1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)

122 32 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Truyền Thông Cho Trẻ Em Miền Núi Phía Bắc (Khảo Sát Các Dự Án Truyền Thông Của ChildFund Ở Hòa Bình Và Bắc Kạn 2006 – 2011)
Tác giả Vương Tuyết Nhung
Người hướng dẫn PGS,TS. Đinh Thị Thủy Hằng
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quan hệ công chúng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em đã quy định trẻ em có quyền tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin phù hợp với sự phát triển của các em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

-

VƯƠNG TUYẾT NHUNG

HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CHO TRẺ EM MIỀN NÖI PHÍA BẮC

(KHẢO SÁT CÁC DỰ ÁN TRUYỀN THÔNG CỦA CHILDFUND

Ở HÕA BÌNH VÀ BẮC KẠN 2006 - 2011) Chuyên ngành: Quan hệ công chúng

Mã số: 60 32 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Đinh Thị Thúy Hằng

Hà Nội – 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả điều tra nêu trong luận văn này là trung thực, được ghi rõ nguồn gốc một cách đầy đủ Đề tài nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Vương Tuyết Nhung

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Transformation

UBDSGĐTEĐSGTE : Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em

and Cultural Organisation

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 : Phân bố dân số và trẻ em theo vùng (%), năm 2009 Bảng 2.1 : Kiến thức về Bảo vệ Trẻ em đã được học, giới thiệu Bảng 2.2 : Tỉ lệ số trẻ em tiếp cận với kiến thức nước sạch – vệ sinh

môi trường và tham gia các cuộc thi truyền thông tại trường học ở tỉnh Bắc Kạn trong hai năm 2010 và 2011 Bảng 2.3 : Tỉ lệ số trẻ em tiếp cận với kiến thức nước sạch – vệ sinh

môi trường và tham gia các cuộc thi truyền thông tại trường học ở tỉnh Hòa Bình trong hai năm 2010 và 2011 Bảng 2.4 : Các hiện tượng trẻ và cha mẹ từng chứng kiến tại

địa phương từ năm 2006 đến năm 2009 Bảng 2.5 : Ai can thiệp khi trẻ bị đánh, xúc phạm, xâm hại

Biểu đồ 1.1 Các loại hình truyền thông

Biểu đồ 2.1 : Tự đánh giá kỹ năng của trẻ em ở xã có dự án và chưa có

dự án Biểu đồ 2.2 : Hiểu biết và thực hiện quyền trẻ em của cộng đồng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ TRẺ EM MIỀN NÖI PHÍA BẮC 16

1.1 Khái niệm truyền thông 16

1.2 Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông 17

1.3 Các mô hình truyền thông 19

1.4 Phân loại truyền thông 21

1.5 Loại hình truyền thông 24

1.6 Phương thức truyền thông 25

1.8 Vai trò của truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc 35

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CHO TRẺ EM MIỀN NÖI PHÍA BẮC 40

2.1 Tình hình chung về hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc 40 2.2 Khảo sát các dự án truyền thông của ChildFund cho trẻ em ở Hòa Bình và Bắc Kạn 2006 - 2011 49

2.3 Đánh giá các hoạt động truyền thông của ChildFund cho trẻ em ở Hòa Bình và Bắc Kạn 2006 – 2011 63

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CHO TRẺ EM MIỀN NÖI PHÍA BẮC 79

3.1 Xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của khu vực miền núi phía Bắc 79

3.2 Những khó khăn của môi trường truyền thông hiện đại đối với công tác truyền thông cho trẻ em 80

3.3 Giải pháp mang tính chiến lược 81

3.4 Giải pháp cụ thể: 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 97

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em chiếm một tỷ lệ đáng kể trong dân số Việt Nam (27,7%)1

và đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống của các em tại cộng đồng, Các em không chỉ cần có đượ sự quan tâm chăm sóc về mặt vật chất để đảm bảo cuộc sống, mà còn phải được trang bị hệ thống các tri thức cơ bản trong những lĩnh vực của đời sống có ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của chính các em, để từ đó xây dựng một nền tảng vững chắc hướng tới sự hòa nhập với xã hội trong tương lai

Trong lĩnh vực phát triển cộng đồng, truyền thông là một trong những yếu tố rất quan trọng đóng góp vào quá trình chuyển đổi nhận thức, thay đổi hành vi của trẻ em và người dân Truyền thông có mối quan hệ mật thiết với trẻ em Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em đã quy định trẻ em có quyền tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin phù hợp với sự phát triển của các em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mà các em quan tâm và được tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình Truyền thông, với chức năng giám sát và bảo vệ quyền của mỗi cá nhân, có nhiệm vụ thúc đẩy trẻ em thực hiện các quyền của mình Đồng thời, thông qua các hoạt động cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin, truyền thông có thể tác động đến sự phát triển nhận thức và hành vi của các

em, tạo điều kiện giúp các em phát triển các mối quan hệ xã hội Trong hoạt động truyền thông, trẻ em không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà còn có thể là nhân tố truyền bá các thông điệp phù hợp tới đối tượng công chúng có liên quan tại gia đình, trường học và cộng đồng Sự tham gia tích cực của trẻ em trong công tác truyền thông góp phần nâng cao hiệu quả bền vững, lâu dài và có ý nghĩa của các hoạt động

1 Tổng cục Thống kê (2008) Điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa Gia đình

Trang 7

Trong khi đón, sự chênh lệch giàu nghèo với những khó khăn về mặt kinh tế, vị trí địa lý đã và đang khiến cho trẻ em miền núi, nhất là khu vực phía Bắc gặp nhiều hạn chế trong việc hòa nhập với xã hội một cách công bằng và bình đẳng Trong khi trẻ em ở khu vực thành thị đang được hưởng những lợi ích thiết thực từ các dịch vụ xã hội cũng như hạ tầng cơ sở vật chất hiện đại về công nghệ thông tin và truyền thông thì trẻ em miền núi, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn chịu thiệt thòi trong việc tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng và các chương trình truyền thông dành cho trẻ em Trong những năm vừa qua, công tác truyền thông dành cho trẻ em miền núi, đặc biệt là ở khu vực phía Bắc đã được sự quan tâm, đầu tư hơn của Đảng, Nhà nước, các bộ, ban ngành có liên quan và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước với những cải thiện nhất định, thể hiện qua sự thay đổi về nhận thức của trẻ em và cộng đồng Tuy nhiên, đánh giá hoạt động ở một số địa bàn miền núi trong thời gian vừa qua cho thấy truyền thông cho đối tượng trẻ em miền núi còn gặp nhiều khó khăn do vấn đề nhân sự tại địa phương, những bất cập trong quá trình triển khai hoạt động về tần suất và hình thức thực hiện Các hoạt động chưa thu hút được sự tham gia của mọi đối tượng trẻ em, nhất là trẻ em khó khăn do những rào cản về mặt thời gian

và điều kiện kinh tế kinh tế Ngôn ngữ, đặc điểm tâm sinh lý đặc thù của trẻ

em miền núi, và những đặc điểm về địa bàn cư trú, đặc điểm văn hóa cũng là những rào cản lớn nhất ngăn cản tính hiệu quả và sự tác động lâu dài, bền vững của các hoạt động truyền thông cho trẻ em nơi đây.Hoạt động truyền thông sẽ đạt được hiệu quả tác động cao hơn nếu nội dung và các hình thức của sản phẩm truyền thông khuyến khích được sự tham gia tích cực của trẻ

em và cộng đồng

Trang 8

Do đó, nghiên cứu hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc thông qua các dự án phát triển cộng đồng là việc làm cần thiết nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả và tác động của các hoạt động tới trẻ em và cộng đồng một cách sâu rộng, góp phần đem tới sự phát triển toàn diện, lâu dài và bền vững của trẻ em và cộng đồng miền núi

Căn cứ từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc (khảo sát các dự án truyền thông của ChildFund ở Hòa Bình và Bắc Kạn 2006 – 2011) cho luận văn

thạc sỹ của mình Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu vai trò của truyền thông đối với trẻ em, luận văn nghiên cứu thực trạng các hoạt động truyền thông cho trẻ

em Việt Nam nói chung, và trẻ em miền núi phía Bắc nói riêng để từ đó đưa

ra một số giải pháp gợi mở giúp công tác truyền thông tăng cường hơn nữa hiệu quả và tác động lâu dài, bền vững đối với trẻ em và cộng đồng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo khảo sát còn giới hạn của tác giả luận văn, truyền thông là vấn đề

từ lâu đã thu hút được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều công trình lớn Tuy nhiên, cho đến nay, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi, đặc biệt là trẻ em miền núi phía Bắc là rất hạn chế Vấn đề này, nếu có, chủ yếu chỉ nằm trong một phần nội dung của các tài liệu hướng dẫn của các tổ chức quốc tế hay các tổ chức phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam Các tài liệu này thường chỉ lưu hành nội

bộ Do vậy, quá trình thu thập thông tin và tài liệu liên quan tới đề tài của tác giả đã gặp khó khăn, và còn nhiều hạn chế

Tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu sau:

