Đánh giá thực trạng và nguyên nhân, hạn chế của hoạt động quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” trên kênh ANTV….……...52 Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT R VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ MINH HƯƠNG
QUẢN TRỊ THÔNG TIN CHƯƠNG TRÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN VĂN DỮNG
HÀ NỘI – 2021
Trang 2Hà Nội, ngày 11 tháng 1 năm 2021
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của PGS,TS Nguyễn Văn Dững Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Hà Nội, ngày 11 tháng 1 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Minh Hương
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ
THÔNG TIN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu ……… 17
1.3 Hoạt động quản trị thông tin chương trình truyền hình……… 20
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ THÔNG TIN CHƯƠNG TRÌNH “GÓC NHÌN SỰ THẬT” TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH NTV 35
2.1 Tổng quan về kênh truyền hình ANTV và chương trình “Góc nhìn sự thật” 35
2.2 Thực trạng quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV 38
2.3 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân, hạn chế của hoạt động quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” trên kênh ANTV….…… 52
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT R VÀ GIẢI PHÁP NÂNG C O CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ THÔNG TIN CHƯƠNG TRÌNH“GÓC NHÌN SỰ THẬT” TRÊN KÊNH NTV 73
3.1 Một số vấn đề đặt ra trong quản trị thông tin chương trình “Góc nhìn sự thật” trên kênh ANTV 73
3.2 Giải pháp về nâng cao chất lượng quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV 75
KẾT LUẬN 86
D NH MỤC TÀI LIỆU TH M KHẢO 89
PHỤ LỤC 93
TÓM TẮT LUẬN VĂN 109
Trang 5Biểu đồ 2.1: Trình độ chuyên môn của nhân sự thực hiện chương trình “Góc
nhìn sự thật” trên kênh ANTV 47
Biểu đồ 2.2: Trình độ lý luận chính trị của nhân sự chương trình “Góc nhìn
sự thật” trên kênh ANTV 48
Biểu đồ 2.3: Đánh giá về nội dung chông suy thoái trong chương trình “Góc
nhìn sự thật” trên kênh truyền hình ANTV 54
Biểu đồ 2.4: Đánh giá về tính hấp dẫn trong chương trình “Góc nhìn sự thật”
trên kênh truyền hình ANTV” 56
Biểu đồ 2.6: Đánh giá chất lượng hình ảnh trong chương trình “Góc nhìn sự
thật” trên kênh ANTV 64
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần
tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”
Ngoài ra sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta
để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra
sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén
và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị
ANTV là kênh truyền hình chuyên biệt về an ninh – trật tự Do đó Đấu tranh chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hàng đầu của kênh truyền hình ANTV, nhằm mang đến những thông tin mới nhất, hấp dẫn và thời sự nhất về trong hoạt động đấu tranh chính trị đẩy lùi âm
Trang 7mưu của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh đẩy lùi những biểu hiện “tự chuyển hóa” trong Đảng Xác định rõ nhiệm vụ của mình kênh ANTV đã xây dựng các chương trình mang nôi dung về đấu tranh chính trị trong đó “Chuyển động cuộc sống”, và “Góc nhìn sự thật” là hai chương trình đặc biệt của kênh ANTV về chủ đề đấu tranh chính trị Thời gian qua hoạt động quản trị thông tin các chương trình này đã được Lãnh đạo
Bộ Công an, Đảng ủy, Lãnh đạo Cục Truyền thông CAND xác định là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu Kênh ANTV đã tổ chức sản xuất hàng trăm chương trình, tin bài liên quan đến vấn đề đấu tranh chính trị, góp phần tác động, đẩy lùi chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện ở nước ta
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hoạt động quản trị thông tin chương trình “Chuyển động cuộc sống”, “Góc nhìn sự thật” vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế như: Phương phức quản trị còn khô khan, quy trình
