1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

132 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 9,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa .... Trong tiến trình 35 năm đổi mới đất nước nói chung, hơn 20 năm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ NGỌC LƯƠNG

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Luận văn đã đƣợc sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn cao học

Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2020

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Phạm Minh Sơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, tin cậy

Tống Thị Huyền Thu

Trang 5

6 UBND Ủy ban nhân dân

7 VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

8 VHTT Văn hóa thông tin

9 XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 10

1.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa 10

1.2 Sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa 26

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2020 42

2.1 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa 42

2.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo đẩy mạnh bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa 48

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 71

3.1 Nhận xét 71

3.2 Một số kinh nghiệm 81

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 97

TÓM TẮT LUẬN VĂN 125

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Di tích lịch sử, văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn

hóa, khoa học” [36]

Di tích lịch sử, văn hóa cần hội tụ những tiêu chí sau đây: 1 Công trình trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương; 2 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc địa phương trong thời kỳ lịch sử; 3 Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; 4 Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật

Bắc Ninh - inh Bắc nằm ở trung tâm châu thổ Bắc Bộ là một trong những cái nôi hình thành lịch sử, văn hóa của người Việt Theo các cứ liệu khảo cổ học, cách đây trên dưới 2000 năm, vùng đất ngày đã là nơi cư tụ đông đúc của các cộng đồng cư dân Việt cổ với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước

và cơ cấu xóm làng với những sắc thái riêng

Trải qua các thời kỳ lịch sử, các thế hệ cư dân ở đây đã tạo nên những thành tựu văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng to lớn, phong phú và qu giá Trong đó có hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, việc nghiên cứu di tích lịch sử, văn hóa ở Bắc Ninh góp phần làm rõ đặc điểm, bản chất của nền văn hóa Kinh Bắc nói riêng và của nền văn hóa Việt Nam nói chung Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh đang đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa CNH - HĐH và hội nhập quốc tế, đ i hỏi Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh giải quyết hai vấn đề căn bản là bảo tồn và phát huy các giá trị di

Trang 8

tích lịch sử, văn hóa trước tác động của sự nghiệp CNH - HĐH; phát huy nội lực, tức là lấy các giá trị truyền thống văn hóa phục vụ phát triển kinh tế bởi

“Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc

đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [56]

Trong tiến trình 35 năm đổi mới đất nước nói chung, hơn 20 năm tái lập tỉnh Bắc Ninh nói riêng, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã thực sự chú trọng thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đảng bộ tỉnh luôn coi trọng công bảo, phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, đưa Bắc Ninh trở thành một trong những điểm thu hút khách du lịch hiệu quả, thân thiện Các di tích lịch sử, văn hóa thực sự trở thành tiềm năng phát triển du lịch tâm linh mạnh mẽ

Tuy nhiên, trong nhận thức và hành động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa của Đảng bộ tỉnh còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục

Với những lý do trên, tôi chọn “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020” làm đề

tài luận văn Thạc sĩ nhằm tái hiện lại quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020;

từ đó đưa ra nhận xét và một số kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa DSVH tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tiếp theo

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa vùng, miền và của đất nước nói chung

Từ Mạnh Lương 2003 , Luận án Tiến sĩ Một số chính sách và giải

pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất

Trang 9

nước; Viện Kinh tế học, Hà Nội Luận án đã nêu bật lên thực trạng về các

chính sách bảo tồn di tích ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp về kinh tế - xã hội nhằm nâng cao năng lực bảo tồn, phát huy giá trị

di tích ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

PGS.TS Đặng Văn Bài 2003 , Tiếp cận thực trạng công tác bảo vệ và

phát huy giá trị di tích theo tinh thần của Luật Di sản văn hóa, Lý luận chung,

Tạp chí Di sản văn hóa, số 5 Tác giả đã nêu lên thực trạng công tác bảo vệ và phát huy các giá trị di tích sau khi Luật DSVH ban hành năm 2001 Việc áp dụng Luật DSVH đã có những ưu điểm nhưng cũng bộc lộ những hạn chế cần khắc phục kịp thời sau 02 năm Luật được ban hành

ThS Nguyễn Viết Cường (2014), Vấn đề nghiên cứu, áp dụng quy định

quốc tế trong thực tiễn bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở nước ta, Lý luận

chung, Tạp chí Cục Di sản văn hóa, số 1 (46) Tác giả đã nêu ra những vấn đề tác giả nghiên cứu về quy định của quốc tế trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích; việc áp dụng những quy định, công ước đó vào thực tiễn nước ta Qua đó, sẽ góp phần thiết thực vào việc định hướng hoàn thiện chính sách, phát huy tác dụng tích cực của công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của dân tộc

ThS Nguyễn Viết Cường (2014), Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện

nay, Lý luận chung, Tạp chí Cục Di sản văn hóa, số 2 (47) Tác giả đã nói lên

thực trạng sai lầm trong bảo tồn di tích và để tránh tình trạng đó tác giả đã nêu

ra một số vấn đề cần tập trung cần giải quyết

PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng (2014), bài báo khoa học Vài suy nghĩ về

“yếu tố gốc” cấu thành di tích, Tạp chí Cục Di sản văn hóa, Hà Nội Tác giả đã

nêu việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta hiện nay cần lưu giữ gìn yếu tố nguyên gốc cấu thành di tích Vì vậy, để hiểu và vận dụng đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ yếu tố gốc cấu thành di tích, bài viết điểm

Trang 10

lại sự ra đời, hiện trạng di sản văn hóa và những hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các loại hình di sản văn hóa ở nước ta thời gian qua và đề xuất một số kiến nghị nhằm tạo cơ sở cho công tác quản lý và thực hiện việc bảo vệ các yếu

tố gốc cấu thành di tích trong thời gian tới được dễ dàng hơn

PGS.TS Trương Quốc Bình (2016), Bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng

Di sản văn hóa phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững ở Việt Nam, Tạp chí khoa

học Đại học quốc gia Hà Nội, tập 32 Tác giả đã khái quát đặc điểm của DSVH Việt Nam bao gồm di sản vật thể và phi vật thể, thống kê các di tích được xếp hạng quốc tế và trong nước Những thành tựu của công cuộc bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng DSVH dân tộc cũng như thách thức mới của sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH ở Việt Nam Từ đó, đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường các hoạt động bảo tồn DSVH phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững

ở Việt Nam

Nguyễn Xuân Hồng (2020), Luận án tiến sĩ Quản lý hoạt động tu bổ,

tôn tạo di tích kiến trúc chùa Việt ở Bắc Bộ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội,

2020 Luận án đã nêu lên cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc Chùa Việt nói chung, Chùa Việt ở Bắc Bộ nói riêng; thực trạng công tác quản lý hoạt động tu bổ tôn tạo di tích Chùa Trên cơ sở đó đưa ra đánh giá chung và các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống quản lý hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc Chùa Việt

2.2 Các công trình nghiên cứu về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Bắc Ninh

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Bắc Ninh (2006), Bảo tồn

và phát huy Di sản văn hóa Kinh Bắc, Bắc Ninh Đề tài đã nêu được thực trạng

của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVH (vật thể, phi vật thể) của xứ Kinh Bắc xưa - Bắc Ninh nay Từ đó, cho thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn

và phát huy giá trị DSVH của tỉnh Bắc Ninh và đề ra những giải pháp để thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong thời kỳ đổi mới

Trang 11

Sở VHTTDL tỉnh Bắc Ninh (2007), Khảo sát thực trạng Di sản văn

hóa thời Lý ở tỉnh Bắc Ninh, phục vụ lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà

Nội Đề tài đã khảo sát thực trạng DSVH cũng như thực trạng quản lý DSVH thời Lý ở tỉnh Bắc Ninh, đồng thời nêu ra những ưu điểm và hạn chế trong công tác bảo tồn DSVH thời Lý Từ đó, tiếp tục phát huy những ưu điểm trong hoạt động quản lý và giữ gìn những giá trị DSVH thời Lý; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác bảo tồn

và phát huy giá trị di sản thời Lý

Sở VHTTDL Bắc Ninh (2010), Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá

trị di tích lịch sử, văn hóa với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Đề tài đã nêu ra thực trạng, nguyên nhân và đặc biệt có những giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa gắn với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Từ đó thấy được nghĩa của việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa gắn với hoạt động du lịch đã đem lại giá trị lợi ích phát triển kinh tế cho tỉnh nhà, góp phần xây dựng đô thị hóa trong thời đại CNH - HĐH và hội nhập quốc tế

Nguyễn Văn Phong 2015 , bài báo khoa học Về công tác bảo tồn và

phát huy giá trị di tích tại cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Cục

Di sản văn hóa số 50, Hà Nội Tác giả đã nêu trong công tác bảo tồn và phát

huy giá trị di sản văn hóa, Bắc Ninh đã từng bước thực hiện phân cấp, quy

định rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp và các tổ chức, đơn vị, cá

nhân… có liên quan Theo đó, công tác này của tỉnh, đặc biệt ở cấp cơ sở đã

có những bước chuyển tích cực, cần tiếp tục phát huy trong thời gian tới

Trần Đức Nguyên (2015), Luận án Tiến sĩ Quản lý di tích lịch sử văn

hóa ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, Viện Văn hóa

nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Hà Nội Luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết về quản lý thuyết, tổng quan hệ thống di tích lịch sử, văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh,

Trang 12

thực trạng quản lý di tích lịch sử, văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh để đánh giá những hiệu quả cũng như hạn chế trong việc quản lý các di tích lịch sử, văn hóa Từ

đó Luận án đã nêu ra quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử, văn hóa ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

Hội khoa học lịch sử tỉnh Bắc Ninh (2017), Nghiên cứu hệ thống di tích

danh nhân tỉnh Bắc Ninh - giá trị, vai trò, ý nghĩa và việc bảo tồn, phát huy các di tích danh nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đề tài đã

nghiên cứu hệ thống di tích danh nhân của tỉnh Bắc Ninh và cho thấy giá trị, vai tr , nghĩa và việc bảo tồn, phát huy các di tích danh nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gắn liền văn hóa với phát triển kinh tế, hòa nhập văn hóa chứ không hòa tan trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Nguyễn Hồng Minh - chủ nhiệm đề tài (2019), Báo cáo tổng hợp kết

quả khoa học công nghệ đề tài “Di sản văn hóa tiêu biểu Bắc Ninh – Giá trị, vai trò, ý nghĩa, tiềm năng và việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”,

Bảo tàng Bắc Ninh, Bắc Ninh Đề tài khoa học đã tổng hợp các kết quả đã đạt được trong bảo tồn DSVH của tỉnh Bắc Ninh từ khi tái lập tỉnh đến năm 2019 Trong đó, đã nói được vai trò, giá trị, nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung, di tích lịch sử, văn hóa nói riêng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH Từ đó, nêu ra một số kinh nghiệm và một số giải pháp, nhóm giải pháp trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa ở Bắc Ninh

Những công trình khoa học nghiên cứu về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Bắc Ninh đã hệ thống các di tích trên địa bàn tỉnh, bước đầu nêu lên thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị

di tích lịch sử, văn hóa Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị

di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020; rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu có giá trị khoa học và thực tiễn

3.2 Nhiệm vụ

- Phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

- Phân tích chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Về thời gian: sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và

phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2020

Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo

thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020 của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trên các lĩnh vực: Bảo tồn di tích lịch

sử, văn hóa; phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa

Trang 14

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, của Đảng về văn hóa

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiến hành dựa trên phương pháp nghiên cứu chung của khoa học lịch sử như: phương pháp lịch sử, logic, khảo sát, điền dã… Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê,

so sánh…

Phương pháp lịch sử: hệ thống hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo từng giai đoạn Phương pháp phân tích: phân tích các chủ trương, đường lối của Đảng và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh Phương pháp thống kê: sử dụng để liệt kê, thống kê các số liệu…

5.3 Nguồn tư liệu

Các tác phẩm của C.Mác - Ph.Ăngghen, Hồ Chí Minh; các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các văn kiện của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Ninh có liên quan đến văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa; các chương trình, báo cáo của Sở VHTTDL; các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn…

6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

Nhận xét, đánh giá về quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020 trên

cả hai bình diện ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế

Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ qúa trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020

Trang 15

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,

nội dung luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 16

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH

VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA

1.1.1.1 Vùng đất và con người tỉnh Bắc Ninh

Điều kiện tự nhiên: Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ

nước Việt Nam: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội Theo số liệu thống kê, hiện nay “tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 822,71km2, Năm 2019, dân số Bắc Ninh là 1.368.840 người” [52] Bắc Ninh

có 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: 1 thành phố (Bắc Ninh), 1 thị xã (Từ Sơn và 6 huyện (Gia Bình, Thuận Thành, Lương Tài, Yên Phong, Tiên Du, Quế Võ Nằm ở phía bắc sông Hồng, Bắc Ninh xưa là “phên dậu” phía bắc của kinh đô Thăng Long, nay là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và nằm trên hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Bắc Ninh còn là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh với các tỉnh trong nước và quốc tế, có nhiều lợi thế phát triển kinh tế - thương mại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có vị trí quan trọng về an ninh

quốc phòng

Về địa hình, sông ngòi: Bắc Ninh là tỉnh đồng bằng nhưng xen kẽ là các

đồi thấp có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được

Trang 17

thể hiện qua các dòng chảy bề mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình Trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ng i Tào hê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình Với hệ thống sông này đã đóng vai tr quan trọng trong hệ thống tiêu thoát nước của tỉnh Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh, trong đó có các

hoạt động của đô thị

Về tài nguyên, hoáng sản: Tài nguyên rừng không lớn, chủ yếu là rừng

trồng “Tổng diện tích đất rừng là 661,26 ha phân bố tập trung ở huyện Quế

Võ (317,9 ha) và huyện Tiên Du (254,95 ha) Tổng trữ lượng gỗ ước tính 3.279m³, trong đó rừng phòng hộ 363m³, rừng đặc dụng 2916m³ Bắc Ninh ít tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở huyện Quế Võ và huyện Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thành phố Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở phường Thị Cầu, đá sa thạch ở phường Vũ Ninh

có trữ lượng khoảng 300.000m³ Ngoài ra còn có than bùn ở huyện Yên

Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn” [60]

Điều kiện kinh tế - xã hội: Bắc Ninh là một trọng điểm kinh tế của

đồng bằng sông Hồng và của cả miền Bắc Với vị trí địa lý giáp thủ đô Hà Nội, địa hình đồng bằng bằng phẳng, giao thông thuận lợi, khí hậu thiên nhiên khá ưu đãi, không có nhiều thiên tai, tình hình chính trị ổn định, trình độ dân trí cao tạo điều kiện để kinh tế phát triển mạnh, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng CNH - HĐH, xây dựng Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại

Nông nghiệp phát triển ổn định, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, hiệu quả được nâng cao Công nghiệp tăng trưởng cao, công nghệ ngày càng

Trang 18

hiện đại, công nghiệp hỗ trợ bước đầu hình thành, khu vực làng nghề và các khu công nghiệp tiếp tục phát triển Dịch vụ có bước tiến bộ, bước đầu hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường Đầu tư cho phát triển được đẩy mạnh, góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, công tác quy hoạch được quan tâm, phát triển đô thị theo hướng hiện đại và xây dựng nông thôn mới