Tạp chí trong nước: Cuốn “Truyền thông – Lý thuyết và Kỹ năng cơ

bản” do PGS.TS Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) và TS Đỗ Thị Thu Hằng

Trang 9

biên soạn vào tháng 1 năm 2012, các tác giả đã đưa ra một hệ thống các khái niệm về truyền thông, các yếu tố cơ bản của truyền thông, mô hình truyền thông và phân loại truyền thông một cách chi tiết Trong đó, các tác giả phân tích cụ thể loại hình truyền thông có chủ đích với các dạng phổ biến là thông tin - giáo dục - truyền thông, truyền thông vận động, truyền thông - vận động

xã hội và truyền thông thay đổi hành vi Đồng thời, Chương 6 Chu trình truyền thông cũng giới thiệu cụ thể các bình diện cần nghiên cứu về đối tượng truyền thông để có được những đánh giá chi tiết và tổng thể về thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi; thói quen, sở thích tiếp nhận các sản phẩm truyền thông cũng như nhân khẩu học – xã hội của đối tượng

Cuốn "Cẩm nang xây dựng sản phẩm truyền thông có sự tham gia của

trẻ em và cộng đồng” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Minh, Nguyễn Ngọc

Oanh, Hà Thị Lan Anh biên soạn vào tháng 1 năm 2012 đưa ra những nhận định ban đầu về công tác truyền thông cho trẻ em và hướng dẫn các quy trình xây dựng các loại sản phẩm truyền thông có sự tham gia của trẻ em và cộng đồng, bao gồm tờ rơi, áp phích, tranh lật, sách, chương trình phát thanh cộng đồng Mục tiêu của cuốn cẩm năng là giúp trẻ em, giáo viên và các cán bộ chương trình, dự án phát triển có thêm kỹ năng và sự tự tin để sáng tạo và thể hiện các sản phẩm truyền thông Tuy nhiên, các tác giả không đi sâu nghiên cứu các sản phẩm truyền thông này như là một phần của các hoạt động truyền thông cho đối tượng trẻ em miền núi mà chỉ nêu lên vai trò của trẻ em trong việc tham gia xây dựng các sản phẩm truyền thông và các bước cụ thể để xây dựng các sản phầm truyền thông

Tác giả Helena Thorfinn trong cuốn sách “Truyền thông, đạo đức nghề

nghiệp với trẻ em” (Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển và Nxb Chính trị

quốc gia, 2003) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa trẻ em và truyền thông nhằm tăng cường lợi ích của các phương tiện truyền thông đối với trẻ em Điểm

Trang 10

đáng chú ý của công trình là tác giả đã tập trung phân tích ba vấn đề lớn: trẻ

em có quyền tiếp nhận, có quyền cùng tham gia và quyền được bảo vệ trước các phương tiện truyền thông

Bên cạnh các công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách thì trên các tạp chí, các trang web điện tử cũng có những bài viết đáng chú ý của các tác giả trong nước có liên quan đến đề tài này như sau:

Bài viết “Truyền thông phát triển – Một hướng đi mới cho báo chí ở

các nước đang phát triển” của tác giả Nguyễn Minh Nguyệt đăng trên Tạp chí

Thông tin Khoa học xã hội – số 12/2008 trình bày các ý tưởng cơ bản về truyền thông phát triển, lợi ích của truyền thông phát triển đối với các quốc gia đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng và làm thế nào để áp dụng một cách hiệu quả truyền thông phát triển tại Việt Nam Tuy nhiên nội dung bài viết chỉ mang tính gợi mở cho những nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng thực tế trong nước chứ chưa đi sâu nghiên cứu tìm ra giải pháp đẩy mạnh hoạt động truyền thông phát triển cho cộng đồng và trẻ em miền núi

Một số các bài viết như “Sân khấu và sự phát triển (nhân cách)” được tổ

chức Life Art lược dịch từ trang web http://www.theatreoftheoppressed.org/, bài

nghiên cứu “Nghệ thuật và văn hóa vì sự phát triển cộng đồng” của Nguyễn

Phương Anh đăng trên trang web http://www.viettems.com nêu lên hướng đi mới gắn văn hóa - nghệ thuật với phát triển cộng đồng mà tiêu biểu là loại hình sân khấu phát triển Đây là cách tiếp cận rất mới cho hoạt động truyền thông vì

sự phát triển dựa trên văn hóa dân tộc, vốn được xem là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển và có tính gần gũi với cộng đồng dân tộc miền núi Tuy nhiên, các bài viết trên chỉ mới dừng lại ở góc độ giới thiệu khái quát sơ lược trên cơ sở giải thích nội hàm các thuật ngữ mà chưa nghiên cứu tính ứng dụng của nghệ thuật

hỗ trợ phát triển đối với các hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi

Trang 11

Tác giả nước ngoài: Công trình nghiên cứu “Development and Social

Change: A Global Perspective” của hai tác giả McMichael và Philip (2008)

đã trình bày những khái niệm về phát triển, và các xu hướng phát triển xã hội trên thế giới, trong đó có phương pháp tiếp cận dựa trên quyền Phương pháp này được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm cả truyền thông hỗ trợ phát triển

Ngoài ra, còn có cuốn sách “Development Communication Source

Book” của tác giả Paolo Mefalopulos (2008) tập trung vào truyền thông hỗ trợ

phát triển (truyền thông phát triển) với các khái niệm, các dạng thức và loại hình truyền thông Theo đó, truyền thông phát triển hướng tới mục đích cuối cùng là sự thay đổi hành vi một cách bền vững và lâu dài của các đối tượng truyền thông Để làm được điều này, tác giả đưa ra các giải pháp quan trọng nhấn mạnh đến yếu tố tham gia của các đối tượng truyền thông, vào vai trò của các lãnh đạo địa phương và trách nhiệm, trình độ chuyên môn của các cán

bộ thực hiện

Như vậy, có thể thấy rằng, việc nghiên cứu truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc ở các tài liệu trong nước không nhiều, cũng không có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề này Còn các tài liệu nước ngoài thì tập trung đi sâu nghiên cứu truyền thông phát triển để đưa ra cách thức thực hiện hiệu quả Tuy nhiên, việc ứng dụng các cách thức này trong bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng miền núi phía Bắc còn nhiều khoảng cách khác biệt Trong khi đó, các tài liệu hướng dẫn truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc đa số do các tổ chức quốc tế và phi chính phủ xây dựng thông qua các dự án phát triển cộng đồng nhưng chỉ lưu hành nội bộ

Vì vậy, nghiên cứu đẩy mạnh hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức của trẻ em, tạo cơ sở để các em nâng

Trang 12

cao vai trò và những đóng góp của mình đối với sự phát triển cộng đồng là việc làm hết sức cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về truyền thông, về trẻ em miền núi phía Bắc, luận văn tập trung phân tích thực trạng các hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc, thông qua khảo sátại hai tỉnh Hòa Bình và Bắc Kạn từ năm 2006 đến năm 2011, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tăng cường hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu xác định cần phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:

 Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về truyền thông cho trẻ

em miền núi phía Bắc

 Khảo sát và phân tích thực trạng các hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc qua khảo sát các dự án truyền thông của ChildFund tại Hòa Bình và Bắc Kạn giai đoạn 2006 – 2011

 Đề xuất một số giải pháp góp phần tăng cường hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động truyền thông cho trẻ

em miền núi phía Bắc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các hoạt động truyền thông cho trẻ

em trong khuôn khổ các dự án của tổ chức phi chính phủ ChildFund ở tỉnh Hòa Bình và Bắc Kạn từ năm 2006 đến năm 2011

Trang 13

Lý do lựa chọn phạm vi nghiên cứu trên là vì: các hoạt động truyền thông trong các dự án của các tổ chức phi chính phủ làm việc tại Việt Nam đều nằm trong những hợp phần tổng thể bao gồm trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết hướng tới nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của trẻ em và cộng đồng về quyền trẻ em một cách có ý nghĩa và bền vững

Các hoạt động truyền thông nằm trong các dự án của tổ chức ChildFund tại Việt Nam tại hai tỉnh Hòa Bình và Bắc Kạn được triển khai từ năm 1995 và

1997 Sau hơn 15 năm triển khai, các hoạt động này đã có những ảnh hưởng nhất định đến nhận thức và hành vi của trẻ em tại địa phương Đồng thời, hai tỉnh đều nằm ở khu vực miền núi phía Bắc của Việt Nam (Hòa Bình ở Tây Bắc, Bắc Kạn

ở Đông Bắc), là nơi trẻ em còn thiếu các điều kiện tiếp cận thông tin và tham gia vào các hoạt động truyền thông do tỉ lệ đói nghèo vẫn ở mức nhất cả nước

Thời gian khảo sát: từ năm 2006 đến năm 2011

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền trẻ em và công tác truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc, tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp chung như phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu, phỏng vấn Ngoài ra, còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu của ngành Xã hội học với một số kỹ thuật điều tra:

 Thu thập thông tin: chọn lọc, nghiên cứu các tài liệu trên nhiều nguồn như sách, báo, tạp chí và các nguồn thông tin trên mạng Internet về truyền thông, trẻ em miền núi phía Bắc, hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc Các tài liệu dưới dạng

