Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở” trên kênh Truyền hình Nhân Dân mới vẫn còn tồn
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ ĐÌNH PHONG
QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHUYÊN MỤC VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN
(KHẢO SÁT “CHUYÊN MỤC ĐẢNG VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI” VÀ
“CHUYÊN MỤC CHUYỆN Ở CƠ SỞ”)
( Thời gian từ tháng 9/2019 – 3/2020)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ ĐÌNH PHONG
QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHUYÊN MỤC VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN
(KHẢO SÁT “CHUYÊN MỤC ĐẢNG VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI” VÀ
“CHUYÊN MỤC CHUYỆN Ở CƠ SỞ”)
( Thời gian từ tháng 9/2019 – 3/2020)
Chuyên ngành : Quản lý báo chí truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN VĂN DỮNG
HÀ NỘI – 2020
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Đình Phong
Trang 5Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn củ ekip sản xuất chuyên mục "Đảng với sự nghiệp
đổi mới" và "Chuyện ở cơ sở" trên kênh Truyền Hình Nhân Dân 44Biểu đồ 2.2: Trình độ lý luận chính trị của ekip sản xuất chuyên mục "Đảng
với sự nghiệp đổi mới" và "Chuyện ở cơ sở 45
Trang 6MỞ ĐẦU 1
Chương 1: C SỞ L LUẬN – THỰC TIỄN VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ SẢN UẤT CHUYÊN MỤC TRUYỀN HÌNH 13
1.1.Cơ sở lý luận 13
1.2.Hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục 21
1.3 Cơ sở thực ti n vấn đề quản trị tổ chức sản xuất chuyên mục truyền hình 25
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ SẢN UẤT CHUYÊN MỤC VỀ ÂY DỰNG ĐẢNG TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN 35
2.1 Truyền hình Nhân Dân và công tác xây dựng Đảng 35
2.2 Khảo sát thực trạng quản trị sản xuất chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở” trên kênh truyền hình Nhân Dân 38
2.3 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân thành tựu và hạn chế trong hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở” trên kênh Truyền hình Nhân Dân 49
Chương 3: MỘT S VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT L NG QUẢN TRỊ SẢN UẤT CHUYÊN MỤC VỀ ÂY DỰNG ĐẢNG TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN 60
3.1 Một số vấn đề đ t ra 60
3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản trị sản xuất chuyên mục về xây dựng đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân 62
3.3 Một số khuyến nghị khoa học 70
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 82
TÓM TẮT LUẬN VĂN 97
Trang 7MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn đ c biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng Đó là cơ sở, tiền đề vững chắc bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Đ c biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội
XI, tại Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng Nghị quyết là bước đột phá về công tác xây dựng Đảng, thể hiện quyết tâm chính trị cao, là giải pháp cấp bách, đưa tự phê bình và phê bình trở thành công việc thường xuyên trong Đảng
Bước vào thời kỳ cách mạng công nghệ 4.0 cùng những di n biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước thì công tác xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Đ c biệt cần thể hiện vai trò của các cơ quan báo chí trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống luận điệu sai trái của các thế lực thù địch trên mạng internet
Truyền hình Nhân Dân là một trong những cơ quan báo chí lớn, là kênh truyền hình thời sự chính luận tổng hợp trực thuộc Báo Nhân Dân là Tiếng nói của Đảng, Nhà Nước và nhân dân Việt Nam, do vậy những thông tin về Đảng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã luôn được lãnh đạo Báo quan
tâm và đầu tư phát triển Với sự ra đời chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi
mới” và chuyên mục “Chuyện ở Cơ sở” ngày càng khẳng định được tầm quan
trọng của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và công tác xây dựng chỉnh đốn trong Đảng, cũng như sự lãnh đạo của Đảng ta với sự nghiệp đổi mới
Trong thời gian vừa qua hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục “Đảng
với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở” trên kênh Truyền hình Nhân Dân
Trang 8quan tâm thực hiện tốt từ chủ thể quản trị, đối tượng quản trị, nội dung và phương thức quản trị
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì hoạt động quản trị
sản xuất chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở” trên
kênh Truyền hình Nhân Dân mới vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: Kế hoạch sản xuất chương trình còn chậm; nhiều chủ đề còn chưa hấp dẫn công chúng,
phương thức quản trị còn khô khan chưa thực sự mang lại hiệu quả…
Vậy nên, việc nghiên cứu để tổng kết kinh nghiệm, rút ra những bài học cũng như đề xuất giải pháp nhằm giúp tối ưu hóa vấn đề quản trị các chuyên mục này đã và đang đ t ra vừa cấp thiết, vừa cơ bản trong quá trình nâng cao tính chuyên nghiệp, tính hiệu quả của hoạt động báo chí Truyền hình Nhân Dân
Từ những vấn đề lý luận và thực ti n nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài
luận văn: “Quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh
Truyền hình Nhân Dân (khảo sát chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi
mới” và chuyên mục “Chuyện ở cơ sở” từ tháng 9/2019 đến tháng
3/2020)” với mong muốn đưa ra một cái nhìn tổng thể về hoạt động quản trị
tổ chức sản chuyên mục truyền hình Bên cạnh đó thông qua việc khảo sát hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân, tác giả cũng đưa ra những đánh giá, nhìn nhận khách quan; từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị sản xuất chuyên mục về Xây
dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Tổ chức sản xuất chuyên mục truyền hình là một trong những nội dung
đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm và có nhiều công trình khoa học được công bố, sau đây tác giả xin được đưa ra một số công trình tiêu biểu:
* Xây dựng Đảng
- Công trình nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả tuyên truyền xây dựng Đảng
trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam” của Vũ Đình Chung (Luận văn thạc sĩ
Trang 9Truyền thông Đại chúng, Chuyên ngành Báo chí học, Hà Nội, 2005) đã đi sâu
nghiên cứu thực trạng chất lượng, nguyên nhân thành công và hạn chế của các chương trình truyền hình tuyên truyền về xây dựng Đảng trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam Từ đó tác giả phân tích, đánh giá, rút ra những kết luận và đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các chương trình tuyên truyền xây dựng Đảng trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam
- Công trình nghiên cứu “Tính hấp dẫn của Báo Đảng ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay” (Khảo sát Báo Nhân Dân và một số tờ báo Đảng địa phương từ năm 2005 đến năm 2011) của Nguyễn Bá Sinh (Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học, Hà Nội 2011) Đề tài đã tổng kết lý luận và thực
ti n trong quá trình hoạt động của báo Đảng hiện nay Trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp cụ thể, có tính khoa học, khả thi để nâng cao tính chiến đấu, tính hấp dẫn và cuối cùng là nâng cao hiệu quả tuyên truyền của mỗi tờ báo của Đảng
- Công trình nghiên cứu “Báo Đảng ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu
Long hiện nay” của Đoàn Phương Nam (Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, chuyên ngành Báo chí học, Hà Nội, 2006) Tác giả đã hệ thống cơ sở
lý luận liên quan đến đề tài, khảo sát, phân tích, đánh giá thành công và hạn chế của các tờ báo khảo sát về hoạt động của các tờ báo Đảng ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ ra những nguyên nhân thành công và hạn chế, đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này
- Công trình nghiên cứu “Báo Đảng địa phương Đồng bằng Bắc bộ với