Văn hóa và xã hội tiếp tục được phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên Giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư tập trung, quy

mô, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có chuyển biến tích cực Hoạt động văn hóa, thông tin và thể dục - thể thao có bước phát triển Hoạt động y tế, bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ và nhân dân có chuyển biến tiến bộ Khoa học, công nghệ có bước phát triển, quản l tài nguyên và môi trường có tiến

bộ, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, góp phần thiết thực phục vụ sản xuất và đời sống

Như vậy, với điều kiện thuận lợi Bắc Ninh đã thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên là một trong 10 tỉnh thành có nền kinh tế phát triển nhất cả nước

Truyền thống lịch sử và văn hóa: Bắc Ninh là vùng đất có bề dày lịch

sử, văn hiến, yêu nước, cách mạng và được thể hiện ở những đặc điểm nổi bật sau đây:

Bắc Ninh cái nôi của người Việt cổ: Ngay từ buổi bình minh lịch sử,

Bắc Ninh đã là địa bàn sinh cơ lập nghiệp của người Việt cổ, để lại dấu ấn là các di chỉ khảo cổ học thuộc các nền văn hóa từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn, với các di vật là những công cụ sản xuất, đồ gia dụng, vũ khí, đồ trang sức có niên đại từ 2000 - 4000 năm, tiêu biểu là các di chỉ khảo cổ học như: chùa Lái, Thùng Lò (phường Võ Cường); Bãi Tự, Tiêu Sơn thị xã Từ Sơn ; Nội Gầm (huyện Yên Phong); Quả Cảm (thành phố Bắc Ninh); Lãng Ngâm (huyện Gia Bình ; Đại Lai (huyện Gia Bình ; Đại Trạch (huyện Thuận Thành Đặc biệt, khu di tích thành cổ Luy Lâu (huyện Thuận Thành), các

Trang 19

nhà khảo cổ học đã phát hiện là nơi duy nhất có dấu tích khu l đúc trống đồng với hàng trăm mảnh khuôn đúc trống đồng có niên đại thuộc văn hóa Đông Sơn Qua những di chỉ khảo cổ học trên đã minh chứng cho vùng đất Bắc Ninh - Kinh Bắc là “cái nôi” của người Việt cổ

Bắc Ninh vùng đất yêu nước, cách mạng: Đầu thế kỷ XX, nhà yêu nước

Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước và sớm giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ cộng sản quốc tế, đem ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin về soi rọi vào phong trào yêu nước của nhân dân ta Khi ấy, Bắc Ninh là tỉnh sớm có những thanh niên giác ngộ cách mạng và trở thành các chiến sĩ cộng sản như: Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Lê Quang Đạo Những sự kiện, cơ sở, phong trào cách mạng đã được ghi dấu bằng những địa danh, di tích tiêu biểu như: khu di tích lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ ở xã Phù hê; khu di tích lưu niệm gia đình đồng chí Ngô Gia Tự xã Tam Sơn ; chùa Đồng Hương xã Hương Mạc là nơi hoạt động và làm việc của của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thời kỳ hoạt động bí mật (1940 – 1945; đình Long Khám (xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du); đình Đại Thượng xã Đại Đồng, huyện Tiên Du ; đình Liễu Khê (xã Song Liễu, huyện Thuận Thành là nơi nuôi dấu nhiều cán bộ Trung ương Đảng về hoạt động cách mạng và quá trình chiến đấu của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc

Bắc Ninh nổi tiếng là vùng đất “trăm nghề”: Trải qua các triều đại, các

nghề thủ công và giao thương buôn bán nổi tiếng trong nước và ngoài nước, được sử sách ghi lại và dân gian truyền tụng là “đất trăm nghề” như: chợ Dâu (huyện Thuận Thành), chợ Giầu (thị xã Từ Sơn , chợ Nhớn (thành phố Bắc Ninh), chợ Giầu (thị xã Từ Sơn là chợ lớn sầm uất, chợ Lim (huyện Tiên

Du , buôn bán đủ mọi mặt hàng Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có khoảng 140 làng nghề, trong đó có 62 làng nghề thủ công truyền thống, nhiều làng nghề nổi tiếng như: tơ tằm làng Vọng Nguyệt (huyện Yên Phong); nung luyện đồng,

Trang 20

nhôm, gang, chì thôn Mẫn Xá (huyện Yên Phong); gốm gia dụng và mỹ nghệ (huyện Quế Võ); Sản phẩm của một số làng nghề trên không những nổi tiếng trong nước, mà c n có thương hiệu trên thị trường quốc tế

Bắc Ninh - Kinh Bắc “cái nôi” của Nho giáo, án học: Vào đầu Công

nguyên nhà Hán xây lược nước ta đã cho xây dựng thành Luy Lâu (vùng Dâu, huyện Thuận Thành và đóng trụ sở ở đấy Để thống trị và đồng hóa dân tộc nước ta, nhà Hán cho con em quan lại người Hán và người Việt ở đây Đến thời L đã mở trường học dạy Nho giáo mang tính quốc gia, năm 1076 cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường học quốc gia đầu tiên để dạy học cho con em qu tộc triều đình; ngay từ năm t Mão 1075 mở khoa thi Minh Kinh bác học để chọn nhân tài cho đất nước, khoa thi này Lê Văn Thịnh người thôn Bảo Tháp (xã Đông Cứu, huyện Gia Bình) đỗ đầu, nên được dân gian tôn vinh gọi là “Trạng nguyên khai khoa” Thời Trần bắt đầu mở các khoa thi đại khoa để lấy Tam khôi và Tiến sĩ, Nguyễn Quán Quang người thôn Tam Sơn xã Tam Sơn, huyện Yên Phong) đỗ Trạng Nguyên

Bắc Ninh được ca ngợi là “xứ sở” của đình, chùa và lễ hội Bắc Ninh

có những ngôi chùa cổ nhất là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta Vào đầu Công nguyên Phật giáo từ n Độ theo bước chân các nhà tu hành du nhập vào nước ta tại vùng Dâu (Luy Lâu) tạo nên hệ thống chùa Tứ Pháp Từ đây, Phật giáo đã phát triển, lan tỏa đi khắp các vùng miền trong cả nước Vì thế

mà hệ thống chùa tháp ở Bắc Ninh sớm được hình thành và vô cùng phong phú, đa dạng Ở các làng quê, có đình làng thờ Thành Hoàng làng là “nhiên thần” hay “nhân thần” đều có công lao to lớn với nước Do đó, hàng năm dân làng tổ chức lễ hội Ngôi đình làng được coi là biểu tượng của làng xã, là “hồn cốt” của quê hương, đất nước, bởi tất cả tinh hoa về vật chất và tinh thần của cộng đồng làng xã đã được tập trung, kết tinh và phản ánh ở ngôi đình làng

Bắc Ninh - Kinh Bắc còn là cái nôi của văn hóa nghệ thuật dân gian:

Trang 21

Từ lâu đời, Bắc Ninh được ca ngợi là vùng đất của văn hóa nghệ thuật dân gian, trong đó các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian như: tuồng, chèo,

ca trù, trống quân, rối nước…; đặc biệt là quê hương của những làn điệu dân ca Quan họ được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

1.1.1.2 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị giá trị di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Bắc Ninh trước năm 2010