Trang 14

báo cáo đánh giá dự án, văn kiện, số liệu thống kê với nội dung liên quan tới đề tài Tổng hợp các tư liệu thu thập được, tiến hành phân tích và chắt lọc, kế thừa những mặt hợp lý để có được những

tư liệu cần thiết cho đề tài

 Phát phiếu điều tra về công tác truyền thông cho trẻ em tại địa phương đối với các cán bộ quản lý ở 25 xã ở 5 huyện của tỉnh Hòa Bình và Bắc Kạn: 10 người mỗi xã, gồm Ban triển khai dự án, các bên liên quan (cán bộ thương binh xã hội, phụ nữ, y tế, đại diện trường học) và đại diện cán bộ thôn Như vậy, 25 xã có 25 x 10 người (mỗi nhóm) = 250 người

Phát phiếu điều tra về mức độ theo dõi các phương tiện truyền thông đại chúng của 110 trẻ em tuổi từ 6 đến 18 ở Hòa Bình và Bắc Kạn (60 ở Hòa Bình, và 50 ở Bắc Kạn)

Tiêu chí chọn mẫu dựa trên các tiêu chí về giới tính, thành phần xã hội, địa lý, mức độ can thiệp của dự án

 Phỏng vấn một số cán bộ thuộc khối Nhà nước, cán bộ dự án và trẻ emvùng dự án của ChildFund tham gia hoạt động truyền thông

về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu

 Xử lý thông tin: nguồn tư liệu được phân thành 3 loại: thông tin

tư liệu, thông tin định tính và thông tin định lượng

6 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài bước đầu đóng góp những nghiên cứu khoa học về truyền thông,

về thực trạng hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc, về những giải pháp góp phần tăng cường hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc, từ đó giúp các cán bộ hoạt động liên quan tới công tác truyền thông

và trẻ em nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình khi thực hiện các hoạt động truyền thông tại cộng đồng cho trẻ em, cũng như hướng các nhà quản lý,

Trang 15

các cơ quan, ban ngành, đoàn thể có liên quan tìm ra những hướng đi phù hợp cho công tác truyền thông đối với trẻ em miền núi nói chung, và trẻ em miền núi phía Bắc nói riêng

7 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Xét trên phương diện lý luận, đề tài góp phần bổ sung cho nền tảng lý luận của lĩnh vực còn tương đối mới mẻ ở nước ta – truyền thông phát triển cho trẻ em miền núi Ngoài ra, đề tài còn đóng góp cho khoa học lý luận truyền thông xét trên phương diện nghiên cứu thực trạng của hoạt động truyền thông đối với trẻ em miền núi phía Bắc, là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vần đề này

7.2 Giá trị thực tiễn

Sản phẩm tạo ra sẽ là một luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ công chúng, đáp ứng yêu cầu cơ bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo Kết quả nghiên cứu đề tài này có thể được sử dụng như là tài liệu tham khảo trong các chiến dịch truyền thông của các cơ quan, ban ngành, các tổ chức xã hội, đoàn thể tại địa phương và làm cơ sở nghiên cứu cho các công trình ở cấp độ cao hơn

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

có kết cấu gồm 3 chương, 11 tiết

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG

VÀ TRẺ EM MIỀN NÖI PHÍA BẮC

1.1 Khái niệm truyền thông

Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là "communicare", nghĩa là biến

nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải

Theo John R Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời

Martin P Adelsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua

đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được mình

Còn theo quan niệm của Dean C Barnlund (1964), truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn Chia sẻ quan niệm này, Gerald Miler (1966) cho rằng về cơ bản, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ

PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn sách "Báo chí truyền thông hiện đại” đã nêu ra khái niệm truyền thông như sau: “Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm , chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao (thay đổi) nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái

độ và hành vi của công chúng – nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững” [7, tr.10]

Tóm lại, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi, tương tác hai chiều, diễn ra liên tục về thông tin, tư tưởng, tình cảm, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm từ một người/ một nhóm người sang hai hoặc nhiều người (bằng lời

Trang 17

nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu) để tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi của nhóm đối tượng đó

1.2 Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông

Theo cuốn sách Truyền thông – Lý thuyết và Kỹ năng cơ bản do PGS

TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố tham dự chính như sau:

Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá

trình truyền thông Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dung thông tin trao đổi với người hay nhóm người khác Trong công tác truyền thông dành cho trẻ em miền núi phía Bắc, nguồn phát có thể là các giáo viên, phụ huynh, bạn bè, người thân, các tuyên truyền viên của các ban ngành, đoàn thể, các nhà báo làm việc về trẻ em, các cán bộ cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ làm việc về trẻ em, thành viên các câu lạc bộ trẻ em hoặc người dân trong cộng đồng

Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến

đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu như tiếng nói, cử chỉ, chữ viết, hình ảnh Ví dụ: thông điệp do trẻ

em xây dựng tại Diễn đàn Trẻ em Quốc gia tháng 8 năm 2011 được mã hóa dưới dạng chữ viết, nêu lên mong muốn của trẻ em gửi tới các lãnh đạo cấp trung ương và địa phương là: “Lắng nghe trẻ em bằng trái tim – Bảo vệ trẻ em bằng hành động”,

“Hãy chung tay xóa bỏ lao động trẻ em, bảo vệ trẻ em bằng tình thương và trách nhiệm!”, “Roi vọt không làm trẻ nên người, yêu thương mạnh hơn lời quát mắng”

Trang 18

Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức

chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Căn

cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, kênh truyền thông được phân chia thành các loại hình khác nhau như truyền thông trực tiếp,

truyền thông gián tiếp và truyền thông điện tử

Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp

trong quá trình truyền thông Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen với nhau Trong truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc, người nhận là trẻ em miền núi phía Bắc, được phân chia thành những nhóm tuổi có đặc điểm giống nhau như lứa tuổi mầm non,

lứa tuổi nhi đồng và lứa tuổi thanh thiếu niên

Phản hồi: là phản ứng của người nhận đối với toàn bộ quá trình

truyền thông (suy nghĩ, thái độ, hành vi khi nhận thông điệp) Phản

hồi là một trong các yếu tố đánh giá hiệu quả truyền thông, được thu nhận qua quan sát, điều tra, phỏng vấn

Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin không được dự tính

trước trong quá trình truyền thông Nhiễu có thể gây ra do môi trường bên ngoài như tiếng ồn, ánh sáng, tin đồn hoặc do chính các thành tố của truyền thông gây ra như ngôn ngữ, phong tục tập

quán, các yếu tố tâm lý của nguồn phát và người nhận

Kết quả truyền thông: là tập hợp những gì đạt được về nhận thức,

thái độ, hành vi, sự ủng hộ, đóng góp, tham gia của người nhận

trong và sau quá trình truyền thông so với mục đích truyền thông

Hiệu quả truyền thông là những hiệu ứng xã hội về nhận thức, thái

độ và hành vi của người nhận phù hợp với mục đích của nguồn phát Hiệu quả truyền thông được đo bằng phản hồi và biểu hiện

Trang 19

trên cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của người nhận cùng với những hiệu ứng xã hội khác do truyền thông

đem lại

Hiệu lực truyền thông là năng lực tạo ra hiệu ứng xã hội, là khả

năng gây ra và thu hút sự chú ý của người nhận Hiệu lực truyền thông bao gồm cường độ, tính chất, tốc độ và phạm vi lan tỏa dư

luận xã hội do tác động của sản phẩm truyền thông [10, tr.13-14]

1.3 Các mô hình truyền thông

Mô hình truyền thông là những bản vẽ, các bảng biểu, các biểu đồ, sơ

đồ, các hình tượng được sử dụng để biểu đạt khái niệm truyền thông

Hình 1.1 Mô hình truyền thông của D Berlo [6, tr.34]

Theo David Berlo, mô hình truyền thông (như Hình 1.1) bao gồm các thành tố cơ bản của truyền thông là nguồn phát, thông điệp, kênh và người nhận và các nhân tố định hình nên các thành tố này như kỹ năng truyền thông, thái độ, kiến thức, hệ thống xã hội, văn hóa (đối với nguồn phát và người nhận), cấu trúc, mã, nội dung, cách xử lý (đối với thông điệp) Mô hình yêu

NGƯỜI NHẬN

Kiến thức

Hệ thống

xã hội Văn hóa

Nhìn

Nghe

Sờ - tiếp xúc Ngửi Nếm

Các thành tố Cấu trúc

Cách

xử lý

Nội dung Mã

Trang 20

cầu các bên tham gia truyền thông cần tính đến điều kiện thực tế mà quá trình truyền thông diễn ra Theo đó, nếu giữa nguồn phát và người nhận càng có nhiều sự tương đồng về văn hóa, hệ thống xã hội, kiến thức, thái độ và kỹ năng truyền thông thì quá trình truyền thông càng diễn ra hiệu quả hơn

Trong cuốn sách “Truyền thông – Lý thuyết và Kỹ năng cơ bản”, PGS.TS Nguyễn Văn Dững và TS Đỗ Thị Thu Hằng đã đưa ra một mô hình truyền thông mới như sau:

Hình 1.2 Mô hình truyền thông mới

Mô hình này (như Hình 1.2) về cơ bản miêu tả khá đầy đủ các yếu tố của quá trình truyền thông, trong đó nhấn mạnh đến mục đích và hiệu quả truyền thông, như nhận thức, hiểu biết, hành vi và thái độ của công chúng [6, tr.40]

Tóm lại, muốn quá trình truyền thông đạt hiệu quả thì người truyền

thông phải xem xét cụ thể đối tượng tiếp nhận: Họ là ai (nhận thức và hiểu

biết nhƣ thế nào)? Họ cần đƣợc truyền thông vấn đề gì về nhận thức và hành động (nội dung) với yêu cầu về chuyển biến nhận thức và hành động

Hiệu quả

Nhận thức

Hiểu biết

Hành

vi, Thái

độ

Trang 21

mới, dẫn tới hành vi và thái độ mới (hiệu quả) thông qua những kênh hoặc phương tiện nào là tốt nhất (kênh truyền thông) và bằng cách nào nắm được phản ứng của họ trước những nội dung được chuyển tới (phản hồi)

1.4 Phân loại truyền thông

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khác nhau cho truyền thông Căn cứ vào tính chủ đích trong truyền thông, có thể phân

chia truyền thông thành ba loại là truyền thông kinh nghiệm, truyền thông

không chủ đích và truyền thông có chủ đích

Truyền thông kinh nghiệm: là loại hoạt động truyền thông được

thực hiện như là những kinh nghiệm, hoặc kết quả của những kinh nghiệm được hình thành trong quá trình sống của cá nhân, nhóm, cộng đồng Với loại truyền thông này, quá trình đào tạo nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng truyền thông chưa được đề cập

Truyền thông không chủ đích: là hoạt động truyền thông không

có mục đích cụ thể, hoặc tạo ra những kết quả ngoài mục đích của những người tham gia truyền thông Loại truyền thông này chủ yếu là hoạt động giao tiếp hằng ngày, ngẫu nhiên của con người hoặc các nhóm bạn bè

Truyền thông có chủ đích: là loại hoạt động truyền thông có mục

đích, được xác định rõ ràng với các kế hoạch, quá trình truyền thông Tính chủ đích của hoạt động truyền thông thể hiện ở các chương trình/ dự án, chiến dịch truyền thông với những chiến lược và các mục tiêu thống nhất cho nhiều hoạt động truyền thông có tổ chức trong các thời điểm khác nhau, hoặc cùng thời điểm nhằm đạt được sự tác động mạnh mẽ hơn từ các nhà truyền thông

Trang 22

Biểu đồ 1.1 Các loại hình truyền thông

Truyền thông có chủ đích bao gồm bốn loại hình phổ biến là thông tin -

giáo dục - truyền thông, truyền thông vận động, truyền thông - vận động xã hội và truyền thông thay đổi hành vi

Thứ nhất, thông tin - giáo dục - truyền thông (information -education -

communication) sử dụng phối hợp ba dạng truyền thông ứng với ba mục đích:

- thông tin: cung cấp những thông tin cơ bản, bao gồm các kiến thức nền, kiến thức chuyên biệt và các kỹ năng cần thiết nhất, những thông tin cập nhật và vấn đề cần truyền thông;

- giáo dục: không chỉ hướng vào các đối tượng đang cần những thông tin này mà cả những người cần đến trong tương lai, nhằm tạo nên sự thông hiểu, chia sẻ;

Thông tin –

Giáo dục - Truyền

thông

Truyền thông thay đổi hành vi

Truyền thông - Vận động xã hội Truyền thông

vận động

Trang 23

- và truyền thông: chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức để nhân lên những kiến thức - kỹ năng - kinh nghiệm nhằm thúc đẩy những thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi

Cùng với truyền thông thay đổi hành vi, thông tin – giáo dục – truyền thông được dùng phổ biến dành cho trẻ em miền núi phía Bắc do các mục đích phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của các em

Thứ hai, truyền thông thay đổi hành vi (behaviour change communication)

là loại hình truyền thông lấy việc thay đổi hành vi làm mục đích trực tiếp, có kế hoạch nhằm tác động vào tình cảm, lý trí của các nhóm đối tượng, từ đó nâng cao nhận thức, kỹ năng, hình thành thái độ tích cực, làm cho đối tượng chấp nhận và duy trì hành vi mới có lợi cho các vấn đề truyền thông trong việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Truyền thông thay đổi hành vi chuyển tải các thông điệp phù hợp với từng nhóm đối tượng trên các kênh truyền thông khác nhau và lấy mục tiêu thay đổi hành vi và duy trì hành vi bền vững làm tiêu chí đánh giá chủ yếu cho những nỗ lực và mức độ thành công của hoạt động truyền thông

Thứ ba, truyền thông vận động (advocacy) là loại hình truyền thông

nhằm hỗ trợ tích cực một hay nhiều vấn đề nào đó và cố gắng làm cho những người khác cùng ủng hộ vấn đề/ các vấn đề đó thông qua các chiến dịch truyền thông

Cuối cùng, truyền thông - vận động xã hội (communication - social

campaigns) cũng nhằm tham gia giải quyết các vấn đề lớn, tập trung vào ba

hướng chính: tạo hành lang thuận lợi cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (đối tượng chủ yếu là các nhà hoạch định chính sách), tạo sự ủng hộ của các cơ quan hành pháp, các cơ quan trong thể chế chính trị (đối tượng là các cơ quan, cán bộ chủ chốt trong bộ máy hành pháp, trong thể chế hành chính và các tổ chức trong hệ thống hành chính) và tạo sự ủng hộ rộng

Trang 24

rãi của dư luận xã hội (đối tượng là các nhà hoạt động văn hóa - xã hội, những người có uy tín hoặc có nhiều người hâm mộ trong cộng đồng và các nhà báo) nhằm tác động đến dư luận xã hội và cộng đồng nói chung [8]

1.5 Loại hình truyền thông

Theo cuốn sách Truyền thông – Lý thuyết và Kỹ năng cơ bản do PGS

TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, truyền thông bao gồm truyền thông đại chúng và truyền thông phi đại chúng

Truyền thông phi đại chúng bao gồm các loại hình:

 Truyền thông cá nhân:

- Truyền thông trực tiếp (gặp gỡ trực tiếp, tiếp xúc mặt đối

mặt)

- Truyền thông không trực tiếp có sự hỗ trợ của công nghệ

truyền thông (gọi điện thoại, viết thư, gửi e-mail, chat )

 Truyền thông nhóm:

- Truyền thông 1 – 1 nhóm (tổ chức các buổi nói chuyện

hoặc trình bày)

- Truyền thông trong nhóm (hùng biện, tuyên truyền miệng,

thăm hỏi gia đình, tổ chức các khóa tập huấn, trao đổi thông tin nội bộ thông qua thư điện tử, thư tín, điện thoại, họp mặt, thông cáo nhóm, ấn phẩm riêng của nhóm, xây dựng mạng lưới truyền thông )

Truyền thông đại chúng bao gồm các loại hình:

 Sách

 Báo in

 Phát thanh

 Truyền hình

Trang 25

 Quảng cáo

 Internet

 Tờ rơi, tờ gấp

1.6 Phương thức truyền thông

Căn cứ vào phương thức tiến hành truyền thông, có truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp

 Truyền thông trực tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó có sự tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt giữa những người tham gia truyền thông (giữa chủ thể và đối tượng truyền thông Bao gồm: truyền thông 1 – 1 (2 người truyền thông trong bối cảnh gặp gỡ trực tiếp), truyền thông 1 – 1 nhóm, truyền thông trong nhóm (thảo luận nhóm nhỏ trong một hội thảo ) Truyền thông biểu diễn

Quảng cáo

Trang 26

hay sân khấu với khán giả trực tiếp hoặc diễn thuyết trước đám động cũng thuộc nhóm truyền thông trực tiếp

 Truyền thông gián tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó những chủ thể truyền thông không tiếp xúc trực tiếp với đối tượng tiếp nhận mà thực hiện quá trình truyền thông nhờ sự hỗ trợ của người khác (mang tính chất trung gian) hoặc các phương tiện truyền thông khác để truyền dẫn thông điệp Ví dụ: truyền thông qua bưu điện (gửi thư, gọi điện), qua Internet (chat, email, forum ), hoặc qua các phương tiện truyền thông đại chúng (báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, các website )

1.7 Đối tƣợng tiếp nhận và Chủ thể truyền thông

Trong quá trình truyền thông, đối tượng tiếp nhận (công chúng) có vai trò đặc biệt quan trọng Công chúng không chỉ là đối tượng tác động, đối tượng chi phối, điều chỉnh mà còn là lực lượng xã hội quyêt sđịnh vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm truyền thông Sức mạnh của sản phẩm truyền thông trước hết thể hiện ở sức mạnh của công chúng mà nó tạo ra

