Phân tích về bản chất của văn hóa dưới góc nhìn của công tác tư tưởng Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Khoa Tuyên truyền trong tài liệu Lãnh đạo và quản lý văn hoá Tài liệu tham khảo đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của PGS.TS Ngô Văn Thạo Các số liệu, thông tin và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực Đây là bản công bố đầu tiên và
duy nhất với tiêu đề “Đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai hiện nay”
Tác giả luận văn
Lê Thị Cát Hoa
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ DÂN TỘC 10
1.1 Một số khái niệm 10
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và truyền thống văn hóa dân tộc 18
1.3 Sự cần thiết đổi mới công tác tuyên truyền truyền truyền thống văn hóa dân tộc hiện nay 25
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở ĐỒNG NAI 32
2.1 Những yếu tố tác động đến công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai 32
2.2 Thực trạng đời sống văn hóa và công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai hiện nay 43
2.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc hiện nay 60
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở ĐỒNG NAI 69
3.1 Dự báo xu hướng vận động của truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai trong thời gian tới 69
3.2 Phương hướng đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai 78
3.3 Giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai hiện nay 89
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 115
Trang 4Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, trong những năm tới chắc chắn trên đất nước
ta sẽ có nhiều biến đổi to lớn và toàn diện hơn nữa trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần Với sự phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không ít từ văn hoá ngoại lai, tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường đến đời sống của người dân Việt Nam, trong đó có truyền thống văn hoá từ ngàn đời của dân tộc Việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc đang là một trong những vấn đề bức thiết của xã hội hiện nay Với Đồng Nai, một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao vào tốp dẫn đầu cả nước, nên việc bảo tồn và phát triển văn hoá đang là một thách thức, một vấn đề lớn đặt ra cho tỉnh
Trong những năm qua, Đồng Nai đã có nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc Tuy vậy, phạm vi tuyên truyền còn hẹp, nhiều hoạt động tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc vẫn chưa đến được quảng đại quần chúng nhân dân; hình thức và phương pháp thể hiện còn giản đơn, một chiều Trên thực tế, ở Đồng Nai vẫn chưa đạt được độ cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn, phát huy những giá trị
truyền thống văn hoá dân tộc Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Đổi mới
Trang 5công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc ở Đồng Nai hiện nay”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình Mong muốn qua quá trình nghiên cứu sẽ đề xuất được các giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc ở Đồng Nai thêm bước tiến mới, đáp ứng mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh trong những năm tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác tư tưởng là mảng công tác quan trọng hàng đầu của Đảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh dù ở lĩnh vực công tác nào, trong giai đoạn cách mạng cụ thể nào, công tác tư tưởng đều đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Công tác tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng Trong công cuộc đổi mới, công tác tuyên truyền được Đảng hết sức quan tâm Việc cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình tuyên truyền, đã có tác động rất lớn đến việc đẩy mạnh công tác tư tưởng của Đảng
Liên quan đến công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc đã
có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các cơ quan, các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu với sự tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau
Về góc độ lịch sử có thể kể đến các tác phẩm: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung
ương: “Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930
- 2000 (Dự thảo)”, Nhà Xuất bản Chính trị - Quốc gia, Hà Nội - 2000; Ban
Tư tưởng - Văn hoá Trung ương:“Những thành công lớn của các Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006)” Hà Nội, 8 - 2006; Nguyễn Phú Trọng: “Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước”, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2002; PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc
(Chủ biên): “Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (1930 - 2006), Nhà xuất bản
Lao động - 2005; Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Về góc độ văn hóa có các tác phẩm: Học viện chính trị - hành chính Khu vực II,
Trang 6Khoa Văn hoá và Phát triển: “Đề cương bài giảng: Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cộng sản Việt Nam”, Nhà xuất bản Lý luận chính trị,
Hà Nội - 2008; TS Đặng Quang Thành (chủ biên): “Văn hoá và phát triển - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - 2008; PGS.VS Trần Ngọc Thêm:“Cơ
sở văn hoá Việt Nam”, Nhà xuất bản giáo dục – 1999 Về góc độ công tác
tưởng có các tác phẩm: Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Khoa Tuyên
truyền:“Quản lý hoạt động tư tưởng - văn hoá”, Hà Nội - 2006; Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Khoa Tuyên truyền:“Lãnh đạo và Quản lý văn hóa (Tài liệu tham khảo)”, Hà Nội - 2011; Lê Hữu Ái - Trần Quang Ánh (Trường
Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng): Vấn đề giáo dục giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay ở nước ta - Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng - Số 5 (28).2008; PGS TS Nguyễn Văn Dân: “Văn hoá dân tộc trong truyền thống và hiện đại” bài đăng trên Báo Nhân dân - điện tử; TS Nguyễn Viết Thông: “Công tác tư tưởng trong quá trình đổi mới đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh” Về góc độ dân tộc học có các tác phẩm: TS Võ Văn Thắng: “Nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò của giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống hiện nay”; Tùng Lâm: “Để văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số không bị mai một” Về văn hoá dân tộc ở Đồng Nai cũng đã có một số công trình nghiên cứu, tiêu biểu như: Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản Đồng Nai, 1998; TS Huỳnh Văn Tới: “Bản sắc dân tộc và văn hoá Đồng Nai”, Nhà xuất bản Đồng Nai - 1999; Kim Chung: “Tỉnh Đồng Nai với công tác dân tộc” - Trang Web Đồng Nai.v.v…
Về văn hóa dân tộc ở Đồng Nai cần kể đến một công trình đồ sộ đã hoàn thành là Bộ địa chí Đồng Nai với dung lượng 2000 trang của tập thể các
Trang 7tác giả, nhà nghiên cứu lớn của Việt Nam và của Đồng Nai Ngoài ra, còn nhiều công trình tác phẩm nghiên cứu về bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc, như Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Lịch sử Chiến khu Đ, Thơ Huỳnh Văn Nghệ; Khảo cổ Đồng Nai, Đồng Nai Di tích - Lịch sử, văn hóa; Đền Hùng Vương ở Biên Hòa, Người Đồng Nai, Truyện cổ Dân gian Đồng Nai, Người Chơro ở Đồng Nai…
Các tác giả nghiên cứu nêu trên với nhiều góc độ khác nhau, nhìn nhận truyền thống văn hoá dân tộc thông qua lăng kính chính trị học, triết học, văn hoá học, tâm lý học, xây dựng Đảng… nhằm hướng tới phản ánh các giá trị truyền thống văn hoá dân tộc nói chung và truyền thống văn hoá dân tộc ở Đồng Nai nói riêng Một số tác phẩm, tác giả đã đề cập đến việc định hướng công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc ở Đồng Nai với những gợi
ý về một số vấn đề liên quan Khảo sát các công trình nêu trên đó giúp tác giả
nghiên cứu đề tài: “Đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá
dân tộc ở Đồng Nai hiện nay” về tư liệu, phương pháp luận, nhất là từ góc
độ Khoa học chính trị, chuyên ngành Công tác tư tưởng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, điều tra, đánh giá được thực trạng của công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai hiện nay
Trang 8Đề ra được phương hướng, giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu việc đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai hiện nay Để làm việc đó luận văn cần làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai, rút ra được các vấn đề cần giải quyết, từ đó đề xuất giải pháp đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Truyền thống văn hóa dân tộc theo quan điểm của Đảng ta hiện nay là các giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam do lịch sử truyền lại, được thể hiện cụ thể trong các vùng, miền, dân tộc Việc tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam ở Đồng Nai đã bao gồm truyền thống văn hoá của các dân tộc thiểu số Thời gian nghiên cứu kể từ khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII): “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” tháng 7 năm 1998 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, truyền thống văn hóa, trong đó có những quan điểm, chủ trương đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, những nguyên tắc của công cuộc đổi mới, xuất
Trang 9phát từ những yêu cầu của thực tiễn, đề tài sử dụng các phương pháp lịch sử - logic, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả, điều tra xã hội học, kết hợp nghiên cứu với thực tiễn…
6 Cái mới của luận văn
Với những kết quả đạt được luận văn có thể cung cấp những cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc ở Đồng Nai hiện nay, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền ở Đồng Nai hiện nay; là tài liệu tham khảo cho việc đổi mới tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở các vùng, miền khác
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để thống nhất nhận thức và cung cấp những luận cứ khoa học cho cấp ủy, chính quyền các cấp, các cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh, nhất là các ngành như tuyên giáo, văn hóa, dân tộc, các đoàn thể chính trị - xã hội đề ra những phương hướng, giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân toàn tỉnh Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu vấn đềtuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương, 09 tiết
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ DÂN TỘC
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Tuyên truyền
Theo tiếng Latinh, “tuyên truyền” (Propaganda) là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó
Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Chủ tịch
Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm” [44, tr.162] Giáo trình Nguyên lý công tác tư tưởng - Tập 1 của Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Khoa Tuyên truyền đã
có một cách tiếp cận khác: “thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng một cách rộng rãi nhằm biểu đạt nội dung bằng các hoạt động cụ thể (như ngôn ngữ, hình ảnh, đạo cụ…) nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và hướng họ đến một khuynh hướng nhất định” [38, tr.16]
Đại bách khoa toàn thư Liên xô, xác định thuật ngữ tuyên truyền có hai phạm vi: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền
bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật… nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tế phù hợp với thế giới quan ấy Như vậy, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên truyền tư tưởng, tuyên truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thành trong đối tượng tuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định với mục đích là để cổ vũ tính tích cực xã hội của con người
Trang 11Để thực hiện việc tuyên truyền, một hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng, người ta hình thành ra bộ máy tổ chức, xác định nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền… Tất cả những yếu tố và hoạt động đó được gọi là công tác tuyên truyền
Khái niệm về công tác tuyên truyền được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm công tác tuyên truyền của Học viện Báo chí - Tuyên truyền được sử dụng chính thức trong hoạt động giảng dạy chuyên môn chuyên ngành công tác tuyên giáo là khái niệm tương đối đầy đủ, bao hàm được nội dung và ý nghĩa của công tác tuyên truyền Tác giả đồng tình với khái niệm công tác tuyên truyền như sau:
Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng
cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan
và niềm tin đó [38, tr.16]
1.1.2 Văn hóa
- Thuật ngữ Văn hoá xuất hiện rất sớm trong lịch sử Phương Đông cũng như Phương Tây Theo quan niệm Nho giáo của Trung Quốc nội dung chủ yếu của văn hoá là thi, thư, lễ, nhạc, chế độ chính trị, luân thường đạo lý, chế độ lễ nghi và hàng loạt những quan niệm, tập tục đã trở thành lễ tục
Ở Phương Tây, người đầu tiên trực tiếp nghiên cứu khoa học về văn hoá là Edward B Tylor, nhà nhân học nổi tiếng người Anh Năm 1871, trong cuốn sách Văn hoá nguyên thuỷ của mình, ông đưa ra định nghĩa về văn hoá
mà đến nay vẫn còn có ý nghĩa định hướng: Văn hoá hay văn minh, hiểu theo nghĩa dân tộc học bao quát của nó, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực và tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách thành viên của xã hội
Trang 12- Khái niệm văn hóa là một trong khái niệm được định nghĩa nhiều nhất
và được hiểu theo nhiều cách và góc nhìn nhận khác nhau nhất Mỗi sự nhìn nhận và phân chia khái niệm văn hóa của các tác giả đều có ý nghĩa riêng, song có điểm chung là đều nhấn mạnh đến tính nhân văn, cái đẹp và hướng đến chân lý
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới đã viết về văn hoá như sau:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá [43, tr.431]
- Năm 2001, trong Tuyên ngôn Thế giới về đa dạng văn hoá, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã khẳng định: Văn hoá là tập hợp các nét đặc trưng về tinh thần và vật chất, trí tuệ và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng… Văn hoá có thể hữu thể (đình, đền, chùa, miếu, lăng mộ, nhà sàn.v.v…); có thể là vô hình (âm nhạc, truyền thống, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi thức, phong tục, tập quán…) Điều kỳ diệu là nội dung cốt lõi của khái niệm văn hóa như trên đã được Hồ Chí Minh chỉ ra từ năm 1943, tức là trước đó 58 năm
Khái niệm và nội hàm của khái niệm văn hóa Việt Nam được dùng trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta hiện nay được đề cập trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, Khoá VIII (1998), theo đó văn hoá Việt Nam được hiểu “là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo trong quá trình dựng nước và giữ nước” [34, tr 6-
Trang 137] và được đề cập đến ở 8 lĩnh vực: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; di sản văn hoá; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hoá với thế giới; thể chế và thiết chế văn hoá
Phân tích về bản chất của văn hóa dưới góc nhìn của công tác tư tưởng Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Khoa Tuyên truyền trong tài liệu Lãnh đạo
và quản lý văn hoá (Tài liệu tham khảo) đã nêu lên khái niệm chung là: “Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử nhằm vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái tốt, cái hợp lý và sự phát triển bền vững, an toàn cho cá nhân, cộng đồng, xã hội và nhân loại” [40 tr.2 - 4]
Khái niệm này tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh Tuy nhiên, theo chúng tôi nếu xét về góc độ lịch sử dân tộc có thể bổ sung thêm tính dân tộc trong
định nghĩa trên thành: Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra trong lịch sử nhằm vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái tốt, cái hợp lý và sự phát triển bền vững, an toàn cho cá nhân, cộng đồng, xã hội và nhân loại, được chắt lọc, lưu giữ, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc
1.1.3 Truyền thống văn hóa
- Truyền thống theo nghĩa chữ Hán là “sự chuyển giao, chuyển tiếp, sự
nối tiếp giữa các đối tượng từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác theo một hệ thống, một cơ cấu nhất định” [41, tr.92]
Truyền thống được hình thành cùng với quá trình hình thành và phát triển của một đất nước, một dân tộc, một cộng đồng người Truyền thống được hun đúc, lưu giữ và trao truyền từ đời này sang đời khác của mỗi dân tộc, đất nước Truyền thống được coi như bảo vật tinh thần, là biểu tượng thiêng liêng khẳng định nét đẹp văn hóa Truyền thống cũng là yếu tố quy định để xác định các chuẩn mực đạo đức của cá nhân trong mỗi cộng đồng dân tộc Truyền thống còn là chất keo kết dính các thế hệ, tạo nên các giá trị văn hóa được lưu giữ, lôi cuốn và định hướng cho các thế hệ sau
Trang 14Theo GS.NGND Trần Văn Giàu, mỗi dân tộc đều có truyền thống của
mình; không dân tộc nào không có Từ đó ông nêu lên khái niệm: “Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời
kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực” [37, tr.92] Khái niệm này đã phản ánh đúng bản chất, có tính toàn
diện của khái niệm truyền thống
- Truyền thống văn hoá: Nói đến mỗi một dân tộc là nói đến truyền thống văn hóa của dân tộc đó Truyền thống văn hoá dân tộc là yếu tố đầu tiên quy định dân tộc này khác với dân tộc khác Nó được bồi đắp, chắt lọc, gìn giữ, trao truyền qua quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc Tùy từng giai đoạn lịch sử khác nhau có sự tác động để bảo toàn và phát triển các giá trị truyền thống văn hóa đó Truyền thống văn hóa là yếu tố mang tính chân, thiện,
mỹ, do đó không bị phụ thuộc hoàn toàn vào thể chế chính trị Một thể chế chính trị phát triển đúng theo quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người sẽ tạo điều kiện cho những truyền thống văn hóa tốt đẹp phát triển và ngược lại Không ít các thể chế chính trị hay các giai đoạn lịch sử do sự nhìn nhận phiến diện hoặc mang tính phản động đã kéo ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc hoặc làm thui chột các giá trị truyền thống văn hóa
Cũng như truyền thống nói chung, truyền thống văn hoá có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Trong cuốn sách Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, GS,NGND Trần Văn Giàu đã nhắc đến lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa của
dân tộc Người nói: Khôi phục vốn cổ thì chỉ nên khôi phục cái gì tốt, còn cái không tốt thì chỉ nên loại dần ra Đồng chí Trường Chinh - nhà thơ Sóng Hồng, cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã viết: Văn hoá dân tộc Việt Nam, bao gồm những đặc tính và đức tính cổ truyền của dân tộc, phải tiến lên bằng cách phát triển những cái hay cái đẹp, bài trừ những cái
dở, cái xấu
Trang 15Từ sự phân tích trên, có thể đi đến nhận thức chung về truyền thống
văn hoá, đó là những giá trị văn hoá của mỗi dân tộc, một cộng đồng người được nuôi dưỡng, bồi đắp và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, khẳng định tính riêng biệt và tính thích ứng của dân tộc, cộng đồng ấy đối với những điều kiện tự nhiên và lịch sử cụ thể
1.1.4 Tuyên truyền truyền thống văn hóa
Ngoài các tổ chức, thể chế chính trị, tuyên truyền truyền thống văn hóa còn được tự thân quần chúng nhân dân thực hiện, từ thế hệ này sang thế hệ khác Điều đó được chứng minh tại sao ở các thể chế chính trị, các triều đại phong kiến khác nhau, lúc thịnh cũng như lúc suy, hoặc như trường hợp dân tộc Việt Nam hàng nghìn năm bị các thế lực ngoại bang đô hộ, nhưng truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam vẫn không bị mất đi hay thui chột, vẫn được gìn giữ, chắt lọc và bảo tồn từ đời này sang đời khác Mặt khác, dựa trên
sự kế thừa và phát triển, truyền thống văn hoá dân tộc luôn nằm trong quá trình vận động và chịu tác động của hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể, nhất là khi các thể chế kinh tế, thể chế chính trị có sự thay đổi, điều chỉnh Bởi vậy, ở nước ta hiện nay việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam rất cần được chú trọng, nhất là khi đất nước đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với nhận thức và tư duy mới, trong công cuộc đổi mới Đảng ta rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nền Văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đẩy mạnh tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc là một trong những mảng công việc quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng
Từ các khái niệm riêng biệt về văn hoá, truyền thống, tuyên truyền, có thể đi đến khái niệm chung nhất về tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc
được hiểu là làm cho người dân thấu hiểu được các giá trị truyền thống văn
Trang 16hóa của dân tộc Việt Nam; tuân thủ những chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; động viên khuyến khích người dân tự giác trau dồi, lưu giữ, trao truyền truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, từ đời này qua đời khác
1.1.5 Đổi mới công tác tuyên truyền
Cụm từ đổi mới được Đảng và nhân dân ta dùng nhiều từ sau Đại hội
VI (năm 1986) Đổi mới là sự kế thừa và phát triển Trên cơ sở kế thừa những thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội của giai đoạn trước, đổi mới là sự phát triển tiến bộ, phù hợp với thực tiễn của đất nước trong thời kỳ mới và phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội loài người Như vậy, có thể hiểu ý
nghĩa chung đổi mới là: Kế thừa những thành quả, những đúng đắn, ưu việt của cái đã có trước để phát huy, phát triển sự vật, hiện tượng ngày càng trở nên tiến bộ, văn minh phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể mới
- Đổi mới công tác tuyên truyền bao gồm đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức thể hiện của công tác tuyên truyền Đó chính là sự đổi mới từng bộ phận hoặc tất các các bộ phận cấu thành để đạt được kết quả cao hơn tại một thời điểm nhất định trong điều kiện lịch sử cụ thể
- Đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc liên quan
đến khái niệm dân tộc Khái niệm dân tộc được hiểu theo hai bình diện, dân tộc là cộng đồng tộc người (ethnic, ethnie) và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cộng đồng dân cư của một quốc gia (Nation) Hai vấn đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết, hữu cơ với nhau [9, tr.7 - 10] Là một quốc gia
đa dân tộc, vì vậy từ thuở lập nước đến nay, tất cả các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam là sự tổng hợp, kết tinh tất cả các giá trị văn hóa của 54 các dân tộc anh em Văn hóa dân tộc Việt Nam là những giá trị văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là những giá trị văn hóa của từng dân tộc thống nhất trong đa dạng, được lưu giữ, vun đắp, chắt lọc và bảo tồn qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam
Trang 17Theo tác giả Nguyễn Phú Trọng, những giá trị nổi bật của văn hóa dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình làng xã, Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [53, tr.167 - 168]
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam [34] Truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam bao gồm tất cả truyền thống văn hoá của các dân tộc anh em trong cộng đồng Mỗi dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có trách nhiệm bảo vệ và phát triển bản sắc văn hoá riêng, qua đó tham gia vào quá trình phát triển chung của nền văn hoá thống nhất, đa dạng của cả dân tộc Việt Nam
- Đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc là một
nội dung quan trọng của công tác tuyên truyền hiện nay Công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc có nhiệm vụ mang đến cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu được những quan điểm, đường lối của Đảng về việc phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; về chủ trương, chính sách của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam, đảm bảo tính thống nhất, tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc
Đổi mới công tác tuyên truyền dựa trên các nguyên tắc của công tác tuyên truyền và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức công tác tuyên truyền nhằm
Trang 18làm cho công tác tuyên truyền phù hợp hơn với điều kiện lịch sử, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng đơn vị, địa phương Đẩy mạnh công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc làm cho nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ngày càng thấm sâu vào đời sống của quần chúng nhân dân
Như vậy, đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc
tức là làm mới toàn bộ các yếu tố của hệ thống công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc từ tư duy và hoạt động của chủ thể đến nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc nhằm tác động đến đối tượng tuyên truyền để họ có cơ hội lớn hơn để tiếp nhận, hiểu
và trân trọng những giá trị và sắc thái văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, từ đó tự giác tích cực trau dồi truyền thống văn hóa dân tộc, góp phần lưu giữ và bảo tồn những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc
Nội dung đổi mới công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc bao gồm sự chuyển biến, đổi mới nhận thức của chủ thể tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc là cấp ủy, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, của các cơ quan hoạt động chuyên môn như tuyên giáo, văn hóa, dân tộc… Đổi mới nội dung tuyên truyền, đổi mới các phương pháp và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng xã hội, trong đó chú trọng đến đối tượng là thanh niên, học sinh, công nhân… Đồng thời đổi mới các điều kiện, phương tiện vật chất, kỹ thuật hỗ trợ cho hoạt động công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và truyền thống văn hóa dân tộc
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa và truyền thống văn hoá dân tộc
Theo C.Mác: “Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên của con người khai thác, cải tạo thì có
Trang 19thể xét được trình độ văn hoá chung của con người” Với cách nhìn nhận này C.Mác đã chỉ ra được nguồn gốc và bản chất của văn hoá: văn hoá có nguồn gốc từ hoạt động sáng tạo của con người: bản chất của văn hoá là năng lực sáng tạo của con người [40, tr.6] Từ đó, C.Mác khẳng định: Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Như vậy, việc hình thành nên một tính cách, bản chất của mỗi người có ảnh hưởng rất lớn từ môi trường sống Điều kiện
tự nhiên và điều kiện xã hội còn là yếu tố quy định tạo nên những nét văn hóa đặc trưng riêng của từng dân tộc, từng cộng đồng người Luận điểm “con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” đã chỉ ra những sắc thái riêng của cộng đồng trong đời sống hiện thực của nó [51, tr.7-8]
C Mác và Ăngghen cũng đã từng nhấn mạnh về vai trò quan trọng của việc bảo tồn và lưu giữ những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc khi viết:
“Lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất
do tất cả thế hệ trước để lại” Điều quan trọng là các thế hệ sau phải “tiếp tục các hoạt động được truyền lại trong những hoàn cảnh đã thay đổi”, có nghĩa là chúng ta cần phải biết kế thừa những di sản ấy một cách biện chứng để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn mới [50, tr.142]
Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ăngghen, V.I.Lênin khi bàn về văn hóa vô sản đã khẳng định: “Văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của CNTB, xã hội của địa chủ và xã hội của bọn quan liêu.” Người cho rằng, nền văn hoá vô sản không phải lơ lửng từ trên không trung, không phải tự nhiên mà có Nền văn hoá ấy kế thừa từ những di sản văn hoá từ xã hội cũ Điều quan trọng là những người vô sản chân chính đã biết kế thừa những tinh hoa văn hoá để phát triển thành nền văn hoá XHCN, nền văn hoá nhân văn vì con người [50, tr.142]
Trang 201.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
Là chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, Chủ tịch
Hồ Chí Minh không chỉ thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
mà còn hiểu sâu sắc về các giá trị của văn hóa Người chỉ rõ: “văn hoá là toàn
bộ những sáng tạo và phát minh về ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng; văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Khái niệm văn hoá Hồ Chí Minh đề cập đến văn hoá theo nghĩa rộng nhất của nó, đồng thời nhấn mạnh những nội dung cốt lõi nhất Đó là sự hiểu biết
và trí tuệ của con người và do con người tích luỹ được, cùng tâm hồn cao thượng, đạo lý tốt đẹp trong mối quan hệ của con người với đồng loại; với xã hội
và tự nhiên, được xây dựng và bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịch sử Văn hóa làm nên nền tảng tinh thần của một xã hội, giữ vai trò cực kỳ quan trọng, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội [53, tr.177 - 178]
Trong phạm vi hẹp hơn, khi đề cập đến sự nghiệp xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và cơ
sở hạ tầng, văn hoá với kinh tế, chính trị, xã hội Người nói: Văn hoá là một kiến trúc thượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được và đủ điều kiện phát triển được; có thực mới vực được đạo; xã hội thế nào thì văn hoá thế ấy Nhưng mặt khác, đến lượt mình, văn hoá là động lực của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế; “văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”
Trong rất nhiều bài nói, bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta phải giữ gìn và phát huy những truyền thống và bản sắc của dân tộc Người yêu cầu “phải chăm lo đến đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”, “chú ý
Trang 21phát huy cốt cách dân tộc”, “miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn” những hiện thực vĩ đại của dân tộc, những tình cảm, tính cách và tâm hồn Việt Nam “để cổ vũ đồng bào ta, để giáo dục con cháu ta” [53, tr.179]
Một luận điểm nữa hết sức cơ bản và quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân Toàn dân tham gia sáng tạo văn hoá, làm nghĩa vụ văn hoá, đồng thời toàn dân hưởng thụ những giá trị văn hoá Nước ta là một quốc gia có nhiều dân tộc Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng Vì vậy, cùng với phát triển văn hoá chung của cả cộng đồng, phải chú ý phát triển văn hoá các dân tộc, phải tẩy trừ những thành kiến, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà [53, 185]
Những tư tưởng lớn về văn hóa, mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển văn hóa, truyền thống văn hóa dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta từng bước cụ thể hóa trong quá trình xây
dựng đất nước và thể hiện rõ nét nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước
1.2.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
Trong quá trình tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng
xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm xác định bản chất của văn hoá và không ngừng đổi mới, phát triển nội dung xây dựng nền văn hoá phù hợp với thực tiễn
“Đề cương văn hoá 1943” với sự xác định tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng của văn hóa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng nền văn hoá dân tộc phát triển mang tính dân tộc và hiện đại Trong công cuộc đổi mới, bắt đầu từ Đại hội VI (năm 1986) Đảng đã chú trọng đến phát triển nền văn hóa dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thông qua những nội dung cụ thể hơn Báo cáo Chính trị tại Đại hội VI đã viết: “Đưa văn hoá, văn nghệ đến vùng rừng núi và nông thôn hẻo lánh Coi trọng nghệ
Trang 22thuật kiến trúc vừa dân tộc, vừa hiện đại, giản dị trong việc xây dựng các công trình văn hoá cũng như dân dụng, các khu dân cư”, đồng thời “Hoàn thành việc sưu tầm vốn văn hoá và nghệ thuật các dân tộc” [35, tr.97]
Đến Đại hội VII (năm 1991) Đảng đã xác định một trong những nhiệm
vụ chủ yếu trong 5 năm 1991 - 1995 là: “Tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” [35, tr.289]
Đặc biệt, bắt đầu từ Đại hội VIII, Đảng ta đã xác định rõ bản chất và mục tiêu xây dựng nền văn hoá dân tộc trong công cuộc đổi mới Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội” [47, tr.550]
Các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam được thể hiện cụ thể cả về mặt nội dung và phương hướng phát triển, thể hiện rõ nét nhất trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII): “Xây dựng và phát triển nền Văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [35, tr.576]
Nghị quyết Hội nghị đã xác định 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản về văn hóa, đó là:
1.Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
2 Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
3 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
4 Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
5 Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
Trang 23Các quan điểm chỉ đạo của Đảng đã khẳng định rõ vị trí, vai trò của văn hoá trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; bản chất tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nghị quyết cũng xác định: “Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em” [34]
Tinh thần và các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã và đang định hướng, và xác định các nhiệm vụ về phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Các quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc được thể hiện rõ và gần đây nhất trong Cương lĩnh xây dựng Đảng năm 2011 Kế tục Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh 2011 tiếp tục khẳng định đặc trưng và nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc:
“Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống
xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.” và “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc”
1.2.4 Sự vận dụng đường lối của Đảng, duy trì và phát triển truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai trong những năm gần đây (khảo sát từ năm 1998 đến nay)
Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai đã được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm lãnh
Trang 24đạo chỉ đạo và thực hiện, đạt một số kết quả Tuy nhiên, nhiệm vụ này chưa thực sự trở thành những nhiệm vụ thường xuyên
Khi Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) được ban hành, nắm bắt và nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong quá trình phát triển, Đồng Nai đã xây dựng các nội dung thực hiện hết sức cụ thể Nghị quyết số 39 NQ/TU ngày 04/11/1998 của Tỉnh ủy Đồng Nai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (Khóa VIII) đã xác định mục tiêu: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, công tác bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai từng bước được quan tâm, có chuyển biến tích cực là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, thiết yếu trong các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở Đồng Nai
Tổng kết những thành tựu phát triển văn hoá ở Đồng Nai, Báo cáo chính trị của Tỉnh ủy Đồng Nai khoá VI tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (Nhiệm kỳ 2001 - 2005) đã đánh giá: “Các hoạt động văn hoá - thông tin có tiến bộ, từng bước đi vào chiều sâu, phát huy tính giáo dục truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc phục vụ thiết thực cho mục tiêu nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân” [36, tr.72]
Đánh giá riêng về việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Nghị quyết đã chỉ rõ: “đời sống văn hoá ở cơ sở có nhiều chuyển biến tốt Những năm gần đây đã tích cực đầu tư trang thiết bị văn hoá cho cơ sở, đẩy mạnh công tác phát triển văn hoá và tăng cường xây dựng cơ sở vật chất cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số” [10, tr.72]
Sau 10 năm (1998 - 2008) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII), đánh giá những kết quả đạt được, Tỉnh uỷ Đồng Nai cho rằng: “Nhìn chung, những quan điểm, nhiệm vụ cơ bản của Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) đã được quán triệt thực hiện, lấy làm nền tảng tinh thần và động lực phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái độ xem nhẹ văn hoá, chỉ chú trọng phát triển kinh tế về cơ bản từng bước được khắc phục”, “Văn hoá truyền thống
Trang 25được bảo tồn, phát huy cùng với việc xây dựng hệ thống giá trị văn hoá mới gắn với đời sống công nghiệp hiện đại” Đồng thời, Tỉnh uỷ Đồng Nai cũng nhìn
thẳng vào sự thật, đánh giá trong thời gian gần đây có dấu hiệu lãng quên và
“đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, công tác lãnh đạo, quản lý văn hoá văn nghệ các cấp chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ; chưa thật sự năng động sáng tạo Cán bộ hoạt động nghiên cứu, lý luận, sáng tác, sáng tạo, truyền dạy, biểu diễn trên lĩnh vực văn hoá, văn nghệ còn yếu, thiếu, chưa đồng bộ; chưa đủ điều kiện để thực hiện chức năng và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”
Đến nay, các nội dung, mục tiêu và các giải pháp thực hiện của Nghị quyết 39 NQ/TU vẫn đang được cấp ủy các cấp cụ thể hóa vào trong các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hàng năm của địa phương Các ngành hoạt động mang tính chuyên môn như văn hóa, dân tộc, dân vận, tuyên giáo, các cơ quan truyền thông… đều đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ ở các mức
độ khác nhau, các lĩnh vực chuyên môn khác nhau trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa nói chung, truyền thống văn hóa dân tộc nói riêng và đạt được những kết quả nhất định
1.3 Sự cần thiết đổi mới công tác tuyên truyền truyền truyền thống văn hóa dân tộc hiện nay
Đổi mới mô hình tăng trưởng, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong những năm trước mắt đặt
ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền về văn hóa và truyền thống văn hóa Điều đó được thực hiện ở các điểm sau:
1.3.1 Tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc với việc thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ở nước ta hiện nay
Mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là sự cụ thể hóa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Định
Trang 26hướng mục tiêu này được xác định ngay từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và ngày càng rõ hơn trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt trong hơn 25 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới
Văn hoá là động lực cho sự phát triển Trong cuộc đấu tranh giành và bảo
vệ nền độc lập dân tộc, văn hóa là nguồn sức mạnh của hơn 20 thế kỷ cùng ta đánh và để chiến thắng kẻ thù Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, bắt đầu từ kinh tế còn kém phát triển, tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc
là góp phần phát huy “động lực” của văn hoá trong xây dựng xã hội mới
Mục đích cuối cùng để thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh chính là vì con người, làm cho con người được phát triển toàn diện Vì vậy, trong xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vấn đề đầu tiên trong việc xác định những nhiệm vụ cụ thể được Đảng ta quan tâm đó là vấn đề con người Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc để làm cho mỗi thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam được sinh sống, làm việc trong môi trường hoà bình, góp phần cùng cộng đồng thúc đẩy sự phát triển của đất nước Con người là chủ thể sáng tạo ra kỹ thuật công nghệ Vì thế, việc chăm lo mọi mặt để con người phát triển trí tuệ, sức lực, tài năng của mình trong xã hội cũng chính là động lực để thúc đẩy phát triển kỹ thuật, công nghệ, qua đó phát triển xã hội
Việc thực hiện công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc chính là hoạt động nằm trong các hoạt động của công tác tư tưởng, nhằm tác động đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức và hành động, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền văn hoá
Thúc đẩy sự phát triển của nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh cũng là các tiêu chí xác định mức độ phát triển của một quốc gia,
Trang 27một dân tộc Tăng cường công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc cũng nhằm thúc đẩy xã hội phát triển, làm cho mỗi người trong xã hội được phát triển toàn diện, góp phần tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, văn minh cho quốc gia, dân tộc
1.3.2 Tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc với quá trình đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững trong những năm tới
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phương thức để Đảng và nhân dân ta thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Việc xác định các nhiệm vụ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bao gồm tất cả các nhiệm vụ, từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình chuyển đổi to lớn, tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hoá Xác định đúng mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế - xã hội - văn hoá là điều kiện cần thiết và cũng từ đó đặt ra yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc, góp phần tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững
Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới là vừa đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, mức sống, vừa phát huy quyền làm chủ của nhân dân thực hiện công bằng xã hội Đó chính là nâng cao đời sống văn hoá của người dân Bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, không chỉ là để đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong đời sống văn hóa của người dân, mà còn là một giải pháp cho sự phát triển kinh tế, xã hội
Tuyên truyền là một bộ phận của công tác tư tưởng nên không nằm ngoài những nhiệm vụ đó Cùng với các nội dung khác, tuyên truyền về văn
Trang 28hoá chính là tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức và lối sống của xã hội ta, phục
vụ và gắn với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ khác
Việc tuyên truyền truyền thống văn hoá của các dân tộc chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng của những người làm công tác tư tưởng nhằm làm cho văn hoá thấm sâu vào đời sống quần chúng nhân dân Thực hiện tốt công tác tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc chính là tác động trực tiếp làm cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ngày càng phát triển, thúc đẩy và giữ vững sự phát triển bền vững của đất nước trong hiện tại và tương lai
1.3.3 Tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc với việc khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế, hội nhập quốc tế; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường vào đời sống cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đang là một trong những nguồn gốc sâu xa, tạo nên những nguy cơ làm thay đổi tính chất ưu việt của chế độ xã hội ta hiện nay Sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, hay nói cách khác
sự suy thoái trong văn hoá của một bộ phận không nhỏ trong xã hội là nguyên nhân tăng tệ quan liêu, tham nhũng, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, những giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc Điều đó cũng đang làm thay đổi những mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội, nhất là trong một bộ phận thanh thiếu niên, là nguy cơ đe dọa đến sự an nguy của xã hội, làm biến đổi những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc
Tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc là giải pháp nhằm duy trì và giữ vững bản sắc văn hóa của dân tộc trong toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc giúp mọi người gạn đục, khơi trong, tiếp nhận cái hay, cái đẹp, loại bỏ những cái xấu cái tiêu cực từ bên
Trang 29ngoài Hoạt động tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, xuyên suốt trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại…
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ gìn truyền thống văn hoá dân tộc có thể trở thành tấm lá chắn, là thuốc miễn dịch đối với các đơn
vị, các tổ chức, cá nhân khi tiếp nhận các thông tin, văn hóa lối sống của các dân tộc khác vào Việt Nam, là tấm phin lọc, loại bỏ những mặt độc hại, trái với thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hoá dân tộc từ bên ngoài Có thể từ
đó giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tự xác định được các tiêu chí trong việc tiếp thu các tri thức, kiến thức, văn hóa, lối sống của các dân tộc khác vào công việc, cuộc sống, ứng xử của mình Đảm bảo được mục đích
“hoà nhập” mà không “hoà tan” trong văn hoá
Tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc chính là góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc được phát triển trong xu hướng phát triển chung của thời đại Việc tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc cũng là cơ hội để các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam giới thiệu và tự hào về truyền thống văn hoá của dân tộc mình đến với các nền văn hoá của các nước và các dân tộc khác trên thế giới, thông qua đó thực hiện được quá trình tiếp biến văn hoá với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Tiếp biến văn hoá sẽ nâng tầm văn hoá Việt Nam lên ngang tầm thời đại, đồng thời cũng tiếp tục thực hiện tốt công tác chắt lọc, trao truyền truyền thống văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác, đảm bảo sự trường tồn của truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam
1.3.4 Tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc với cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực văn hóa
Sau thất bại năm 1975 và nhất là từ năm 1991 đến nay, Mỹ và các thế lực thù địch trên thế giới đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà
Trang 30bình” ở Việt Nam Trong chiến lược này, tấn công trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá được coi là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về
tư tưởng và lý luận, gây sự chia rẽ, nghi ngờ giữa Đảng và nhân dân, tạo ra khoảng trống về tư tưởng, tiến tới xoá bỏ hệ tư tưởng vô sản Chính các nhà
tư tưởng của chủ nghĩa tư bản đã tổng kết: “Một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”; “một đôla chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đôla chi cho quốc phòng”…[11, tr.44]
Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch tập trung vào việc lợi dụng vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, coi đó là những chiêu bài chính để lợi dụng, tác động, phá hoại tư tưởng từ bên trong
Họ khuyến khích, nuôi dưỡng các đối tượng phản động, lợi dụng vấn đề dân tộc để gia tăng hoạt động, tuyên truyền chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để thực hiện ý đồ kích động ly khai khi đưa ra luận thuyết mới “Một dân tộc - một quốc gia” Chính vì vậy, trong những thập kỷ gần đây các thế lực thù địch không ngừng tuyên truyền kích động hòng tạo ra ở Việt Nam cái gọi là “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc; “Nhà nước Đềga độc lập ở Tây Nguyên”; “Nhà nước Khmer Crôm” ở Tây Nam bộ… Trong chiến lược diễn biến hoà bình, thủ đoạn dùng sự khác biệt về văn hoá để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là chia
rẽ đồng bào Kinh với đồng bào các dân tộc thiểu số thường được triệt để lợi dụng và rất nguy hại Truyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc là một trong những giải pháp hữu hiệu chống lại chiến lược “diễn biến hoà bình” của kẻ thù
Tuyên truyền các nội dung về dân tộc, truyền thống văn hóa dân tộc với những luận điểm cơ bản của Đảng để chứng minh tính toàn vẹn thống nhất, để khẳng định tính dân tộc mang tính quốc gia, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc
Trang 31Tiểu kết chương 1
Tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của công tác tuyên truyền, góp phần tạo nên nền tảng tư tưởng chung của xã hội
Tầm quan trọng, tính cấp thiết của tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc xuất phát từ vị trí, vai trò của văn hoá và truyền thống văn hoá, từ vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền, từ mục tiêu, nhiệm vụ, điều kiện phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Xuất phát từ bản chất khoa học và cách mạng, nhân đạo và nhân văn, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò của văn hoá và truyền thống văn hoá dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực cho sự phát triển, “văn hoá soi đường quốc dân đi” Tuyên truyền về văn hoá và truyền thống văn hoá là một trong những nội dung cơ bản của công tác tuyên truyền
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện một nền văn hoá Việt Nam hết sức phong phú, đậm
đà bản sắc dân tộc Truyền thống văn hoá dân tộc đang thôi thúc chúng ta tận dụng các cơ hội phát triển mạnh mẽ, đồng thời vượt qua những khó khăn thách thức trong giai đoạn phát triển mới Trách nhiệm của những thế hệ người Việt Nam là giữ gìn, phát huy, phát triển truyền thống văn hoá dân tộc Tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc là nhiệm vụ quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng giai đoạn hiện nay
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ DÂN TỘC Ở ĐỒNG NAI
2.1 Những yếu tố tác động đến công tác tuyên truyền truyền thống văn hóa dân tộc ở Đồng Nai
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Một số nét về đặc điểm tự nhiên của Đồng Nai
Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, có diện tích 5.903,940
km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ
Đồng Nai có 229.000 hecta đất bazan thích hợp với các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và 246.000 hecta đất phù sa cổ (Fluvilols), đất gley và đất cát (Aré mosolls…) Đồng Nai còn 170.000 hecta, có vai trò cân bằng môi trường sinh thái và phòng hộ đầu nguồn hồ Trị An Nước mặt sông Đồng Nai và các phụ lưu gồm 40 sông, suối lớn nhỏ, mỗi năm có lưu lượng
24 tỷ m3, lưu lượng bình quân 548 m3/giây Thời tiết khí hậu Đồng Nai tương đối ôn hoà Một năm chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa Thời tiết khí hậu ở Đồng Nai vẫn được cho là tương đối thuận lợi Những điều kiện tự nhiên đó giúp cho Đồng Nai phát triển nông nghiệp và công nghiệp đặc biệt là việc xây dựng các khu công nghiệp
Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương
và Bình Phước, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Do vậy, Đồng Nai có nhiều thế mạnh trong các hoạt động kinh tế của vùng cũng như giao thương với cả nước, với vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên…
Trang 33Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Thống Nhất, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú
Đồng Nai có sự phát triển công nghiệp từ sớm Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Khu công nghiệp Biên Hoà là khu công nghiệp lớn nhất cả nước Với nền tảng của một vùng đất có tiềm năng phát triển công nghiệp, từ sau giải phóng và nhất là bắt đầu từ thời kỳ đổi mới đất nước (năm 1986), cơ cấu kinh tế Đồng Nai chuyển từ nông - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Điều này đã giúp Đồng Nai có những bước phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ trong những năm gần đây
Trong giai đoạn từ 2005 đến 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của tỉnh tăng bình quân 13,2%/năm (giai đoạn 2001 - 2005 tăng 12,8%/năm), cao gấp 1,5 lần mức tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và gấp 1,9 lần mức tăng chung của cả nước GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) đến năm 2010 đạt 29,6 triệu đồng (tương đương 1.629 USD) tăng gấp 2,1 lần năm 2005
Việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp được đẩy mạnh và
có hiệu quả Trong 5 năm gần đây tỉnh đã phát triển thêm 11 khu công nghiệp, nâng tổng số khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn lên 30 khu, với diện tích 9.573 ha Các khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển các ngành công nghiệp, tạo động lực cho quá trình đô thị hóa, phát triển dịch vụ; đồng thời tạo điều kiện đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Những điều kiện tự nhiên nêu trên đã tạo cho Đồng Nai những tiềm năng phát triển về kinh tế - xã hội và cũng đặt ra cho tỉnh những thách thức
Trang 34lớn trong việc đảm bảo sự cân bằng giữa sự tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, ổn định xã hội và xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
2.1.1.2 Tác động của những điều kiện tự nhiên đến tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc
Điều kiện thiên nhiên phong phú và thuận lợi đem lại cho Đồng Nai nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế và các mặt trong đời sống xã hội của người dân Tuy nhiên, với địa hình phức tạp không đồng nhất, có núi, rừng, sông, đồng bằng với diện tích tương đối rộng nên việc di chuyển giữa các địa bàn trong việc tổ chức các hoạt động chuyển tải nội dung thông tin cũng gặp những khó khăn Mặc dù có rất nhiều cố gắng, là tỉnh đi đầu trong phát triển công nghiệp, song ở Đồng Nai vẫn có vùng, nhất là vùng rừng núi, vùng lõm địa hình, vùng kháng chiến cũ, khó khăn trong việc bắt sóng phát thanh, truyền hình Cho đến mãi năm 2010, với nhiều sự cố gắng lắp đặt các trạm thu phát sóng, Đồng Nai mới thực hiện được phủ sóng phát thanh, truyền hình trên toàn tỉnh
Địa hình với những vùng, miền có lợi thế, hạn chế quá khác biệt, do đó mặc dù Đồng Nai là một trong các địa phương có các khu công nghiệp phát triển sớm nhất trong cả nước, trên địa bàn vẫn còn những vùng, miền tồn tại nhiều xã nghèo, xã khó khăn, tạo ra khoảng cách chênh lệch phát triển giữa các vùng, địa bàn trong tỉnh cả về kinh tế và văn hóa Trong thực hiện tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc cần có nhiều giải pháp thực hiện phù hợp với từng vùng, miền, từng đối tượng khác nhau
Là địa bàn giữ vị trí sát với Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai chịu tác động nhiều mặt từ các tỉnh thành trong vùng và của các vùng, miền khác, nhất là lĩnh vực tác động thông tin Người dân có cơ hội tiếp nhận nhiều thông tin từ các nguồn khác
Trang 35nhau cả thuận chiều lẫn ngược chiều, tích cực và tiêu cực Đồng Nai và các tỉnh nằm trong vùng Đông Nam bộ nơi có nhiều cộng đồng các dân tộc sinh sống, có sự giao thoa về văn hóa giữa các vùng, miền Phần lớn cộng đồng các dân tộc của Đồng Nai đều có nguồn gốc từ nơi khác chuyển đến Đó là một trong những cơ sở tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa trên mảnh đất Đồng Nai; tinh thần đoàn kết, chung sức, chung lòng, cùng nhau xây dựng vùng đất mới của cộng đồng các dân tộc anh em
Đồng Nai là một trong số ít vùng đất có vị trí chiến lược trong sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, vì vậy đây là mảnh đất giao tranh và giành giữ của nhiều thế lực, nhiều triều đại phong kiến khác nhau và cũng là vùng chiến trường ác liệt của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ giành và bảo vệ nền độc lập của dân tộc Những yếu tố này cũng ảnh hưởng rất lớn đến phong cách, ý chí và tinh thần dũng cảm, kiên cường, dám nghĩ, dám làm trong lao động sản xuất và trong chiến đấu của người Đồng Nai
Tất cả những đặc điểm nêu trên đã tác động không nhỏ đến truyền thống văn hoá dân tộc trên mảnh đất Đồng Nai và tác động đến việc tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc cho cộng đồng dân cư trên địa bàn
2.1.2 Tác động của những điều kiện xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm cư dân ở Đồng Nai
Điều kiện tự nhiên với khí hậu ôn hoà và vùng đất màu mỡ còn hoang
vu đã mang đến nhiều thuận lợi cho các cư dân Việt đến Đồng Nai phát triển sản xuất, định cư lâu đời Với lịch sử hơn 310 năm hình thành, phát triển, vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai với những thay đổi lớn về địa giới hành chính qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau cộng với sự di chuyển cơ học của các đợt di dân, sự vận động, thay đổi của các cư dân bản địa đã mang đến cho vùng đất Đồng Nai những sắc thái của vùng đất đa dân tộc
Trang 36Hiện nay, nước ta có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, thì có đến 32 dân tộc trong đó có 31 dân tộc thiểu số sinh sống trên mảnh đất Đồng Nai, có thời điểm có đến 33 dân tộc (sự thay đổi về số lượng dân tộc chủ yếu do sự di chuyển dân cư từ các tỉnh lân cận về Đồng Nai và từ Đồng Nai đến các tỉnh
lân cận, thường là những dân tộc thiểu số có số lượng người ít)
Do tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đồng Nai là một trong những địa phương có tốc độ tăng dân số nhanh Vào tháng 2 năm
1976, tỉnh Đồng Nai có 1.261.596 người; thời điểm tách các huyện Châu Thành, Long Đất và Xuyên Mộc về tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1991, tỉnh Đồng Nai còn lại 1.600.000; đến năm 1995 tăng lên 1.900.000 và năm 1997 là 2.300.000 Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2010 là 2.569.442 người
Số lượng các dân tộc thiểu số sinh sống ở Đồng Nai cũng có sự thay đổi Theo thống kê năm 2001, Đồng Nai có 33 dân tộc thiểu số (kể cả người Hoa) [4] Đến năm 2009, dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 31 dân tộc với 175.128 người [31] Đồng bào các dân tộc sống xen kẽ, rải rác tại hầu hết các địa phương trong tỉnh Một số ít dân tộc sống tập trung thành làng, bản tại một số khu vực, như dân tộc Tày, Nùng, Hoa, Chơro, Mạ, X’tiêng…
Trong hơn 10 năm trở lại gần đây, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số được nâng lên Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng Nai từng bước được giảm Nếu năm 2004 có trên dưới 20% hộ nghèo [6], đầu năm 2011 toàn tỉnh Đồng Nai còn 6,22 % so với hộ dân toàn tỉnh, trong đó hộ nghèo dân tộc thiểu số là 6.103 hộ, chiếm 19,3% tổng số hộ dân tộc thiểu số (theo chuẩn mới)
Do đặc điểm lịch sử lâu đời, Đồng Nai cũng là một trong những tỉnh có đông tín đồ của những tôn giáo lớn, như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo Người theo đạo ở Đồng Nai chiếm đến trên 54% dân số Số đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo cũng tương đối lớn,
Trang 37khoảng 19.036 người (không tính người Hoa), trong đó Phật giáo 8.521 phật
tử, Công giáo 3.539 giáo dân, Tin lành 6.752 tín đồ, Cao đài 25 tín đồ, Hồi giáo 199 tín hữu
Hoạt động văn hoá tinh thần của các dân tộc cũng từng bước được cải thiện Các lễ hội lớn truyền thống của các dân tộc được tổ chức như lễ Chôl Chnăm Thmây, SenĐônta của dân tộc Kh’mer, Katê của dân tộc Chăm, Lồng Tồng của dân tộc Tày, Yangra của dân tộc Chơro, Tài phán của dân tộc Hoa, đã được thường xuyên tổ chức Bên cạnh đó, trong những dịp khánh thành các nhà văn hóa của các dân tộc, tỉnh đã tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ, biểu diễn những tiết mục văn nghệ tiêu biểu của các dân tộc…, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của đồng bào, khơi dậy và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc Đài Phát thanh truyền hình của tỉnh đã xây dựng được chương trình phát thanh, truyền hình tiếng Hoa và Chơro, được đa
số đồng bào dân tộc phấn khởi tiếp nhận
Tuy nhiên, tình trạng mù chữ vẫn còn tồn tại trong một số dân tộc thiểu số; tỷ lệ người trong độ tuổi đến trường trong bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông thấp, tình trạng bỏ trường, bỏ lớp còn diễn ra nhiều Những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu vẫn tồn tại ở một số nơi; việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của một số dân tộc, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa các dân tộc còn nhiều bất cập, một số nơi có chiều hướng mai một và mất dần
2.1.2.2 Tác động của điều kiện xã hội đến tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc
Với đặc điểm là vùng đất hội tụ nhiều thành phần dân cư thuộc cộng đồng các dân tộc anh em đến sinh sống và lao động sản xuất, là một tỉnh công nghiệp, nên công nhân Đồng Nai chiếm số lượng tương đối lớn Bên cạnh đó, các giai cấp, tầng lớp nhóm xã hội khác như nông dân, thanh niên - học sinh,
Trang 38trí thức, đồng bào các dân tộc thiểu số cũng có sự biến đổi liên tục trong thành phần dân cư
Hiện nay, Đồng Nai có 30 khu công nghiệp và thường xuyên có khoảng
500 ngàn công nhân lao động làm việc, có thời điểm khi các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, có đến trên dưới 700 ngàn công nhân đến làm việc Hầu hết công nhân lao động làm việc tại các khu công nghiệp có trình độ lao động phổ thông, đời sống còn khó khăn, thời gian nghỉ ngơi, tham gia các hoạt động văn hoá rất eo hẹp, sống không cố định tại các khu nhà trọ, rất ít số lượng công nhân được sống trong các khu cư xá do doanh nghiệp xây dựng Điều kiện tiếp nhận các thông tin chính trị, xã hội nói chung và truyền thống văn hoá dân tộc rất hạn chế
Với khoảng 1,6 triệu người, mặc dù không bị thời gian lao động bó buộc như công nhân, nông dân Đồng Nai cũng không có nhiều điều kiện tiếp nhận các thông tin truyền thống văn hoá, ngoại trừ tiếp nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng Ngoài ra, do điều kiện kinh tế khó khăn, người nông dân ít tham gia các hoạt động văn hoá tại địa phương, nếu không có sự vận động, khuyến khích của các cấp uỷ, chính quyền địa phương
Thanh niên - học sinh chiếm số lượng tương đối đông trong thành phần dân cư trong tỉnh, là đối tượng có cơ hội thường xuyên tiếp xúc với các thông tin, tri thức mới Tuy vậy, do đặc điểm lứa tuổi, nếu không có sự định hướng tuyên truyền, các đối tượng này gặp nhiều khó khăn trong tiếp nhận các thông tin từ nhiều người, có thông tin không chuẩn xác hoặc bị cắt xén, xuyên tạc
Đội ngũ trí thức chủ yếu nằm trong các cơ quan đảng, nhà nước, hội đoàn thể chính trị - xã hội, các doanh nghiệp có vị trí, điều kiện tốt nhất trong việc tiếp nhận và đồng thời cũng là đối tượng có khả năng chuyển tải thông tin, đến với các đối tượng khác Do đó, đây cũng là một trong nhóm đối tượng cần tập trung chú trọng trong công tác tuyên truyền để phát huy tốt nhất vai trò của họ
Trang 39Chiếm khoảng 8% tổng dân số, Đồng Nai có 31 dân tộc thiểu số cùng cộng đồng sinh sống trên địa bàn toàn tỉnh Mỗi một dân tộc có những nét truyền thống văn hoá riêng Để làm tốt công tác tuyên truyền phải có sự tìm hiểu và nghiên cứu sâu nhu cầu tiếp nhận của từng dân tộc, xác định được những nội dung, hình thức, phương pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời gian và con người khi tuyên truyền mới đạt hiệu quả
Đồng Nai là một tỉnh có đông đồng bào có đạo, tỷ lệ đồng bào có đạo trong các dân tộc thiểu số cũng không ít Thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, các thế lực thù địch thường lợi dụng cái gọi là vấn đề dân tộc, tôn giáo
Do đó, đồng bào có đạo, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số có đạo, có nguy
cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng, xúi dục thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” là rất lớn Những diễn biến về mặt tư tưởng trong số đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, là một trong những thách thức buộc những người hoạt động công tác tuyên truyền chú trọng đến
2.1.3 Đặc điểm lịch sử và sự hình thành truyền thống văn hoá dân tộc ở Đồng Nai
2.1.3.1 Đặc điểm lịch sử
Vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai có con người sinh sống từ thời tiền sử, cách nay ít nhất 5000 năm [2, tr.9] Đồng Nai gia nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam hơn 310 năm nay Mốc hình thành vùng đất này được tính từ năm
1698, khi chúa Nguyễn Phúc Chu sai chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) vào kinh lý vùng đất hoang hóa phương Nam
Từ đó đến nay, vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai liên tục là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam, được các triều đình phong kiến Việt Nam quản lý, xây dựng bộ máy chính quyền và duy trì trật tự xã hội theo khuôn mẫu của một triều đại phong kiến Việt Nam
Trang 40Theo dõi diễn trình sự thay đổi địa lý hành chính lịch sử Đồng Nai sẽ thấy được sự lớn mạnh và phát triển nhanh của vùng đất này Từ một vùng đất hoang sơ giữa thế kỷ XVII, Đồng Nai đã nhanh chóng mở rộng địa giới hành chính và thu hút số lượng lớn cư dân đến sinh sống Cho đến năm 1939, tỉnh Biên Hòa có 5 quận, 16 tổng, 119 xã Số làng, xã tăng lên nhanh, tổ chức hành chính ngày càng quy củ, chặt chẽ hơn… Hệ thống hành chính từ nửa cuối thập niên 20 trở đi là: tỉnh - quận - tổng - xã
Do vị trí chiến lược trọng yếu mà Đồng Nai đã thay đổi liên tục địa giới hành chính, nhất là từ sau khi nước ta giành lại độc lập dân tộc, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 2/9/1945 Từ Cách mạng Tháng Tám đến nay Đồng Nai đã có 16 lần thay đổi địa giới hành chính Việc thay đổi, tách, nhập các đơn vị hành chính hình thành vùng đất Đồng Nai phụ thuộc vào yêu cầu mục tiêu, nhiệm vụ chính trị ở từng giai đoạn khác nhau
Lịch sử hành thành vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai chủ yếu nhằm các mục tiêu khai phá, bảo vệ vùng đất và đấu tranh giành độc lập dân tộc Về kinh tế, từ những năm đầu thế kỷ XX, ngoài các ngành nghề truyền thống vốn
có phát triển từ trước, Đồng Nai đã xuất hiện các ngành nghề mới, các trang trại đồn điền, chủ yếu là các đồn điền cao su của các chủ tư bản Pháp và một
số ít đồn điền của người Hoa và người Việt Việc thuê mướn lao động và đưa
số lượng đông các cư dân phía Bắc đến làm công nhân các đồn điền đã tăng nhanh số lượng cư dân ở vùng đất Đồng Nai thời kỳ này
Công nghiệp ở vùng đất Đồng Nai cho đến Cách mạng Tháng Tám còn nhỏ bé Nhưng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá những năm đổi mới, với vị trí thuận lợi của Đồng Nai đã xuất hiện nhiều khu công nghiệp, tạo nên một lượng nhập cư mới của cư dân các vùng miền đến Đồng Nai làm việc Ngoài ra, do nhiều lý do, một số dân tộc thiểu số ở phía Bắc cũng di cư tự do vào tỉnh Đồng Nai, tạo nên một bức tranh rất đa dạng, phong phú về các dân tộc ở Đồng Nai