Công tác bảo tồn di tích lịch sử được quan tâm đầu tư bằng cả nguồn vốn ngân sách và xã hội hóa Đã quy hoạch tổng thể về bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH tiêu biểu, xếp hạng trên 400 di tích Trong 5 năm, tu bổ được 138

di tích với tổng số vốn đầu tư của Nhà nước trên 620 tỷ đồng, tôn tạo quần thể

di tích nhà Lý và các công trình tiêu biểu

Nhận rõ giá trị, nghĩa quan trọng của các di tích lịch sử, văn hóa của tỉnh Đảng bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh và các sở, ban, ngành, đoàn thể

và nhân dân luôn chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, văn hóa Đảng bộ tỉnh chỉ đạo UBND, Sở VHTTDL thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, tu bổ di tích, lập hồ sơ trình Bộ VHTTDL công nhận các di tích lịch sử cấp quốc gia, cũng như quyết định công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh

Qua 10 năm thực hiện Luật DSVH 2001 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, chính quyền và nhân dân các cấp ngày càng quan tâm đến công tác bảo tồn, quản lý

và khai thác các giá trị di tích lịch sử, văn hóa Nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, chính quyền thông qua các chủ trương chính sách đúng đắn kịp thời nên đã tạo được sự quan tâm của toàn xã hội đối với việc bảo tồn, quản lý, khai thác các di tích lịch sử, văn hóa Một số vụ xâm hại di tích đã bị

xử l : di tích đền Đô, chùa Dâu, chùa Phật Tích được khai thác tốt, góp phần trong giáo dục truyền thống, nâng cao trách nhiệm công dân đối với di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Bắc Ninh nói riêng và DSVH dân tộc nói chung

Trang 22

Các cấp ủy, chính quyền đã chỉ đạo tốt hoạt động của các lễ hội, hội diễn nghệ thuật quần chúng và chuyên nghiệp Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về văn hóa, ngăn ngừa văn hóa độc hại, chống các hủ tục lạc hậu và

tệ nạn xã hội, tăng cường công tác quản lý, duy tu, trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân Bên cạnh đó, tỉnh cũng

tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, quản lý nhà nước về văn hóa Tăng cường quản lý các di tích, quản lý các hoạt động lễ hội, các dịch vụ văn hóa Chỉ đạo phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, cơ quan văn hóa Công tác quản lý, trùng tu, tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử, văn hóa được quan tâm, góp phần nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, trở thành nét sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống cộng đồng

Bên cạnh đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa còn một số hạn chế Các cơ quan phụ trách đã quan tâm đến các di tích lịch

sử, văn hóa trên địa bàn tuy nhiên c n chưa được thường xuyên, kịp thời Do vậy tình trạng xâm chiếm đất đai di tích, khu vực khoanh vùng, bảo vệ di tích vẫn còn diễn ra Nhiều địa phương có di tích do chưa nhận thức đầy đủ vai

tr , nghĩa của việc bảo tồn, quản l , khai thác di tích nên đã buông lỏng công tác quản lý Xuất hiện các hình thức kinh doanh ở trong và ngoài di tích trái với quy định như chặn xe thu tiền, xây dựng các cơ sở dịch vụ lấn át cảnh quan di tích; tổ chức hoạt động mê tín dị đoan như xem tướng số, bói toán, trừ

ma, bắt tà…

Hoạt động khai thác, kêu gọi công đức, quản lý và sử dụng nguồn công đức chưa tuân theo nguyên tắc tiền thu được ở di tích phải phục vụ cho di tích, chưa đảm bảo nguyên tắc thu, chi theo quy định hiện hành Hoạt động quản lý di tích (của một số địa phương c n mang nặng tính hình thức Tại một số địa phương người trông coi di tích, địa phương tổ chức khuyến thiện,

Trang 23

tự ý sửa chữa tu bổ các hạng mục nhưng không xin phép cơ quan có thẩm quyền làm ảnh hưởng tới các giá trị gốc của di tích

Vì vậy, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh cần có những chủ trương và sự chỉ đạo phù hợp để đẩy mạnh hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa để đạt hiệu quả cao

1.1.1.3 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa

Bước vào thời kỳ phát triển mới trong bối cảnh thế giới đầy biến động, đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức Phát huy cơ hội, khắc phục khó khăn, thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định những quan điểm cơ bản về xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng 2011 đề ra đường lối phát triển văn hóa trong tình hình mới trong đó xác định: Xã hội chúng ta xây dựng có một đặc trưng là có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đại hội nhấn mạnh công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa nhằm:

Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và

nghệ thuật [19]

Trang 24

Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011 Cương lĩnh tiếp tục khẳng định xã hội XHCN ở Việt Nam có một đặc trưng là: “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Cương lĩnh đã đưa ra những định hướng lớn để phát triển văn hóa:

Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hoá Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc [20]

Với quan điểm, định hướng cụ thể này, Đảng đã khẳng định vai trò quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH nói chung, di tích lịch sử, văn hóa nói riêng với phát triển kinh tế đồng bộ, gắn liền với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng, lan tỏa các giá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Đồng thời, Đảng cũng đã nhận thức hơn tầm quan trọng của việc bảo

Trang 25

tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Ngày 06/05/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

581-QĐ/Ttg về việc Phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 cụ thể

đã ghi rõ chiến lược: Bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc là nhiệm vụ then chốt của Chiến lược phát triển văn hóa Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm Kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững

Như vậy, Quyết định số 581-QĐ/Ttg ngày 06/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định rõ nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa và việc gắn kết giữa việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung, di tích lịch sử, văn hóa nói riêng với phát triển kinh tế, du lịch Đó

là cơ sở cho các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân hưởng ứng công tác bảo tồn và phát triển văn hóa đến năm 2020

Ngày 21/09/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 98/2010/NĐ-CP về

việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của Luật DSVH Nghị định này quy định chi tiết việc bảo vệ

và phát huy giá trị DSVH phi vật thể; việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; việc quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; tổ chức và hoạt động của bảo tàng; việc khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân phát hiện và giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Bộ VHTTDL là cơ quan quản lý, chủ trì phối hợp các Bộ, ngành liên quan, UBND tỉnh thực hiện, UBND có trách nhiệm tổ chức thực hiện, triển khai các Nghị định được ban hành

Ngày 05/09/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

Trang 26

1211/QĐ-Ttg về việc Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa

giai đoạn 2012 – 2015 với mục tiêu chung là: nâng cao nhận thức của Đảng,

toàn dân, của các cấp, các ngành, huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia, đóng góp vào sự nghiệp phát triển văn hóa; bảo tồn các DSVH và phục

vụ các nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước

Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012 - 2015 đề ra mục tiêu cụ thể bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH: Hỗ trợ tu bổ, tôn tạo tổng thể cho khoảng 300 di tích, khu di tích được công nhận di tích quốc gia

và di tích quốc gia đặc biệt DTQGĐB quan trọng; hỗ trợ chống xuống cấp,

tu bổ cấp thiết cho 1.200 đến 1.500 di tích quốc gia Hoàn thành công tác tổng kiểm kê giá trị văn hóa phi vật thể trên cả nước và xây dựng bản đồ phân bố giá trị văn hóa phi vật thể; tiến hành 500 dự án sưu tầm bảo tồn lưu giữ văn hóa phi vật thể; đảm bảo việc giới thiệu, quảng bá và phát huy DSVH phi vật thể đã được sưu tầm lưu giữ; hoàn chỉnh hệ thống ngân hàng dữ liệu văn hóa phi vật thể; nghiên cứu lập hồ sơ 5 DSVH phi vật thể tiêu biểu của dân tộc để trình UNESCO công nhận là DSVH thế giới Hỗ trợ phục dựng và đưa 20 lễ hội tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số về với cộng đồng dân cư; hoàn thành các làng bản cổ tiêu biểu để khai thác phục vụ du lịch văn hóa