Đối tượng công chúng được xét trên các bình diện như số lượng công chúng (thể hiện ở số lượng phát hành của báo in, số lượng truy cập của báo mạng điện tử, số lượng khán giả xem truyền hình, ) và chất lượng (trình độ, vai trò và vị thế xã hội của công chúng)

Nghiên cứu ban đầu về công chúng là khâu công việc cơ bản và cần thiết nhằm tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, sở thích, thị hiếu, mong đợi, để

từ đó xúc tiến kế hoạch truyền thông Nội dung nghiên cứu ban đầu về công chúng được xét trên ba bình diện cơ bản là nhân khẩu học – xã hội (tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, dân tộc, địa bàn sống và

Trang 27

mức sống, .), thói quen, sở thích tiếp nhận các sản phẩm truyền thông và thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi

Vì vậy, trước khi tiến hành truyền thông, người truyền thông cần phải nhận diện giá trị cái mới đối với cộng đồng và lợi ích xã hội, tìm hiểu kỹ môi trường văn hóa, những rào cản về tâm lý, lợi ích của nhóm đối tượng tác động, tìm hiểu tâm lý xã hội và mong đợi của cá nhân nhóm xã hội, nhận thức thái độ của họ, đồng thời cần hiểu rõ thể chế xã hội, môi trường văn hóa – đạo đức – pháp luật Với tư cách là chủ thể truyền thông, người truyền thông cần chú ý rèn luyện các kỹ năng cơ bản: hỏi và lắng nghe, trao đổi và chia sẻ, rút ngắn khoảng cách tiếp xúc, nhanh chóng hòa nhập trong giao tiếp

Căn cứ vào việc nghiên cứu đối tượng tiếp nhận và chủ thể truyền thông nói chung, ta có thể phân tích cụ thể trường hợp trẻ em miền núi phía Bắc Trong phạm vi nghiên cứu luận văn, trẻ em miền núi phía Bắc vừa là đối tượng tiếp nhận, vừa là chủ thể tham gia truyền thông

Theo Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em (năm 1989) thì

“trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ

em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo

dục trẻ em của Việt Nam (năm 1991) quy định: “trẻ em là công dân Việt Nam

dưới 16 tuổi” Trẻ em là nhóm lớn xã hội có thể chất, tâm – sinh lý, nhận

thức, văn hóa cùng với nhu cầu, nguyện vọng và cách thể hiện riêng

Bắc bộ là một trong ba vùng lãnh thổ chính (Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ) của Việt Nam Miền núi Bắc bộ được chia thành hai khu vực là Tây Bắc ( bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và Yên Bái) và Đông Bắc (bao gồm các tỉnh Bắc Kạn, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang và Quảng Ninh)

Trang 28

Như vậy, trẻ em miền núi phía Bắc được hiểu là những người dưới 16 tuổi sinh sống tại các khu vực thuộc miền núi phía Bắc của Việt Nam, thuộc các thành phần dân tộc khác nhau, đặc điểm, ngôn ngữ và tập quán sinh sống khác nhau

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2009, trẻ em miền núi phía Bắc chiếm tới 33,98% dân số toàn miền2

Bảng 1.1 Phân bố dân số và trẻ em theo vùng, năm 2011

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số năm 2011)

Trung du miền núi phía Bắc

Đồng bằng sông Hồng

Bắc Trung

bộ Duyên hải miền Trung

Tây Nguyên

Đông Nam

bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

Đặc điểm nhân khẩu học:

Độ tuổi: Dựa vào quá trình phát triển của trẻ em, có thể phân chia trẻ

em thành các nhóm tuổi cụ thể: 0–6 tuổi (mầm non – chưa đi học), 6-12 tuổi (nhi đồng – học sinh tiểu học), 12–18 tuổi (thiếu niên – học sinh

THCS và PTTH)

Giới tính: Trẻ em miền núi phía Bắc bao gồm cả trẻ em trai và trẻ em

gái, trong đó “tỷ lệ nam lớn hơn nữ khoảng 1,2%” [25, tr.13]

2 Tổng cục Thống kê, Tổng Điều tra dân số, năm 20

Trang 29

Dân tộc: Các tỉnh miền núi phía Bắc tập trung 31 nhóm dân tộc với 7

nhóm ngôn ngữ khác nhau, trong đó dân tộc Kinh, Tày, Thái, Nùng, Mường

và Dao chiếm tỷ lệ lớn

Mức sống: Trẻ em ở miền núi phía Bắc, nơi đa số thuộc cộng đồng dân

tộc thiểu số là đối tượng ít được hưởng lợi nhất từ tăng trưởng kinh tế của đất nước Tỷ lệ nghèo trẻ em ở vùng núi phía Bắc là cao nhất, chiếm tới 78% (năm 2006) Đây cũng là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, chiếm 39,95% ở Tây Bắc và 22,35% ở Đông Bắc.3

Phong tục tập quán: Một số cộng đồng dân tộc ở miền núi phía Bắc

như dân tộc Mường, Dao, H’mông vẫn giữ nhiều tập tục lạc hậu như tục tảo hôn, chữa bệnh bằng lá rừng hoặc mời thầy mo, thầy cúng, tập quán du canh

du cư, đốt nương làm rẫy, thói quen nuôi thả gia súc, gia cầm cùng nơi ở của người, tư tưởng trọng nam khinh nữ, sinh đông con lấy sức lao động Đây là những rào cản và nguyên nhân dẫn tới tình trạng đói nghèo của người dân và trẻ em miền núi phía Bắc

Trình độ văn hóa: Do gặp phải khó khăn về ngôn ngữ và giao thông, trẻ

em miền núi phía Bắc ít có cơ hội được đến trường hoặc tiếp cận chương trình giáo dục có chất lượng, do đó trình độ văn hóa của các em còn rất thấp Năm

2006, chỉ có 57.1% trẻ em miền núi phía Bắc được đi học mầm non [2], hơn 60% hoàn thành tiểu học và 65% đi học trung học Đến “năm 2012, tỷ lệ mù chữ vẫn ở mức trên 12%” [28, tr.33] “Tỷ lệ mù chữ của trẻ em Tày và Nùng

là 18% và 24%, và của trẻ em H’mông là khoảng 92,5%” [26, tr.12]

Điều kiện sinh sống:

Xét về điều kiện tự nhiên, trẻ em miền núi phía Bắc phải sống trong những vùng có địa hình tương đối khó khăn, bao gồm đồi núi thấp ở Đông Bắc và núi cao, hiểm trở ở Tây Bắc Mặc dù một số tỉnh đã có hệ thống đường sắt chạy qua, hệ thống đường bộ đến tỉnh và huyện lỵ đã được cải thiện

3 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2001

Trang 30

nhưng hệ thống đường đến các xã chưa tốt, một số xã chưa có đường ôtô Giao thông bị tác động xấu của thời tiết khí hậu, nhất là về mùa mưa thường xảy ra hiện tượng sạt lở đất, lũ tràn ngập sông, suối, đường lầy lội, trơn trượt gây khó khăn cho việc đi lại của các em [22] Đồng thời, địa hình hiểm trở cũng gây khó khăn cho quá trình xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng cho các dịch vụ xã hội phục vụ trẻ em và cộng đồng

Xét về điều kiện sinh hoạt, dựa trên các nhu cầu cơ bản của trẻ em bao gồm giáo dục, y tế, nơi ở và bình đẳng xã hội, ta có thể thấy:

 Về giáo dục: Theo báo cáo của Bộ Giáo dục – Đào tạo, UNICEF

và UNESCO, chỉ có 48% trẻ em ở các vùng miền núi phía Bắc hoàn thành bậc giáo dục tiểu học (trên toàn quốc là 90%) Như vậy, ở miền núi có tới 1/3 trẻ em không học hết lớp 5 70% số học sinh bỏ học là trẻ em gái Nghiên cứu còn cho thấy, nghèo đói là rào cản chính khiến trẻ em chưa được hưởng một nền giáo dục có chất lượng Các em có thể bị đói ăn, suy dinh dưỡng trước

và ngay cả trong khi đi học, không đủ tiền để mua đồ dùng học tập, áo quần và thường bị áp lực phải bỏ học để chăm sóc người thân hoặc giúp đỡ cha mẹ về kinh tế Bên cạnh rào cản nghèo đói, chất lượng dạy và học chưa đạt yêu cầu tại các địa phương cũng là rào cản đáng kể Giáo viên thường chỉ dạy bằng tiếng Việt và chỉ dành một số ít thời gian dạy bằng tiếng dân tộc, phương pháp giảng dạy nặng về thuyết trình Trẻ em do ít tiếp xúc xã hội nên việc tiếp thu bài bằng tiếng Việt không tốt, dẫn tới không hiểu bài rồi chán và bỏ học Trường học xa nhà, đi học quá vất vả, các gia đình cũng chưa có nhận thức đầy đủ lợi ích của giáo dục

