòng Khoa học, ĐHHN
- Nguyễn Hồng Giang, “Áp dụng phương pháp độc giả - phản ứng trong
giảng dạy văn học”, Số 32, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, Phòng Khoa học,
ĐHHN
Các công trình trên đề cập đến những khó khăn và thuận lợi của sinh viên trong học tập và nâng cao chất lượng đào tạo ở ĐHHN Thông qua những nghiên cứu này, các tác giả cũng đề cập đến vấn đề đối thoại trong hoạt động dạy và học Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu đến khó khăn, thuận lợi về đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên và văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên và sinh viên ĐHHN
2.5 Đánh giá tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đã công bố
Các công trình đã giới thiệu khái quát về ĐHHN, về các khoa, phòng, ban
và trung tâm của ĐHHN, đã phân tích những quan niệm khác nhau về các hoạt động xã hội của sinh viên, đã xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
xã hội của sinh viên và yêu cầu nâng cao chất lượng của các hoạt động này Trong chừng mực nhất định cũng đã đề xuất giải pháp nhằm giáo dục cho sinh viên có ý thức trong việc tham gia các hoạt động ngoại khóa…
Tuy nhiên, các công trình kể trên chưa đi sâu nghiên cứu về văn hóa đối thoại và hệ thống các tiêu chí đánh giá văn hóa đối thoại làm cơ sở để ĐHHN tự đánh giá năng lực giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên của mình; chưa xác định đầy đủ và đánh giá đúng những yếu tố tác động đến sự tham gia của sinh viên ĐHHN vào các hoạt động xã hội
Đặc biệt, các công trình chưa dự báo xu hướng đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN trong thời gian tới khi chương trình giáo dục
và đào tạo có thay đổi; chưa đề xuất một cách có căn cứ các giải pháp nâng cao
Trang 12tính đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường giáo dục văn hóa đối thoại cho sinh viên ĐHHN hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động
xã hội cho sinh viên;
- Khái quát thực trạng giáo dục văn hóa đối thoại và thực trạng văn hóa đối thoại của sinh viên ĐHHN hiện nay;
- Làm rõ những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp tăng cường giáo dục
văn hóa đối thoại trong hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN hiện nay
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên có nội dung rộng lớn Luận văn tập trung nghiên cứu giáo dục văn hóa đối thoại trong hai loại hình hoạt động xã hội chủ yếu đó là hoạt động giao tiếp xã hội và hoạt động sinh hoạt xã hội
Thời gian khảo sát: từ 01/2010 đến 01/2015
Các giải pháp được đề xuất đến năm 2020
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu là các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về văn hóa, về đối thoại và về văn hóa đối thoại
Trang 13Luận văn tiếp cận mục tiêu và các nội dung nghiên cứu dựa trên những lý thuyết chính sau: Lý thuyết văn hóa và đối thoại; Lý thuyết về văn hóa đối thoại;
Lý thuyết về hoạt động xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa; Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp phân tích nội dung; Phương pháp quan sát
6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn đã xây dựng khung lý thuyết và lý luận về văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN làm cơ sở để khảo sát thực trạng giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN, đồng thời làm cơ sở để sinh viên và ĐHHN chủ động sáng tạo tham gia, xây dựng môi trường văn hóa học đường ngày một tốt hơn
- Luận văn phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên ĐHHN
- Đánh giá thực trạng văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN, phân tích những nguyên nhân của thực trạng đó
- Đưa ra các dự báo về xu thế văn hóa đối thoại và đề xuất những giải pháp, kiến nghị để giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên ĐHHN đáp ứng được những nhu cầu bức thiết mà thực tiễn đặt ra
7 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
7.1 Ý nghĩa lý luận của Luận văn
Một là, dựa vào nền tảng sử dụng cách tiếp cận liên ngành, Luận văn góp
phần phát triển khung lý thuyết và lý luận về giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên ĐHHN
Hai là, Luận văn là nghiên cứu thực nghiệm tại ĐHHN được thực hiện
trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu văn hóa và đối thoại, đặc biệt là các
Trang 14phương pháp nghiên cứu xã hội học, tâm lý học, nhằm hướng tới những luận cứ khoa học có khả năng thuyết phục cao
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của Luận văn
Có thể nói, Luận văn đóng góp cái nhìn tổng thể về thực trạng văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên ĐHHN Bên cạnh đó, Luận văn cũng đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ, phù hợp, khả thi cho các đối tượng của ĐHHN thuộc diện khảo sát, có thể là những gợi ý tốt cho Đảng bộ, Ban Giám hiệu ĐHHN khi xây dựng kế hoạch giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên ĐHHN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
8 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết
Trang 15CHƯƠNG 1 GIÁO DỤC VĂN HÓA ĐỐI THOẠI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG
XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Đối thoại, văn hóa đối thoại và văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên
1.1.1 Khái niệm và loại hình đối thoại
1.1.1.1 Khái niệm đối thoại
Đối thoại là nói chuyện, trao đổi qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau Khác với độc thoại là nói chuyện một mình, là một người nói còn những người khác nghe, đóng vai “người đối thoại im lặng” Trong đối thoại, tất cả những người tham gia đều vừa là người nói, vừa là người nghe, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng Đối thoại thường có sức thuyết phục cao trong phát biểu tuyên truyền mà các loại hình độc thoại không có được [17; tr5]
Bên cạnh đó, chúng ta cũng biết độc thoại có thể chuyển hóa thành một trong các hình thức đối thoại nếu “người đối thoại im lặng” trong cuộc thoại tham gia đối thoại Thực tế cho ta thấy: Quá trình đối thoại, các vai thoại (người nói – người nghe, chủ thể - đối tượng) chuyển hóa lẫn nhau
1.1.1.2 Các loại hình đối thoại
- Đối thoại trực tiếp
Đối với loại hình này, chúng ta có thể quan niệm: Đây là loại đối thoại trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với nhau theo phương thức mặt đối mặt, các hành vi nói và nghe diễn ra đồng thời trong một không gian xác định Đồng thời, đối thoại này cũng mang tính chất công cụ, theo chức trách, quy định, thể chế như hội họp, mít tinh, đàm phán… Các chủ đề, vấn đề thường được xác định trước, thông tin cũng được các chủ thể cân nhắc trước, do vậy thông tin có độ chính xác cao Về cơ bản, có thể kể tới những loại hình phổ biến sau:
+ Tọa đàm
Là hình thức thảo luận tập thể về một số vấn đề nào đó nhằm đi tới thống nhất trong nhận thức và hành động Tọa đàm được sử dụng rộng rãi trong hệ thống nhà trường nhất là trường Đảng, trường đoàn thể, trong các tổ chức chính
Trang 16trị - xã hội Thảo luận được tiến hành trong các nhóm nhỏ (khoảng dưới 30 người) thì hiệu quả cao Tọa đàm cần có người chủ trì Trong tọa đàm, người chủ trì khuyến khích mọi người phát biểu, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình, đồng thời định hướng quá trình trao đổi, hướng dẫn người tham gia tập trung ý kiến vào nội dung chính và cuối cùng tổng kết các ý kiến để thống nhất nhận thức của người tham gia [17; tr5]
+ Thảo luận (thường được tiến hành dưới hình thức Seminar – hội thảo)
Có rất nhiều định nghĩa về thảo luận, trong đó dễ hiểu nhất phải kể tới
theo Từ điển tiếng Việt thì ta biết: Thảo luận là trao đổi ý kiến về một vấn đề, có
phân tích lý lẽ
Từ định nghĩa trên, chúng ta có hiểu thêm như sau:
Có thảo luận tức là có sự trao đổi ý kiến giữa các bên với nhau, tức là không phải chỉ có một người nói, mà còn có nhiều người khác cùng nói;
Có trao đổi ý kiến, nhưng là trao đổi ý kiến về một vấn đề (có thể có nhiều vấn đề cần trao đổi), tức là các ý kiến thảo luận của những người tham gia, không thể là mỗi ý kiến nêu những vấn đề khác nhau Nếu thế thì thảo luận không có ý nghĩa gì và không đem lại kết quả mong muốn
Khi tham gia thảo luận thì phải phân tích có lý lẽ, tức là phải có quan điểm
rõ ràng, phải có lý lẽ thuyết phục những người cùng tham gia thảo luận
+ Tranh luận
Là một dạng đối thoại có tổ chức diễn ra dưới hình thức đấu lý giữa những người tham gia Điều kiện để tiến hành tranh luận là vấn đề được đưa ra tranh luận nhưng chưa có quan điểm chung, thống nhất Như vậy, tranh luận chính là thảo luận về vấn đề còn đang tranh cãi nhằm hiểu sâu hơn về vấn đề đó, giúp những người tham gia có khả năng tự đi đến kết luận, tự đi đến chân lý bằng năng lực tư duy, sự hiểu biết và kỹ xảo tranh luận của mình [17; tr5]
Trang 17thường nêu vấn đề dưới dạng các câu hỏi, còn người có trách nhiệm thì trả lời
theo yêu cầu các câu hỏi mà công chúng nêu ra [17; tr5]
- Đối thoại gián tiếp
Đối thoại gián tiếp là loại hình đối thoại mà các vai thoại (người nói và người nghe) có thể không nhìn thấy nhau, không diễn ra tức thời và thường được thực hiện nhờ vào một công cụ, một phương tiện nào đó (Thư từ, fax, email, diễn đàn, mạng xã hội hoặc phương tiện truyền thông đại chúng…) Đây là loại hình đối thoại tương đối phổ biến trong thời công nghệ phát triển như hiện nay, chúng ta có thể thấy loại hình đối thoại này được triển khai và áp dụng rộng rãi trên các diễn đàn và trang mạng xã hội trực tuyến với rất đông các thành viên tham gia thường xuyên trao đổi thông tin
Thường thì đối thoại gián tiếp không câu nệ hình thức, mang tính chất chủ yếu dựa trên hiểu biết về nhau Chẳng hạn như, bạn bè trò chuyện, lãnh đạo – quản lý chuyện trò riêng với nhân viên, tuỳ theo sự phát triển của các mối quan
hệ Hình thức này có ưu điểm là không khí cởi mở, thân thiện, hiểu biết lẫn nhau Loại hình đối thoại này trong cuộc sống thực tế là vô cùng phong phú Đối thoại gián tiếp bao gồm các loại như đối thoại song phương (hai người đối thoại với nhau), đối thoại nhóm (trong tập thể) và đối thoại xã hội (quốc gia, quốc tế, )
1.1.2 Văn hóa đối thoại
1.1.2.1 Khái niệm văn hóa đối thoại
Nhà nghiên cứu người Pháp J Derrida đã nói: “Văn hóa là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng đối với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó” [38; tr28]
Văn hóa chính là con người, là sức mạnh bản chất của con người, thể hiện trong hoạt động sống và phương thức sống của con người, thể hiện trong bản thân sự phát triển và tầm vóc của con người – chủ thể xã hội Đồng thời, con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của văn hóa Do đó, hiểu theo nghĩa rộng:
“Văn hóa là trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, sự sáng tạo và năng lực của con người trong xã hội ấy biểu hiện ở các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hoạt động, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con
Trang 18người sáng tạo ra” [48; tr276] Từ đó, chúng ta có văn hóa lao động, văn hóa giao tiếp, văn hóa tư duy, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa chính trị, văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý…
Qua đây, ta có thể hiểu: Văn hóa đối thoại là trình độ cao của việc sử
dụng ngôn ngữ, hình thức, phương pháp và phương tiện giao tiếp trong nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau; nhằm nâng cao phương thức ứng xử (năng lực học hỏi, thích ứng và sáng tạo), tính thuyết phục, dân chủ, tạo
ra những giá trị chuẩn mực tương đối ổn định (về ứng xử và cách nói năng), chi phối hành vi ứng xử và hiệu quả của quá trình giao tiếp
1.1.2.2 Cấu trúc văn hóa đối thoại
- Tri thức đối thoại
Là sự hiểu biết của mỗi người về hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực và hành
vi đối thoại trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội Tri thức đối thoại được hình thành và phát triển trong quá trình nhận thức giao tiếp Với trình độ nhận thức thông thường, con người có thể có được các tri thức đối thoại dưới dạng kinh nghiệm về các chuẩn mực để ứng xử và đánh giá các hành vi đối thoại Đối với trình độ nhận thức lý luận có thể có được tri thức đối thoại dưới dạng khái niệm, tư tưởng, quan điểm và lý thuyết được luận chứng bằng lý luận
- Thái độ đối thoại
Là sự phản ánh mang tính cảm xúc của chủ thể trước hiện thực đối thoại Thái độ đối thoại được hình thành trên cơ sở nhận thức đối thoại của mỗi cá nhân Nói cách khác, mỗi người chỉ có thể hình thành thái độ đối thoại trên cơ
sở có được những tri thức nhất định về đối thoại Thái độ đối thoại thể hiện thái
độ của con người trước những hiện tượng giao tiếp nảy sinh trong đời sống, là
cơ sở để hình thành niềm tin – động lực của hành vi đối thoại Người có thái độ đối thoại đúng sẽ tự giác thực hiện nghĩa vụ đối thoại của mình đối với người khác và đối với xã hội
- Hành vi đối thoại
Là sự phục tùng tự nguyện ý thức đối thoại bằng những hành động cụ thể xuất phát từ những động cơ muốn làm cho người khác được tốt hơn, nó được thể
Trang 19hiện ở sự vô tư hoàn toàn trong sáng Giá trị đối thoại được cấu tạo bởi tính có ích cho người khác, tính tự nguyện và tính không vụ lợi của hành vi
Có thể thấy rằng, đánh giá văn hóa đối thoại của một cá nhân không chỉ căn cứ vào tri thức đối thoại, tình cảm hay thái độ đối thoại mà quan trọng hơn phải căn cứ vào hành vi đối thoại của họ biểu hiện trong các quan hệ xã hội Giữa tri thức đối thoại, tình cảm, thái độ đối thoại và hành vi đối thoại có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo nên bản chất đối thoại của một con người