Bên cạnh đó Chương trình cũng đề ra Dự án Chống xuống cấp, tu bổ và

tôn tạo đi tích với mục tiêu: Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xuống cấp của hệ

thống di tích và nguy cơ mất mát, thất truyền vĩnh viễn DSVH vật thể Nâng cao tính bền vững, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của hệ thống di sản này Tạo ra những sản phẩm đặc thù có giá trị phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp

nhân dân, giáo dục truyền thống và góp phần phát triển du lịch

Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của Dự án:

- Hoàn thành việc lập các quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị các khu di tích đặc biệt quan trọng (theo danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt)

Trang 27

- Tiếp tục đầu tư triển khai các dự án tu bổ DTQGĐB và cấp quốc gia đang đầu tư dở dang trong những năm qua Mỗi năm, đầu tư tu bổ tổng thể cho 60 đến 90 di tích, hỗ trợ chống xuống cấp cho 300 đến 400 di tích Hỗ trợ các bảo tàng tỉnh, thành phố mua từ 10 đến 30 hiện vật mỗi năm để xây dựng sưu tập phù hợp với loại hình và nhiệm vụ của bảo tàng Tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ cho đội ngũ cán bộ, công nhân chuyên ngành làm - công tác tôn tạo, tu bổ di tích Hỗ trợ địa phương tổ chức tập huấn cán bộ quản lý và phát huy giá trị di tích ở cơ sở, tổ chức tham quan, khảo sát, nghiên cứu ở trong và ngoài nước cho các cán bộ làm công tác quản lý của bảo tàng, Ban quản lý di tích

Những quan điểm, chủ trương của Đảng đã chỉ ra phương hướng cơ bản trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản dân tộc trong thời kỳ mới Những chủ trương đó hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự nghiệp bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc Việt Nam có sự chuyển biến tích cực và đã thu được những thành tựu nhất định, góp phần trong việc xây dựng nền tảng tinh thần xã hội

Ngày 09/06/2014, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 33-NQ/TW Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu

cầu phát triển bền vững đất nước Nghị quyết đã nói rõ nhiệm vụ về xây dựng

và phát triển văn hóa trong đó có bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa:

Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy DSVH với phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch

sử, văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy DSVH với phát triển du lịch Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một

Trang 28

Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình

ảnh đất nước và con người Việt Nam [56]

Nghị quyết cho thấy tầm quan trọng của nền văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo

vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đảm bảo một nền văn hóa được bảo tồn, phát huy và lan tỏa nhằm giữ gìn truyền thống dân tộc không bị mai một

Ngày 09/10/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

1831/QĐ-Ttg về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 cụ thể:

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa, chất lượng cao và đặc thù của địa phương - văn hóa inh Bắc Phấn đấu 90% số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, hoàn thành đầu

tư nhà bảo tàng, thư viện tỉnh; đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa các cấp Xây dựng kế hoạch triển khai các dự án bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ Kinh Bắc; nghiên cứu đầu tư Nhà hát dân ca Quan họ Bắc Ninh, sân khấu thực cảnh tại đồi Lim và hạ tầng cho các làng Quan họ; hoàn thành tổng kiểm kê di tích và loại hình DSVH phi vật thể; đề nghị xếp

hạng di tích đạt 40% trên tổng số di tích toàn tỉnh [70]

Quyết định này có nghĩa quan trọng đối với tỉnh Bắc Ninh trong việc đẩy mạnh CNH - HĐH, hội nhập kinh tế gắn liền với xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và từng bước hoàn thành mục tiêu tổng kiểm

kê, xếp hạng di tích trên toàn tỉnh

1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa

Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Đại hội đại biểu tỉnh Bắc

Trang 29

Ninh lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2010 - 2015 xác định rõ mục tiêu về lĩnh vực văn hóa nói chung và bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa nói

riêng như sau: “Bảo tồn và tôn tạo các DSVH vật thể và phi vật thể” [tr.104;

26] Để đạt được mục tiêu đó cần thực hiện nhiệm vụ: Tiếp tục xây dựng nền

văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao chất lượng phong trào

Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phấn đấu 85% số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa; 70% làng, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa; 95% cơ quan, đơn vị công sở văn hóa, đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa cho cơ sở để 100% số đã xây dựng trung tâm văn hóa thể thao; 100% thôn, làng, khu phố xây dựng được nhà văn hóa và khu hoạt động thể thao; hoàn thành quy hoạch 3 công trình văn hóa, thể thao cấp huyện; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc nếp sống văn minh trong tiệc cưới, việc tang, lễ hội Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại - dân ca quan họ Bắc Ninh và ca trù Bồi dưỡng tài năng văn hóa, khuyến khích sáng tạo tác phẩm văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu

có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hóa, báo chí, phát thanh truyền hình, kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương

Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia tài trợ, đầu tư vào các hoạt động đào tạo tài năng nghệ thuật, thể thao Huy động các nguồn lực và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư các thiết chế,

tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, quản lý và bảo vệ di tích,

DSVH [tr 118 – 120; 24]

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII (2010 - 2015), Nghị

Trang 30

quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/06/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm phát huy truyền thống văn hóa của tỉnh Bắc Ninh, Ban Chấp hành Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng Chương trình hành động số 64-CTr/TU, ngày

25/7/2014 về việc Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành

Trung ương Đảng (khóa XI) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Chương trình hành

động nêu rõ mục tiêu: “Bảo tồn và phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa, di tích lịch sử cách mạng, đặc biệt là Dân ca Quan họ Bắc Ninh, hát ca trù và

tranh dân gian Đông Hồ” [27]

Chương trình đã đưa ra một số nhiệm vụ để xây dựng phát triển văn hóa toàn diện:

Tranh thủ mọi nguồn lực, huy động sức mạnh của toàn xã hội đầu tư cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, DSVH tiêu biểu đặc trưng của tỉnh nhà; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với phát triển du lịch theo hướng bền vững, góp phần vào sự ổn định chính trị -

xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân, cộng đồng tích cực tham gia vào các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị của các loại hình DSVH; quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện để cộng đồng, nhân dân chủ động làm chủ việc bảo tồn, giữ gìn và lưu truyền các DSVH Tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; các dự án, đề án bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, trong đó chú trọng đến các di sản đã được UNESCO vinh danh, các di tích cấp Quốc gia đặc biệt, các nhóm Bảo vật quốc gia, các di tích lịch sử cách mạng Đầu tư hoàn hiện cơ bản hệ thống các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở; củng cố và tăng cường hiệu quả khai thác một số thiết chế văn hóa, công trình văn hóa công cộng trọng điểm của

Trang 31

tỉnh như: bảo tàng tỉnh, khu di tích lăng và đền thờ inh Dương Vương, tượng đài L Thái Tổ, khu lưu niệm và công viên Nguyễn Văn

Cừ, không gian văn hóa quan họ [27]

Bên cạnh đó, Chương trình c n đưa ra một số giải pháp nhằm tập trung bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa vật thể và phi vật thể, văn hóa dân gian, lễ hội tiêu biểu

Xây dựng cơ chế, chính sách khen thưởng thỏa đáng để động viên các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Đẩy mạnh việc xã hội hóa văn hóa, huy động các nguồn lực đầu tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển văn hóa, xây dựng con người; xây dựng cơ chế, chính sách về xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp các nguồn lực cho hoạt động văn hóa, xây dựng các công trình văn hóa Ưu tiên đầu

tư xây dựng, nâng cấp một số công trình văn hóa, thiết chế văn hóa trọng điểm, các dự án tu bổ, tôn tạo một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của tỉnh; hoàn thiện việc đầu tư trụ sở làm việc một số đơn vị hoạt động sự nghiệp văn hóa như: Ban quản lý di tích tỉnh, Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh, Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh Dự án đầu tư tu

bổ, tôn tạo các di tích lịch sử tiêu biểu như: lăng và đền thờ Kinh Dương Vương huyện Thuận Thành), chùa Dâu (huyện Thuận Thành), chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành , đền thờ và lăng Cao Lỗ Vương (huyện Gia Bình), chùa Dạm (thành phố Bắc Ninh), thành cổ Luy Lâu (huyện Thuận Thành); khu lăng Sơn Cấm Địa nhà Lý (thị xã Từ Sơn , chiến tuyến Như Nguyệt (huyện Yên Phong), thành cổ Bắc Ninh (thành

phố Bắc Ninh , Văn miếu Bắc Ninh (thành phố Bắc Ninh) [27]