 Về y tế: Theo số liệu của Bộ Y tế năm 2012, gần 60% số trạm y

tế xã ở miền núi phía Bắc chưa đạt chuẩn, đội ngũ cán bộ y tế cơ

Trang 31

sở thiếu và yếu (tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ chỉ chiếm hơn 40%), trong khi đó tình hình bệnh dịch vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ Điều kiện vệ sinh kém, các tập tục địa phương (sinh con tại nhà, sử dụng các bài thuốc dân gian, mời thầy mo, thầy cúng để chữa bệnh), giao thông đi lại và điều kiện kinh tế khó khăn là những trở ngại đối với việc tiếp cận đến quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Năm 2006, tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới một tuổi

ở khu vực Tây Bắc là 30/1000 ca, cao gấp ba lần so với các vùng

đô thị Năm 2007, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em miền núi phía Bắc vẫn ở mức 30%4

(vùng đô thị là 21.2%)

 Về nơi ở: Các tỉnh miền núi phía Bắc là khu vực thiếu nước sạch trầm trọng với 30% dân số thường xuyên không có nước sinh hoạt, đặc biệt là vào mùa khô Các công trình nước sạch ở miền núi chủ yếu được xây dựng từ nguồn vốn của Chính phủ thông qua chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường Tuy nhiên, do ý thức giữ gìn vệ sinh chung của người dân còn hạn chế nên nhiều công trình công cộng đã nhanh chóng xuống cấp hoặc hư hỏng Ở những khu vực núi cao, các công trình nước sạch không thể xây dựng được nên người dân chủ yếu dùng nước giếng và nước suối Do độ dốc cao nên lượng nước giếng ít và không đảm bảo vệ sinh Ở nhiều thôn bản, người dân đào giêng cạnh các chuồng gia súc, gia cầm và ao hồ gây ô nhiễm nguồn nước do chất thải của các loài gia súc, gia cầm và mạch nước từ ao, hồ chảy sang Về nhà vệ sinh, theo số liệu của

Bộ Y tế công bố năm 2007, gần 90% trường học ở các tỉnh miền núi phía Bắc không có nhà xí và nước uống hợp vệ sinh [4] Tại

4 Viện Dinh dưỡng quốc gia, 2007

Trang 32

các hộ gia đình, người dân ít khi xây dựng nhà vệ sinh, hoặc nếu

có cũng chỉ làm nhà tạm và không sử dụng mà vẫn đi vệ sinh bừa bãi bên ngoài gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nhiều dịch bệnh Bên cạnh điều kiện kinh tế, nguyên nhân của tình trạng trên một phần là do nhận thức chưa đầy đủ của người dân về tác hại của sự ô nhiễm môi trường, thói quen lấy phân bón ruộng và tập quán sinh hoạt gần nơi chăn thả gia súc, gia cầm Từ đó, vi trùng, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra các bệnh về đường

hô hấp, tiêu hóa, các bệnh về mắt và phụ khoa Trẻ em miền núi phía Bắc thường mắc các bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp dẫn đến còi cọc, trướng bụng, trường hợp nguy hiểm dẫn đến

vệ phòng chống các nguy cơ xâm hại sự an toàn đối với các em,

Trang 33

các kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng giao tiếp [2, tr.132]

 Về bình đẳng xã hội: Sự bất bình đẳng trong xã hội của trẻ em miền núi phía Bắc thể hiện rõ trong sự tiếp cận đối với các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và vệ sinh Bất bình đẳng còn nằm trong sự tham gia của trẻ em đối với các vấn đề ảnh hưởng

và liên quan tới chính các em trong cộng đồng Trẻ em vẫn bị coi như một đối tượng nhưng đồng nhất, việc phát triển những năng lực và khả năng khác nhau của các em chưa được quan tâm

Đặc điểm tâm sinh lý:

Sự phát triển trong tâm lý trẻ em dù rất đa dạng, phong phú nhưng chỉ bao hàm trong ba vấn đề chính: phát triển thể chất - sinh lý, phát triển nhận thức (phát triển trí tuệ) và phát triển nhân cách Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tác giả xin nêu ra hai vấn đề về phát triển nhận thức và phát triển nhân cách

Trẻ em ở lứa tuổi mầm non (từ 0 đến 6 tuổi)

Với trẻ sơ sinh (từ 0 đến 2 tuổi), hoạt động chủ yếu của trẻ là ăn, ngủ, phối hợp với các phản xạ mang tính bột phát Đến khoảng từ 4 – 12 tháng tuổi, trẻ phát triển các động tác biểu cảm, cộng sinh cảm xúc Giai đoạn từ 1,5 đến 3 tuổi, trẻ tỏ ra độc lập và không vâng lời, nhằm mục đích đòi được thừa nhận sự tồn tại độc lập của mình Sang giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi, trẻ trở nên hiếu động, hiếu kỳ, dễ bắt chước và giàu sức tưởng tượng

Trẻ em ở lứa tuổi nhi đồng (từ 6 đến 12 tuổi)

Về nhận thức cảm tính, trẻ em ở lứa tuổi này thích quan sát các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, đồng thời thường bị thu hút bởi các hoạt động mới, khác lạ Về nhận thức lý tính, trí tưởng tượng của trẻ em lứa tuổi nhi đồng đã phát triển phong phú hơn so với trẻ em lứa tuổi mầm non và bị chi

Trang 34

phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm Các em có thể xuất hiện năng khiếu làm thơ, làm văn, vẽ tranh Trẻ đã có thể tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phát bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau, ví dụ như các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, đóng kịch tiểu phẩm, tọa đàm

Tuy nhiên, đối với trẻ ở miền núi, do điều kiện tiếp xúc môi trường bên ngoài còn rất hạn chế, đa số thường nhút nhát, rụt rè Vì vậy, người truyền thông cần có kỹ năng làm việc với trẻ, khuyến khích sự tham gia của trẻ

Trẻ em ở lứa tuổi thiếu niên (từ 15 đến 18 tuổi)

Lứa tuổi thiếu niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể,

do đó sự phát triển của thể chất có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý, nhân cách cũng như những lựa chọn trong cuộc sống Về phát triển nhận thức, trẻ đã có khả năng tư duy lý luận một cách độc lập và sáng tạo và nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và sâu sắc Về phát triển nhân cách, các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng và tự đánh giá khả năng bản thân Các em cũng có nhu cầu khám phá, tìm hiểu về thế giới và có khả năng tiếp thu cái mới nhanh chóng để từ đó hình thành thế giới quan của bản thân Đây là nhóm có nhu cầu hiểu biết và thông tin cao, vì thế

dễ chịu tác động của các sản phẩm truyền thông Nội dung truyền thông xoanh quanh những vấn đề mà các em thường gặp phải trong cuộc sống như tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính, cách ứng xử trong tình bạn, tình yêu v.v sẽ phù hợp với tâm lý của lứa tuổi này Phương thức tác động vào sự phát triển nhân cách như cung cấp tri thức, kinh nghiệm xã hội – lịch sử, tổ chức các hoạt động giao lưu trực tiếp và gián tiếp qua các phương tiện truyền thông đại chúng và khuyến khích “sự tham gia của trẻ em” sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi về nhận thức và hành vi của nhóm tuổi này

Trang 35

Đối với trẻ em miền núi phía Bắc, do ít có điều kiện tiếp xúc với khối lượng thông tin đa chiều nên khả năng phân tích và chọn lọc thông tin còn rất hạn chế Vì vậy, các sản phẩm truyền thông cần lưu ý đến hình ảnh và ngôn ngữ diễn đạt đơn giản, dễ hiểu để tránh gây hiểu lầm hoặc ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành định hướng về những giá trị tích cực của lứa tuổi này

Xét với tư cách là chủ thể truyền thông, việc trẻ em tham gia thực hiện các sản phẩm truyền thông là một vấn đề có liên quan mật thiết đến sự tham gia và đến các điều 12 và 13 trong Công ước về Quyền Trẻ em Những điều khoản này quy định trẻ em có quyền hình thành và biểu đạt ý kiến, cũng như được tự do tìm kiếm và phổ biến các loại thông tin và ý tưởng Các em có thể tham gia viết bài cho các tờ báo, thực hiện và phát sóng các chương trình truyền thanh, quay một bộ phim video và dựng một chương trình truyền hình Kết quả cuối cùng là trẻ em có thể biểu đạt bằng ngôn ngữ của chính mình những nhu cầu của mình và của cộng đồng mình và giải quyết bằng những phương tiện truyền thông “Những trẻ em với kỹ năng tham gia tốt, cả khi còn nhỏ tuổi cho đến khi trưởng thành, sẽ hình thành nên một xã hội công dân vững chắc” (Fuglesang, 1997, tr.42) Những hiểu biết và nhận thức về các phương tiện truyền thông là điều kiện tiên quyết để tồn tại trong xã hội ngày nay, đồng thời tạo được những ảnh hưởng, dù là nhỏ nhất, đến nền tảng của một xã hội dân chủ Sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề xã hội có ảnh hưởng đến các em sẽ làm cho vai trò của trẻ em trong xã hội trở nên hữu hình

và tạo nhiều ảnh hưởng hơn đến sự phát triển chung của xã hội

1.8 Vai trò của truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc

Truyền thông và trẻ em có mối quan hệ mật thiết với nhau tồn tại trong bối cảnh pháp lý mang tính quốc tế, thể hiện thông qua Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em Đây là công cụ toàn diện về quyền trẻ em, quy