1.1.3 Văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên
1.1.3.1 Hoạt động xã hội và các loại hình hoạt động xã hội của sinh viên
* Khái niệm hoạt động xã hội
Hoạt động là làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội, chẳng hạn như hoạt động nghệ thuật, hoạt động quân sự… Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)
Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa Một định nghĩa bình thường của "xã hội" thường đề cập đến một nhóm người sống cùng trong một cộng đồng có lề lối, ví dụ như là xã hội Anh hoặc xã hội Mỹ
Những bộ môn khoa học xã hội sử dụng từ xã hội để nói đến một nhóm
người tạo dựng một hệ thống xã hội một phần khép kín (hoặc một phần mở rộng), trong đó những người trong một nhóm hầu hết tương tác với những người khác thuộc cùng nhóm đó
Từ tiếng Anh society xuất hiện vào thế kỉ 14 và bắt nguồn từ tiếng Pháp société Nó có nguồn gốc trong từ Latin societas, "sự giao thiệp thân thiện với người khác", trong socius có nghĩa là "bầu bạn, kết giao, đồng chí hoặc đối
tác" Vì thế nghĩa của từ xã hội có quan hệ gần gũi với những gì được coi là thuộc quan hệ giữa người và người
Công tác xã hội là một hoạt động thực nên mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân
Trang 20và các nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ, vì phúc lợi
và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội
Từ tất cả những điều trên, ta có thể đi tới kết luận: Hoạt động xã hội là
quá trình một tập thể hay một nhóm người tham gia thực hiện tạo ra sản phẩm nào đó theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân hoặc các nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ Qua đó, tâm lý, ý thức và nhân cách của người tham gia cũng được bộc lộ và hình thành
* Hoạt động xã hội của sinh viên
- Khái niệm hoạt động xã hội của sinh viên
Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Có sinh viên đến trường với mục đích trang bị kiến thức phục vụ cuộc sống, cũng có người trong số họ lại chỉ mong kiếm được tấm bằng, có người đơn giản chỉ vì thuận theo yêu cầu của gia đình,
có người vì niềm vui hay sở thích cá nhân và có người đến trường chỉ là vì không biết làm gì với thời gian rảnh rỗi
Qua đây, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa, hoạt động xã hội của sinh
viên là quá trình một tập thể hay một nhóm sinh viên tham gia thực hiện tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới lẫn phía con người theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân hoặc các nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ Qua đó, tâm lý, ý thức và nhân cách của sinh viên tham gia cũng được bộc lộ và hình thành
- Các loại hình hoạt động xã hội chủ yếu của sinh viên
+ Hoạt động giao tiếp xã hội
Hoạt động giao tiếp xã hội không chỉ để truyền đạt thông tin hai hoặc đa chiều giữa người nói và người nghe, để hướng tới đạt được kết quả theo chủ định Đó còn là sự thể hiện văn hóa, lối sống và cách ứng xử của mỗi người
Loại hoạt động này bao gồm:
Trang 21Giao tiếp bạn bè
Đây là hoạt động thường xuyên nhằm truyền tải thông tin hai hoặc nhiều chiều giữa những người có mối quan hệ bạn bè Tùy theo mức độ hiểu biết, không gian và phạm vi trao đổi mà số lượng và chất lượng cũng biến chuyển theo
Giao tiếp trong hoạt động cộng đồng
Phạm vi và chất lượng của loại hình giao tiếp này phụ thuộc khu vực dân
cư, đặc điểm nhóm người hay tập thể người tham gia và mục đích hướng tới của chủ thể Đây là loại hình phổ biến với các hoạt động tình nguyện, giàu tính nhân văn của sinh viên thường được diễn ra theo kế hoạch định kỳ hàng năm
+ Hoạt động sinh hoạt xã hội
Hoạt động này diễn ra tại các hội nghị, hội thảo và trong các tổ chức với những quy định rõ ràng có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm chia sẻ trách nhiệm
cộng đồng hướng tới sự công bằng xã hội Hoạt động này bao gồm:
Thứ nhất, sinh hoạt trong các tổ chức xã hội
Ðáp ứng lý tưởng cao đẹp và đầy trọng trách, giới trẻ là những người đang sống, đang hình thành, đang lớn dần, đang muốn khẳng định, muốn trưởng thành, bộc lộ, hội nhập, thành công, và muốn cảm thấy mình có ích cho xã hội, cho người khác, cho xã hội và cho gia đình Họ đang sống quanh ta và muốn lăn
xả, hòa nhập vào trong đó với một sức sống, một lý tưởng và một mục đích rõ rệt, muốn đóng góp sức mình vào đó Họ muốn tạo cho họ một cuộc sống có ý nghĩa cho bản thân và cho đời Họ đang ở trong giai đoạn sung mãn nhất của cuộc đời
Người trẻ cũng là người đầy mộng mơ, luôn muốn được đổi mới, muốn được nổi trội, muốn được người ta ca tụng Chính vì thế mà họ luôn tìm cách theo đuổi những giá trị, những phương cách sống nhằm thỏa mãn họ Người trẻ cũng là người nông nổi nhất thời nhất, chưa có độ chín chắn trong suy nghĩ và hành động, mọi thứ đối với họ chỉ nhất thời, nhiều khi là chóng qua Họ luôn khao khát cái mới, cái nổi trội, vì thế mà họ luôn tìm mọi cách để nổi trội, để đổi mới, không chịu gò bó trong một khuôn khổ nào cả Vì vậy, sinh viên sinh hoạt
Trang 22trong các tổ chức xã hội là để thỏa mãn tất cả những nhu cầu chính đáng, giúp hoàn thiện nhân cách của mình
Thứ hai, tham gia hoạt động đàm phán, thương lượng, làm việc nhóm
Những sinh viên tham gia hình thức này thường là những sinh viên rất năng động với những công việc làm thêm ngoài giờ học hoặc những sinh viên chăm chỉ muốn trau dồi thêm kiến thức và kinh nghiệm làm việc Họ sử dụng các kỹ năng khi tham gia ở mức tổng hợp, linh hoạt, sáng tạo và trình độ cao hơn so với các hình thức khác
Thứ ba, hoạt động nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng kỹ năng mềm
Những hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo chuyên đề, những cuộc thi chuyên và không chuyên, những khóa bồi dưỡng kỹ năng mềm được tổ chức thường xuyên sẽ giúp tạo ra sân chơi để sinh viên có thể thực hành những kiến thức đã được học tập trên giảng đường Qua đó, tạo động lực thúc đẩy sinh viên phấn đấu nhiều hơn nữa trong học tập và các hoạt động
Thứ tư, hoạt động tình nguyện
Đội thanh niên tình nguyện đến các bản làng, vùng khó khăn và các gia đình neo đơn, chính sách, tham gia tích cực vào các chiến dịch mùa hè thanh niên tình nguyện; tổ chức hoặc hợp tác tổ chức những hoạt động từ thiện có ý nghĩa lớn như chương trình “Tết đẹp”, “Chung tay gom nắng”, “Trái tim trẻ”… với mong muốn nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội của sinh viên Ngoài ra, sinh viên cũng cần tích cực tham gia hỗ trợ Khoa chủ quản và trường mình học việc tổ chức các sự kiện lớn của Khoa, Trường như các ngày lễ kỉ niệm, các hội thảo thông tin tuyển sinh, các triển lãm giáo dục…
Thứ năm, văn nghệ - thể thao