Tóm lại, chủ trương về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa của tỉnh Bắc Ninh nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của cấp ủy Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc tôn tạo, tu bổ các di tích lịch sử, văn hóa có trọng tâm, trọng điểm Đặc biệt, coi trọng việc đẩy mạnh “xã hội

Trang 32

hóa” trong hoạt động bảo tồn di tích và có sự kết hợp phát hài hòa giữa phát triển kinh tế, du lịch, khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có của địa phương tạo bước phát triển kinh tế - xã hội bền vững, từng bước đạt được các mục tiêu dần đưa tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022

1.2 Sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa

Thực hiện Nghị quyết đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 và các văn bản chỉ đạo về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, di tích lịch sử, văn hóa, ngành văn hóa và các cấp, các ngành có liên quan cùng với cộng đồng nhân dân các địa phương trong tỉnh

đã tổ chức thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa như sau:

1.2.1 Bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa

1.2.1.1 Phân cấp quản lý Nhà nước về di tích

Thực hiện Luật DSVH năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009 và các văn bản hướng dẫn dưới Luật, Sở VHTTDL Bắc Ninh đã tham mưu với UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường công tác quản l Nhà nước về di tích lịch sử, văn hóa Năm 2014, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định

242/2014/QĐ-UBND ngày 11/6/2014 về việc Quy định về quản lý di tích, di

vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Quyết định này thay

thế cho Quyết định 143/2008/QĐ/UBND Theo đó về mặt phân cấp thẩm

quyền quản lý di tích có sự thay đổi: Đối với DTQGĐB, di tích quốc gia tiêu

biểu, di tích lịch sử cách mạng do Sở VHTTDL quản l Đối với di tích Quốc gia do UBND huyện, thị xã, thành phố quản l Đối với di tích cấp tỉnh và di tích trong Danh mục kiểm kê do UBND xã, phường, thị trấn quản lý Quyết định này đã huy động được cả hệ thống chính trị của địa phương trực tiếp tham gia vào việc quản lý di tích về mọi mặt như: quản lý về đất đai, kiến trúc

Trang 33

điêu khắc, tài liệu cổ vật, hoạt động tâm linh tín ngưỡng, tôn giáo) và lễ hội tại di tích Đặc biệt, Ban Quản lý di tích tại địa phương làm khá tốt trong công tác tuyên truyền, vận động, thu hút nguồn kinh phí “xã hội hóa” trong các tầng lớp nhân dân để trùng tu tôn tạo di tích với hàng ngàn tỉ đồng

Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định chế độ thù lao đối với người trông coi, bảo vệ di tích lịch sử

cách mạng xếp hạng Quốc gia và di tích lịch sử, văn hóa Văn Miếu trên địa bàn tỉnh Quyết định này thể hiện sự quan tâm của tỉnh đến vấn đề chế độ thù

lao đối với người trông coi, bảo vệ di tích Nguồn kinh phí thực hiện các chế

độ thù lao đối với người trông coi, bảo vệ di tích lịch sử cách mạng xếp hạng quốc gia và di tích lịch sử, văn hóa Văn Miếu Bắc Ninh trên địa bàn tỉnh do ngân sách nhà nước tỉnh cấp, được bố trí trong dự toán ngân sách chi sự nghiệp văn hóa hàng năm của Sở VHTTDL theo quy định hiện hành của Nhà nước Các cá nhân có thành tích trong việc trông coi, bảo vệ di tích lịch sử cách mạng xếp hạng Quốc gia và di tích lịch sử, văn hóa Văn Miếu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo quy định của Luật DSVH và Quy định này thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó nếu người trông coi vi phạm sẽ bị xử l theo theo quy định của pháp luật

Thông qua sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và sự tham mưu của UBND, Sở VHTTDL bằng những văn bản quy phạm pháp luật đã thấy được sự quan tâm to lớn của tỉnh đối với việc bảo tồn DSVH nói chung,

di tích lịch sử, văn hóa nói riêng

1.2.1.2 Công tác kiểm kê, thống kê, xếp hạng di tích

Thực hiện Luật DSVH và các văn bản hướng dẫn dưới luật về công tác kiểm kê, từ năm 2010 đến năm 2015 Sở VHTTDL Bắc Ninh đã tổ chức đợt tổng kiểm kê, thống kê di tích tại 126 xã, phường, thị trấn của 08 huyện, thị

xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và đạt được kết quả như sau: “Toàn

Trang 34

tỉnh có 1.259 di tích, trong đó có 428 di tích được xếp hạng Quốc gia và cấp tỉnh Một số di tích tiêu biểu có tiềm năng thu hút khách du lịch tập trung ở các huyện

Thuận Thành, huyện Tiên Du, huyện Gia Bình, thành phố Bắc Ninh” [58]

Để làm tốt công tác bảo tồn các di tích lịch sử, văn hoá, tỉnh đã tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo cho cán bộ ngành văn hoá nhằm phổ biến nội dung

của Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL Quy định về nội dung hồ sơ hoa

học để xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; đánh giá

thực trạng các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo và công tác quản lý tôn giáo hiện nay; các văn bản Nhà nước và quy định cụ thể về công tác kiểm kê DSVH phi vật thể cũng như một số kinh nghiệm về công tác quản lý, bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử ở một số địa phương

Về xếp hạng di tích “Tính đến năm 2015, tỉnh Bắc Ninh có khoảng

1500 di tích Trong đó có 4 di tích được xếp hạng DTQGĐB và cũng đang lưu giữ 5 nhóm bảo vật quốc gia Đây cũng là tỉnh giàu truyền thống văn hóa,

địa linh nhân kiệt” [61] Năm 2015, tỉnh Bắc Ninh đón nhận Bằng công nhận

DTQGĐB đối với khu lăng mộ, đền thờ các vị vua triều Lý (thị xã Từ Sơn và

di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật chùa Phật Tích (huyện Tiên Du)

Cùng với việc thống kê, kiểm kê các di tích lịch sử, tỉnh Bắc Ninh còn quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hoá và di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cho các đình làng và nhà thờ dòng họ tại các địa phương trong tỉnh nhằm bảo tồn, quản lý, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá lâu đời theo Luật DSVH Việc xếp hạng di tích lịch sử văn hoá đối với các đình làng nhằm nâng cao hơn nữa ý thức của người dân trong công tác bảo vệ, gìn giữ di tích

1.2.1.3 Công tác quy hoạch trùng tu, tôn tạo di tích

Trong những năm 2010 - 2015, nhiều văn bản luật và hướng dẫn dưới luật được ban hành có hiệu quả, góp phần định hướng trong công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích phát huy hệ thống di tích trên toàn quốc, trong đó có tỉnh Bắc Ninh

Trang 35

Quy định tại Nghị định 70/2012/NĐ-CP, ngày 18/9/2012 của Chính phủ ghi rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích và quy hoạch di tích phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Giữ gìn tối đa các yếu tố cấu thành gốc tích

- Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hướng cấu thành di tích

- Công bố công khai quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phương có di tích

- Di tích được kiểm kê, phân loại, chưa được xếp hạng thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định như di tích xếp hạng cấp tỉnh