Trang 36

định các nguyên tắc và tiêu chuẩn chung cho trẻ em.5

Điều 17 của Công ước

Quyền Trẻ em quy định trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin và tư liệu từ

nhiều nguồn đa dạng trong và ngoài nước, đặc biệt là những thông tin tư liệu nhằm mục đích thúc đẩy lợi ích xã hội, tinh thần và đạo đức cũng như sức

khỏe về thể chất và tinh thần của trẻ em Điều 13 quy định trẻ em có quyền tự

do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin dưới hình thức

nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác mà trẻ em lựa

chọn Điều 12 quy định trẻ em có quyền được lắng nghe trong tất cả các vấn

đề liên quan tới trẻ em, và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng phù hợp với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ em

Trong lĩnh vực truyền thông, điều này có nghĩa là trẻ em được quyền xuất hiện một cách tích cực trong các hoạt động truyền thông, và các nhà làm truyền thông cần có trách nhiệm lắng nghe những quan điểm, suy nghĩ của trẻ

em và tạo đủ không gian cho trẻ em tham gia [12, tr.14] Điều 20, Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng quy định “Trẻ em có quyền

được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm” và “trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình”

Truyền thông, với chức năng giám sát và bảo vệ quyền của mỗi cá nhân, phải có nhiệm vụ thúc đẩy trẻ em thực hiện các quyền của mình Thông qua các hoạt động cung cấp thông tin, truyền thông có thể tác động đến sự phát triển nhận thức, hình thành tâm lý xã hội của các em, tác động đến hành

vi của các em, đồng thời tạo điều kiện để trẻ em tăng cường các quan hệ xã hội và tác động tạo ra sự phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc thực hiện và bảo vệ quyền trẻ em Trong công tác truyền thông,

5 Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày

20/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990 Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam

Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/2/1990

Trang 37

trẻ em không chỉ là đối tượng truyền thông mà còn có thể là nhân tố truyền bá thông điệp tới công chúng liên quan tại trường học, gia đình và cộng đồng của mình Sự tham gia tích cực của trẻ em trong các hoạt động truyền thông còn tạo động lực cho sự thay đổi nhận thức và hành vi của công chúng một cách bền vững

Theo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cần nghèo6

do Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội công bố năm 2011, miền núi phía Bắc là khu vực tập trung số hộ nghèo và cận nghèo Tỷ lệ hộ nghèo ở Tây Bắc là hơn 33% (cao nhất cả nước), tiếp sau là Đông Bắc với tỉ lệ hơn 21% Trẻ em là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi nghèo đói Nghèo đói ở trẻ em không chỉ là thiếu thốn về vật chất, về thu nhập mà còn bao hàm cả các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển nói chung của trẻ em như tiếp cận thông tin Tỉ lệ trẻ em ở khu vực miền núi phía Bắc chịu sự thiếu thốn về thông tin còn rất cao, chiếm tới 74% ở khu vực Tây Bắc và 59% ở khu vực Đông Bắc [38]

Đối với trẻ em miền núi nói chung, và trẻ em miền núi phía Bắc nói riêng, truyền thông đóng một vai trò vô cùng quan trọng Những thông tin thu nhận được từ quá trình truyền thông chính là phương tiện tạo cơ hội cho các

em phát triển nhân cách, trí tuệ và năng lực trong tương lai, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các em và toàn xã hội Ít có cơ hội tiếp cận với các thông tin qua sách báo, đài phát thanh, truyền hình, trẻ em miền núi trở nên nghèo đói về văn hóa, thông tin, từ đó làm trình độ nhận thức, hiểu biết và các kỹ năng cần thiết của các em hạn chế hơn rất nhiều so với trẻ em khu vực thành thị Trình độ học vấn thấp, hiểu biết hạn chế, cơ hội học lên cao rất ít, hậu quả là trẻ em miền núi nối tiếp nhau qua các thế hệ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo với những nghề nghiệp không ổn định, thu

6

Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ người/ tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

Trang 38

nhập thấp Nghèo đói không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách, trí tuệ của trẻ em miền núi, đến cuộc sống của các hộ gia đình trong một giai đoạn nhất định mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước và đe dọa đến tính bền vững của công cuộc xóa đói giảm nghèo của toàn dân

Chính vì vậy, tăng cường truyền thông cho trẻ em miền núi là việc làm cần thiết đặt trong kế hoạch phát triển bền vững của quốc gia nhằm rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển của trẻ em giữa các vùng miền, để mọi trẻ

em đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình và phát triển một cách toàn diện, đồng thời hướng tới xóa đóa đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội một cách bền vững

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã đưa ra các khái niệm và lý thuyết cơ bản có liên quan tới truyền thông, trẻ em miền núi phía Bắc với tư cách là đối tượng tiếp nhận và chủ thể truyền thông, vai trò của truyền thông đối với trẻ em miền núi phía Bắc

Truyền thông là quá trình tương tác hai chiều diễn ra liên tục nhằm chia

sẻ, trao đổi thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức về các vấn đề trong đời sống giữa một hay một nhóm người với nhau, từ đó làm tăng vốn hiểu biết chung hoặc thaylàm thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi của đối tượng tiếp nhận thông tin Với những đặc điểm riêng biệt về tâm sinh lý và nhân khẩu học, đặc biệt là về phong tục tập quán, trình độ văn hóa và điều kiện sinh sống, trẻ em miền núi phía Bắc đang chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận với thông tin và tham gia vào các hoạt động truyền thông tại cộng đồng

Trang 39

Vai trò của truyền thông đối với trẻ em miền núi phía Bắc là hết sức quan trọng, không chỉ giúp nâng cao nhận thức, hiểu biết cho các em về các vấn đề ảnh hưởng tới cuộc sống của các em, mà còn giúp các em phá vỡ rào cản ngôn ngữ và văn hóa, tăng cường sự mạnh dạn, tự tin để dễ dàng hòa nhập một cách bình đẳng trong xã hội và có cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai Truyền thông cũng góp phần đảm bảo cho trẻ em miền núi thực hiện quyền của mình, trong đó có quyền tham gia các hoạt động xã hội và cất lên tiếng nói của mình trong những vấn đề có liên quan tới các em

Đây là những nền tảng cơ bản để tác giả phân tích thực trạng hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc của khối Nhà nước, phi chính phủ và khảo sát một số trường hợp cụ thể ở chương 2 Những hoạt động này đã mang lại những kết quả nhất định trong sự thay đổi về nhận thức và hành vi của trẻ em miền núi phía Bắc, tuy nhiên vẫn gặp phải một số hạn chế cần phải giải quyết, để

từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các dự án truyền thông phát triển

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG

CHO TRẺ EM MIỀN NÖI PHÍA BẮC

2.1 Tình hình chung về hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc

2.1.1 Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía Bắc của khối Nhà nước

Với sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức xã hội trong nước và quốc

tế, trẻ em không chỉ có cơ hội tiếp cận thông tin mà còn được tham gia một cách tích cực vào các hoạt động truyền thông tại địa phương Kết quả thăm dò

ý kiến của 100 cán bộ phòng Lao động , Thương binh và Xã hội, cán bộ xã, cán bộ y tế, dân số, giáo viên tại một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Hòa Bình, Bắc Kạn, Thái Nguyên do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện vào tháng 5 năm 2012 về công tác truyền thông cho trẻ em cho thấy hiện tại, các hoạt động truyền thông dành cho trẻ em chủ yếu là tổ chức các buổi sinh hoạt Đoàn, Đội trong nhà trường, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về quyền trẻ em, các buổi ngoại khóa về an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, tổ chức các sự kiện nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, Tết Trung thu, tháng Hành động vì Trẻ em (15/5 – 30/6), thành lập các Câu lạc bộ Trẻ em, truyền thông

về tai nạn thương tích, ngộ độc thực phẩm do các cấp cơ sở Đoàn, Đội, trường học, chính quyền địa phương, Hội Liên hiệp Phụ nữ cùng phối hợp thực hiện Các Diễn đàn trẻ em cũng được tổ chức ở nhiều nơi, bao gồm cả các địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đây là nơi trẻ

em được phát biểu ý kiến và nguyện vọng của mình, đồng thời trẻ em có điều kiện hiểu biết hơn về quyền và bổn phận của mình Hệ thống Câu lạc bộ Quyền trẻ em và Đội Tuyên truyền măng non của Hội đồng Đội trung ương