vấn đề xây dựng Đảng” (Khảo sát các Báo Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định và
Bắc Ninh, từ 2011-2015) (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, Hà
Nội, 2016) Công trình trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động tuyên truyền xây dựng Đảng trên báo in địa phương đồng bằng Bắc bộ; làm rõ vai trò của báo Đảng các địa phương trong công tác xây dựng Đảng; phân tích
Trang 10nguyên nhân thành công và hạn chế trong nội dung, phương thức tuyên truyền xây dựng Đảng của báo in các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, Luận văn đề xuất giải pháp, kiến nghị với các báo Đảng địa phương đồng bằng Bắc bộ trong công tác tuyên truyền về xây dựng Đảng
Liên quan đến vấn đề xây dựng Đảng, trong những năm gần đây có một
số công trình khoa học, bài báo khoa học nghiên cứu về nội dung này đã được công bố và đăng tải trên sách, tạp chí khoa học của Trung ương, ngành, địa
phương và một số trang website, trong đó có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan
báo chí ở nước ta hiện nay”, tác giả Ngô Mạnh Hà (chủ biên) (2004) Các tác
giả đã phân tích khá rõ những vấn đề cơ bản của quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan báo chí ở địa phương và một số
Bộ, ngành trong giai đoạn hiện nay “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo
chí trong thời kỳ đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, sách của tác giả Nguyễn Vũ Tiến (2005) Tác giả phân tích và làm rõ vai trò quan trọng của
Đảng trong lãnh đạo hoạt động báo chí Ngoài ra, trên các số báo của Tạp chí Cộng sản cũng đã đăng khá nhiều bài viết liên quan đến công tác xây dựng Đảng, vai trò của báo chí với công tác xây dựng Đảng Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nói về vai trò của báo Đảng địa phương Đồng bằng Bắc bộ với vấn đề xây dựng Đảng
Trong hoạt động nghiệp vụ, những năm gần đây, Hội Nhà báo các tỉnh,
thành phố đã tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm liên quan đến đề tài như: Hội thảo "Báo đảng các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên" với chủ đề
“Tuyên truyền xây dựng Đảng trong tình hình mới” được tổ chức tại Huế,
ngày 27/3/2015 Tại hội thảo, các báo Đảng trong khu vực đã cùng nhau chia
sẻ, trao đổi kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả trong công tác tuyên truyền về lĩnh vực xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay Đồng thời, tìm ra những giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ phóng
Trang 11viên, xây dựng các chuyên trang chuyên mục hấp dẫn và nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí viết về lĩnh vực xây dựng Đảng
- Tọa đàm, “Báo chí cách mạng với công tác xây dựng Đảng trong thời
kỳ đổi mới” do Đảng ủy Khối cơ quan Trung ương phối hợp với Hội Nhà báo
Việt Nam tổ chức vào 17-6-2015 Tại buổi tọa đàm, các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương và nhiều nhà báo chuyên viết về lĩnh vực xây dựng Đảng đã thảo luận, làm rõ hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của báo chí, của người làm báo với công tác xây dựng Đảng hiện nay; những đóng góp nổi bật của báo chí cách mạng Việt Nam đối với công tác xây dựng Đảng trong thời
kỳ đổi mới… Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng báo chí với hoạt động tuyên truyền xây dựng Đảng
* Về sản xuất chương trình truyền hình
- Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội (2002), tác giả Trần Bảo Khánh đã làm rõ những đ c trưng
và thể loại báo chí truyền hình, sản xuất chương trình truyền hình, phóng viên truyền hình và quy trình sáng tạo các tác phẩm báo chí truyền hình với các thể loại: Tin truyền hình, phóng sự truyền hình, ký sự truyền hình, phỏng vấn truyền hình và cầu truyền hình Cũng trong cuốn sách này, tác giả Trần Bảo Khánh đã đề cập rất chi tiết đến công việc tổ chức sản xuất chương trình, đưa
ra các khái niệm liên quan Tác giả Trần Bảo Khánh đã chia các thể loại của báo chí truyền hình thành ba nhóm chính là: Nhóm hội thoại, nhóm tạo hình, nhóm các tác phẩm TV Games – show Từ đó, phân tích cách thức tổ chức sản xuất của các nhóm chương trình đó
Luận văn thạc sĩ
- Đỗ Thị Phương Lan (2013), Tổ chức sản xuất các chương trình
chuyên đề truyền hình của đài PT, TH Yên Bái (Khảo sát từ tháng 6/2012 đến
tháng 6/2013) Luận văn hướng tới mục đích hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về chương trình chuyên đề truyền hình và tổ chức sản xuất các chương
Trang 12trình chuyên đề truyền hình, phân tích thực trạng việc tổ chức sản xuất các chương trình và chất lượng chuyên đề của Đài PT, TH Yên Bái, thông qua đó
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc tổ chức sản xuất các chuyên đề truyền hình của Đài PT, TH Yên Bái
- Thái Thành Chung (2014), Vấn đề quản lý nội dung chương trình liên kết ở kênh HTV Luận văn hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến việc liên kết sản xuất chương trình truyền hình, hình thành cơ sở lý luận - thực ti n của hoạt động quản lý nội dung chương trình truyền hình liên kết hiện nay, đồng thời đề xuất xây dựng quy trình quản lý nội dung hợp lý trong sản xuất chương trình truyền hình ở đài truyền hình TP Hồ Chí Minh; Hệ thống hóa cơ
sở lý luận và thực ti n về hoạt động quản lý nội dung các chương trình truyền hình liên kết nói chung; Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất chương trình
và kênh truyền hình liên kết tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh; Đề
ra giải pháp nhằm nâng cao việc quản lý nội dung các chương trình và kênh truyền hình liên kết của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
- Tăng Chí Huấn (2015), Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình
trực tiếp của đài PT – TH khu vực Tây Nam Bộ hiện nay (Khảo sát các Đài
Trà Vinh, Vĩnh Long và An Giang 6 tháng cuối năm 2014) Luận văn thực hiện khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình trực tiếp của đài PT-TH khu vực Tây Nam bộ hiện nay, cụ thể là các đài: Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình trực tiếp của các đài
- Bùi Chí Trung (2015, Đổi mới nội dung chương trình chuyên đề
trong tiến trình số hóa Đài PT, TH Hải Phòng hiện nay Công trình đã góp
phần hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến chương trình chuyên đề truyền hình; Khái quát về Đề án số hóa và lộ trình số hóa của các đài phát thanh- truyền hình địa phương ở Việt Nam nói chung và ở Đài PT , TH Hải Phòng nói riêng; Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc tổ chức sản
Trang 13xuất các chương trình truyền hình chuyên đề của Đài PT - TH Hải Phòng; Đề xuất giải pháp đổi mới nội dung chương trình chuyên đề và nâng cao hiệu quả
tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề trong bối cảnh số hóa truyền hình của Đài
- Nguy n Bảo Lộc (2018, Quản lý tổ chức sản xuất chương trình
chuyên đề trên sóng ANTV (khảo sát hai chương trình Điều tra qua thư khán
giả và An ninh nông thôn) Luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận về quản lý tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề, thực trạng quản lý tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề trên sóng ANTV Những giải pháp và khuyến nghị để nâng cao chất lượng quản lý tổ chức sản xuất chương trình trên sóng ANTV
Tất cả các công trình nghiên cứu hoạt động tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chưa thấy công trình nào đề cập hay nghiên cứu về Quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân Do vậy có thể khẳng định đề tài Quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân
Dân (khảo sát “chuyên mục Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ
sở”, Thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 3/2020) là vấn đề mới và hoàn toàn
không trùng lắp các công trình nghiên cứu đã công bố