Nhận thức rõ được tầm quan trọng, vai trò của việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa trong đời sống sinh hoạt, tinh thần của nhân dân, tiềm năng hoạt động phát triển kinh tế, du lịch, văn hóa, xã hội Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Bắc Ninh đã lãnh chỉ đạo ngành văn hóa, chính quyền và cộng đồng nhân dân các địa phương quan tâm lớn trong việc bảo tồn và phát huy di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có công tác quy hoạch trùng tu tôn tạo di tích Năm 2010, UBND tỉnh ra Quyết định số 05/2010/QĐ-

UBND, ngày 15/1/2010 về việc Phê duyệt kế hoạch tu bổ di tích lịch sử, văn

hóa tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2015 với mục tiêu: Tiếp tục triển khai có

hiệu quả “Luật Di sản văn hóa” của Nhà nước và quy hoạch tổng thể bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm

2020 của Bộ VHTTDL nhằm bảo tồn lâu dài các di tích; khắc phục những tồn

tại, yếu kém trong quá trình thực hiện giai đọan 2006 - 2010, thực hiện việc tu

bổ di tích theo đúng mục tiêu, kế hoạch giai đoạn 2010 - 2015, phục vụ những ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn của đất nước và quê hương Bắc Ninh; chuẩn bị những điều kiện để tiếp tục triển khai kế hoạch tu bổ di tích trong các giai đoạn tiếp theo (2016 - 2020) Quyết định cũng thể hiện rõ triển khai thực hiện

Trang 36

tu bổ các di tích cách mạng có giá trị tiêu biểu, di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu thời Lý, di tích lịch sử văn hóa và du lịch tiêu biểu khác, di tích tiêu biểu thuộc văn hóa quan họ Tỉnh cũng hỗ trợ cấp thiết đối với các di tích mỗi năm khoảng 15 - 20 di tích

Bên cạnh nguồn đầu tư kinh phí của tỉnh, Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, UBND, các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân cũng kêu gọi nguồn kinh phí “xã hội hóa” để trùng tu tôn tạo di tích với hàng ngàn tỷ đồng

Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trong năm

2012, tôn tạo khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ tại xã Phù Khê, thị

xã Từ Sơn với tổng đầu tư hàng trăm tỷ đồng Sở VHTTDL tỉnh Bắc Ninh cũng đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam và Hội Phật giáo tỉnh Bắc Ninh tổ chức lễ khởi công khai quật khảo cổ khu di tích chùa Dạm phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh) trên tổng diện tích 300m2

Tỉnh Bắc Ninh còn

ra quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng tôn tạo khu di tích đền Đô và sông Tiêu Tương phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn , theo hình thức hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao) có tổng mức đầu tư hơn 634 tỷ đồng

Đặc biệt UBND tỉnh Bắc Ninh đã chủ động cân đối ngân sách tập trung trùng tu tôn tạo các di tích trọng điểm, tiêu biểu như:

Ngày 28/2/2013, UBND tỉnh Bắc Ninh có Quyết định số 237/QĐ

-UBND về việc Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng bảo tồn, tôn tạo và

phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với tổng mức đầu tư là 43,305 tỷ đồng Ngày

31/10/2013, UBND tỉnh Bắc Ninh có Quyết định số 1234b/QĐ-UBND

về việc Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình tu bổ tôn tạo khu di

tích lịch sử và du lịch văn hóa Cao Lỗ Vương với mức kinh phí đầu tư là

42,091 tỷ đồng, trong đó nguồn ngân sách Trung ương là 21 tỷ đồng, ngân sách của tỉnh và nguồn vốn khác là 21,091 tỷ đồng Ngày

Trang 37

17/1/2014, UBND tỉnh Bắc Ninh tiếp tục có Quyết định số 51/QĐ -

UBND về việc Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình tu bổ tôn

tạo di tích lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, xã Đại Đồng Thành,

huyện Thuận Thành với tổng mức đầu tư là 168,680 tỷ đồng

Ngày 29/10/2015, UBND tỉnh Bắc Ninh có Quyết định số

1266/QĐ-UBND về việc Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng khu đền thờ Lý Thường

Kiệt tại xã Tam Giang, huyện Yên Phong với kinh phí 254.330.445.000

đồng; nguồn vốn đầu tư là ngân sách huyện, ngân sách tỉnh hỗ trợ và huy động từ các nhà tài trợ, hảo tâm (xã hội hóa), thời gian thực hiện năm 2016 - 2020 Ngày 30/11/2015, UBND tỉnh Bắc Ninh có Quyết định số 1470/QĐ – UBND về việc phê duyệt đầu tư xây dựng mới chùa Dạm (phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh) với tổng mức đầu tư là

số nhà lưu niệm, bảo tàng, nhà truyền thống để bảo vệ hiện vật gắn liền với các di tích lịch sử, văn hóa Các hiện vật được lưu giữ là nguồn tài liệu, hiện vật quý phục vụ nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của mọi đối tượng công chúng, góp phần nâng cao đời sống văn hóa nhân dân Công tác bảo vệ tài liệu, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tại di tích, bảo tàng được phân loại theo niên đại (thời Lý, Trần, Lê Trung hưng, Nguyễn, )

và bảo quản theo chất liệu (gốm, sứ, nhôm, sắt, )

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về di tích, đặc biệt là bảo vệ, phòng chống trộm cắp tài liệu, cổ vật và cháy nổ tại các di tích, bảo tàng các

Trang 38

địa phương, Ban quản l di tích địa phương đã tiến hành lắp đặt hệ thống camera giám sát và hệ thống cảnh báo chuyển động tại các di tích; phối kết hợp với công an địa phương chủ động nắm tình hình an ninh về di tích, đặc biệt có phương án bảo vệ cổ vật, bảo vật quốc gia, đồ thờ có giá trị tại các di tích lịch sử, đền, chùa… trên địa bàn quản lý của địa phương

Tuy nhiên, vẫn còn những yếu kém trong công tác quản lý Kết quả điều tra khảo sát những năm 2010 - 2015 có những di tích sau bị mất trộm cổ vật và hòm tiền công đức cụ thể như sau:

Năm 2013, huyện Yên Phong có đình Phù Lưu, xã Trung Nghĩa mất chóe gốm thời Lê; năm 2014, huyện Tiên Du có xã Cảnh Hưng mất 01 đỉnh đồng; đình Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong mất cửa võng Đó c n là một số di tích cấp tỉnh hoặc chưa xếp hạng khác mất trộm cổ vật điển hình như: chùa Hưng Sơn thôn Viêm Xá phường Hòa Long, thành phố Bắc Ninh) trong quá trình trùng tu tôn tạo chùa,

để kẻ gian lợi dụng đánh cả ô tô vào lấy gần như bộ các pho tượng

Phật cổ của chùa có niên đại thế kỷ XVII – XVIII [31]

Nhìn chung công tác bảo vệ tài liệu, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tại

di tích, bảo tàng còn hạn chế trong giai đoạn này: diện tích để bảo vật còn nhỏ, nhiều vật chuyên dụng không có tủ bảo quản, cán bộ trông coi quản lý còn yếu chuyên môn, chưa nắm được cách thức, quy trình bảo quản các di vật tại di tích

1.2.1.5 Công tác giới thiệu, thuyết minh, tuyên truyền quảng bá về di tích

Công tác giới thiệu, thuyết minh, tuyên truyền giá trị di tích trong những năm từ 2010 đến năm 2015 phần lớn các di tích đều đang thiếu vắng đội ngũ hướng dẫn viên Công tác thuyết minh, giới thiệu, tuyên truyền quảng

bá về di tích chưa thực sự tốt, ít cập nhật hình ảnh Bắc Ninh trên các trang thông tin điện tử Chưa đáp ứng được nhu cầu của đông đảo khách tham quan,