Ngày đăng: 11/11/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ths. BS. Nguyễn Trọng An, “Trẻ em nghèo và giảm nghèo bền vững ở Việt Nam”, đăng trên trang điện tử của Mạng Công tác xã hội vào hồi 10h14, thứ Hai ngày 30/07/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trẻ em nghèo và giảm nghèo bền vững ở Việt Nam”
3. Bích Hậu, “Thưa cô, cháu là phóng viên nhỏ!...”, Báo An ninh Thủ đô, đăng ngày 21/6/2007 lúc 08:51 http://www.anninhthudo.vn/Phong-su/Thua-co-chau-la-phong-vien-nho/304923.antd Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thưa cô, cháu là phóng viên nhỏ!...”
4. Bộ Y tế và UNICEF (2007), Tóm tắt Khảo sát Quốc gia về Vệ sinh môi trường và tình hình vệ sinh tại Việt Nam, 10/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt Khảo sát Quốc gia về Vệ sinh môi trường và tình hình vệ sinh tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế và UNICEF
Năm: 2007
6. ChildFund tại Việt Nam (2009), Báo cáo đánh giá giai đoạn 2006 – 2009 – Chương trình Bảo vệ trẻ em và Nhu cầu mở rộng giai đoạn 2009 – 2012, 07 – 08/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá giai đoạn 2006 – 2009 – Chương trình Bảo vệ trẻ em và Nhu cầu mở rộng giai đoạn 2009 – 2012
Tác giả: ChildFund tại Việt Nam
Năm: 2009
7. ChildFund tại Việt Nam (2011), Báo cáo đánh giá giai đoạn 2006 – 2011 – Chương trình Y tế, 09/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá giai đoạn 2006 – 2011 – Chương trình Y tế
Tác giả: ChildFund tại Việt Nam
Năm: 2011
8. ChildFund tại Việt Nam (2011), Báo cáo đánh giá giai đoạn 2006 – 2011 – Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường, 09/2011, Hà Nội 9. ThS. Thân Trung Dũng (2008), Nhận thức của cộng đồng về quyền trẻ em– Những vấn đề đặt ra Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá giai đoạn 2006 – 2011 – Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường, "09/2011, Hà Nội 9. ThS. Thân Trung Dũng (2008), "Nhận thức của cộng đồng về quyền trẻ em
Tác giả: ChildFund tại Việt Nam (2011), Báo cáo đánh giá giai đoạn 2006 – 2011 – Chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường, 09/2011, Hà Nội 9. ThS. Thân Trung Dũng
Năm: 2008
10. PGS. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), TS. Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản. Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), TS. Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2012
11. PGS. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2011
12. PGS. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), Phân viện Báo chí & Tuyên truyền, Khoa Báo chí (2004), Báo chí với Trẻ em. Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với Trẻ em
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), Phân viện Báo chí & Tuyên truyền, Khoa Báo chí
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2004
13. Joachim Theis (2006), Thúc đẩy các phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em – Kinh nghiệm và sáng kiến từ các nước châu Á – Thái Bình Dương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy các phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em – Kinh nghiệm và sáng kiến từ các nước châu Á – Thái Bình Dương
Tác giả: Joachim Theis
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. ThS Đỗ Thu Hằng (2004), Bài tham luận "Tìm hiểu tâm lý trẻ em - một nhóm công chúng đặc thù của báo chí", Hội thảo "Báo chí với Trẻ em", Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tâm lý trẻ em - một nhóm công chúng đặc thù của báo chí", Hội thảo "Báo chí với Trẻ em
Tác giả: ThS Đỗ Thu Hằng
Năm: 2004
15. Helena Thorfinn, Save the Children Thụy Điển (2003), Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em
Tác giả: Helena Thorfinn, Save the Children Thụy Điển
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2003
31. Nguyễn Lan Minh (2011), ” Quyền tham gia của trẻ em – Những thành công và thách thức – Cơ hội và giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ sự tham gia của trẻ em”, Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ” Quyền tham gia của trẻ em – Những thành công và thách thức – Cơ hội và giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ sự tham gia của trẻ em”
Tác giả: Nguyễn Lan Minh
Năm: 2011
32. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Minh, Nguyễn Ngọc Oanh, Hà Thị Lan Anh (2012), "Cẩm nang xây dựng sản phẩm truyền thông có sự tham gia của trẻ em và cộng đồng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang xây dựng sản phẩm truyền thông có sự tham gia của trẻ em và cộng đồng
Tác giả: Nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Minh, Nguyễn Ngọc Oanh, Hà Thị Lan Anh
Năm: 2012
33. Nguyễn Minh Nguyệt (2008), "Truyền thông phát triển – Một hướng đi mới cho báo chí ở các nước đang phát triển", Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông phát triển – Một hướng đi mới cho báo chí ở các nước đang phát triển
Tác giả: Nguyễn Minh Nguyệt
Năm: 2008
34. Trung tâm Đông Tây, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường – Đại học Quốc gia Hà Nội (1997), Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, Tập 1, Tổng quan và Phân tích, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Trung tâm Đông Tây, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường – Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1997
35. Ủy ban Dân tộc (2003), Kỷ yếu Hội thảo Phát triển bền vững miền núi Việt Nam “Nghèo đói và Bảo vệ rừng”, Tam Đảo 16, 17/9/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Phát triển bền vững miền núi Việt Nam “Nghèo đói và Bảo vệ rừng”
Tác giả: Ủy ban Dân tộc
Năm: 2003
36. Ủy ban Dân tộc (2012), Báo cáo tại Diễn đàn Chính sách về Phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và miền núi, 08/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Diễn đàn Chính sách về Phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Ủy ban Dân tộc
Năm: 2012
37. Việt Hà, “Phím số diệu kỳ - 18001567”: Tiếp nhận gần 1 triệu cuộc gọi tư vấn và hỗ trợ trẻ em, Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Cần Thơ, 24/05/201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phím số diệu kỳ - 18001567”: Tiếp nhận gần 1 triệu cuộc gọi tư vấn và hỗ trợ trẻ em
38. Vương Toàn (2012), Tiếng nói, chữ viết - Niềm tự hào dân tộc. Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng nói, chữ viết - Niềm tự hào dân tộc
Tác giả: Vương Toàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình truyền thông của D. Berlo [6, tr.34] - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 1.1. Mô hình truyền thông của D. Berlo [6, tr.34] (Trang 19)
Hình 1.2. Mô hình truyền thông mới - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 1.2. Mô hình truyền thông mới (Trang 20)
Bảng 1.1. Phân bố dân số và trẻ em theo vùng, năm 2011. - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Bảng 1.1. Phân bố dân số và trẻ em theo vùng, năm 2011 (Trang 28)
Hình 2.1. Thành viên C4E thực hiện “Hành trình theo dãy Trường Sơn”  với chiều dài 1.600km con đường Hồ Chí Minh - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.1. Thành viên C4E thực hiện “Hành trình theo dãy Trường Sơn” với chiều dài 1.600km con đường Hồ Chí Minh (Trang 45)
Hình 2.4. Mô hình Thư viện xanh - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.4. Mô hình Thư viện xanh (Trang 48)
Hình 2.6. Sơ đồ phối hợp, thông tin liên lạc và giám sát - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.6. Sơ đồ phối hợp, thông tin liên lạc và giám sát (Trang 52)
Hình 2.7. Trẻ em huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình tọa đàm về sức - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.7. Trẻ em huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình tọa đàm về sức (Trang 55)
Hình 2.9. Trẻ em ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình trả lời phỏng vấn  cho cuộc điều tra Tiếng nói nhỏ, Ước mơ lớn năm 2011 - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.9. Trẻ em ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình trả lời phỏng vấn cho cuộc điều tra Tiếng nói nhỏ, Ước mơ lớn năm 2011 (Trang 57)
Hình 2.8. Thành viên các Câu lạc bộ Phóng viên nhỏ ở huyện Kỳ  Sơn tham gia tập huấn về kỹ năng viết báo, tháng 6/2010 - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.8. Thành viên các Câu lạc bộ Phóng viên nhỏ ở huyện Kỳ Sơn tham gia tập huấn về kỹ năng viết báo, tháng 6/2010 (Trang 58)
Hình 2.10. Poster của Chiến dịch Toàn cầu Hành động vì Giáo dục năm 2007 - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.10. Poster của Chiến dịch Toàn cầu Hành động vì Giáo dục năm 2007 (Trang 61)
Hình 2.11. Poster của Chiến dịch Toàn cầu Hành động vì Giáo dục năm 2008 - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Hình 2.11. Poster của Chiến dịch Toàn cầu Hành động vì Giáo dục năm 2008 (Trang 61)
Bảng 2.1. Kiến thức về BVTE đã được học, giới thiệu - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Bảng 2.1. Kiến thức về BVTE đã được học, giới thiệu (Trang 65)
Bảng 2.2. Tỉ lệ số trẻ em tiếp cận với kiến thức nước sạch – vệ sinh môi - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Bảng 2.2. Tỉ lệ số trẻ em tiếp cận với kiến thức nước sạch – vệ sinh môi (Trang 67)
Bảng 2.3. Tỉ lệ số trẻ em tiếp cận với kiến thức nước sạch – vệ sinh môi - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Bảng 2.3. Tỉ lệ số trẻ em tiếp cận với kiến thức nước sạch – vệ sinh môi (Trang 67)
Bảng 2.4. Các hiện tượng trẻ và cha mẹ từng chứng kiến - Hoạt động truyền thông cho trẻ em miền núi phía bắc (khảo sát các dự án truyền thông của childfund ở hòa bình và bắc kạn 2006 – 2011)
Bảng 2.4. Các hiện tượng trẻ và cha mẹ từng chứng kiến (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm