HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN VŨ THỊ HƯƠNG THẢO TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THỊ HƯƠNG THẢO
TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THỊ HƯƠNG THẢO
TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
Ngành : Báo chí học Chuyên ngành : Phát thanh Truyền hình
Mã số : 8.32.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TRƯỜNG
HÀ NỘI – 2020
Trang 3luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Văn Trường Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố trong và ngoài nước Các số liệu, kết quả công bố trong luận văn là chính xác và trung thực Nếu sai, tôi xin chịu trach nhiệm trước pháp luật
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hương Thảo
Trang 5Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Học viện Báo chí và tuyên truyền đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp nhiều kiến thức để bản thân nâng cao trình độ nghiệp vụ về báo chí nhất là Truyền hình trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Trường đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân trọng cảm ơn lãnh đạo, đồng nghiệp các cơ quan Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, Nam Định và Hưng Yên, cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tôi trong suốt khóa học
và thời gian nghiên cứu luận văn
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hương Thảo
Trang 6- GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
- GD&PT : Giáo dục và Phát triển
Trang 7DANH MỤC ẢNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ
ẢNH
Ảnh 2.1 Người dẫn – Biên tập viên Hải Yến của Đài PT-TH Hải Phòng
(chương trình GD&ĐT ngày 09/10/2019) 66Ảnh 2.2 Người dẫn – Biên tập viên Thu Huyền của Đài PT-TH Nam Định
(Chương trình GD&PT ngày 09/11/2019) 67Ảnh 2.3 Người dẫn – Biên tập viên Xuân Hùng của Đài PT-TH Hưng Yên
(Chuyên mục GD&ĐT ngày 03/09/2020) 67Ảnh 2.4 Mục Mách bạn “Chia sẻ cách chi tiêu khi lên đại học” trong chương
trình GD&ĐT ngày 04/09/2019 của Đài PT-TH Hải Phòng 70
BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lượng các nội dung truyền thông về giáo dục tại 3 Đài
PT-TH: Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định 42
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các nhóm nội dung thông tin trong 3 chương trình, chuyên mục
của 3 đài khảo sát 43Biểu đồ 2.2: Nội dung thông tin trong chương trình GD&ĐT của Đài PT-TH Hải
Phòng 43Biểu đồ 2.3: Nội dung thông tin trong chuyên mục GD&ĐT của Đài PT-TH
Hưng Yên 44Biểu đồ 2.4: Nội dung thông tin trong chương trình GD&PT của Đài PT-TH
Nam Định 44
Trang 8MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ 11
TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC TRÊN TRUYỀN HÌNH 11
1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài 11
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về truyền thông về giáo dục 20
1.3 Đặc điểm, vai trò của truyền hình trong truyền thông về giáo dục 23
Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY 33
2.1 Khái quát về các đài phát thanh truyền hình trong diện khảo sát 33
2.2 Thực trạng nội dung truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình của các đài trong diện khảo sát 41
2.3 Thực trạng hình thức, kết cấu các chương trình truyền thông về giáo dục 62
2.4 Thành công, hạn chế trong truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình 75
Chương 3: GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY 92
3.1 Những vấn đề đặt ra trong truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình của các đài PT-TH vùng Đồng bằng sông Hồng 92
3.2 Các giải pháp khoa học 94
3.3 Một số khuyến nghị khoa học 110
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 121
TÓM TẮT LUẬN VĂN 154
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, giáo dục là lĩnh vực luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt coi trọng, được coi là “quốc sách hàng đầu” Giáo dục đóng vai trò là chìa khoá, nhân tố thúc đẩy nền kinh tế phát triển Giáo dục không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản xuất vật chất mà còn là
cơ sở để tạo ra giá trị tinh thần của quốc gia, xây dựng ý thức pháp quyền và ý thức đạo đức, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần quan trọng vào việc hình thành lối sống, nhân cách của toàn xã hội Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 Khoá
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Phát triển giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [52] Với ý nghĩa và
tầm quan trọng như vậy, nên những thông tin liên quan đến giáo dục luôn được đông đảo công chúng trong cả nước hết sức quan tâm
Trong các loại hình báo chí, truyền hình có vai trò hết sức quan trọng, bởi đây là phương tiện truyền thông về giáo dục có tính phổ dụng đối với đời sống xã hội và con người Việt Nam Truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình ở các đài PT-TH địa phương là một mắt xích quan trọng trong việc tuyên truyền những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục tới công chúng một cách cụ thể, nhanh chóng và thiết thực Truyền thông
về giáo dục trên sóng truyền hình của các đài PT-TH địa phương hiện nay chiếm thời lượng nhiều nhất là các chương trình chuyên đề Các chương trình này thường có thời lượng dài, vì vậy để truyền thông đạt hiệu quả cần có những nội dung hay, cách làm mới để hấp dẫn người xem
Trang 10Ở phía Bắc, ĐBSH là khu vực có dân số đông, nguồn nhân lực lớn, trình độ dân trí cao, là nơi tập trung đông đảo đội ngũ trí thức giỏi, nhân dân
có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo Đây cũng là khu vực tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, các trường phổ thông nhiều nhất cả nước 100% số tỉnh, thành phố đã hoàn thành phổ cập tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi quy định Thực tế cho thấy, vùng ĐBSH là nơi có nguồn nhân lực dồi dào về cả số lượng và chất lượng, cống hiến nhiều nhân tài cho đất nước Chính vì thế, giáo dục luôn là chủ đề nhận được sự quan tâm rất lớn của nhân dân và công chúng xem truyền hình Tuy vậy, truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình tại khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế, chương trình chưa có sự hấp dẫn về nội dung, tươi mới về hình thức để thu hút người xem
Xuất phát từ thực trạng trên, học viên quyết định lựa chọn đề tài:
Truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình của các đài phát thanh – truyền hình vùng Đồng bằng Sông Hồng hiện nay để nghiên cứu trong khuôn
khổ của một luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về báo chí truyền thông
- Cuốn Báo chí và dư luận xã hội (2011), của PGS,TS Nguyễn Văn
Dững NXB Lao động, đã cung cấp nhiều lý luận rút ra từ thực tiễn đời sống báo chí đương đại, thời kỳ hội nhập trong khoảng 10 năm trở lại đây Công trình nghiên cứu phân tích, lý giải 4 vấn đề khá cơ bản về báo chí và dư luận
xã hội: Bản chất dư luận xã hội; Bản chất hoạt động báo chí; Mối quan hệ tác động của báo chí và dư luận xã hội; Nhà báo và dư luận xã hội
- Cơ sở lý luận báo chí, (2012), của PGS,TS Nguyễn Văn Dững NXB
Lao động, đã cung cấp những kiến thức và hệ thống các khái niệm cơ bản của
lý luận báo chí, cũng như khái niệm và đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động của báo chí Ngoài các vấn đề lý luận, tác giả còn đề cập đến kỹ 4 năng của nhà báo, ở đó, kỹ năng là khả năng vận dụng những vấn đề lý thuyết vào quá
Trang 11trình tác nghiệp là những thao tác nghề nghiệp trong quá trình thu thập và xử
lý thông tin Đối với nhà báo, kỹ năng là những hành vi, thao tác nghiệp vụ hằng ngày, từ việc nắm bắt tình hình chung và cụ thể trong lĩnh vực được phân công theo dõi, phát hiện và tiếp cận nguồn tin, giao tiếp, khai thác thông tin – dữ liệu để viết bài và theo dõi thông tin phản hồi từ dư luận xã hội
- Giáo trình Lao động nhà báo, (2016), của TS Lê Thị Nhã NXB
LLCT, cung cấp những kiến thức cơ bản về hoạt động báo chí, những người tham gia vào hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí, và một số vấn đề liên quan đến đạo đức nhà báo Đặc biệt, tác giả đã làm rõ rình bày khái niệm, đặc điểm lao động nhà báo Tổ chức lao động trong cơ quan báo chí Lao động nhà báo trong quy trình sáng tạo và sản xuất tác phẩm báo chí Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của nhà báo
- Tác phẩm Báo chí truyền hình (Giáo trình nội bộ), (2017), Khoa Phát thanh – Truyền hình Nội dung giáo trình gồm 3 chương: Chương 1: Tổng
quan về báo chí truyền hình; Chương 2: Quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí truyền hình; Chương 3: Kỹ năng sáng tạo tác phẩm báo chí truyền hình
- Giáo trình báo chí truyền hình, (2011), PGS,TS Dương Xuân Sơn,
NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Trình bày những vấn đề chung về truyền hình, lịch sử ra đời và phát triển của truyền hình, chức năng của báo chí truyền hình, nguyên lí truyền hình, chức năng xã hội của truyền hình; kịch bản và kịch bản truyền hình, quy trình sản xuất chương trình; các thể loại báo chí truyền hình và các thuật ngữ
- Đề tài khoa học cấp cơ sở: Cơ sở lý luận báo chí truyền hình, (1997),
Phó TS Trần Đăng Tuấn, Trần Bảo Khánh, nội dung đề tài gồm 6 chương: Chương 1: Truyền hình trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng; Chương 2: Đặc trưng của vô tuyến truyền hình; Chương 3: Đặc điểm của các thể loại báo chí truyền hình; Chương IV: Quy trình sản xuất chương trình truyền hình; Chương V: Chương trình truyền hình; Chương VI: Phóng viên
Trang 12truyền hình Qua tác phẩm giúp người đọc hiểu sâu về lý thuyết liên quan đến luận văn
- Luận văn thạc sĩ “Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện” (2018) của Bùi Thị Bích Hường,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn khảo sát các chương trình truyền hình chuyên đề tại Trung tâm Phim Tài liệu và Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây), qua đó đề xuất giải pháp khắc phục và đổi mới cách thức sản xuất, nội dung và hình thức thể hiện
và các giải pháp cơ bản để người làm truyền hình tham khảo và thực hiện các chương trình truyền hình chuyên đề đạt kết quả cao
- Luận văn thạc sĩ “Đổi mới nội dung chương trình chuyên đề trong tiến trình số hóa Đài Phát thanh –Truyền hình Hải Phòng hiện nay” (2015), của Đặng Thị Lương Hồng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn hệ
thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến chương trình chuyên đề truyền hình; khái quát về Đề án số hóa và lộ trình số hóa của các đài phát thanh- truyền hình địa phương ở Việt Nam nói chung và ở Đài PT-TH Hải Phòng nói riêng; khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình chuyên đề của Đài PT-TH Hải Phòng; đề xuất giải pháp đổi mới nội dung chương trình chuyên đề và nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề trong bối cảnh số hóa truyền hình của Đài Luận văn là một cơ sở tài liệu quan trọng và có nét tương đồng với luận văn mà tác giả đang tiến hành nghiên cứu và giúp tác giả có cái nhìn thực tiễn hơn để đề xuất giải pháp
2.2 Những nghiên cứu về giáo dục
- Luận văn thạc sĩ “Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2000 đến năm 2015”, (2015) của Vũ Thị Hiền
Lương, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn cung cấp cho người đọc
cơ sở lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối
Trang 13với sự phát triển giáo dục phổ thông Làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ thành phố Hải Phòng Hệ thống khái quát quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục phổ thông và sự vận dụng của Đảng bộ Hải Phòng từ 2000 đến
2010 Làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện công tác phát triển giáo dục phổ thông và sự vận dụng của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 2000 đến năm
2010 Đánh giá những thành công, hạn chế, từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong công tác phát triển giáo dục phổ thông và vận dụng của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 2000 đến năm 2010 Qua luận văn này, người đọc hiểu hơn về những định hướng trong quá trình phát triển truyền thông về giáo dục của những năm trước và rút ra bài học kinh nghiệm cho những năm sau
- Cuốn “Lý luận giáo dục”, (2013) của Phan Thanh Long (chủ biên),
NXB Đại học Sư phạm Cuốn sách cung cấp cho người đọc những lý luận cơ bản trong giáo dục như khái niệm, bản chất, đặc điểm của quá trình giáo dục,
hệ thống nguyên tắc, nội dung, phương pháp giáo dục và các chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp
- Cuốn “Xã hội học giáo dục”, (2011) của Mạc Văn Trang, NXB Đại
học Sư phạm Cuốn sách trình bày những lí luận cơ bản về xã hội học và xã hội học giáo dục Trong đó, đưa ra những lý thuyết, khái niệm và quan điểm
về giáo dục và hệ thống xã hội, hệ thống giáo dục và nhà trường, xã hội hoá
cá nhân, xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Tập trung nghiên cứu về nhóm học sinh và sinh viên, nghề giáo viên và nhà giáo cùng phương pháp nghiên cứu
xã hội học giáo dục
- Cuốn “Giáo trình Tâm lý giáo dục học”, (2015) của nhóm tác giả
Nguyễn Đức Sơn, Lê Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Huệ, Đỗ Hạnh Phúc, Trần Quốc Thành, Trần Thị Lệ Thu Cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về hiện tượng tâm lý người, về cá nhân, về trẻ em… về hoạt động giao tiếp cá nhân; các vấn đề về cơ sở tâm lý của các hoạt động chính trong nhà trường, hỗ trợ tâm
lý trong trường học, lao động sư phạm và nhân cách người thầy giáo
Trang 142.3 Những nghiên cứu về truyền thông giáo dục trên sóng các đài phát thanh – truyền hình
- Luận văn thạc sĩ “Giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên trên kênh VTV6, Đài truyền hình Việt Nam, hảo sát từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014”, (2014), của Nguyễn Thị Thủy, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát về nội dung, hình thức, phương thức sản xuất các chương trình truyền hình của kênh VTV6 về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên, luận văn sẽ chỉ rõ những ưu điểm, cũng như những hạn của các chương trình; từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng các chương trình giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên trên sóng truyền hình, đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền mà Đảng và Nhà nước giao phó, đồng thời đáp ứng nhu cầu thưởng thức thông tin của đông đảo khán giả trẻ yêu thích kênh VTV6
- Luận văn thạc sĩ “Hoạt động truyền thông về kỹ năng sống cho học sinh các trường Trung học cơ sở ở Hải Phòng hiện nay” (2016), của Phạm
Thị Thanh Hồng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng truyền thông về kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở tại Hải Phòng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở tại Hải Phòng Qua đây, người đọc sẽ sử dụng các dữ liệu khảo sát chung về tâm lý tiếp nhận thông tin để xây dựng format cho chương trình khảo sát
- Luận văn thạc sĩ “Truyền thông về giáo dục sức khỏe trên các chương trình truyền hình địa phương vùng Đồng bằng Bắc bộ hiện nay” (2014) của
Bùi Thế Thực, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe; Phân tích, đánh giá và chỉ ra ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong quản lý nhà nước đối với hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của tỉnh Hưng Yên; Đề ra các
Trang 15giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của tỉnh Hưng Yên
- Luận văn thạc sĩ “Truyền hình Hải Phòng với vấn đề truyền thông giáo dục pháp luật” (2015) của Nguyễn Thị Việt Anh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tác giả luận văn dựa trên cơ sở hệ thống hóa các khái niệm
công cụ, xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục pháp luật trên sóng truyền hình Hải Phòng Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp , phù hợp có thể triển khai các chương trình của Ban Biên tập Hộp thư – Đài PT-TH Hải Phòng trong thời gian tới đây, đồng thời đưa ra các nhóm giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng các chương trình truyền thông giáo dục pháp luật trên sóng truyền hình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin pháp luật của công chúng xem truyền hình Luận văn là một cơ sở tài liệu quan trọng và có nét tương đồng với luận văn
mà tác giả đang tiến hành nghiên cứu.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích luận văn nhằm hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn cho vấn
đề nghiên cứu, khảo sát thực trạng vấn đề truyền thông về giáo dục của Đài PT-TH Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình của các Đài PT-TH vùng ĐBSH hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nêu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài;
- Khảo sát thực trạng vấn đề truyền thông về giáo dục
- Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao chất lượng truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình của các Đài PT-TH vùng ĐBSH hiện nay
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là truyền thông về giáo dục trên sóng
truyền hình của các Đài PT-TH vùng ĐBSH hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả luận văn lựa chọn nghiên cứu, khảo sát 3 chương trình gồm: (1) Chương trình GD&ĐT trên sóng truyền hình của Đài PT-TH Hải Phòng, (2) Chuyên mục GD&ĐT của Đài PT-TH Hưng Yên, (3) Chương trình tạp chí GD&PT của Đài PT-TH Nam Định Đây
là ba chương trình, chuyên mục chuyên biệt về thông tin giáo dục trên sóng truyền hình của ba đơn vị trong diện khảo sát 3 đài trong diện khảo sát là đài PT-TH Hải Phòng, đài PT-TH Hưng Yên và đài PT-TH Nam Định thuộc 3 địa phương có những đặc điểm khác nhau về kinh tế, đời sống văn hóa xã hội,
sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, đây cũng là 3 địa phương tiêu biểu cho truyền thống hiếu học, phong trào học tập của các tỉnh vùng ĐBSH Thời gian khảo sát từ tháng 9/2019 đến hết tháng 2/2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
về báo chí, truyền thông; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam
về giáo dục và đào tạo
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sử dụng để nghiên cứu lý thuyết các
phương thức sản xuất tác phẩm và các sản phẩm truyền hình
- Phương pháp khảo sát, thống kê, sử dụng để lượng hóa những thông
tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu, tổng hợp các số liệu khảo sát thực tế chương trình, số lượng tác phẩm, các thể loại trong chương trình
Trang 17- Phương pháp phân tích tổng hợp, sử dụng để phân tích, đánh giá các
chương trình đã phát sóng trong thời gian luận văn khảo sát, nhằm đưa ra những đánh giá về thực trạng và những kết luận có tính khái quát về chất lượng của chương trình
- Phương pháp phỏng vấn qua bảng hỏi, khảo sát công chúng nhằm có
thêm tư liệu, định hướng để đánh giá chương trình
- Phương pháp phỏng vấn sâu, nhằm thu thập những thông tin xác thực
từ những chuyên gia, những nhà báo có kinh nghiệm trong việc tổ chức sản xuất và quản lý nội dung chương trình
+ Nhóm 1: Đại diện Ban Giám đốc, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ của Đài PT-TH Hải Phòng, Nam Định, Hưng Yên
+ Nhóm 2: Bao gồm các phóng viên chuyên trách về giáo dục của 3 Đài PT-TH Hải Phòng, Nam Định, Hưng Yên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình và đổi mới hình thức, format các chương trình truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình của các đài PT-TH vùng ĐBSH
- Luận văn là tài liệu cho các nhà nghiên cứu báo chí nói chung, học viên, sinh viên báo chí nói riêng tham khảo trong những nghiên cứu có liên quan đến đề tài này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cho lãnh đạo quản lý, chủ nhiệm chương trình ở các đài khảo sát có cơ sở hiểu rõ thực truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình, những thành công và hạn chế để đưa ra những quyết sách phù hợp trước yêu cầu đổi mới từ khán giả
- Luận văn góp phần giúp cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên trách về giáo dục ở đài PT-TH Hải Phòng, Nam Định, Hưng Yên hiểu sâu sắc
Trang 18thêm về vai trò và trách nhiệm của người làm báo truyền hình trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ của các loại hình báo chí
- Những tổng kết từ việc khảo sát thực tiễn, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp của luận văn còn có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm của những người làm báo chuyên đề về giáo dục ở các đài PT-TH địa phương hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn tập trung ở 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về truyền thông về giáo dục trên
truyền hình;
- Chương 2: Thực trạng truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình
của các đài PT-TH vùng ĐBSH hiện nay;
- Chương 3: Giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng truyền
thông về giáo dục trên sóng truyền hình của các đài PT-TH vùng ĐBSH hiện nay
Trang 19Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, có nhiều khái niệm, định nghĩa để nói về truyền thông
Theo cuốn Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, “Truyền thông
là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kỹ năng
và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội” [10, tr.13]
Theo cuốn Giáo trình Lý thuyết truyền thông, truyền thông được hiểu là
“quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các
Trang 20nhóm người nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái
độ và thay đổi hành vi của con người” [17, tr.16]
Như vậy, truyền thông là quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các nhóm người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội
Để thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ của một người hay một nhóm người, quá trình truyền thông phải diễn ra liên tục, không gián đoạn
Truyền thông được coi là công cụ hữu hiệu số 1 để truyền đi thông điệp, định hướng và lan toả Nhờ truyền thông con người được kết nối với nhau nhiều hơn Thông tin được lan truyền mạnh mẽ hơn Gần như vạn vật được kết nối với nhau thông qua các công cụ như tivi, mạng xã hội, báo chí Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có thể có những cách phân loại khác nhau
- Căn cứ vào loại hình truyền thông có chủ đích, có thông tin - giáo dục
- truyền thông, truyền thông vận động và truyền thông thay đổi hành vi, truyền thông - vận động xã hội, truyền thông phát triển…
1.1.2 Giáo dục
Giáo dục theo nghĩa chung nhất là hình thức học tập, theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế
Trang 21hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học, tự tích lũy Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem
là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục đại học
Theo cuốn Lý luận giáo dục, “quá trình giáo dục là quá trình tác động
có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dịch đến đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển nhân cách riêng của mỗi học sinh và đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của xã hội.” [26, tr.7] Theo đó, chủ thể của quá trình là nhà
giáo dục, quá trình nhằm hình thành cho đối tượng giáo dục quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành vi thói quen,… phù hợp với những chuẩn bị chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ, văn hóa của một xã hội nhất định, để làm sao phát triển nhân cách đối tượng giáo dục theo mục đích giáo dục của
xã hội
1.1.3 Truyền thông về giáo dục
Cũng như giáo dục, truyền thông về giáo dục là một quá trình Đây là quá trình truyền thông có chủ đích, truyền thông đại chúng tới công chúng - đối tượng giáo dục, để nhằm hướng đến thay đổi hành vi, phát triển nhân cách đối tượng theo mục đích giáo dục của xã hội
Ngày 13/4/2007, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 11-CT/TW về “tăng cường lãnh đạo của đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng
xã hội học tập” [48] Theo đó, việc xây dựng một xã hội học tập là xây dựng một hệ thống giáo dục nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều được học tập suốt đời Đồng thời, trong hệ thống đó có những chính sách và cơ chế tương ứng để bảo đảm cho mọi công dân góp sức phát triển các hình thức học tập thường xuyên trên mọi địa bàn dân cư Với mục tiêu xây dựng một xã hội học tập, hiện thực hóa Chỉ thị 11 và Kết luận 49-KL/TW ngày 10/5/2019 của Ban
Trang 22Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 13/4/2007 của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, bởi vậy nên việc tuyên truyền, hướng dẫn về những kĩ năng, kiến thức giáo dục càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Tại Việt Nam, việc truyền thông về giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, nhất là trên sóng phát thanh, truyền hình Ngày 8/10/2019, tại Bộ GD&ĐT đã diễn ra lễ ký kết chương trình phối hợp công tác tuyên truyền về GD&ĐT giai đoạn 2019-2025 giữa Bộ GD&ĐT và Đài Tiếng nói Việt Nam Nội dung tuyên truyền bao gồm: Chuẩn bị và thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh thân thiện, phòng chống bạo lực học đường tại các cơ sở giáo dục phổ thông; tự chủ đại học; xây dựng xã hội học tập; tuyên truyền thực hiện các văn bản/chính sách/quy định về giáo dục và đào tạo và các vấn đề khác của ngành giáo dục
Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn I (2005 - 2010), giai đoạn II (2012 - 2020) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó khẳng định tầm quan trọng của các phương tiện thông tin đại chúng đối với hoạt động học tập suốt đời Đề án đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của nhiều chuyên mục, chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí,… về giáo dục như: Phổ biến kiến thức trên VOV1, Dạy ngoại ngữ cho lái xe taxi trên kênh VOV giao thông, Hướng dẫn ôn tập và luyện thi đại học và Chương trình dạy tiếng Anh trên VTV2, Dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài trên VTV4, Kỹ năng sống trên VTV3, các chương trình Chào buổi sáng, đời sống thường ngày trên VTV… đã giúp cho người dân nắm được rất nhiều kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, thực hiện pháp luật, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe người dân,…
Ngày 20/11/2015, VTV7 - kênh Truyền hình Giáo dục quốc gia đầu
Trang 23tiên của Việt Nam đã lên sóng Với mục tiêu "Vì một xã hội học tập", kênh Truyền hình Giáo dục quốc gia VTV7 được kỳ vọng truyền cảm hứng cho nhiều đối tượng khán giả vì đây chính là cách học thu hút, nhanh chóng và hiệu quả nhất
Hàng năm, Bộ GD&ĐT ban hành các văn bản về nội dung truyền thông
về giáo dục tới các Sở GD&ĐT các tỉnh, thành phố Sau đó, các văn bản được
cụ thể hóa và gửi tới các cơ sở giáo dục, trường học tại các địa phương Như ngày 20/3/2020, Bộ GD&ĐT ban hành Kế hoạch 180/KH- BGDĐT về Truyền thông về Giáo dục năm 2020
Như vậy, có thể thấy, việc truyền thông về giáo dục rất được Đảng, Nhà nước quan tâm, bởi nó có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng một xã hội học tập, qua đó nâng cao kiến thức, hiểu biết, xây dựng những công dân học tập, tạo nguồn nhân lực cao cho đất nước trong tương lai
1.1.4 Truyền thông về giáo dục t ên s ng t u ền hình
- Truyền hình
Theo cuốn Tác phẩm báo chí truyền hình – Giáo trình nội bộ của Khoa
Phát thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí Tuyên truyền 24, tr.3] Thuật ngữ “truyền hình” ra đời năm 1900 trong một hội chợ triển lãm toàn cầu để gọi tên kỹ thuật sản xuất và truyền phát hình ảnh động Trong tiếng nh, truyền hình có nghĩa là “television” “Tele” có nghĩa là “ở xa” và “vision” có nghĩa là thấy được Như vậy, truyền hình có nghĩa là thấy được từ xa
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, truyền hình ngày càng khẳng định được vị trí của mình trên mặt trận thông tin Truyền hình là một loại hình phương tiện thông tin đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Sự kết hợp hài hòa của ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh có khả năng giúp cho công chúng những cảm giác chân thực
và sống động về cuộc sống ở nơi mà công chúng không có mặt Truyền hình
là một trong những phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất, khả năng đưa
Trang 24thông tin đến công chúng nhanh nhất, xác thực nhất và uy tín nhất Các thông tin về giáo dục trên sóng truyền hình hiện nay hầu như đạt được các tiêu chí: thời sự, chính xác, hình ảnh chân thực, rõ nét, nội dung phong phú
- Chương trình truyền hình
Trong cuốn Sản uất chương trình truyền hình, tác giả Trần Bảo Khánh đưa ra khái niệm chương trình: “là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công ch ng” [23, tr.30 Chương trình truyền hình là sản phẩm truyền
hình, là kết quả của truyền hình, trong đó bao hàm cả quá trình sáng tạo ra nó qua nhiều công đoạn khác nhau, tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau, từ xây dựng kế hoạch sản xuất chương trình, sắp đặt các tác phẩm, chuyên mục
Chương trình truyền hình bao gồm nhiều chương trình được phân bố theo thời gian, thời lượng trên các kênh truyền hình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình Các chương trình truyền hình để cập tới các vấn đề của đời sống xã hội Tuy nhiên, không phải cách khai thác tin tức chộp giật, mà là quá trình tích lũy, chọn lọc thông tin, mang đến cho công chúng cái nhìn toàn diện về chủ đề trong các chương trình truyền hình
Thực tế hàng ngày, khi bật ti-vi, chúng ta đã xem rất nhiều chương trình truyền hình khác nhau như chương trình thời sự, chương trình tọa đàm, chương trình văn hóa du lịch, chương trình giáo dục,… Chương trình truyền hình được ra đời và phát sóng là sản phẩm của một tập thể, là sản phẩm báo chí hoàn chỉnh, thống nhất về hình thức và nội dung thể hiện, sắp xếp logic, hợp lí nhằm mang đến một cách nhìn toàn diện, sâu sắc về một chủ đề, nội dung cho công chúng
- Chương trình truyền hình về giáo dục