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên cũng là nguồn tài liệu tham khảo để tác giả kế thừa góp phần hoàn thiện luận văn của mình
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về quản trị sản xuất chuyên mục truyền hình; từ đó tiến hành khảo sát thực trạng quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân khảo sát chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở” và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị sản xuất chuyên mục
Trang 14về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân trong bối cảnh môi trường truyền thông số
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện được mục tiêu trên đây của luận văn, học viên tập trung giải quyêt mấy nhiệm vụ chính yếu sau đây
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quản trị sản xuất chuyên mục truyền hình tiếp cận từ góc độ quản trị truyền thông; từ đó bước đầu hình thành khung lý thuyết cho vấn đề này;
- Trên cơ sở khung lý thuyết, luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân khảo sát chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và
“Chuyện ở cơ sở”
- Từ khảo sát nhận diện, phân tích các vấn đề thực tế đ t ra, luận văn đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân trong bối cảnh hiện nay
4 ĐỐI T NG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân
4.2 Phạm vi nghiên cứu khảo sát
- Không gian nghiên cứu: Quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân khảo sát chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở”
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2019 đến tháng 3/2020
5 C SỞ LÝ LUẬN VÀ PH NG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
5.1 Cơ sở lý thuyết của luận văn
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-
Trang 15V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về báo chí và một số lý thuyết hiện đại về quản trị truyền thông
Về cơ sở lý luận chung, luận văn dựa vào các quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lê-nin về xây dựng Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí và vai trò của báo chí đối với công tác xây dựng Đảng Trong đó, Chủ nghĩa Mac-Lê-nin coi báo chí là một bộ phận cấu thành, một mắt xích trong bộ máy của Đảng; đồng thời, Đảng cộng sản Việt Nam thiết lập quan điểm cơ bản cho báo chí phải tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, …
Đồng thời, luận văn cũng dựa vào một số lý thuyết như chuyên ngành báo chí – truyền thông như:
- Lý thuyết quản trị truyền thông, cho rằng, quản lý tổ chức sản xuất chuyên mục bắt đầu từ việc quản trị mục tiêu, quản trị nội dung, chủ đề, đề tài cho đến quản trị hình thức – ngôn ngữ, giọng điệu, phong cách trình bày, bố cục câu chuyện , tất cả đều được setup nhằm tối ưu hóa năng lực tác động cũng như khả năng thuyết phục công chúng – nhóm đối tượng của chuyên mục truyền hình
- Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda Setting Theory) Đây là lý thuyết do Maxwell Mccombs và Donald Shaw (Mỹ) đề xướng năm
1972, trong đó mô tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông Trong xã hội, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới
và coi nó quan trọng hơn những thông tin khác Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đ t “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí - truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của
Trang 16công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng bằng cách phú cho các “chương trình” nét nổi bật khác nhau,
từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn đường trong tương lai
Lý thuyết này được ứng dụng khi nghiên cứu vấn đề này từ cách đ t vấn đề, các chương trình chuyên đề đều tập trung giải quyết những vấn đề thực ti n trong công tác tuyên truyền của Truyền hình Nhân Dân, trên cơ sở
kế hoạch được hoạch định Việc quản trị tổ chức sản xuất chương trình cần tuân thủ kế hoạch tuyên truyền như cách lập chương trình nghị sự
- Lý thuyết “truyền thông can thiệp xã hội” Theo PGS.TS Nguy n Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thông tin – giao tiếp của công chúng xã hội, báo chí - truyền thông là phương tiện và phương thức kết nối xã hội, từ đó tạo lập sức mạnh xã hội để can thiệp xã hội, tức là góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang
đ t ra Từ lý thuyết can thiệp xã hội của báo chí - truyền thông, có thể hiểu
về sự can thiệp xã hội của báo chí-truyền thông như sau: báo chí cung cấp thông tin, kiến thức và tạo di n đàn cho công chúng - xã hội chia sẻ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm theo nhu cầu thực tế và về các sự kiện và vấn
đề thời sự đang đ t ra; trên cơ sở ấy, giúp công chúng xã hội mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức; từ đó, báo chí - truyền thông góp phần làm thay đổi, điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội của công chúng và cộng đồng xã hội nói chung
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: Phương pháp này
được sử dụng khảo cứu các tài liệu như sách, tạp chí, giáo trình…chuyên ngành về tổ chức, quản lý, báo chí, truyền thông, sản xuất chuyên mục truyền
Trang 17hình…vv Tài liệu được lựa chọn là các công trình nghiên cứu, tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề nghiên cứu, các trang web điện tử uy tín và các nguồn tài liệu sưu tầm khác Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu được sử dụng như một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản nhằm tổng hợp, phân tích trên cơ sở đó đúc rút những luận điểm, luận chứng có các nội dung xuyên suốt của luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu nhóm đối tượng: Nhóm
tham gia sản xuất chuyên mục về xây dựng Đảng; Nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp liên quan đến công tác xây dựng Đảng; Nhóm công chúng thường xuyên theo dõi chuyên mục xây dựng Đảng
- Phương pháp thảo luận nhóm: Xin ý kiến tìm hiểu kinh nghiệm về
cách quản trị sản xuất chương trình Xây đựng Đảng của nhóm phóng viên các
cơ quan báo chí khác như VTV để có thể tham chiếu, so sánh thêm
- Phương pháp phân tích nội dung: Phương pháp này tác giả đã đọc,
nghiên cứu và tìm hiểu nội dung các tác phẩm được phát sóng trong 2 chuyên mục “Đáng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện cơ sở” xem xét các chuyên mục đã thể hiện đúng mục tiêu chuyên mục hay chưa từ đó đưa ra đánh giá,
phân tích chính xác
6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Góp phần làm rõ lý luận về hoạt động quản trị quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân
- Đưa ra những đ c điểm thực trạng của quản trị sản xuất chuyên mục
về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân khảo sát chuyên mục
“Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở” Từ đó đưa ra nhận xét,
đánh giá, rút ra những kinh nghiệm và đề các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình
Nhân Dân khảo sát chuyên mục “Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở
cơ sở”
Trang 187 NGHĨA L LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã làm rõ thêm những vấn đề lý luận quản trị tổ chức sản xuất chuyên mục truyền hình như: khái niệm, quy trình, nội dung…
Ý nghĩa thực ti n: Sản phẩm nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo giúp kênh Truyền hình Nhân Dân thực hiện tốt hơn hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng
8 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 19Chương 1:
C SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHUYÊN MỤC TRUYỀN HÌNH
1.1 C SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Những khái niệm cơ ản của luận văn
1.1.1.1 Chương trình truyền hình, chuyên mục truyền hình
- Khái niệm chương trình truyền hình
Trước hết cần làm rõ khái niệm “ truyền hình” Theo PGS, TS Tạ Ngọc Tấn, đây “ là một loại phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh [42, tr127] Như vậy, truyền hình – với tư cách là một loại hình truyền thông đại chúng có đ c trưng truyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh, hay nói cách khác là có khả năng tác động đến công chúng của mình thông qua hình ảnh và âm thanh
Riêng về nghĩa của cụm từ "chương trình", nếu theo sách Từ điển Tiếng Việt 1994 của Trung tâm từ điển học Nhà xuất bản Đà nẵng 2008, thì
đó là "toàn bộ những dự kiến hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định [36, tr250] Tuy nhiên, trong thực ti n đời sống báo chí thì đây là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong phát thanh và truyền hình Theo đó với cách hiểu thông thường nhất thì "chương trình" là một sản phẩm báo chí có nội dung và hình thức được trình bày theo một trình tự nhất định, do nhiều sản phẩm hợp thành
Chương trình truyền hình có thể hiểu là sản phẩm phát một lần là xong,
ho c một phần của seri đang thực hiện, phát từng số kế tiếp nhau Đó cũng có thể là một vở kịch, một bộ phim được phát trên truyền hình, ho c bản tin thời
sự, truyền hình thực tế
Một chương trình truyền hình cũng như một "tin truyền hình" hay một
"phóng sự truyền hình" đều là tác phẩm, sản phẩm của loại hình báo chí
Trang 20truyền hình Tuy nhiên, một chương trình có thể bao gồm nhiều tin, bài, phóng sự Cũng giống như các tác phẩm truyền hình, một chương trình truyền hình dù có thời lượng phát sóng ra sao, phạm vi như thế nào cũng là sản phẩm của lao động tập thể
Như vậy đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chương trình truyền hình, theo tác giả có thể hiểu khái niệm chương trình theo cách sau: "chương trình truyền hình là một sản phẩm báo chí có nội dung và hình thức ổn định, mang đ c trưng truyền hình (truyền tải thông tin bằng hình ảnh,
âm thanh) Hầu hết các chương trình truyền hình đều có tính ổn định về nội dung, hình thức và được phát sóng theo định kỳ
- Khái niệm chuyên mục truyền hình
Chuyên mục có thể được hiểu là vấn đề chuyên môn, chuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề, vấn đề, đề tài nào đó, được biểu hiện thông qua nhiều góc độ nhằm làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng đã được nêu ra
Chuyên mục truyền hình chính là sự sắp xếp hợp lý các thành phần tin, bài, phóng sự nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan báo chí, đồng thời mang lại hiệu quả tác động cao nhất đối với người xem Việc sắp xếp các tin, bài, phóng sự một cách chỉnh thể, khoa học, hợp lý sẽ giúp khán giả tiếp nhận thông tin một cách d dàng, đầy đủ và hệ thống
Chuyên mục truyền hình thể hiện tính chất lao động tập thể Trên thực
tế, tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi chuyên mục có đối tượng tác động riêng,
có nội dung phản ánh riêng và cách thức tác động riêng Chuyên mục truyền hình có các đ c điểm như: Khung thời lượng ổn định, phát sóng định kỳ đúng thời điểm, kết cấu chương trình vừa ổn định vừa linh hoạt, nội dung mang tính chuyên biệt Tùy theo đ c điểm loại hình, mỗi loại phương tiện thông tin đại chúng cần và có thể sử dụng các cung bậc thông tin khác nhau Với thế mạnh riêng về hình ảnh và âm thanh, các Chuyên mục truyền hình có điều kiện để thực hiện nhưng thông tin sâu hơn, rộng hơn, phong phú hơn về một
Trang 21vấn đề nào đó để thỏa mãn nhu cầu thông tin của công chúng Các chuyên mục truyền hình thường đi sâu vào bản chất từng vấn đề, từng sự kiện thuộc mọi lĩnh vực của cuộc sống, đó có thể là vấn đề, sự kiện mới xảy ra nhưng cũng có thể là những sự kiện, vấn đề đã xảy ra nhưng vẫn còn giá trị lớn trong thực ti n cuộc sống
Trong xu thế phát triển của xã hội, nhu cầu thông tin của con người ngày càng đa dạng Vì thế, trong truyền thông hiện đại đang có hiện tượng
“phi đại chúng”, tức là những thông tin dành cho các đối tượng chuyên biệt
1.1.1.2 Quản trị và quản trị chuyên mục truyền hình
- Khái niệm quản trị
Theo Harold Koontz và Cyril O’Donnell: Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả
Theo Robert Albanese: Quản trị là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức
Lý thuyết hành vi lại định nghĩa “Quản trị là hoàn thành công việc thông qua con người”
Một số quan niệm khác cho rằng quản trị là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động
Do đó theo tác giả có thể hiểu quản trị là quá trình lên kế hoạch, tổ chức sắp xếp công việc, nhân sự để phối hợp hoàn thành mục tiêu đề ra
- Khái niệm quản trị chuyên mục truyền hình
Khái niệm quản trị chuyên mục truyền hình có thể hiểu là: Quá trình
bố trí, tổ chức, sắp xếp công việc, nhân sự để hoàn thành chuyên mục trên truyền hình
Trang 221.1.1.3 Sản xuất chuyên mục truyền hình
Như chúng ta đã biết: Để làm ra bất cứ một sản phẩm nào, người sản xuất cũng phải trải qua nhiều công đoạn Để cho ra đời một chuyên mục truyền hình, người phóng viên, biên tập viên phải thực hiện nhiều khâu trong quy trình sản xuất sản phẩm truyền hình, từ việc tìm đề tài, nghiên cứu chủ đề cho đến phát sóng Cả quy trình này di n ra theo hai dây chuyền chính: dây chuyền sản xuất và dây chuyền phát sóng
Dây chuyền sản xuất chuyên mục được chia làm hai khâu: khâu sáng tạo tác phẩm và khâu kỹ thuật Khâu sáng tạo tác phẩm bao gồm những công việc của phóng viên, cameraman, biên tập viên, đạo di n và phát thanh viên Trong khâu này, phóng viên thực hiện giai đoạn tiền kỳ: tìm hiểu thực tế, khai thác tư liệu (văn bản, quan sát và phỏng vấn), cameraman thể hiện kịch bản bằng các đoạn phim quay được
Giai đoạn hậu kỳ bắt đầu bằng việc xử lý thông tin của phóng viên qua khâu kỹ thuật với sự hỗ trợ, phối hợp của các kỹ thuật viên Bao gồm các công việc đọc băng, làm kịch bản dựng, dựng băng, viết, lồng tiếng
Qua các công đoạn của dây chuyền sản xuất chuyên mục truyền hình có thể thấy rằng, các tác phẩm báo chí đều phải trải qua giai đoạn tiền kỳ và hậu
kỳ Cũng có thể nhận ra một điều, hai khâu sáng tạo tác phẩm và kỹ thuật không cắt rời tách bạch mà được thực hiện song song với nhau
Về tổ chức sản xuất chuyên mục truyền hình, cho đến nay vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa một cách cụ thể, tuy nhiên
Trang 23học nhằm huy động tối đa sức sáng tạo của người lao động, giảm đến mức thấp nhất chi phí sản xuất nhưng tạo ra sản phẩm tốt”
Cũng theo cách hiểu trên, có thể coi “Tổ chức sản xuất một chuyên mục truyền hình là sự điều hành sản xuất bằng cách kết hợp hài hoà nhân lực
và phương tiện của hai khối nội dung và kỹ thuật sản xuất chương trình, khâu nối hợp lý thành quả lao động của từng người nhằm đưa lên sóng một chương trình truyền hình có giá trị thông tin và hiệu quả xã hội cao Tổ chức sản xuất chuyên mục truyền hình còn là sự quản lý xuyên suốt mọi mắt xích trong dây chuyền sản xuất tin, bài nhằm đẩy dây chuyền này vận hành thông suốt, liên tục và hiệu quả”
1.1.1.4 Khái niệm quản trị sản xuất chuyên mục truyền hình
Quản trị tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề tiếp cận từ quản trị truyền thông có thể được hiểu bao gồm các yếu tố sau:
- Quản trị mục tiêu có thể được hiểu là trên cơ sở thống nhất nhận thức
về mục tiêu chuyên mục hay chương trình, từ đó tất cả các bộ phận, các thành viên tham gia tập trung nỗ lực cao nhất để thực hiện mục tiêu, biến mục tiêu thành hiện thức, thể hiện qua kết cấu chuyên mục, tác phẩm, …
- Quản trị kế hoạch tổ chức sản xuất là bảo đảm cho các yếu tố của kế hoạch được thực hiện và kế hoạch được tối ưu hóa bằng sự đóng góp của các
bộ phận, các thành viên tham gia Kế hoạch tổ chức sản xuất hiệu quả phải được các thành viên tham gia biến nó thành hiện thực tối đa
- Quản trị tổ chức nhân sự, là quá trình tác động của chủ nhiệm chương trình, chuyên mục sắp xếp, bố trí công việc cho các thành viên hợp lý nhất có thể, đồng thời tạo điều kiện để họ phát huy tối đa năng lực, sở trường trong sản xuất chương trình,chuyên mục Từ đó đẩy mạnh hoạt động tuyển dụng và đào tạo nhân sự phù hợp
- Quản trị tổ chức hệ thống máy móc trang thiết bị là quá trình sử dụng hợp lý nhất có thể các thiết bị kỹ thuật trong quá trình tổ chức sản xuất chuyên mục, nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Trang 24Cũng như mọi quá trình quản trị sản xuất tạo ra sản phẩm khác, việc tạo
ra một chương trình chuyên đề đòi hỏi phải có yếu tố đầu vào, đầu ra, các trang thiết bị, khoa học công nghệ và nhân sự được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm
1.1.2 Cơ sở l thuyết của vấn đề nghiên cứu
1.1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của báo chí với công tác xây dựng Đảng
Báo chí ở Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Đảng, đồng thời cũng phản ánh tiếng nói của quần chúng Báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt động của Đảng ta, là yếu tố cấu thành hoạt động tư tưởng,
lý luận
Báo chí có nhiệm vụ truyền bá đường lối, chính sách của Đảng đến với quần chúng Thông tin kịp thời, phân tích sâu sắc những sự kiện mới; phát hiện và phản ánh trung thực những điển hình tiên tiến, nhiệt tình ủng hộ những nhân tố mới, dũng cảm đấu tranh chống những hiện tượng lạc hậu, trì trệ và mọi biểu hiện tiêu cực khác; đề cập và chỉ ra phương hướng giải quyết những vấn đề thiết thực mà xã hội quan tâm; xây dựng dư luận xã hội lành mạnh, động viên quần chúng hoàn thành nhiêm vụ cách mạng của Đảng
Chính vì vậy, Đảng ta luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của báo chí trong công tác xây dựng Đảng Đ c biệt, Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa
VIII đã xác định “báo chí, công luận là một trong bốn hệ thống giám sát cán
Trang 25đạo đức, lối sống lành mạnh, mở mang dân trí về mọi m t, bồi dưỡng ý thức cách mạng, nâng cao ý thức cảnh giác chống lại những luận điệu xuyên tạc của kẻ địch
Chỉ thị 08 - CT/TW ngày 31-3-1992 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản” nêu rõ:
Báo chí, xuất bản có trách nhiệm góp phần làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, động viên toàn Đảng, toàn dân vượt qua khó khăn thử thách, năng động sáng tạo trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày 17/10/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 22 - CT/TW về
“Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản” Chỉ thị nêu rõ:
Báo chí là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị,
xã hội và di n đàn của nhân dân Nhiệm vụ chính trị hàng đầu của báo chí là
“luôn luôn đi đầu trong việc bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”
Tại Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nêu rõ phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự di n biến", "tự chuyển hóa"
Đảng lãnh đạo báo chí, nhưng quản lý báo chí là việc của Nhà nước Nhà nước quản lý báo chí thông qua luật pháp, quy chế, thể lệ dựa trên các quan điểm và định hướng chính trị của Đảng Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước đối với báo chí là nhằm mục đích bảo đảm thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đáp ứng nhu cầu thông
Trang 26tin ngày càng cao của nhân dân, đồng thời tạo điều kiện cho hệ thống báo chí nước ta phát triển đúng hướng
Từ các những điều trên có thể thấy, xuất phát từ vai trò và sức mạnh của báo chí, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc tuyên truyền xây dựng Đảng là một nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu, thường xuyên và cần kíp của báo chí Và thực tế, trong mọi hoạt động của mình, báo chí lấy tuyên truyền xây đựng Đảng làm trung tâm, hạt nhân cốt lõi nhất cho các hoạt động tuyên truyền khác
1.1.2.2 Một số lý thuyết làm cơ sở cho nghiên cứu của đề tài
- Lý thuyết quản trị truyền thông
Lý thuyết quản trị truyền thông cho rằng, quản trị tổ chức sản xuất chuyên mục bắt đầu từ việc quản trị mục tiêu chuyên mục, quản trị nội dung, chủ đề, đề tài cho đến quản trị hình thức – ngôn ngữ, giọng điệu, phong cách trình bày, bố cục câu chuyện , tất cả đều được setup nhằm tối ưu hóa năng lực tác động cũng như khả năng thuyết phục công chúng – nhóm đối tượng của chuyên mục
- Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự”
Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda Setting Theory) Đây là lý thuyết do Maxwell Mccombs và Donald Shaw (Mỹ) đề xướng năm
1972, trong đó mô tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông Trong xã hội, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới
và coi nó quan trọng hơn những thông tin khác Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đ t “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí - truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan
Trang 27trọng của chúng bằng cách phú cho các “chương trình” những nét nổi bật khác nhau, từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn đường trong tương lai
Lý thuyết này được ứng dụng khi nghiên cứu vấn đề này từ cách đ t vấn đề, các chương trình chuyên đề đều tập trung giải quyết những vấn đề thực ti n trong công tác tuyên truyền của ANTV, trên cơ sở kế hoạch được hoạch định Việc quản trị tổ chức sản xuất chương trình cần tuân thủ kế hoạch tuyên truyền như cách lập chương trình nghị sự
- Lý thuyết “truyền thông can thiệp xã hội”
Lý thuyết “truyền thông can thiệp xã hội” Theo PGS.TS Nguy n Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thông tin – giao tiếp của công chúng xã hội, truyền thông thể hiện phương tiện và phương thức kết nối xã hội, từ đó tạo lập sức mạnh xã hội để can thiệp xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đ t ra Từ lý thuyết can thiệp xã hội của truyền thông, có thể hiểu về sự can thiệp xã hội của báo chí-truyền thông như sau: báo chí cung cấp thông tin, kiến thức và tạo di n đàn công chúng - xã hội chia sẻ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm theo nhu cầu thực tế và về các sự kiện và vấn đề thời sự đang đ t ra; trên cơ sở ấy, giúp công chúng xã hội mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức; từ đó, báo chí - truyền thông góp phần làm thay đổi, điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội của công chúng và cộng đồng xã hội nói chung
1.2 HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHUYÊN MỤC
1.2.1 Chủ thể và đối tượng quản trị sản xuất chuyên mục
- Chủ thể quản trị
Để quản trị tốt hoạt động sản xuất chuyên mục, chúng ta cần quan tâm đến chủ thể và đối tượng quản trị Sự tác động qua lại tích cực giữ chủ thể và đối tượng quản trị sẽ giúp cho hoạt động quản trị đạt được mục tiêu đã đ t ra
Chủ thể quản trị sản xuất chuyên mục trong luận văn tác giả đề cập đến: Chủ thể chịu trách nhiệm sản xuất chuyên mục về xây dựng Đảng là Ban
Trang 28Giám đốc Trung tâm truyền hình Nhân Dân, chủ thể chịu trách nhiệm quản trị vận hành trực tiếp hoạt động sản xuất các chuyên mục về xây dựng Đảng là lãnh đạo ban Thời sự - truyền hình Nhân Dân
- Đối tượng quản trị
Đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản trị là những mối quan hệ con người bên trong và bên ngoài tổ chức Chủ thể quản trị tác động lên con người thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất và phi vật chất như vốn, vật tư máy móc, thiết bị công nghệ thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động
Đối tượng của hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục chính là quản trị các mối quan hệ Đối tượng quản trị sản xuất chuyên mục bao gồm: Quản trị con người, quản trị mục tiêu, hình thức chuyên mục, quản trị hệ thống trang thiết bị sản xuất chuyên mục
1.2.2 Phương thức quản trị
Phương thức quản trị sản xuất chuyên mục thực chất là cách thức và phương pháp quản trị làm sao để chuyên mục đạt được chất lượng tốt nhất, đáp ứng yêu cầu của nhà đài và phù hợp với nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng Có nhiều phương thức quản trị khác nhau, song với đề tài này tác giả xin đề cập tới một số phương thức sau:
- Thứ nhất, quản trị thông qua hệ thống cơ cấu nhân sự hợp lý Đây là phương thức nhưng cũng vừa là yêu cầu trong quản trị sản xuất chuyên mục nói chung quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng nói riêng Thực tế cho thấy nếu có một tổ chức hợp lý với đội ngũ nhân sự có đủ trình độ, kiến thức, kỹ năng và tâm huyết thì việc quản trị sẽ thuận lợi Đ c biệt vai trò của người đứng đầu tổ chức càng cần phải có bản lĩnh chính trị, có kiến thức, có
kỹ năng và kinh nghiệm quản trị
- Thứ hai, quản trị thông qua quy chế, quy định Điều này là vô cùng cần thiết Ngoài luật Báo chí 2016, các Thông tư, Quy định của cơ quan chức
Trang 29năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này thì rất cần thiết phải có quy chế, quy định cụ thể để căn cứ vào đó để thực hiện, quy trách nhiệm và xử lý các vấn đề nảy sinh nếu có Nếu thiếu hệ thống này thì rất d rơi vào tình trạng đùn đẩy trách nhiệm
- Thứ ba, quản trị thông qua chế độ thông tin báo cáo Đây là phương thức quản trị được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các buổi giao ban chuyên môn, rút kinh nghiệm Đ c biệt phương thức này đòi hỏi sự liên
hệ mật thiết giữ ê kíp sản xuất chuyên mục với bộ phận nghiệm thu, duyệt phát sóng Làm tốt vấn đề này sẽ có sự phối hợp nhịp nhàng, kịp thời hỗ trợ trên mọi phương diện để thực hiện chương trình đạt chất lượng tốt nhất
- Thứ tư, Quản trị thông qua công tác kiểm tra, giám sát Phương thức quản trị này không chỉ kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất các tác phẩm
ho c chuyên mục mà còn cả sau khi phát sóng với sự phản hồi thông tin từ công chúng Làm tốt phương thức quản trị này sẽ giúp các kênh truyền hình kịp thời rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hoạt động sản xuất chuyên mục cho
ra đời chuyên mục hay hơn, phù hợp hơn
- Thứ năm quản trị thông qua tài chính Đây là phương thức quản trị sản xuất chuyên mục hiệu quả Bởi lẽ, thông qua việc chi trả thù lao, nhuận bút, việc thưởng phạt trong thực hiện chương trình sẽ tạo động lực trực tiếp để quản trị sản xuất chuyên mục tốt hơn
Trên thực tế cho thấy, trong quá trình quản trị sản xuất chuyên mục nói chung các chuyên mục về xây dựng Đảng nói riêng không nên tuyệt đối hóa phương thức quản trị nào mà cần có sự phối hợp của tổng thể nhiều phương thức khác nhau thì mới mang lại hiệu quả quản trị cao nhất
1.2.3 Nội dung quản trị sản xuất chuyên mục
Quản trị sản xuất chuyên mục bao hàm tổng thể nhiều nội dung với mục tiêu cao nhất là đảm bảo cho chương trình được thực hiện đúng kế hoạch, đúng mục tiêu, khung chương trình phù hợp và đ c biệt phù hợp đối
Trang 30tượng tiếp nhận, đúng tôn chỉ, mục đích, đúng định hương, không sai sót, hình thức phong phú, đa dạng, cuốn hút công chúng vv Trong phạm vi luận văn này tác giả xin đề xập đến việc quản trị sản xuất chuyeenn mục trên một
số nội dung sau:
- Quản trị lập kế hoạch, xác định mục tiêu, khung chương trình
Lập kế hoạch rõ ràng với mục tiêu cụ thể, khung chương trình phù hợp
là vân đề đ c biệt quan trọng với hoạt động sản xuất chuyên mục truyền hình nói chung và hoạt động sản xuất chuyên mục về xây dựng Đảng nói riêng Làm tốt vấn đề này sẽ tạo nên tính ổn định, bền vững, hướng phát triển của chuyên mục, thậm trí là với kênh Nếu lập kế hoạch không rõ ràng, mục tiêu không cụ thể, khung chương trình không phù hợp thì sức sống của chương trình không bền lâu do không phù hợp và thiếu nội dung Đây là một trong những lý do vì sao nhiều chương trình, chuyên mục trên truyền hình mới lên sóng mà đã phải thay đổi Bởi vậy nhà quản trị phải có kế hoạch rõ ràng với mục tiêu cụ thể, khung chương trình phù trước khi vào sản xuất
- Quản trị quy trình sản xuất, phát sóng
Sản xuất các chuyên mục truyền hinh nói chung, sản xuấ chuyên mục về xây dựng Đảng nói riêng đều phải có quy trình thực hiện và phải tuận thủ nghiêm ng t khi thực hiện Điều này nhằm tạo nên chuyên mụ chất lượng tốt
và đ c biệt là tạo sự kiểm soát ch t chẽ, tránh sai sót có thể xảy ra Trường hợp sai sót thì d dàng tìm ra nguyên nhân và có cách khắc phục kịp thời Thông thường quy trình sản xuất chuyên mục truyền hình bao gồm các bước sau:
Giai đoạn tiền kỳ
Giai đoạn tiền kỳ bao gồm việc nghiên cứu thực tế, xác định chủ đề, làm kịch bản, chuẩn bị các điều kiện nhân sự, kỹ thuật, dịch vụ cần thiết và ghi hình Trong đó, ghi hình là trung tâm, tập trung nhiều sự chú ý nhất của giai đoạn tiền kỳ Cụ thể các khâu trong giai đoạn tiền kỳ như sau:
Giai đoạn hậu kỳ
Trang 31Giai đoạn hậu kỳ bao gồm việc dựng hình, viết và thể hiện lời bình, chọn và sử dụng âm nhạc, tiếng động, hoàn thiện và duyệt phát sóng chương trình Đây là giai đoạn tổ chức lại các tư liệu hình ảnh, sử dụng các chất liệu ngôn ngữ, tiếng động và âm nhạc để nâng cao khả năng thể hiện của hình ảnh, hoàn thiện logic phát triển của sự kiện, vấn đề, đưa đến cho công chúng truyền hình, sự cảm thụ trọn vẹn và sinh động
- Quản trị các nguồn lực và điều kiện sản xuất chuyên mục
Quản trị sản xuất chuyên mục cần phát huy nguồn lực, các nguồn lực
từ nhân lực, kinh phí, trang thiết bị kỹ thuật phải phát huy được hiệu quả với chất lượng cao nhất; về xây dựng môi trường làm việc, đó là môi trường thân thiện, là sẵn sàng cống hiên của các thành viên Đ c biệt là đội ngũ phóng viên, sẵn sàng dấn thân để có các tác phẩm, chuyên mục đ c sắc về đề tài Xây dựng Đảng; về hệ thống tổ chức, nhân sự và quy định, quy chế Tổ chức phải tinh gọn, mạnh hoạt động hiệu lực, hiệu quả Nhân sự phải được bố trí đúng
vị trí Hệ thống quy định, quy chế có phục vụ toàn diện cho công tác quản trị hay không
1.3 C SỞ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ TỔ CHỨC SẢN UẤT CHUYÊN MỤC TRUYỀN HÌNH
1.3.1 Vấn đề đặt ra với công tác xây dựng Đảng và quản trị sản xuất chuyên mục xây dựng Đảng
Công tác chính trị, tư tưởng còn nhiều hạn chế, thiếu sót: Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực ti n vẫn chưa làm sáng tỏ một số vấn đề
về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở nước
ta Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống “Di n biến hoà bình” Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tính tham nhũng, quan liêu, lãng phí chưa được ngăn
ch n, đẩy lùi, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng Cuộc vận động
Trang 32“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn có biểu hiện hình thức
Tổ chức của một số cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội chưa thực sự tinh gọn, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ chưa
rõ ràng; mới giảm được đầu mối trực thuộc Trung ương nhưng đầu mối bên trong và biên chế không giảm, thậm chí còn tăng lên
Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; thiếu những cơ chế, chính sách
cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá , bổ nhiệm, mi n nhiệm và từ chức đối với cán bộ; đánh giá cán bộ vẫn là một khâu yếu Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, huân chương chưa được ngăn ch n, đẩy lùi Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thấp Chưa quy định cụ thể mối quan hệ về trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, nhất là với người đứng đầu Chưa kiên quyết, thiếu quy chế thay thế kịp thời cán bộ lãnh đạo yếu kém, trì trệ Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn nhiều hạn chế, nhất là đối với những vấn đề chính trị hiện nay còn nhiều lúng túng Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, một số nơi phiến diện, thiếu ch t chẽ
Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao Nhiều khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện; chưa ngăn ch n, đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức lối sống vẫn di n
ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm; sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp uỷ chưa tốt Không ít tổ chức cơ sở năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thấp; công tác quản lý đảng viên chưa ch t chẽ, sinh hoạt đảng chưa thành nền nếp,
tự phê bình và phê bình yếu Việc xây dựng tổ chức đảng trong các doanh
Trang 33nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm, vai trò của
tổ chức đảng mờ nhạt Động cơ phấn đấu vào Đảng của một số người còn có biểu hiện lệch lạc, xem việc vào Đảng là một hình thức để tiến thân
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, M t trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trên một số nội dung chưa rõ Chức năng, nhiệm vụ của đảng đoàn, ban cán sự đảng trên một số m t chưa được xác định cụ thể nên hoạt động còn lúng túng Phong cách, lề lối làm việc đổi mới chậm; hội họp còn nhiều; nói chưa đi đôi với làm Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi bị vi phạm, ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng
Trung ương ban hành quá nhiều nghị quyết, cơ sở chưa triển khai xong nghị quyết này đã có nghị quyết khác; khi có nghị quyết thì việc chỉ đạo thực hiện chưa tập trung, thiếu kiên quyết, dứt điểm nên nghị quyết chậm vào cuộc sống Năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, thực hiện kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân vì dân
Tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương xây dựng Đảng chưa nghiêm và thiếu các biện pháp toàn diện, cụ thể và khả thi Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng Đảng với ý nghĩa là nhiệm vụ then chốt
Các chuyên mục về xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân
có ý nghĩa đ c biệt quan trọng giúp bảo vệ nên tảng tư tưởng, xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh do đó hoạt động quản trị chuyên mục này có vai trò
to lớn, góp phần mang những thông tin hữu ích, thiết thực về chủ trương, chính sách của Đảng đến với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng, với nhân dân, từ đó mỗi cá nhân phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch và vững mạnh
Trang 341.3.2 Vai trò của Truyền hình Nhân Dân với công tác xây dựng Đảng
Truyền hình Nhân Dân là kênh truyền hình thời sự chính luận tổng hợp trực thuộc Báo Nhân Dân với tôn chỉ mục đích là "Tiếng nói của Đảng, Nhà Nước và nhân dân Việt Nam"
Truyền hình Nhân Dân với các chương trình mang tính chính luận cao, mang phong cách riêng, Truyền hình Nhân Dân đã tập trung phát triển những
chuyên đề, chuyên mục mang đậm bản sắc chính luận như: Bình luận phê
phán, Vấn đề & sự kiện, Hộp thư truyền hình, Đảng với sự nghiệp đổi mới, Chuyện ở cơ sở, Nhìn từ Hà Nội, Kinh tế & dự báo, Nông nghiệp chuyển động, Thương trường & pháp luật, Góc nhìn văn hoá, Vẻ đẹp Việt Nam, Khoa học công nghệ và cuộc sống, Đường tới tương lai, Cải cách hành chính, Tình yêu Hà Nội…
Các chương trình, chuyên mục của Truyền hình Nhân Dân trong thời gian qua đã bám sát tình hình thực ti n, bám sát cuộc sống, phản ánh ngày càng kịp thời những vấn đề xã hội đang quan tâm trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại, cố gắng thể hiện chủ kiến, định hướng dư luận theo quan điểm của báo Đảng; Không
để xảy ra sai sót; tuân thủ nghiêm ng t sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước góp phần đưa đường lối chính sách của Đảng đi vào thực ti n
Truyền hình Nhân Dân đã góp phần quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách và Nghị quyết của Đảng, đến với đội ngũ đảng viên tại các cơ quan đơn vị thông qua những tác phẩm của mình Lên án phê phán những hành động xấu, những phần tử tiêu cực để làm trong sạch nội bộ Đảng; đồng thời Truyền hình Nhân Dân cũng góp phần giáo dục để cán bộ, đảng viên thực hiện tốt nghĩa vụ, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh
1.3.3 Yêu cầu đào tạo đội ngũ làm chuyên mục
Trong thời đại công nghệ số, báo chí phải dùng công nghệ nhiều hơn và
Trang 35điều nhà báo cần học chính là công nghệ Công nghệ mới cũng tạo ra những giá trị mới hơn cho báo và cho độc giả Công nghệ mới để làm việc cũ của mỗi người tốt hơn Chẳng hạn: công nghệ AI sẽ giúp nhà báo đọc hàng triệu bản tin mỗi ngày và tổng hợp theo chủ đề, giúp nhà báo viết các tin chuẩn mực theo đơn đ t hàng; công nghệ Big Data giúp nhà báo phân tích hàng triệu trang tin trong quá khứ, tìm ra xu thế của hàng chục năm qua, để dự đoán tương lai…
Công nghệ giúp nhà báo sửa ngữ pháp, chính tả để không g p những lỗi thông thường Công nghệ giúp Tổng Biên tập duyệt hàng trăm bài mỗi ngày, tránh được những “tai nạn nghề nghiệp” không đáng có Tóm lại, công nghệ
sẽ giải phóng nhà báo khỏi những việc l p lại, cho họ nhiều thời gian hơn để sáng tạo Nhưng công nghệ cũng sẽ lấy mất công việc của những người trung bình, bắt buộc mỗi cá nhân phải đào tạo lại để thích ứng
Trong thời đại công nghệ số, mô hình tòa soạn hội tụ, phóng viên, biên tập viên, phóng viên ảnh cùng hợp tác làm tin, bài thay vì hoạt động độc lập như trước Nói một cách đơn giản, khi xảy ra sự kiện có tính thời sự, một nhóm phóng viên cùng thu thập tin tức, đồng thời, chia sẻ những thông tin đã thu thập được và thống nhất chọn cách tốt nhất để đưa tin Khi làm việc trong môi trường truyền thông số, các nhà báo sẽ phải làm việc “đa năng” hơn và phải đối m t với hình thức hội tụ đa phương tiện, dù bản tin đó chỉ là một mẩu tin của kênh truyền hình, hay báo mạng ho c tờ báo in Nhà báo tác nghiệp trong môi trường này phải chuẩn bị những bản tin đó một cách đa dạng hơn để có thể đăng tải trên nhiều phương tiện truyền thông khác nhau Như vậy, muốn làm tốt nội dung, phóng viên, biên tập viên của tòa soạn phải
là phóng viên “đa năng”, vừa có kỹ năng viết bài, vừa biết sử dụng các thiết bị
kỹ thuật báo chí đa phương tiện
Thứ nhất, báo chí thời kỳ hội nhập rất cần những người làm báo đa
năng, nhanh nhạy và thích ứng nhanh với công việc đa dạng Trong xu thế
Trang 36phát triển báo chí thời đại số, bên cạnh những trợ lực để báo chí phát triển, thì việc đào tạo đội ngũ làm báo phải giỏi nghề, đa năng, “bút sắc, lòng trong, tâm sáng” là yếu tố then chốt nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của báo chí trên m t trận văn hóa – tư tưởng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước
Xu hướng làm báo hiện nay đang đ t ra yêu cầu ngày càng cao đối với nhà báo Lao động báo chí là lao động mang tính đ c thù, vì vậy, đòi hỏi nhà báo phải có năng lực thực sự, trước hết là phải có tư duy độc lập, sáng tạo, phải biết phân tích đầy đủ bản chất của sự vật, hiện tượng khi muốn thông tin, phản ánh… Đồng thời, nhà báo phải am hiểu sâu sắc về lý luận Mác – Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đam mê nghề nghiệp, sáng tạo Nhà báo Việt Nam đồng thời là nhà chính trị, người chiến sĩ hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa của Đảng Chính vì thế, nếu không có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhà báo khó có thể hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống lại những quan điểm thù địch, sai trái trong bối cảnh kẻ thù đang ráo riết “di n biến hòa bình” với nhiều phương cách, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp như hiện nay
Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đ c biệt mạng
xã hội, tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa báo chí truyền thống và mạng xã hội; giữa các cơ quan báo chí và giữa các loại hình báo chí với nhau Điều đó, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải làm chủ kỹ thuật, công nghệ làm báo hiện đại – báo chí đa phương tiện Các nhà báo phải “tích hợp” thêm nhiều
“phương tiện” với những cách thức thể hiện khác nhau, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhà báo phải được thể hiện ở tất
cả các khâu trong quá trình thực hiện một tác phẩm báo chí: từ thu thập tư liệu, xử lý thông tin, giao tiếp với nguồn tin, sử dụng các phương tiện kỹ thuật
Trang 37trợ giúp cho đến việc hoàn thiện tác phẩm báo chí… Nhà báo được giao nhiệm vụ gì thì phải thành thạo các kỹ năng có liên quan để hoàn thành nhiệm
vụ đó: có thể là kỹ năng của phóng viên, có thể là của biên tập viên, có thể là người quản lý tòa soạn… Và khi sản phẩm báo chí đến với công chúng, họ có thể đánh giá chính xác nhà báo là người có tay nghề cao hay không? Có chuyên nghiệp không?