Các hoạt động thể thao, văn nghệ trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống sinh viên Các giải thi đấu thể thao như bóng đá, bóng bàn, các đêm nhạc chào mừng các ngày lễ lớn, cuộc thi Tiếng hát sinh viên, cuộc thi Sinh viên thanh lịch là những ngày hội lớn của Khoa, Trường cơ hội để phát triển tinh thần giao lưu, hợp tác, biến việc học tập tại giảng đường thành niềm vui và
sự thích thú
Trang 23Thứ sáu, tham gia các diễn đàn, các trang mạng xã hội
Đối với giới trẻ, đặc biệt là sinh viên thì việc tham gia các diễn đàn, các trang mạng xã hội được coi là món ăn tinh thần không thể thiếu hàng ngày Tốc
độ phát triển của internet đi cùng với những tiến bộ không ngừng của những thiết bị công nghệ cao dẫn tới sự bùng nổ thêm hàng loạt những diễn đàn và trang mạng xã hội Chúng ta thường thấy, sinh viên chủ yếu tham gia loại hình trên với mục đích trò chuyện, tâm sự, chia sẻ; học tập, kiếm việc; xây dựng và phát triển các mối quan hệ cũ, mới…
1.1.3.2 Văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên
* Quan niệm về văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên
Dựa vào tất cả những khái niệm liên quan như trên vừa nêu, chúng ta có
thể hiểu: Văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên là trình độ
cao của việc sử dụng ngôn ngữ, hình thức, phương pháp và phương tiện giao tiếp trong quá trình một tập thể hay một nhóm sinh viên tham gia hoạt động xã hội theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân hoặc các nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ, chi phối hành
vi ứng xử và hiệu quả của quá trình đối thoại Qua đây, tâm lý, ý thức và nhân cách của sinh viên tham gia cũng được bộc lộ và hình thành
* Tiêu chí văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên
Trên cơ sở khái niệm văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên, có thể coi các nội dung sau là tiêu chí của văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên
- Văn hóa trong cách lập luận và thuyết phục
+ Cách lập luận
Có dẫn chứng đi kèm với lập luận chặt chẽ
Khi muốn người khác tin mình thì cần đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho luận điểm đưa ra Ví dụ như, đánh giá sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đánh giá là thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử Và điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn Việt Nam, nhưng vẫn có người muốn hạ thấp, xuyên tạc sự việc này
Trang 24Chiến thuật “Rào trước đón sau”
Hãy lường trước tình huống là luận điểm mình đưa ra có thể bị những bằng chứng khác bác bỏ Bên cạnh đó, cũng phải lường trước phản ứng của người nghe là họ sẽ đón nhận điều mình nói ra sao để có cách mở đầu phù hợp
Vì thế, chuẩn bị tốt hai điều này, mình sẽ vững tin hơn khi phản biện
+ Thuyết phục
Thuyết phục là sự thông báo, giải thích nhằm mục đích hình thành hay làm thay đổi các quan điểm, thái độ nào đó Ðây là cách thức quan trọng để hình thành các quan điểm và thế giới quan của cá nhân Khác với ám thị, người được thuyết phục ở trạng thái có ý thức, có sự trao đổi, phê phán
Thuyết phục được xây dựng trên cơ sở những luận điểm có căn cứ, được chứng minh theo một cơ cấu lôgíc để có thể đạt được sự đồng tình của người
nhận thông tin Do đó, lập luận và chứng minh là hai đặc trưng của thuyết phục
Trình bày – Thuyết trình là một trong những kỹ năng mềm quan trọng trong học tập, trong công việc và cả trong cuộc sống của mỗi người Cần phải rèn luyện kỹ năng này nếu muốn đạt được những kỹ năng cao hơn như: Nói trước công chúng, dẫn chương trình hay diễn thuyết
Để thuyết trình thuyết phục, bên cạnh nội dung thuyết trình, người thuyết trình phải vượt qua nỗi sợ hãi, tự tin trước đám đông, vững vàng tư tưởng và biết cách cuốn hút người đối diện Thuyết trình – Trình bày còn là yếu tố quan trọng trong
giao tiếp ứng xử thuyết phục, hiệu quả Vì vậy, kỹ năng thuyết trình rất cần thiết cho mỗi cá nhân
Trong khi đó, Ám thị – thôi miên là hai cấp độ, hai trạng thái “mất tỉnh táo” mất “khả năng phản hồi” của ý thức, nảy sinh dưới tác động đặc biệt của một kích thích nào đó Trong trạng thái thôi miên, não chỉ giữ mối liên hệ với một nguồn kích thích nhất định, toàn bộ những bộ phận thần kinh trung ương khác bị ức chế Vì vậy, con người dường như chỉ gắn bó với thế giới bên ngoài theo một kênh thông tin, chấp hành tuyệt đối những yêu cầu được mã hoá qua kênh thông tin đó Ám thị là hình thức thôi miên nhẹ, khi não vẫn “thức” Cá
Trang 25nhân bị chi phối bởi thông tin gây ám thị, mất khả năng suy xét một cách có phê phán, cả tin và dễ bị thuyết phục
Ám thị có thể mang tính chất trực tiếp hoặc gián tiếp, tích cực hoặc tiêu cực, trọn vẹn hoặc không trọn vẹn, kiên trì hoặc không kiên trì Ám thị trực tiếp
là hình thức trong đó người này thông báo cho người kia dưới hình thức mệnh lệnh – những ý nghĩ nhất định, khiến người kia phải tiếp nhận và thực hiện không phê phán Ám thị gián tiếp thì phải đi vòng thông qua nhiều phương tiện
hỗ trợ
Bằng cách biết được những phương pháp có thể thuyết phục và ảnh hưởng người khác, có thể đạt được nhiều quyền lực hơn và có thể đạt nhiều mơ ước trong cuộc sống nhanh hơn những người khác nếu họ không được trang bị
kỹ năng này Về cơ bản, ta có thể thấy những phương pháp phổ biến sau:
Thứ nhất là: Thuyết phục người khác thông qua tạo động lực
Đối lập với ảnh hưởng người khác là ảnh hưởng ít hoặc không ảnh hưởng
gì cả trong quá trình giao tiếp với người khác Có sự khác biệt giữa có ảnh hưởng và không có ảnh hưởng Hầu hết chúng ta không nhận ra rằng, mọi hành
vi tương tác giữa người với người đều dựa trên một chuỗi những quy trình gồm quy trình thuyết phục và quy trình tạo ảnh hưởng Do không nhận thức được, chúng ta sẽ bị rơi vào lầm tưởng giữa thuyết phục để người khác giúp đỡ người khác và tạo ảnh hưởng để người khác giúp chúng ta
Tất cả những người thành công sẽ có quyền lực tự nhiên trong thuyết phục người khác Họ có thể có cả một kế hoạch và các chiến thuật để làm cho người khác hỗ trợ mình Họ xác định mục tiêu rõ ràng và sau đó chọn người hợp tác để
họ có thể đạt mục tiêu của mình Tuy nhiên, nếu chúng ta theo quy trình như vậy, thì việc thuyết phục để đạt được mục tiêu chỉ là gián tiếp
Điểm chính yếu trong thuyết phục chính là tạo động lực Mọi hành động của con người đều phải được thực hiện thông qua một động lực nào đó Để học cách làm sao thuyết phục người khác, phải tìm ra cái gì tạo động lực cho họ và tiến hành cho họ biết điều họ nhận được Theo các nghiên cứu, con người có hai động lực lớn: Đó là mong ước được tiến bộ, thăng tiến, phát triển, tạo lập
Trang 26được gì đó có giá trị trong cuộc sống, có nhiều tiền hơn, thành công hơn, khỏe mạnh hơn, được tôn trọng hơn, được yêu quý hơn và hạnh phúc hơn và nỗi sợ