Hàng ngày, các thông tin về giáo dục xuất hiện thường xuyên và đều đặn trên các loại hình báo chí như phát thanh, truyền hình, báo in, báo mạng điện tử Bên cạnh đó, thông tin về giáo dục còn xuất hiện rất nhiều trên môi trường mạng xã hội
Trang 25Chương trình truyền hình về giáo dục là một chương trình chuyên biệt, trong đó thông qua các thể loại tin, bài, phóng sự… hoặc các chuyên đề để chuyển tải các thông tin về giáo dục như dạy và học, thi cử, kỹ năng sống dành cho học sinh và giáo viên Những chương trình này được sắp xếp theo chủ đề, vừa đảm bảo tính thông tin thời sự, cập nhật, có tính định hướng và có nhóm công chúng thường xuyên là giáo viên, học sinh và phụ huynh
- Truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình
Truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình là thông tin, tuyên truyền các vấn đề về lĩnh vực giáo dục thông qua các chương trình truyền hình về giáo dục trên sóng truyền hình, qua đó, nhằm cung cấp thông tin, thay đổi nhận thức và hành vi của công chúng, phát triển nhân cách đối tượng theo mục đích giáo dục của xã hội
Ở một số nước phát triển, việc truyền thông trên sóng truyền hình đã được chú trọng từ lâu
Tại Nhật Bản, Năm 1935, “Chương trình phát thanh trường học” ra đời Đây là cơ sở để phát triển thành “Chương trình truyền hình trường học” vào năm 1953 Năm 1959 chứng kiến bước tiến mới trong việc cung ứng giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông tại Nhật Bản với sự ra đời của Kênh truyền hình giáo dục NHK – kênh truyền hình chuyên biệt về giáo dục đầu tiên trên thế giới Các nội dung giáo dục được phát sóng đều phải tuân thủ chặt chẽ quy định của Luật Phát sóng (1950) và các tiêu chuẩn dành cho chương trình phát sóng nội địa (1959) Các Hội đồng chuyên môn đã được thành lập để kiểm soát nội dung trước khi đưa lên sóng truyền hình quốc gia Điều này đã giúp cho ra đời các chương trình giáo dục chất lượng cao, khoa học nhưng vẫn đa dạng, sinh động, thiết thực, đặc biệt là các chương trình khám phá khoa học và các chương trình giáo dục tích hợp
Trang 26
Giao diện trang website kênh truyền hình giáo dục NHK www.nhk.or.jp/school
Đến năm 2001, để theo kịp tình hình phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của việc “máy tính hoá” và “mạng hoá” các trường học, các nội dung được phát sóng trên kênh truyền hình giáo dục NHK đều được số hoá và đưa lên website:www.nhk.or.jp/school Đây được xem là một bước tiến quan trọng trong việc giúp giáo viên và học sinh tiếp cận với các nguồn tài nguyên giáo dục dồi dào, phong phú một cách chủ động và dễ dàng hơn Tính đến nay, hàng năm trung bình tại Nhật Bản có khoảng 10.000 chương trình giáo dục được phát sóng trên truyền hình và cập nhật trên mạng kỹ thuật số của NHK
Tại Hàn Quốc, EBS là Đài Truyền hình và Phát thanh giáo dục lớn nhất
ở nước này Thành lập từ năm 1980, EBS được đánh giá có vai trò quan trọng trong chiến lược bổ sung giáo dục trường học và thúc đẩy giáo dục suốt đời cho tất cả mọi người tại Hàn Quốc EBS có nhiều kênh phát sóng, bao gồm: Kênh truyền hình kỹ thuật số trên mặt đất cho phim tài liệu, chương trình dành cho trẻ em mẫu giáo và chương trình thanh niên Vào năm 2000, Chính phủ đã ban hành Luật Truyền hình Giáo dục và xây dựng Tổng cục Truyền hình Giáo dục quốc gia Trong đó, kênh Truyền hình quốc gia EBS phát sóng
7 chương trình gồm: Giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, ôn thi đại học, giáo dục kĩ năng sống và sáng tạo, giáo dục cho người Hàn Quốc ở nước ngoài
Trang 27Tại nước nh, chương trình giải trí giáo dục trên đài phát thanh được xem là một trong những chương trình lâu đời và có số lượng người nghe đông đảo nhất Tiêu biểu là “The rchers” được phát thanh 2 lần trong một ngày hướng dẫn người dân cách thức nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua các sáng kiến trong nông nghiệp Theo khảo sát, có 2/3 nông dân theo dõi chương trình này hàng ngày Chương trình được ghi nhận là một trong những chương trình phát thanh giáo dục có tác động lớn nhất đến tiến trình đổi mới nông thôn nước Anh [55]
Tại Việt Nam, việc truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình được thực hiện trên các kênh tryền hình quốc gia và truyền hình địa phương Đặc biệt, với sự hợp tác và hỗ trợ của kênh truyền hình NHK for School, hay kênh EBS, kênh truyền hình giáo dục quốc gia VTV7 ra đời với nhiều format hay và hấp dẫn Đặc biệt, trong thời điểm dịch bệnh covid-19, nhiều bài giảng qua truyền hình, dành cho học sinh các khối lớp và đặc biệt là dành cho khối
9 và khối 12 đã nhận được sự quan tâm và ủng hộ từ các nhà trường, thầy cô
và học sinh Bên cạnh đó, những nội dung về giáo dục còn có trong các bản tin, chương trình thời sự của các kênh truyền hình Ngoài ra, còn có rất nhiều chương trình truyền hình chuyên biệt về lĩnh vực giáo dục như “Vì tầm vóc Việt” phát trên VTV hay năm 2019 ra mắt kênh truyền hình giáo dục quốc gia VTV7 với sự có mặt của nhiều chương trình hay và hấp dẫn
Tại một số đài PT-TH địa phương, thông tin về giáo dục là một trong những mảng thông tin quan trọng Cũng với hình thức như trên các kênh truyền hình quốc gia, ngoài những thông tin về giáo dục trên chương trình thời sự dưới dạng tin, bài phóng sự, còn có nhiều chương trình về giáo dục có thời lượng dài, từ 5 phút tới 15 phút như Đài PT-TH Hải Phòng có chương trình GD&ĐT, Đài PT-TH Nam Định có chương trình Tạp chí GD&PT,… Các chương trình này bao gồm các tin, bài phản ánh, phóng sự đi sâu vào từng khía cạnh trong lĩnh vực giáo dục của địa phương, tuyên truyền cho các
Trang 28chính sách, chủ trương về giáo dục, tuyên dương những mô hình giáo dục hiệu quả, đổi mới và sáng tạo, gương người tốt, việc tốt, học sinh và giáo viên trong giáo dục địa phương Qua đó, góp phần vào việc truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về truyền thông về giáo dục
Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, là nền tảng quan trọng trong phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong thời đại mới Chính bởi lẽ đó, từ xưa đến nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới giáo dục Đường lối và các chính sách của Đảng về giáo dục và đào tạo được thể hiện trong các văn kiện đại hội Đảng
Ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị khóa IV đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW
“Về cải cách giáo dục” nhằm cụ thể hóa, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết chuyên đề về giáo dục sau khi nước nhà thống nhất, có nhiều vấn đề đặt
ra cần cụ thể hóa bằng các chính sách, đề án để thực hiện, từ xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp lại cơ cấu hệ thống cho đến vấn đề biên soạn sách giáo khoa thống nhất cho các cấp học, bậc học Nghị quyết này đặt nền móng cho cải cách giáo dục những năm 80 của thế kỷ XX
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh đã xác định: GD&ĐT, khoa học và công nghệ phải được xem là quốc sách hàng đầu Mục tiêu giáo dục và đào tạo: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Trang 29Ngày 14-1-1993, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD&ĐT” Đây là lần đầu tiên Đảng ta ra nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đáp ứng lòng mong đợi của toàn Đảng, toàn dân ta, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên trong cả nước về việc xác định quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục
Theo tiến trình lịch sử và sự phát triển của đất nước, qua nhiều năm, nhiều kỳ đại hội, tư duy và nhận thức của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo lại càng mở rộng hơn, sâu sắc hơn, đáp ứng nhu cầu của thời cuộc Tới Đại hội XII của Đảng xác định đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực là một trong những định hướng lớn để hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nội dung quan điểm của Đại hội XII là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về giáo dục và đào tạo
Trong giai đoạn hiện nay, công tác truyền thông về GD&ĐT là hết sức quan trọng và vô cùng cần thiết Việc chủ động phối hợp cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho các cơ quan thông tấn báo chí, tăng cường phản biện
xã hội… góp phần định hướng, tạo niềm tin của xã hội; giúp xã hội hiểu, chia
sẻ, đồng thuận và ủng hộ các chủ trương đổi mới của ngành; huy động sự vào cuộc của toàn xã hội trong việc thực hiện lộ trình đổi mới GD&ĐT Đồng thời, đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các định hướng
và nhiệm vụ chủ yếu của ngành GD&ĐT được tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng Các hoạt động đổi mới GD&ĐT, biểu dương người tốt - việc tốt, các điển hình tiên tiến trong dạy và học… cùng các vấn đề nổi cộm trong dư luận xã hội cũng được thông tin nhanh chóng, rộng rãi trên báo chí Truyền thông về giáo dục giúp nâng cao nhận thức và hành động cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cha
mẹ học sinh và học sinh; đem đến nhận thức đúng, sâu sắc về quan điểm, mục
Trang 30tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT Để làm tốt công tác này, hàng năm, Ban Tuyên giáo Trung ương đều ban hành Hướng dẫn công tác khoa giáo Trong đó, đề cập đến việc báo chí đưa thông tin, tuyên truyền Ví dụ, trong Hướng dẫn công tác khoa giáo năm 2020 của
Ban Tuyên giáo Trung ương có ghi: “Tiếp tục triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về giáo dục và đào tạo, đồng thời với việc triển khai các kết luận: Kết luận số 49-KL/TW, ngày 10/5/2019 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị
số 11-CT/TW "về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập”; ết luận số 51-KL/TW, ngày 30/5/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW, ngày 04/11/2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; các nhiệm vụ và giải pháp được nêu trong các báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương sau khi sơ kết, tổng kết các Chỉ thị của Trung ương đã gửi tới các địa phương Ngoài ra, các địa phương ch ý đánh giá sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” [49]
Hàng năm, Bộ Giáo dục và đào tạo luôn có kế hoạch truyền thông về giáo dục và đào tạo gửi tới các Sở Giáo dục và đào tạo các tỉnh thành phố, từ
đó mỗi trường học, cơ sở giáo dục đều xây dựng một kế hoạch truyền thông về giáo dục và đào tạo Ngày 20/3/2020, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành Kế hoạch 180/KH-BGDĐT về Truyền thông về Giáo dục và đào tạo năm 2020
Như vậy, công tác tuyên truyền trên báo chí nói chung, truyền thông về lĩnh vực giáo dục nói riêng đều theo sự hướng dẫn cụ thể, định hướng từ Ban Tuyên giáo Trung ương tới Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy Ngoài ra, ở các địa phương, đều có sự phối hợp giữa Sở Giáo dục – Đào tạo các tỉnh, thành với đài PT-TH các địa phương
Trang 311.3 Đặc điểm, vai trò của truyền hình trong truyền thông về giáo dục
1.3.1 Đặc điểm của truyền hình trong truyền thông về giáo dục
1.3.1.1 Nội dung truyền thông về giáo dục
Nội dung tuyên truyền về giáo dục luôn được Bộ GD&ĐT coi trọng Hàng năm, Bộ ban hành Kế hoạch Truyền thông về giáo dục theo các nhiệm
vụ của từng năm Mỗi năm, các nội dung truyền thông về giáo dục sẽ xoay quanh các vấn đề, sự kiện trọng tâm của ngành Tuy nhiên, nội dung truyền thông về giáo dục trên báo chí nói chung, truyền hình nói riêng vẫn có những điểm chung về nội dung tuyên truyền
- Thông tin mang tính thời sự, tin cậy, hấp dẫn
Thông tin, tin tức trên báo chí nói chung, truyền hình nói riêng luôn mang tính thời sự, cập nhật Việc truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình liên tục cập nhật theo từng thời điểm, sự kiện, qua đó, kịp thời thông tin tới công chúng về các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực giáo dục
- Tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Bộ Giáo dục và đào tạo tới công chúng
Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng quan trọng nhằm tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Bộ Giáo dục và đào tạo tới đông đảo công chúng Trên các kênh truyền hình địa phương, thông tin về giáo dục được truyền tải phù hợp với từng thực tiễn địa phương Qua đó, giúp công chúng nắm bắt được thông tin trong lĩnh vực giáo dục
- Tuyên truyền về kết quả triển khai, thực hiện các hoạt động giáo dục
và đào tạo tại địa phương và cơ sở đào tạo
Cùng với việc tuyên truyền về các chủ trương, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực giáo dục, truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình còn tuyên truyền về việc triển khai, kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách tại các địa phương Thông tin trung thực về thực hiện các hoạt động giáo dục
Trang 32và đào tạo tại địa phương và cơ sở đào tạo Từ những phản ánh thực tiễn đó, cũng là cơ sở để các lãnh đạo cấp trên có thể căn cứ để theo dõi, giám sát hoạt động giáo dục tại các địa phương và rút kinh nghiệm để đổi mới giáo dục
- Giới thiệu các nhân tố điển hình, các hoạt động đổi mới, sáng tạo, các tấm gương người tốt, việc tốt trong toàn ngành
Điển hình tiên tiến là biểu hiện cụ thể của nhân tố mới với những con người cụ thể, hành động cụ thể, đó là những gương “người tốt, việc tốt” trong lao động, học tập và sinh hoạt hằng ngày Việc nhân rộng những điển hình tiên tiến có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc khích lệ tinh thần lao động, thi đua dạy tốt, học tốt trong giáo viên và học sinh, sinh viên Các đối tượng, nhân vật được nhắc đến để nêu gương là những điển hình, cá nhân, tổ chức tiêu biểu trong phong trào dạy và học Thông qua việc tuyên truyền, giới thiệu
về các gương điển hình, những mô hình đổi mới, sáng tạo có ý nghĩa trong thực tiễn sẽ góp phần khích lệ phong trào học tập trong lòng nhân dân
- Thông tin trung thực, khách quan về các vấn đề “nóng” trong giáo dục
Trung thực, khách quan là một yếu tố quan trọng trong thông tin báo chí Trong lĩnh vực giáo dục, các vấn đề “nóng”, nảy sinh nhiều “mâu thuẫn”, tranh cãi trong dư luận xã hội báo chí cần có cái nhìn khách quan, trung thực
và không né tránh Thực tiễn cho thấy, hiện nay luôn tồn tại nhiều vấn đề trong lĩnh vực giáo dục được coi là điểm “nóng” của dư luận xã hội Chính vì vậy, báo chí, truyền thông, đặc biệt là các kênh truyền hình địa phương cần nhìn thẳng, không tránh né, ngại va chạm các vấn đề nóng trong ngành
1.3.1.2 Phương thức truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình
Truyền thông về giáo dục có nhiều phương thức khác nhau, có thể thông qua quảng cáo, mạng xã hội, truyền thông tại các sự kiện hoặc là một sản phẩm báo chí Truyền hình cũng là một phương thức truyền thông quan trọng trong lĩnh vực giáo dục Truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình với sự hỗ trợ tối đa từ hình ảnh, âm thanh sẽ trở nên hấp dẫn và thú vị hơn
Trang 33Việc truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình không chỉ là các đoạn clip truyền thông ngắn (ví dụ như clip truyền thông về phòng chống dịch bệnh covid-19 trong học đường, truyền thông về bạo lực học đường) mà còn có thể thể hiện dưới dạng các tin, bài phóng sự trong các chương trình tổng hợp, giao lưu tọa đàm, bản tin thời sự, trong các chương trình, sản phẩm truyền hình dành cho lứa tuổi học sinh, sinh viên
Như tại Việt Nam, có kênh truyền hình VTV7 chuyên biệt về giáo dục, kênh VTV2 với các chương trình khoa giáo nhưng vẫn mang mục đích giáo dục, đem lại kiến thức cho khán giả, hay như kênh VTV1 với các bản tin thời
sự có các phóng sự, tin, bài về lĩnh vực giáo dục quan trọng của đất nước
Tại các đài PT-TH địa phương, trong các chương trình tuyên truyền, luôn có một chương trình, chuyên mục dành riêng để nói về các vấn đề trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Trong các chương trình truyền thông về giáo dục, các nội dung, vấn đề của lĩnh vực giáo dục được đề cập sâu sắc hơn
1.3.1.3 Tiêu chí đánh giá các chương trình truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình
Như phạm vi nghiên cứu mà tác giả đã khu biệt lại trong phần mở đầu của luận văn, thực trạng truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình theo luận văn này sẽ được khảo sát trong phạm vi các chương trình truyền hình truyền thông về giáo dục Trên sóng truyền hình, các chương trình truyền thông về giáo dục sâu sắc nhất là các chương trình chuyên sâu (chuyên đề, chuyên mục – theo cách gọi tại các đài địa phương hiện nay) Dựa vào các đặc điểm của một chương trình truyền hình, và nội dung của chương trình truyền hình, tác giả luận văn xin đưa ra các tiêu chí để đánh giá về các chương trình truyền thông về giáo dục
Về nội dung:
- Đảm bảo các yêu cầu về tính thời sự, hấp dẫn, trung thực khách quan nói chung của báo chí
Trang 34- Tuyên truyền về các nội dung chủ trương, chính sách, pháp luật của
Bộ Giáo dục và đào tạo triển khai tới công chúng
- Thông tin về việc thực hiện, triển khai các hoạt động giáo dục tại địa phương
- Giới thiệu các nhân tố điển hình, các hoạt động đổi mới, sáng tạo, các tấm gương người tốt, việc tốt trong toàn ngành
- Phản biện xã hội về các vấn đề “nóng” của lĩnh vực giáo dục
Về hình thức thể hiện:
- Đa dạng, phong phú
- Thời lượng, tần suất hợp lý để việc tuyên truyền đạt hiệu quả, đảm bảo cập nhật thường xuyên, liên tục
- Hình ảnh, âm thanh hấp dẫn, sinh động, rõ nét
1.3.2 Vai trò của truyền hình trong truyền thông về giáo dục
Báo chí, truyền thông là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và Nhà nước, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là phương tiện quan trọng tuyên truyền phát triển kinh tế xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, là diễn đàn để nhân dân tham gia quản lý xã hội, giám sát quyền lực, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hệ thống báo chí, truyền thông Việt Nam đã phát triển nhanh cả về đội ngũ, trình độ, loại hình, quy mô, phương tiện, kỹ thuật – công nghệ, khả năng tác động và ảnh hưởng xã hội, đóng góp xứng đáng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hiện nay, cả nước có 64 đài phát thanh, đài truyền hình và đài PT-TH địa phương Mỗi đài địa phương lại sản xuất nhiều kênh phát thanh, truyền hình Trong đó, nội dung truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình luôn được các đài PT-TH địa phương chú trọng
- Kênh truyền thông giáo dục quan trọng hàng đầu ở địa phương
Truyền hình là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng
Trang 35quan trọng và là một kênh của truyền thông Thông qua truyền hình, có thể tuyên truyền các thông tin đến đông đảo công chúng, trong đó có thông tin lĩnh vực giáo dục Mỗi tỉnh, thành phố có một đài PT-TH địa phương, với số lượng từ 1- 2 kênh truyền hình Nhóm công chúng lớn nhất của kênh truyền hình địa phương là công chúng địa phương, là những người dân sinh sống trên địa bàn tỉnh, thành phố Bởi vậy, kênh truyền hình địa phương có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp và tiếp nhận thông tin phản hồi
từ khán giả địa phương
Đài PT-TH địa phương là đơn vị trực thuộc do Sở Thông tin – Truyền thông, UBND thành phố quản lý, bởi vậy thông tin trên các kênh truyền hình địa phương luôn có tính xác thực và cụ thể, có ý nghĩa thiết thực với công chúng
Kênh truyền hình địa phương là cầu nối quan trọng đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân; đồng thời phản ánh kịp thời, chính xác các thông tin trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Ở mỗi địa phương, kênh truyền hình nói riêng là một kênh thông tin quan trọng và uy tín để người dân có thể kịp thời nắm bắt những thông tin nóng hổi, cập nhật diễn ra trên quê hương của mình Những thông tin trên kênh truyền hình của địa phương sẽ cập nhật những tin tức hàng ngày diễn ra trên các địa bàn quận, huyện của thành phố, đi sâu vào thực tiễn vấn đề trong cuộc sống thường ngày của người dân, trong đó, lĩnh vực giáo dục thường xuyên được đề cập thông qua các tin bài, các chương trình chuyên
đề, chuyên mục Ví dụ như khi đề cập đến chủ đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2020, kênh truyền hình trung ương thường đề cập đến những thông tin chung, bao quát về kì thi, một vài điểm thi đặc biệt và có thể lướt qua hình ảnh của một số địa phương Nhưng kênh truyền hình của địa phương thì khác Hình ảnh về các điểm thi, hoạt động của lực lượng tham gia trực tiếp, các điểm trường, số lượng thí sinh dự thi, bỏ thi,… được cập nhật
Trang 36nhanh chóng, chi tiết hơn Điều này đáp ứng được nhu cầu của công chúng trong việc tiếp nhận thông tin cụ thể xảy ra ngay tại địa phương, thay vì những thông tin xa xôi, ít liên quan
Với những vùng, địa phương còn nhiều khó khăn trong tiếp cận, để tìm kiếm thông tin qua internet thì phải mất một khoản chi phí nhất định, trong khi việc tiếp nhận thông tin qua truyền hình địa phương lại hoàn toàn miễn phí
Bên cạnh đó, thế mạnh của truyền hình nói chung là sự thể hiện thông tin bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng động,… vô cùng sinh động, nên dễ dàng hấp dẫn, thu hút khán giả xem truyền hình, giúp quá trình truyền thông giáo dục càng thuận lợi, hiệu quả hơn
Truyền thông về giáo dục tại địa phương có nhiều hình thức như truyền thông tại trường học, tại gia đình, cộng đồng, trên báo mạng điện tử, báo in,… Tuy nhiên, truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình có tầm phủ sóng rộng và ảnh hưởng lớn nhất Những thông tin về giáo dục, những hướng dẫn,
kĩ năng phù hợp với học sinh của từng địa phương khi được phát trên sóng truyền hình, nếu thiết thực, gần gũi, chân thực, khách quan sẽ tạo sức lan tỏa lớn, tác động đến nhận thức của công chúng, làm công chúng thay đổi thái độ, hành vi theo những chuẩn mực về giáo dục
Kênh truyền hình địa phương là kênh truyền thông tới nhân dân địa phương Thông tin trên kênh truyền hình địa phương phải phù hợp tâm lý tiếp nhận, khả năng tiếp nhận của khán giả địa phương Trên lĩnh vực giáo dục, truyền thông trên truyền hình cần phù hợp với đối tượng học sinh, giáo viên, nhà trường của từng vùng từng địa phương Không thể tuyên truyền những kĩ năng cho học sinh miền núi cho học sinh vùng biển cũng như không thể ca ngợi về mô hình học tập ở một đất nước phát triển, cơ sở vật chất hiện đại rồi
đề cập đến triển khai mô hình đó ở vùng nông thôn còn nghèo khó
Truyền hình là kênh truyền thông giáo dục quan trọng hàng đầu ở địa phương, chính bởi lẽ đó, thời lượng dành cho truyền thông về giáo dục trên
Trang 37sóng truyền hình cũng cần được chú trọng, hình thức thể hiện cần đa dạng, hấp dẫn, nội dung thông tin phải chất lượng, sát với thực tiễn của địa phương
- Cung cấp kiến thức về giáo dục tin cậy, hấp dẫn, kịp thời cho đông
đảo công chúng
Đối tượng liên quan đến lĩnh vực giáo dục có thể là bất kì ai, trong đó tập trung vào 3 nhóm chính: học sinh, giáo viên, phụ huynh Truyền hình là kênh truyền thông hấp dẫn, tin cậy và cung cấp thông tin về giáo dục kịp thời cho đông đảo công chúng
So với các chương trình của đài truyền hình trung ương, thì đài truyền hình địa phương có khả năng cung cấp thông tin cụ thể về giáo dục của địa phương tới công chúng hơn Bởi lẽ, thông tin trên kênh truyền hình trung ương về giáo dục không thường xuyên, cụ thể vào từng địa phương Một vấn
đề, phóng sự về giáo dục trên kênh truyền hình trung ương có thể đề cập đến nhiều trường của nhiều địa phương Nhưng trên kênh truyền hình địa phương, các thông tin về giáo dục chiếm thời lượng lớn, thông tin được đưa cụ thể hơn, bám sát hoạt động của các cơ sở giáo dục tại địa phương hơn
Thông tin trên sóng truyền hình đảm bảo tính tin cậy vì có hình ảnh, âm thanh từ hiện trường Bên cạnh đó, tính tin cậy còn thể hiện ở chỗ, thông tin trên đài PT-TH địa phương được cung cấp từ nguồn tin chính thống là Sở GD&ĐT và UBND thành phố Nhờ có sự liên kết giữa các cơ quan nhà nước, các sở ban ngành, cơ sở giáo dục và đài PT-TH luôn được duy trì thường xuyên, nên thông tin trên sóng truyền hình địa phương luôn đảm bảo tính tin cậy Các thông tin về giáo dục trên đài PT-TH địa phương luôn bám sát những gì từ thực tiễn địa phương, phản ánh sát nhất tới từng địa bàn, trường học Ví dụ như muốn đón xem tình hình thi vào lớp 10 Trung học phổ thông tại các điểm trường ở địa phương trên sóng truyền hình, công chúng có thể dễ dàng xem, nghe trên kênh truyền hình địa phương
Nếu như thông tin trên kênh truyền hình địa phương không chính xác,
Trang 38tin cậy, chỉ mang tính đưa tin chung chung giống như các kênh truyền hình tổng hợp khác thì sẽ không thu hút khán giả địa phương Bởi thông tin chung chung, không rõ ràng, họ có thể tìm kiếm ở bất cứ trang báo mạng hay kênh truyền hình ngoài địa phương nào để biết
Tại địa phương, ngoài thông tin về giáo dục trên sóng truyền hình còn
có các thông tin về giáo dục trên báo in Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian in
và xuất bản, nên báo in thường đưa tin chậm hơn so với truyền hình Bên cạnh đó, quy trình sản xuất tin tức tại các đài PT-TH đơn giản, các chương trình bản tin có ở hầu hết các khung giờ vàng trong ngày nên thông tin về giáo dục có thể liên tục cập nhật qua các bản tin, chương trình
Trước hết, bản thân truyền hình đã là một kênh truyền thông hấp dẫn bởi nó có thể truyền tải thông tin bằng đa dạng hình thức: hình ảnh, âm thanh,
âm nhạc, tiếng động,…tác động cả vào thính giác và thị giác của khán giả Do
đó, thông tin đến với công chúng một cách chân thật nhất Không chỉ được cung cấp thông tin đơn thuần, một chiều, khán giả xem truyền hình còn có cái nhìn sinh động nhất về thông tin giáo dục, bởi sự thể hiện thông tin trên truyền hình có cả hình ảnh, âm thanh và tiếng động hiện trường, đồ họa và văn tự Ngoài ra, khán giả cũng có thể gửi thư hay gọi điện thoại về đài PT-
TH địa phương một cách nhanh nhất để phản hồi ý kiến và cung cấp thêm thông tin cho những người thực hiện Trong xu thế của truyền hình hiện đại, công chúng – cụ thể là những giáo viên, học sinh cũng có thể chính là những người tham gia tương tác vào quá trình thực hiện chương trình truyền hình về giáo dục, điều này tạo nên sự hấp dẫn cho chính chương trình truyền hình đó
- Góp phần phản biện xã hội về giáo dục
“Phản biện xã hội” là thuật ngữ lần đầu tiên được nêu trong Văn kiện
Đại hội lần thứ XI của Đảng Văn kiện nêu rõ: “Ch trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện
xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước ” 53
Trang 39Sự bùng nổ thông tin và kết nối tương tác giữa mọi đối tượng hiện nay trên tất cả các lĩnh vực xã hội nói chung, lĩnh vực giáo dục nói riêng đã tạo cho công chúng thói quen tiếp nhận thông tin trên nhiều kênh khác nhau Tuy nhiên, sẽ thật nguy hiểm, nếu thông tin đăng tải trên mạng xã hội hay những trang báo không chính thống chưa được kiểm chứng, thông tin sai lệch sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến suy nghĩ và nhận thức của người dân Thêm vào đó, người dân hiện nay không hề muốn đón nghe thông tin một chiều, mà muốn nghe nhiều ý kiến phản biện, những thông tin nóng hổi quanh đời sống Thậm chí, người dân cũng thường chú ý và theo dõi nhiều những chương trình, bài báo đặt ngược vấn đề ở mọi khía cạnh để chỉ ra những mặt đúng, chưa đúng, sự phù hợp hay bất cập trong chủ trương, chính sách có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với xã hội Tính phản biện xã hội của báo chí xuất phát từ động
cơ trong sáng, sẽ góp tiếng nói chân thực, khách quan vào việc nhìn nhận mọi vấn đề của xã hội một cách đa chiều để tìm ra giải pháp xử lý vấn đề một cách tốt nhất, có lợi nhất cho sự phát triển đất nước và đời sống của nhân dân
Là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, bởi vậy những bất cập, tiêu cực trong giáo dục luôn nhận được được sự quan tâm của đông đảo người dân Gần đây nhất, có thể thấy việc thi cử gian lận trong kỳ thi THPT năm 2018 tại Sơn La, Hà Giang và Hòa Bình, đã nhận được sự quan tâm rất lớn của xã hội
Tại địa phương, những vấn đề mang tính phản biện lại càng được công chúng địa phương quan tâm Bởi vậy, truyền thông không chỉ tuyên truyền về cái hay, cái tốt, mà cần phải có tính phản biện, để người xem không nhàm chán với những thông tin một chiều, không có phản biện Đài PT-TH địa phương là cơ quan báo chí gần gũi nhất với những vấn đề của địa phương, bởi vậy, đây cũng là đơn vị có khả năng nắm bắt những vấn đề của địa phương một cách nhanh, đầy đủ, chính xác, tin cậy nhất trong lĩnh vực giáo dục, qua
đó, vừa lắng nghe được ý kiến của công chúng, vừa tuyên truyền và kịp thời phản biện về các chính sách trong lĩnh vực giáo dục ở địa phương
Trang 40Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn đã xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết và thực tiễn về truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình, trong đó tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu,
thiết lập và giải mã các khái niệm trung tâm như: truyền thông, giáo dục, truyền thông về giáo dục, truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình Qua
đó khẳng định, truyền thông về lĩnh vực giáo dục là một nội dung quan trọng trên sóng truyền hình của các đài PT-TH địa phương Đài PT-TH địa phương
là một trong số những kênh thông tin tuyên truyền chính thống, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương để tuyên truyền và đưa thông tin chính xác nhất tới nhân dân Trong đó, truyền hình là kênh truyền thông quan trọng hàng đầu ở địa phương
- Đưa ra những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về truyền thông về giáo dục Từ đó, khẳng định tầm quan trọng của truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình ở các đài PT-TH địa phương hiện nay
- Chương 1 của luận văn cũng phân tích, khẳng định vai trò của truyền hình trong truyền thông về giáo dục tại đại phương, đưa ra nội dung, tiêu chí đánh giá chương trình truyền thông về giáo dục trên sóng truyền hình để làm
cơ sở đánh giá cho những phần khảo sát thực trạng của chương 2