Trong thời đại bùng nổ thông tin, thời đại của kinh tế tri thức hiện nay Trình độ của công chúng không ngừng được nâng cao, vì vậy, nhà báo cần phải liên tục trau dồi, tích lũy kiến thức văn hóa – xã hội để trở thành người
có tầm hiểu biết rộng lớn Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thể hiện ở chỗ nhà báo phải là chuyên gia trong lĩnh vực mà mình theo dõi và phản ánh Nhà báo kinh tế phải có chuyên môn sâu về kinh tế, nhà báo môi trường phải là chuyên gia về môi trường, nhà báo thể thao phải có kiến thức sâu sắc về thể thao… Những yếu tố nói trên đòi hỏi nhà báo hiện đại phải được đào tạo hết sức bài bản, kỹ lưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và liên tục được bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng để theo kịp yêu cầu của thực ti n
Có thể nói, nhà báo phải làm chủ kỹ thuật, phương tiện để xử lý công việc ở mọi lúc, mọi nơi, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là có thông tin hấp dẫn độc giả, vì vậy, người làm báo cần hội đủ 3 yếu tố: ý tưởng, nhanh nhạy và có tri thức toàn diện (kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau) Để không bị đào thải, các nhà báo cần lăn lộn với nghề, giỏi nghề từ thực ti n, không ngừng trau dồi, tích lũy kiến thức văn hóa – xã hội để trở thành người có tầm hiểu biết rộng Có như vậy, sản phẩm báo chí mới đủ độ sâu sắc để thuyết phục được công chúng
Thứ ba, phải thông thạo ngoại ngữ, tin học Dù được đào tạo chuyên sâu
về bất cứ lĩnh vực nào thì nhà báo cũng phải trang bị cho mình ít nhất một ngoại ngữ để tự tin trong tác nghiệp Đồng thời, có trình độ tin học phù hợp Ngoài ra,
kỹ thuật – công nghệ là yếu tố quan trọng trong báo chí đa phương tiện
Trang 38Nói tóm lại, những người làm báo phải thay đổi tư duy về cách làm báo trong thời đại công nghệ số; sẽ có sự thay đổi cấu trúc tòa soạn cũng như thay đổi một số chức danh, xây dựng chính sách, tận dụng yếu tố công nghệ, hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực… mới phát huy được yêu cầu về xây dựng tòa soạn hội tụ trong thời đại số Tuy nhiên, trong dòng chảy của truyền thông thế giới, không có mô hình nào đứng yên Vì thế, các cơ quan báo chí có thể điều chỉnh cho phù hợp và đội ngũ các nhà báo phải là những người có năng lực, trình độ, tinh thông nghiệp vụ và đa năng, một người phải làm được nhiều việc để có một tòa soạn hoạt động hiệu quả nhất trong môi trường truyền thông số Và: “Báo chí đang đứng trước các thách thức lớn chưa từng có, nhưng thách thức nào cũng chính là cơ hội, cơ hội để đổi mới chính mình, cơ hội để tái sinh báo chí Sự tái sinh ấy bắt đầu từ chính các nhà báo”
1.3.4 Yêu cầu đổi mới trang thiết, công nghệ sản xuất chuyên mục
Trong một hai thập kỷ trở lại đây, với những bước tiến vượt bậc của công nghệ thông tin, đ c biệt là Internet đã tạo nền móng cho các ngành khác
phát triển, trong đó có truyền hình
Trong sự bùng nổ của kỷ nguyên số, việc theo đuổi các công cụ và kỹ năng tác nghiệp bằng công nghệ không phải là điều kiện kiên quyết mang lại thành công cho báo chí Sự phát triển của công nghệ hiện nay đòi hỏi nghề báo, gồm phát thanh, truyền hình và báo in phải thay đổi mạnh mẽ để thích nghi và đáp ứng tốt các thách thức và nhu cầu mới của độc giả
Ở một mức độ nào đó, sự tác động của công nghệ làm thay đổi cách thức làm báo, đ c biệt khi mỗi công dân giờ đây đều có thể trở thành một người đưa tin hiển nhiên (và có thể là xuất sắc) cả về thông tin, hình ảnh lẫn video, qua các hình thức được gọi là “báo chí công dân” (citizen media) đang
nở rộ trên các mạng xã hội Nhưng với báo chí dòng chính thống (mainstream), theo đuổi và cạnh tranh theo hướng đó không phải là điều đơn giản bởi một toà soạn có đồ sộ đến mấy cũng không thể nào cạnh tranh được
Trang 39với một mạng xã hội ho c một trang web có hàng trăm nghìn, hàng triệu, thậm chí đến hàng tỷ người dùng và tham gia tương tác như Facebook hay Twitter
Vì thế, đầu tư lớn cho công nghệ nhưng với báo chí chính thống, nội dung vẫn luôn là ưu tiên số 1, có tính chất sống còn
Tác động của công nghệ, mạng xã hội đối với các cơ quan báo chí và công chúng ngày càng lớn, đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội không nhỏ đối với báo chí và cả xã hội Nhanh nhưng phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính nhân văn, có trách nhiệm cao với xã hội, thể hiện được bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp vẫn là yêu cầu cốt lõi đối với phóng viên, nhà báo trong bất kỳ thời đại nào
Trong kỷ nguyên số, nhà báo phải luôn trong tâm thế sẵn sàng, tác nghiệp bất cứ lúc nào, ở đâu Bên cạnh yếu tố thông tin phải luôn mới,
“nóng”, nhanh nhạy, chính xác, đòi hỏi nhà báo phải biết tìm tòi những cái mới, cần thiết, bổ ích, nhân văn mà công chúng quan tâm Biên tập viên, phóng viên cũng phải thường xuyên thay đổi tư duy, phương pháp, cách thức hoạt động, sáng tạo không ngừng để có nhiều các tác phẩm tốt, hấp dẫn, không bị nhàm chán, đơn điệu Trong kỷ nguyên số, báo chí, phát thanh, truyền hình công là những công cụ quan trọng được sử dụng để thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục, kết nối, sẻ chia thông tin, tư tưởng, tình cảm trên Internet và các loại hình truyền thông mới như Facebook và Twitter./
Tiểu kết chương 1 Truyền hình là một trong những loại hình báo chí có số lượng công
chúng lớn hiện nay, do đó các kênh truyền hình luôn nỗ lực chuyển mình để mang đến công chúng những tác phẩm hay, hấp dẫn, những chuyên mục ý
nghĩa đ c sắc nhất
Trang 40Trong chương 1 này, tác giả đã khái quát các khái niệm, thuật ngữ về quản trị, tổ chức sản xuất chuyên mục truyền hình, quy trình tổ chức sản xuất các chuyên mục truyền hình từ nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong những lĩnh vực báo chí truyền thông
Hệ thống lại các nội dung quản trị tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề trên truyền hình bao gồm: Quản trị tổ chức nhân sự, quản trị tổ chức sản xuất nội dung chương trình, phản hồi thông tin… Từ những luận điểm, những cơ sở lý luận khoa học đó để củng cố và xây dựng thành khung
cơ bản cho hoạt động quản trị sản xuất chuyên mục truyền hình mà tác giả sẽ trình bày trong những phần tiếp theo trong việc nghiên cứu cụ thể đề tài quản trị sản xuất chuyên mục về Xây dựng Đảng trên kênh Truyền hình Nhân Dân
(khảo sát chuyên mục “ Đảng với sự nghiệp đổi mới” và “Chuyện ở cơ sở”)