bị thất bại
Thứ hai là: Tạo ảnh hưởng người khác thông qua sự hiểu biết sâu sắc của chủ thể
Điều này đặc biệt quan trọng trong thuyết phục tạo ảnh hưởng Nếu chủ
thể là một chuyên gia trong lĩnh vực nào đó, dù kêu gọi và giải thích cho người khác nghe có vẻ phi lý, nhưng với sự nhìn nhận chủ thể là chuyên gia từ người khác, thì họ vẫn dễ dàng đồng ý theo chủ thể
- Trong ngôn ngữ giao tiếp đối thoại
Một là, giao tiếp qua cách nói
Bước đầu tạo ấn tượng tốt, trước khi bắt đầu đối thoại, chủ thể đối thoại
nên thiết lập mối quan hệ hoặc gây ấn tượng nhanh với người muốn truyền đạt thông tin Có thể bắt đầu bằng cách chia sẻ những sở thích, hỏi thăm về công
việc gia đình, khen ngợi vẻ bề ngoài hay trang phục của người tham dự Tiếp
đến sử dụng ngôn từ đúng cách, lựa chọn ngôn từ sử dụng phù hợp tùy thuộc
vào đối tượng muốn truyền đạt thông tin Bởi có những từ ngữ mang ý nghĩa sâu
xa, phức tạp đòi hỏi người nghe phải có trình độ nhất định mới hiểu được do đó nên dùng những từ ngữ mang tính rõ ràng, chính xác để người nghe không hiểu lầm, không khó khăn trong việc đoán nghĩa
Hai là, biết lắng nghe đối phương
Đối thoại cũng là quan hệ hai chiều giữa người nói và người lắng nghe
Do vậy, hãy trở thành người lắng nghe theo đúng cách để hiểu được quan điểm
và tôn trọng đối phương Biết lắng nghe người khác thì người khác mới lắng nghe mình
Ba là, sử dụng giọng điệu phù hợp
Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thiện cảm của người nghe Không thể quát tháo, dùng những âm vực gây chói tai để truyền đạt thông tin hay quá nhỏ nhẹ, thì thầm trong việc tranh luận vấn đề gay gắt nào đó Lựa chọn giọng điệu phù hợp giúp tăng sức thuyết phục trong đối thoại
Trang 27Bốn là, sử dụng ngôn ngữ cơ thể
Nhận biết sự kết nối, trong quá trình chờ đợi, khi một người nào đó kết
nối giao tiếp với mình đơn giản qua cách chào hỏi như gật đầu hoặc mỉm cười Lúc ấy, không nên quá bất ngờ, cần phản ứng bình tĩnh đáp lại sự kết nối ấy Rất
có thể đó là mối quan hệ tiềm năng tốt trong tương lai Sử dụng biểu cảm qua
khuôn mặt, mỗi trường hợp hoàn cảnh khác nhau luôn phải biết cách kiềm chế,
che giấu những biểu cảm tiêu cực bên trong tránh gây mất hòa khí hay phản cảm giữa cuộc đối thoại Và cũng cần bộc lộ sự nhiệt tình được thông qua nét mặt sẽ khiến người nói hoặc người nghe có được sự thoải mái, đồng tình và hào hứng
với chủ đề bàn luận Giao tiếp qua ánh mắt, giao tiếp này trong cuộc đối thoại
chia sẻ thông tin là một yếu tố không thể thiếu Thay vào đối tượng đang lắng nghe thông tin truyền đạt, mình lại nhìn vào người hoặc vật thể khác thì cuộc nói chuyện này sẽ không thể tiếp diện Người nghe sẽ không biết được mục tiêu, người mình cần nói là ai cũng như không thấy được thái độ tôn trọng Đương nhiên, không nên chăm chăm nhìn thẳng vào mắt đối phương, tùy từng trường hợp sẽ gây ra tác động tiêu cực Có thể nhìn vào sống mũi của họ hoặc thỉnh
thoảng lướt qua cặp mắt như vậy sẽ có lợi hơn
Ngoài ra, biết dừng đúng lúc để nhấn trọng tâm vấn đề, không nên thao
thao bất tuyệt đọc liền một mạch một bài diễn thuyết hoặc chủ đề thảo luận hoặc phát biểu ý kiến tham luận, thay vào đó nên dừng vào những trọng tâm để nhấn
mạnh Có như thế, người nghe sẽ không cảm thấy nhàm chán và mệt mỏi Dùng
cử chỉ bằng tay đúng cách, không phải cứ khoa chân múa tay, chỉ trỏ lung tung
nhất là việc chỉ tay vào đối phương là mang lại lợi ích Vì vậy, phải biết kiểm soát cử chỉ của cơ thể để tránh điều bất lợi Bên cạnh đó, cũng nên chú ý đến trang phục, cách đi đứng và các cử chỉ khác của cơ thể để thể hiện bản thân ở mặt tốt và có lợi nhất trong giao tiếp
Năm là, đối thoại trong xung đột
Khi xung đột, không kiềm chế được cảm xúc đôi bên có thể phát ngôn ra những từ ngữ thiếu văn hóa, gây tổn thương và xúc phạm đến lòng tự trọng của
Trang 28nhau Lúc đó, hai bên không còn sự chia sẻ, đối thoại, truyền đạt thông tin một cách đúng mực Điều ấy không giải quyết được vấn đề gì ngoài việc gây mất đoàn kết và tổn hại lẫn nhau Do đó, nên học cách bình tĩnh, dùng từ ngữ và cử chỉ thích hợp cố gắng làm giảm sự căng thẳng tránh đẩy lên cao trào kích thích xung đột
- Trong thái độ và hành vi giao tiếp
Xây dựng được lòng tin nhất định nơi người nghe, tùy vào tính chất của
buổi đối thoại, hãy ăn mặc và tạo một vẻ ngoài đứng đắn, gọn gàng để gây thiện cảm Người ta thường tin tưởng những người ăn mặc lịch sự, đeo kính cận, tóc tai gọn gàng hơn vì cho rằng đó là người thuộc tầng lớp trí thức, phong cách chỉnh chu, đứng đắn Trái lại, nếu chỉ cần có một vết xăm ở bắp tay hay đâu đó
dễ thấy, người đối diện sẽ tức thì e dè Thêm nữa, những điều cần lưu ý là hành động và cử chỉ Một người có cử chỉ ngả ngớn, nói đùa quá lố hay cười cợt… thì
có vẻ giống tay lừa đảo hơn là một người nghiêm chỉnh Tận dụng được sự
tương đồng giữa mình và người nghe, sẽ rất khó thuyết phục người khác nếu cứ
khăng khăng chối bỏ ý kiến của họ và cứ nhất nhất cho rằng mình đúng Dẫu cho chứng minh lý lẽ của mình thuyết phục đến đâu vẫn khiến người kia cay cú, tức tối và khó có sự ưng thuận nơi họ khi đối thoại Do đó, nên đồng ý một quan
điểm nào đó trước khi đưa ra ý kiến của mình và phản bác
Bên cạnh đó, nắm bắt tinh tế ưu điểm của người nghe và đưa ra những
nhận xét đúng đắn, người nghe sẽ thích thú và thân thiện với mình hơn khi mình
nhận ra những phẩm chất tốt đẹp của họ Qua đó, những lời mình nói cũng được đón nhận và tạo được sự đồng cảm hai chiều
- Trong việc sử dụng các phương tiện, kỹ thuật hỗ trợ quá trình đối thoại + Biết cách thức tổ chức đối thoại
Thứ nhất, tổng hợp những thông tin cần truyền đạt một cách có tổ chức,
việc này giúp không bị quên những điểm quan trọng và mấu chốt trong khi trình bày một vấn đề phức tạp Ví dụ như khi một người diễn thuyết thảo luận đề tài
Trang 29bất kì nào, người đó thường mang theo những tờ giấy ghi chú gồm những điểm quan trọng, sắp xếp chúng theo từng bước trình tự đã chuẩn bị sẵn để tránh
truyền đạt thông tin thiếu sót Thứ hai, thông tin truyền đạt cần rành mạch, rõ
ràng, tạo sự rõ ràng để đối tượng lắng nghe cảm thấy thoải mái và dễ dàng đón
nhận thông tin một cách hiệu quả Không nên tạo sự mập mờ khó hiểu gây cho người nghe cảm giác phức tạp, khó khăn khi tiếp cận thông tin mình cần nói
Thứ ba, nói lời cảm ơn đến người lắng nghe, đôi khi phải đối mặt với những
phản bác, những quan điểm không đồng tình khiến mình tức giận hay khó chịu, nhưng vẫn nên cảm ơn người nghe bởi họ đã dành thời gian suy nghĩ, tìm hiểu
về những quan điểm người nói trình bày Đây cũng là việc thể hiện sự tôn trọng của mình đối với người khác, chứng minh rõ cho mọi người thấy mình cũng là người biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến Điều này sẽ giúp gây được thiện cảm trong đối thoại xã hội
+ Tư duy phản biện – tư duy phân tích
Trước tiên, cần có kỹ năng sơ đồ hóa ý kiến (Mind-map skill)
Kỹ năng này giúp định vị luận điểm, luận cứ một cách rõ ràng Khi thu nhận được một thông tin, điều cần trước tiên là hiểu rõ nội dung thông tin đó, về
ai, về điều gì, liên quan đến những vấn đề gì, lĩnh vực nào Tiếp theo, dựa trên những cơ sở khoa học và lôgic, đặt ra các câu hỏi như: Tại sao lại khẳng định là
A mà không phải là B, trong khi B cũng có các khả năng như A Nếu là B thì khi
đó sẽ có kết quả là B1, kết quả này có giống kết quả A1 của khả năng A không Nếu có giống thì sẽ rút ra kết luận như thế nào, và nếu không giống thì lý do là ở
đâu Phải có kỹ năng tránh tính thiên vị, trong những bước đầu tiên của việc
thu thập và đánh giá thông tin, đừng đưa ngay ra một kết luận (đặc biệt khi đang tham dự cuộc đối thoại hoặc đọc tiểu thuyết hoặc xem phim) bởi việc làm này sẽ
đưa ra định hướng mang tính cảm nhận (perceptive orientation) thay vì định hướng mang tính phán xét (judgmental orientation), ngăn chặn việc phát triển
cảm nhận thành sự phán xét Có thể thấy rõ rằng: Tính thiên vị là một đặc tính
có trong tiềm thức của con người mà không phải ai cũng dễ dàng nhận ra
Trang 30Sau nữa, ai cũng nên nhận thức rõ về khả năng mắc phải sai lầm của bản thân bằng cách:
Chấp nhận rằng tất cả mọi người đều có thành kiến nằm trong tiềm thức,
1.2 Giáo dục văn hóa đối thoại và sự cần thiết của việc giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên hiện nay
1.2.1 Giáo dục và giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên
1.2.1.1 Khái niệm giáo dục
Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere” Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn
Giáo dục (tiếng Anh: Education) theo nghĩa chung là hình thức học tập
theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học [51; tr1-4]
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc
đó
Trang 31Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…
Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục
Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí dục, đức dục, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động
Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội
Qua đây, có thể kết luận rằng: Giáo dục là sự vươn tới cải thiện của mỗi
cá nhân, người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, tốt đẹp hơn Với mục đích đó, giáo dục đã ra
Trang 32đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người và xã hội Chính vì vậy, giáo dục
là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội
1.2.1.2 Giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên Giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội của sinh viên là hoạt động truyền tải của chủ thể giáo dục và hoạt động hình hội của sinh viên
về văn hóa đối thoại bằng nhiều hình thức, phương pháp, phương tiện nhằm hình thành và nâng cao trình độ văn hóa đối thoại của sinh viên
Các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên có thể kể tới như:
- Chủ thể giáo dục
Tham gia công tác giáo dục văn hóa đối thoại cho ĐHHN có các chủ thể sau:
+ Đảng bộ và Ban Giám hiệu Nhà trường
+ Các khoa, phòng, ban trực thuộc Ban Giám hiệu, các chi bộ và ban tham mưu của Đảng bộ
+ Các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội (ĐTNCS HCM, Công đoàn, Hội sinh viên)
+ Cán bộ làm công tác giáo dục văn hóa đối thoại
Tham gia công tác giáo dục văn hóa đối thoại cho sinh viên ĐHHN là toàn bộ cán bộ, giảng viên Nhà trường, từ các thành viên trong Ban Giám hiệu, các ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, chi bộ, các ủy viên Ban Chấp hành công đoàn, ĐTNCS HCM, đến các thầy Trưởng, phó Khoa và toàn thể giảng viên cũng như các Trưởng, phó phòng, ban chuyên môn và toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức Nhà trường
+ Gia đình
Ngoài ra, sinh viên ĐHHN còn rất trẻ, tuổi trung bình là từ 18 – 22, phần lớn họ còn sống chung với gia đình Vì vậy, vai trò, tác động giáo dục của gia đình còn lớn và do đó, gia đình cũng là một chủ thể
Trang 33- Nội dung giáo dục
+ Trang bị những tri thức văn hóa đối thoại cần thiết cho sinh viên
Tri thức đối thoại là chìa khóa để hình thành tư duy văn hóa đối thoại Tri thức là năng lực ứng xử của con người trước sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội Tri thức vừa có tính kế thừa – kiến thức sau sách, vừa có tính năng động – kiến thức trước sách Do đó, để trau dồi tri thức cần thiết phải kiên trì, chăm chỉ
và quan trọng hơn là đòi hỏi phải có tính năng động, sáng tạo và lòng nhiệt thành của con người Khoa học và công nghệ là bộ phận tri thức rất căn bản mà sinh viên phải tiếp nhận
+ Giáo dục các chuẩn mực văn hóa đối thoại cho chủ thể và khách thể
Đây chính là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục văn hóa đối thoại bởi nó góp phần tích cực vào việc hình thành văn hóa đối thoại cho chủ thể và khách thể Không ngừng đầu tư các giải pháp nâng cao lòng yêu nước, truyền thống phong trào sinh viên và đưa các tổ chức Hội đến gần hơn với hội viên, sinh viên bằng các hoạt động đồng hành, hỗ trợ đời sống sinh viên
+ Giáo dục về phương pháp hoạt động giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động xã hội cho sinh viên
Thiếu phương pháp con người không thể hoạt động có hiệu quả, kể cả hoạt động xã hội Để hoạt động giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt động
xã hội cho sinh viên có hiệu quả cao, đối tượng tham gia không những phải có kiến thức lý luận về văn hóa đối thoại; hiểu biết về đường lối, chính sách, pháp luật trong các hoạt động xã hội cho sinh viên mà còn phải không ngừng trau dồi đạo đức, phương pháp, cách thức và kỹ năng liên quan
+ Giáo dục tính tích cực và sáng tạo trong các hoạt động xã hội của sinh viên
Điều kiện cần và đủ để đạt tới mục tiêu cuối cùng là phải kết hợp các yếu
tố tri thức, niềm tin và hoạt động sáng tạo của sinh viên Với tinh thần chủ động, sáng tạo; Hội Sinh viên không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, xây dựng các mô hình mới, phù hợp, hiệu quả, đặc biệt phát huy thế mạnh mảng hoạt
Trang 34động tình nguyện và giao lưu quốc tế của sinh viên góp phần nâng cao vị trí, vai trò của phong trào sinh viên
Việc hình thành niềm tin và hoạt động sáng tạo đó chính là lợi ích gồm cả vật chất lẫn tinh thần Thông qua lợi ích, các quy luật khách quan được con người nhận thức và biến thành quan điểm tư tưởng, thành lý tưởng, niềm tin của mỗi người, mỗi giai cấp và cả dân tộc
- Phương thức (phương pháp, hình thức và phương tiện) giáo dục
+ Phương pháp
Giáo dục trực tiếp thông qua môi trường học đường
Ở môi trường học đường, người học được trang bị những kiến thức lý luận cơ bản, kỹ năng và rèn luyện về văn hóa đối thoại Sinh viên được tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng tri thức và năng lực hoạt động trong các hoạt động xã hội của mình Vì thế, cần đảm bảo luôn có được môi trường học đường
lý tưởng đối với sinh viên
Giao việc là phân công công việc cho từng cá nhân trong một tập thể, để lôi cuốn sinh viên vào các hoạt động một cách tự giác, chủ động từ đó hình thành kỹ năng hoạt động và những hành vi, thói quen có văn hóa khác Khi giao
việc cần lưu ý:
Giao công việc phù hợp với sở trường, hứng thú và năng lực của từng cá nhân sinh viên; thường xuyên theo dõi, giúp đỡ sinh viên hoàn thành nhiệm vụ, động viên kịp thời những cá nhân có kết quả công việc tốt
Phát huy tính độc lập, sáng kiến và tận dụng kinh nghiệm của mỗi cá nhân đối với công việc được giao; khuyến khích các cá nhân chia sẻ, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành công việc; tạo điều kiện cho sinh viên về phương tiện, công cụ làm việc, hướng dẫn về phương pháp làm việc
Phát huy sức mạnh tổng hợp, sáng tạo nhiều phương pháp giáo dục
Phải biết kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy tốt, áp dụng phù hợp với
mô hình của mỗi tiết giảng Đồng thời, cần thường xuyên, tích cực đổi mới phương pháp giáo dục cho phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng Chống chủ
Trang 35nghĩa hình thức, phô trương nhưng kém hiệu quả, đồng thời cũng cần tránh sự sáo mòn, cũ kỹ, thiếu sáng tạo trong việc tìm tòi những phương pháp mới mang lại hiệu quả giáo dục cao
+ Hình thức giáo dục
Một là, giáo dục thông qua giảng dạy, học tập các môn học lý thuyết Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Tất cả các môn học lý luận như Triết học, Kinh
tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh đều thực hiện chức năng phương pháp luận, hình thành niềm tin Do đó, yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học
này là một yêu cầu bắt buộc Hai là, các khoa đào tạo chuyên môn cũng cần có
trách nhiệm tham gia theo cách riêng của mình, để xây dựng nền tảng cho sinh viên: Kinh nghiệm cho thấy trường nào, khoa nào quan tâm nhiều hơn đối với
vấn đề này thì tình hình sẽ tốt hơn Vai trò của giáo viên chủ nhiệm là rất quan trọng Chẳng hạn như các yêu cầu về năng lực, về trình độ, về khả năng để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, tôn vinh những người có trình độ uyên thâm thuộc
một lĩnh vực nào đó Ba là, lấy hình thức hoạt động tập thể để giáo dục cho sinh
viên: Vai trò của tổ chức Đảng, đoàn thể có một ý nghĩa quan trọng Sự lãnh đạo
đúng đắn, kịp thời của Đảng ủy và các Cấp ủy Đảng, các hoạt động thiết thực bổ ích, tạo sân chơi, chẳng hạn như sinh hoạt khoa học, thể dục, thể thao, văn hóa nghệ thuật, thăm di tích lịch sử, các hoạt động trở về cội nguồn… của ĐTNCS HCM và Hội Sinh viên sẽ là môi trường tốt hình thành văn hóa đối thoại trong
các hoạt động xã hội cho thanh niên sinh viên Bốn là, hình thức nêu gương: Các
cán bộ Đảng viên, thầy giáo, bằng lối sống trong sáng, tận tụy trong công việc, bằng vốn hiểu biết sâu rộng, bằng sự công minh có tình có lý trong đối xử với sinh viên, sẽ có tác dụng cảm hóa, hình thành nhân cách tốt cho sinh viên Công tác thi đua khen thưởng phải kịp thời nhằm khuyến khích những sinh viên có thành tích trong các phong trào học tập, rèn luyện về nhiều mặt cũng là một hình thức nêu gương Nêu gương đúng, hợp lý sẽ có tác dụng to lớn hơn nhiều so với lối lý thuyết một chiều, xơ cứng
Trang 36+ Phương tiện giáo dục
Phải biết kết hợp nhiều phương tiện giáo dục và không ngừng trang bị cơ
sở vật chất hiện đại phù hợp: Các phương tiện; sinh hoạt, hội họp của các tổ
chức chính trị - xã hội; hệ thống báo cáo viên; các hoạt động văn hóa – giáo dục… cần được huy động, phối hợp tạo nên sức mạnh tổng hợp Trong quá trình
sử dụng các phương tiện, một mặt không nên phân biệt đâu là phương tiện truyền thống, đâu là phương tiện hiện đại mà sử dụng, phối hợp sao cho thích hợp với đối tượng và mang lại hiệu quả cao Mặt khác, cần nhanh chóng hiện đại
hóa cơ sở vật chất kỹ thuật của các phương tiện giáo dục
Cần giáo dục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Các
phương tiện thông tin đại chúng có khả năng cung cấp một khối lượng thông tin lớn, đa dạng, nhanh chóng và cho các đối tượng rộng rãi Cần phải tăng cường thời lượng phát sóng của đài truyền hình về các vấn đề văn hóa đối thoại, nâng cao chất lượng chuyên mục đối thoại của các loại hình báo chí; mở rộng và làm phong phú thêm các hình thức giáo dục văn hóa đối thoại từ xa trên vô tuyến truyền hình, truyền thanh
1.2.2 Sự cần thiết của việc giáo dục văn hóa đối thoại trong các hoạt
động xã hội cho sinh viên hiện nay
1.2.2.1 Vai trò của sinh viên trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và bảo vệ tổ quốc
Sinh viên có vai trò ngày càng nổi bật trong thiên niên kỷ mới, thế giới với nhiều biến động Hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, vì thế nó chứa đựng các mâu thuẫn vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh Sinh viên thuộc tầng lớp tri thức trẻ sẽ là nguồn bổ sung nhân lực chất lượng cao – tương lai của quốc gia, tinh hoa của dân tộc Thêm nữa, họ cũng luôn là cầu nối giữa quá khứ của dân tộc với tương lai của thế giới; là nơi lưu dấu và cất giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc để chuyển trao cho lớp thế hệ trẻ mai sau Ý thức những nghĩa vụ cao trọng ấy, sinh viên phải luôn
Trang 37biết nỗ lực học tập, đóng góp công sức và trí tuệ làm cho quốc gia trở nên “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” Chính bởi vậy, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không thể thiếu vắng vai trò then chốt của đội ngũ sinh viên
Hiện nay sự đổi mới đất nước diễn ra trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường, Đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thử thách Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức thể hiện những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen, phức tạp Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngoài những mặt tích cực cũng đã làm gia tăng các tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao và làm phát sinh một số phương thức, thủ đoạn mới Những vấn đề trên đặt ra nhiều yêu cầu mới trong công cuộc đấu tranh bảo
vệ Tổ quốc đòi hỏi mỗi người dân đặc biệt là thế hệ trẻ trong đó có sinh viên đóng vai trò to lớn cùng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc Chúng ta đều biết câu nói rất quen thuộc và rõ ràng của Bác: “Các vua Hùng đã các công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc nhở các thế hệ người dân Việt Nam về trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc của mình Bảo vệ Tổ quốc, đó không phải công việc của riêng ai, của riêng một lực lượng nào mà đó là nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc Do đó, đội ngũ tri thức sinh viên cần không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, đấu tranh chống mọi âm mưu, thủ đoạn diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch
Sinh viên là một bộ phận thanh niên trí thức Do vậy, trách nhiệm của sinh viên đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc hiện nay không nhất thiết phải cầm súng như các thế hệ cha anh đi trước, mà cần hiểu rõ và thông suốt các chủ trương, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước để tuyên truyền đến mọi người Tại buổi đối thoại với 650 đại biểu dự Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ IX diễn ra tại Hà Nội vào cuối tháng 12 năm
Trang 382014, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, cũng đã nêu rõ: “Bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lãnh thổ đất nước là trách nhiệm chung của công dân Việt Nam, trong đó có sinh viên Dù còn ngồi ghế giảng đường, mỗi sinh viên nên có
ý thức và trách nhiệm, trước hết là hiểu rõ và thông suốt chủ trương, quan điểm của Đảng giải quyết vấn đề về biển, đảo và am hiểu luật pháp quốc tế Khi đã tường tận, mỗi bạn trẻ cần tuyên truyền đến những người xung quanh để có chung nhận thức Mỗi công dân nếu hiểu biết và ứng xử đúng thì quyền lợi quốc gia sẽ được bảo vệ” Thể hiện tốt vai trò của mình để trở thành con người “vừa hồng, vừa chuyên” góp phần công sức đưa Đất nước tiến lên, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ hằng mong muốn
1.2.2.2 Vai trò của các hoạt động xã hội trong việc hình thành nhân cách sinh viên
Thuật ngữ nhân cách (Personality) xuất phát từ tiếng Latinh cổ đại Persona (cá tính) và tiếng Latinh trung cổ personalitas, nghĩa gốc của từ mặt
nạ, chỉ vẻ bề ngoài của một cá nhân Tuy vậy, nhân cách theo nghĩa là mặt nạ không được sử dụng lâu dài Sau này khái niệm bao hàm rất nhiều nghĩa, bao gồm những đặc điểm bên trong, phẩm chất và diện mạo bên ngoài của một cá nhân Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân cách, có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu sau:
Theo thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud (1856 - 1939) - người
được nhận giải thưởng Goethe, bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay sinh vật hóa thuộc tính nhân cách
Trong Tâm lý học phân tích, Carl Jung (1875 - 1961) coi nhân cách là sự
vô thức tập thể Bản chất nhân cách là nhân tính con người Nhân cách được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Nhân cách là động cơ tự động điều hành (G.Allport); là toàn bộ mối quan hệ của cá nhân người; nhân cách được hiểu đồng nhất với khái niệm con người; nhân cách được hiểu như cá nhân con người
Trang 39với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức; nhân cách được hiểu là một thuộc tính nào đó
Đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa nhân bản triết học tư sản thế kỷ XX là
M Sêlơ - một nhà triết học Đức, cho rằng, “bản chất vốn có của con người không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật và xã hội mà nằm trong tinh thần của nó, trong khả năng của con người trở thành nhân cách” [6; tr23] Theo quan niệm của ông, con người không tồn tại thực mà chỉ là một bộ phận của thực tại tinh thần
C Mác đã từng nói: "Nếu như con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính
xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính của mình trong xã hội
và cần phải phán đoán lực lượng bản tính của anh ta, không phải căn cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của toàn xã hội" [7; tr200]
Do vậy, ở mỗi thời đại khác nhau, như thời Cổ đại, Trung cổ, Cận đại, Hiện đại… có những kiểu loại nhân cách khác nhau
Qua nghiên cứu, chúng ta có thể kết luận rằng sự hình thành và phát triển nhân cách con người gắn liền với các hoạt động thực tiễn Đối với sinh viên thì
điều này càng rõ ràng hơn Trong quá trình hoạt động xã hội, sinh viên phải trao
đổi với nhau bằng ngôn ngữ, phải sử dụng một khối lượng lớn văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của nhân loại Họ phải tồn tại và phát triển trong các mối quan
hệ xã hội, nếu tách khỏi các mối quan hệ đó họ không bao giờ có thể phát triển được Trong quá trình ấy, mỗi cá nhân phản ứng trước sự tác động của môi trường xã hội một cách khác nhau, thể hiện trong bản thân mình nét này hoặc nét kia của môi trường xã hội tạo nên sự phong phú, đa dạng của nhân cách con người Như vậy, thông qua hoạt động xã hội, sinh viên biểu hiện các năng lực và phẩm chất nhân cách của mình
Có thể khái quát một số yếu tố cơ bản tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên như sau:
Trang 40Một là, sự hình thành và phát triển nhân cách bị quy định bởi điều kiện kinh tế - xã hội
Nhìn vào thực tiễn, hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA) thúc đẩy đầu tư và cải tiến công nghệ, nhờ đó đẩy mạnh năng suất và tăng đầu ra trong nhiều ngành sản xuất Kinh tế toàn cầu trong năm 2015 sẽ tăng trưởng ở mức vừa phải, dự kiến đạt 3,5% và sẽ tăng lên 3,8% trong năm 2016 Đây là con số được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra trong Báo cáo Triển vọng Kinh tế thế giới được công bố gần đây Trong bản báo cáo này, IMF cũng đã điều chỉnh tăng trưởng năm 2015 của Việt Nam từ 5,6% lên 6% Tuy nhiên, Qũy tiền tệ quốc tế IMF cũng đã đưa ra cảnh báo sự phục hồi và tăng trưởng không cân bằng và thiếu bền vững của kinh tế thế giới Hội nhập và phát triển tác động đến đời sống của nhân dân trên nhiều lĩnh vực Khách quan để nhìn nhận thì những ảnh hưởng biểu hiện trên cả phương diện tích cực và tiêu cực
Có thể thấy rõ, mỗi người trước khi hành động hay làm việc gì đều tính đến lợi ích cá nhân mình đầu tiên Lợi ích cá nhân thúc đẩy con người năng động, sáng tạo và tích cực hoạt động Đây là nền tảng, nhân tố quyết định để thực hiện lợi ích tập thể và lợi ích cộng đồng xã hội Qua quá trình xây dựng đất nước, giải quyết hài hòa giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân là động lực của sự phát triển nhân cách Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường với tính đặc thù của nó là thừa nhận tính hợp lý và thỏa mãn lợi ích cá nhân đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển nhân cách của con người Nhân cách được xác định đầy đủ khi đặt nó trong mối quan hệ với các nhu cầu và lợi ích Do đó, con người chủ động tham gia vào các hoạt động kinh
tế - xã hội chính là tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của nhân cách bản thân Đương nhiên, đội ngũ trí thức sinh viên cũng không phải ngoại lệ
Hai là, sự hình thành và phát triển nhân cách bị quy định bởi giá trị văn hóa của xã hội