Trang 39

du lịch trong nước và quốc tế; lực lượng thuyết minh viên còn mỏng và vẫn chỉ là “thuộc bài” thuyết minh về di tích đó; hạn chế về ngoại ngữ; hạn chế nhiều về kiến thức các lĩnh vực khác có liên quan và chuyên môn nghiệp vụ Thuyết minh viên hướng dẫn, giới thiệu cho khách chủ yếu dựa vào kiến thức

và kinh nghiệm tích lũy qua quá trình làm việc tại di tích

Nhìn chung, giai đoạn này công tác thuyết minh, quảng bá về di tích còn hạn chế, chưa thực sự phát huy hết hiệu quả để tuyên truyển, quảng bá về

di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Bắc Ninh

1.2.2 Phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa

1.2.2.1 Giá trị văn hóa

Các di tích lịch sử, văn hóa đã góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia nói chung và hình ảnh tỉnh Bắc Ninh nói riêng Các di tích

có kiến trúc nghệ thuật độc đáo, để lại những dấu ấn đặc sắc về thẩm mỹ không nơi nào có được, nổi bật như một vài di tích sau:

Với kiến trúc nghệ thuật độc đáo, năm 2013, chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành được Nhà nước xếp hạng là DTQGĐB Đây là một trong ít ngôi chùa cổ có quy mô kiến trúc lớn, độc đáo ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ được bảo tồn khá nguyên vẹn đến ngày nay Chùa được khởi dựng từ thời Trần Thánh Tông (1258 - 1278), được trùng tu tôn tạo lớn dưới thời Lê Chùa

có hệ thống tượng Phật đồ sộ đạt tới giá trị nghệ thuật cao như: bộ tượng tam thế, tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn Hệ thống các mảng chạm khắc trên chùa rất đẹp và độc đáo được thể hiện trang trí ở hầu khắp các công trình kiến trúc, trên các đồ thờ tự, đặc biệt là các mảng chạm khắc trên t a “Cửu phẩm liên hoa” bằng gỗ gồm 9 tầng rất đặc sắc Chốn danh lam cổ tự Bút Tháp ngày nay đang là điểm đến thường xuyên của đông đảo du khách trong nước và quốc tế, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử văn hóa của vùng quê văn hiến Kinh Bắc Năm 2013, chùa Bút Tháp được Nhà nước xếp hạng là DTQGĐB

Trang 40

Chùa Phật Tích (huyện Tiên Du) Đây là ngôi cổ tự có kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc độc đáo Vào triều đại nhà Lý, nhà Trần, chùa Phật Tích là trung tâm Phật giáo lớn của cả nước, là nơi đào tạo nhiều hiền tài cho Đại Việt Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, với những giá trị c n lưu giữ được đến ngày nay, chùa Phật tích không chỉ vinh dự được Nhà nước công nhận là DTQGĐB năm 2014, mà c n là nơi lưu giữ 2 bảo vật quốc gia có một không hai trong cả nước là: đại tượng Phật A Di và hàng tượng 10 linh thú trước cửa tam quan

Năm 2013, chùa Dâu (huyện Thuận Thành) được công nhận là DTQGĐB Chùa Dâu được khởi dựng vào những năm đầu công nguyên là trung tâm Phật giáo lớn, cổ xưa nhất của Việt Nam, mang trong mình nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nổi bật sân chùa có tháp Hòa Phong 3 tầng cao khoảng 17m Trong tháp có chuông lớn đúc dưới triều Cảnh Thịnh năm 1793), khánh lớn bằng đồng đúc năm Minh Mạng thứ 18 Ngoài ra, còn có tượng Bà Pháo vàng, tượng im Đồng và Ngọc Nữ Chùa Dâu và hệ thống các chùa thờ Tứ Pháp (Pháp Vân - nữ thần Mây, Pháp Vũ - nữ thần Mưa, Pháp Lôi - nữ thần Sấm, Pháp Điện - nữ thần Chớp) gắn với huyền tích Phật mẫu Man Nương là kết tinh của sự dung hội giữa Phật giáo n Độ du nhập vào nước ta với tín ngưỡng bản địa của người Việt cổ, tạo nên một trung tâm tín ngưỡng tôn giáo mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam

Với kiến trúc nghệ thuật độc đáo của di tích, tỉnh Bắc Ninh đã thu hút hàng nghìn du khách về tìm hiểu văn hóa tỉnh Bắc Ninh, đem lại giá trị kinh

tế cao để Bắc Ninh dần hoàn thành các mục tiêu để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước Phát triển kinh tế gắn với nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và giữ được nét đẹp truyền

thống quê hương inh Bắc

Bên cạnh kiến trúc độc đáo và đặc sắc của các di tích lịch sử, văn hóa,

Ngày đăng: 11/11/2021, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo tàng Bắc Ninh (2016), Đình làng Bắc Ninh - giá trị lịch sử, văn hóa và vai trò của đình làng trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình làng Bắc Ninh - giá trị lịch sử, văn hóa và vai trò của đình làng trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Tác giả: Bảo tàng Bắc Ninh
Năm: 2016
5. Đặng Thành Dương 2018 , Luận văn Thạc sĩ Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa (2005 - 2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa (2005 - 2015)
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành TW khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, dangcongsan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành TW khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 60, 2001, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 60, 2001
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 61, 2002, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 61, 2002
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 62, 2003, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 62, 2003
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 63, 2004, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 63, 2004
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 64, 2005, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 64, 2005
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 65, 2006, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 65, 2006
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 66, 2007, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 66, 2007
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 67, 2008, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 67, 2008
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 68, 2009, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 68, 2009
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện Đảng toàn tập, tập 69, 2010, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đảng toàn tập, tập 69, 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn iện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn iện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn iện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), website dangcongsan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn iện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), tập 13 (1961 – 1963), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập (2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
23. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2001), Văn iện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn iện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Bảng đánh giá hiện trạng các bảo vật quốc gia [tr. 49- 52; 31] - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Bảng 2 Bảng đánh giá hiện trạng các bảo vật quốc gia [tr. 49- 52; 31] (Trang 122)
Bảng 3: Bảng đánh giá hiện trạng các di vật, cổ vật độc đáo [tr. 49 – 52; 31] - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Bảng 3 Bảng đánh giá hiện trạng các di vật, cổ vật độc đáo [tr. 49 – 52; 31] (Trang 123)
HÌNH ẢNH - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
HÌNH ẢNH (Trang 126)
Hình 1: bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 1 bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh (Trang 126)
Hình 4: Chùa Dâu – DTQGĐB - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 4 Chùa Dâu – DTQGĐB (Trang 127)
Hình 3: Chùa Phật Tích – DTQGĐB - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 3 Chùa Phật Tích – DTQGĐB (Trang 127)
Hình 5: Đền Đô – DTQGĐB - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 5 Đền Đô – DTQGĐB (Trang 128)
Hình 7: Đền thờ Vua Bà – Thủy tổ dân ca quan họ  Đền Cùng – Giếng Ngọc) - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 7 Đền thờ Vua Bà – Thủy tổ dân ca quan họ Đền Cùng – Giếng Ngọc) (Trang 129)
Hình 8: Hát quan họ tại di tích Đền thờ Vua Bà – Thủy tổ dân ca quan họ - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 8 Hát quan họ tại di tích Đền thờ Vua Bà – Thủy tổ dân ca quan họ (Trang 129)
Hình 9: bánh phu thê - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 9 bánh phu thê (Trang 130)
Hình 10: bánh khúc - Đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2010 đến năm 2020
Hình 10 bánh khúc (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w