tổ chức sản xuất còn chậm, mục tiêu quản trị cũng chưa rõ ràng…
Vậy nên, việc nghiên cứu để tổng kết kinh nghiệm, rút ra những bài học cũng như đề xuất giải pháp nhằm giúp tối ưu hóa vấn đề hoạt động quản trị thông tin các chương trình này đã và đang đặt ra vừa cấp thiết, vừa cơ bản trong quá trình nâng cao tính chuyên nghiệp, tính hiệu quả của hoạt động báo chí của kênh ANTV
Xuất phát từ những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản trị
thông tin chương trình “Chuyển động cuộc sống”, “Đấu tranh chính trị” của kênh ANTV” (Khảo sát từ 9/2019 - 3/2020) để làm luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
“Đấu tranh chính trị” là nội dung đặc biệt quan trọng đối với kênh ANTV nói riêng, Bộ Công an nói chung, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ tuyên truyền trên lĩnh vực đấu tranh chính trị, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đồng thời
Trang 8định hướng dư luận tham gia vào nhiệm vụ chung - bảo vệ Đảng, bảo vệ chế
độ, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Vấn đề này cũng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau đây:
Về truyền hình:
- Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội (2002), tác giả Trần Bảo Khánh đã làm rõ những đặc trưng
và thể loại báo chí truyền hình, sản xuất chương trình truyền hình, phóng viên truyền hình và quy trình sáng tạo các tác phẩm báo chí truyền hình với các thể loại: Tin truyền hình, phóng sự truyền hình, ký sự truyền hình, phỏng vấn truyền hình và cầu truyền hình Cũng trong cuốn sách này, tác giả Trần Bảo Khánh đã đề cập rất chi tiết đến công việc tổ chức sản xuất chương trình, đưa
ra các khái niệm liên quan Tác giả Trần Bảo Khánh đã chia các thể loại của báo chí truyền hình thành ba nhóm chính là: Nhóm hội thoại, nhóm tạo hình, nhóm các tác phẩm TV Games – show Từ đó, phân tích cách thức tổ chức sản xuất của các nhóm chương trình đó
- Trong Cuốn “ Giáo trình báo chí truyền hình” do PGS, TS Dương
Xuân Sơn chủ biên, NXB Đại học quốc gia Hà Nội (2009), tác giả đã nêu những vấn đề chung của truyền hình, lịch sử ra đời và phát triển của truyền hình, chức năng của báo chí truyền hình, nguyên lý truyền hình, công nghệ truyền hình, kịch bản truyền hình, phương thức sản xuất chương trình truyền hình và các thể loại : Tin, phỏng vấn, phóng sự, bình luận, ký sự, phim tài liệu truyền hình
Về chính trị:
- Sách:“Các đảng chính trị trên thế giới”, Ths Đặng Thị Lương Nội
dung cuốn sách gồm: Đảng chính trị, quá trình hình thành đảng chính trị trên thế giới; Đảng chính trị ở Vương Quốc Anh; Đảng chính trị Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Đảng chính trị Cộng hòa Pháp; Đảng chính trị Cộng hòa Liên Bang
Trang 9Nga; Đảng chính trị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; Đảng chính trị Nhật Bản; Đảng chính trị Xingapo
- Sách: “Hỏi và đáp những vấn đề cơ bản của chính trị học”, PGS, TS
Lưu Văn An, Dương Xuân Ngọc, 2011, Nxb Chính trị - Hành chính Nội dung cuốn sách: Cuốn sách được viết dưới dạng hỏi và đáp, gồm 4 phần, được trình bày trong 69 câu hỏi và phần trả lời Nội dung chủ yếu đề cập, phân tích, luận giải và làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến khoa học chính trị, thực thi, kiểm soát quyền lực chính trị ở Việt Nam và một số thể chế chính trị thế giới đương đại; giới thiệu lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của các tư tưởng chính trị cổ điển đến hiện đại và những vấn đề chính trị học ở
Việt Nam hiện nay
- Giáo trình: “Chính trị học”, Nhóm tác giả: Nguyễn Đăng Dung ( chủ
biên), Nguyễn Thị Thu Hà, Phạm Hồng Tung, Bùi Ngọc Sơn, 2010,Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 486tr Giáo trình đã về các học thuyết chính trị căn bản, quyền lực chính trị, đảng phái chính trị, bầu cử, các hình thức chính quyền, chính khách, chính sách công và văn hoá chính trị
- Giáo trình: “Chính trị học nâng cao”, PGS, TS Lưu Văn An, 2016,
Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật Trong cuốn sách này tác giả đã cung cấp những kiến thức cơ bản về chính trị học, những giá trị tư tưởng chính trị trong lịch sử, quyền lực và quyền lực chính trị cũng như thể chế chính trị của Việt Nam Tuy nhiên vẫn chưa đề cập đến quản trị thông tin về đấu tranh chính trị Tác giả kế thừa những khái niệm về chính trị để bổ sung khung lý thuyết trong chương 1 của luận văn
Trang 10phản ánh, phát hành trên các ấn phẩm của báo, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền
Ngoài ra còn một số luận văn, luận án, sách và đề tài nghiên cứu khoa học khác đã khai thác từng khía cạnh trong hoạt động thông tin, tuyên truyền đấu tranh với các phương thức hoạt động của các thế lực thù địch trong nhiệm
vụ bảo vệ ANQG như:
Đề tài khoa học “Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên các
phương tiện thông tin đại chúng” của PGS, TS Vũ Hiền, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2000;
Sách “Báo chí trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của PGS,
TS, Vũ Hiền và PGS, TS, Trần Quang Nhiếp, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2000;
Luận án tiến sỹ “Hoạt động phá hoại tư tưởng chống Việt Nam của báo chí và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh của cơ quan an ninh”
của tác giả Nguyễn Văn Ngọc, bảo vệ tại Học viện An ninh Nhân dân năm 2000;
Luận văn thạc sỹ “Những đóng góp của Báo Công an nhân dân trong
sự nghiệp đổi mới và xây dựng lực lượng Công an nhân dân” của tác giả
Nguyễn Trí Dũng, ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn, bảo vệ năm 2000;
Luận văn thạc sỹ “Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên sóng Đài truyền hình Việt Nam” của tác giả Tô Vũ Long, ngành Khoa học Xã hội
và Nhân văn, bảo vệ năm 2002;
Luận văn thạc sỹ “Đài tiếng nói Việt Nam với nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm, luận điệu sai trái” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, bảo vệ năm 2007
Như vậy có thể thấy, có một số các công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến “Đấu tranh chính trị” ở những khía cạnh, thời gian và không gian khác nhau Nhưng chưa có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống, nghiên cứu cụ thể về quản thông tin đấu tranh chính trị khảo sát
Trang 11chương trình “Chuyển động cuộc sống” và “Góc nhìn sự thật” trên kênh ANTV Trong khi vấn đề này đang được đặt ra một cách hết sức cấp bách Do
đó có thể khẳng định đề tài: “Quản trị thông tin trong chương trình
“Chuyển động cuộc sống”, “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV” (Khảo sát từ 9/2019 - 3/2020) là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ
thống về Quản trị thông tin trong chương trình “Chuyển động cuộc sống”,
“Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản trị thông tin đấu tranh chính trị, luận văn bước đầu hình thành nhận thức lý thuyết về quản trị thông tin chương trình, từ đó đánh giá thực trạng quản trị thông tin trong chương trình
“Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV; phân tích vấn đề thực tế qua khảo sát, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị thông tin chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận, bước đầu hình thành khung
lý thuyết về quản trị thông tin chương trình truyền hình
- Thứ hai, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt quản trị thông tin chính trị trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV; phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế trong quản trị thông tin chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV và nguyên nhân của những thành công, hạn chế trong hoạt động quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV
- Thứ ba, phân tích những vấn đề thực tế qua khảo sát và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị thông tin chương trình “Góc nhìn
sự thật” của kênh ANTV trong thời gian tới
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Tác giải nghiên cứu hoạt động quản trị thông
tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” Từ tháng 12 năm 2019, Kênh ANTV đã có sự thay đổi trong format các chương trình truyền hình, chương
trình “Chuyển động cuộc sống” và chương trình “Góc nhìn sự thật” được gộp thành một và lấy tên là chương trình “Góc nhìn sự thật” do đó tác giả chọn không gian nghiên cứu của luận văn là chương trình “Góc nhìn sự thật”
Thời gian nghiên cứu khảo sát chương nói trên từ 9/2019 đến 3/2020,
Tác giả lựa chọn thời gian này do sự chuyển đổi format chương trình, tác giả
sẽ khảo sát sự thay đổi của format và mới để đánh sự thay đổi trong cách quản trị thông tin chương trình rõ nét hơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản trị tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề truyền hình, các điểm của nhà nước về đấu tranh chính trị
Cụ thể, luận văn dựa vào một số lý thuyết cơ sở lý luận như:
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về thông tin chính trị, trọng tâm là lý thuyết tuyên truyền chính trị được thực hiện trên báo chí, trên sóng truyền hình ANTV; trong đó nhấn mạnh báo chí là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, giúp định hướng tư tưởng, bình ổn dư luận, tạo sự thống nhất cao trong đời sống tinh thần của nhân dân về các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước;
Trang 13- Lý thuyết quản trị truyền thông, cho rằng, quản trị thông tin chính trị bắt đầu từ việc quản trị mục tiêu, quản trị nội dung, chủ đề, đề tài cho đến quản trị hình thức – ngôn ngữ, giọng điệu, phong cách trình bày, bố cục câu chuyện, , tất cả đều được setup nhằm tối ưu hóa năng lực tác động cũng như khả năng thuyết phục công chúng – nhóm đối tượng của chương trình chuyên đề
- Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda Setting Theory) Đây là lý thuyết do Maxwell Mccombs và Donald Shaw (Mỹ) đề xướng năm
1972, trong đó mô tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông Trong xã hội, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới
và coi nó quan trọng hơn những thông tin khác Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí - truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng bằng cách phú cho các “chương trình” nét nổi bật khác nhau,
từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn đường trong tương lai
Lý thuyết này được ứng dụng khi nghiên cứu vấn đề này từ cách đặt vấn đề, các chương trình chuyên đề đều tập trung giải quyết những vấn đề thực tiễn trong công tác tuyên truyền của ANTV, trên cơ sở mục đích, kế hoạch được hoạch định Việc quản trị tổ chức sản xuất chương trình cần tuân thủ kế hoạch tuyên truyền như cách lập chương trình nghị sự
- Lý thuyết “truyền thông can thiệp xã hội” Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thông tin – giao tiếp của công chúng xã hội, truyền thông thể hiện phương tiện và phương thức kết nối xã hội, từ đó tạo lập (kết nối, tổ chức) sức mạnh
xã hội để can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã
Trang 14hội đang đặt ra Từ lý thuyết can thiệp xã hội của truyền thông, có thể hiểu về
sự can thiệp xã hội của báo chí - truyền thông như sau: báo chí cung cấp thông tin, kiến thức và tạo diễn đàn công chúng - xã hội chia sẻ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm theo nhu cầu công chúng và trên những vấn đề thực tế đang đặt ra, và về các sự kiện và vấn đề thời sự; trên cơ sở ấy, giúp công chúng xã hội mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức; từ đó, báo chí - truyền thông góp phần làm thay đổi, điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội của công chúng và cộng đồng xã hội nói chung
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng
khảo cứu các tài liệu như sách, tạp chí, giáo trình…chuyên ngành về quản trị, quản trị báo chí - truyền thông, sản xuất chương trình chuyên đề…vv Tài liệu được lựa chọn là các công trình nghiên cứu, tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề nghiên cứu, các trang web điện
tử uy tín và các nguồn tài liệu sưu tầm khác Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu được sử dụng như một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản nhằm tổng hợp, phân tích trên cơ sở đó đúc rút những luận điểm, luận chứng có các nội dung xuyên suốt của luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp phỏng vấn sâu được sử
dụng trong luận văn để thu thập thông tin định tính với đề tài này tác giả phỏng vấn sâu 1 số nhóm như sau: Nhóm trực tiếp sản xuất và quản trị chương trình; Nhóm có trách nhiệm lãnh đạo quản trị kênh ANTV;
- Phương pháp Anket: Do điều kiện hạn hẹp và phạm vi luận văn thạc
sĩ, học viên chỉ khảo sát 600 phiếu trên địa bàn Hà Nội tại 3 phường: Dịch Vọng Hậu – Cầu Giấy 200 phiếu ; Láng Hạ - Đống Đa 200 phiếu ; phường: Minh Khai – Hai Bà Trưng 200 phiếu
Trang 15Với cơ cấu và dung lượng mẫu như vậy có thể chưa nói lên điều gì; nhưng tác giả coi như sự tập dượt khảo sát để có thêm cái nhìn từ công chúng
về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp này được sử dụng
từ việc quản trị thông tin đấu tranh chính trị trong mấy năm gần đây của chương trình được chọn khảo sát cũng như các chương trình của ANTV, chủ yếu từ kinh nghiệm của đồng nghiệp và bản thân tác giả
- Phương pháp phân tích nội dung: Phương pháp này được tác giả sử
dụng để nghiên cứu các tác phẩm về đấu tranh chính trị từ đó đưa ra những phân tích, đánh giá để làm rõ hơn hoạt động quản trị thông tin chương trình “ Góc nhìn sự thật” trên kênh ANTV
6 Cái mới của luận văn
- Đây là luận văn đầu tiên đề cập đến hoạt động quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV
- Với sự tiếp cận những vấn đề lý luận một cách hệ thống, khảo sát thực tiễn, cùng những kinh nghiệm thực tế, luận văn đã tìm ra những bất cập trong việc quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV hiện nay Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp giúp ANTV trong việc nâng cao hoạt động quản trị thông tin chương trình
7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
7.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài hệ thống, luận giải các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu; đồng thời đặt ra một số vấn đề về lý luận đối với quản trị thông tin chương trình trên báo chí nói chung, ANTV nói riêng trong giai đoạn hiện nay
Đề tài làm sáng tỏ thực trạng, khẳng định vị trí, vai trò, thế mạnh, tính chuyên biệt của ANTV trong quản trị thông tin chương trình thông qua quảntrị
thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật”
Trang 16Đề tài góp phần bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận báo chí
về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu khoa học, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng quản trị thông tin trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV, luận văn chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục mang tính khả thi cao Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho phóng viên, biên tập viên, lãnh
đạo khi quản trị thông tin chương trình truyền hình
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết:
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ THÔNG TIN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quản trị
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Quản trị là quản lý và điều hành công việc thường ngày Quản trị bao gồm hai loại hoạt động, quản lý và điều hành [45, tr.801]
Trước hết, chúng ta đề cập cách tiếp cận quản lý Quản lý là hoạt động xuất hiện khi có sự xuất hiện của nền sản xuất xã hội, dẫn đến nhu cầu liên kết, phối hợp hoạt động giữ con người với con người trong xã hội Trong bất
kỳ tổ chức nào, từ quy mô gia đình đến cấp quốc gia, quốc tế, từ tổ chức chính trị xã hội đến an ninh, kinh tế, quốc phòng, giáo dục, y tế, thể thao… đều cần đến vai trò của quản lý Nếu không có quản lý, sẽ dẫn tới hoạt động
tự phát, hỗn loạn, kém hiệu quả
Có thể hiểu, quản lý là sự tác động của chủ thể vào khách thể quản lý nhắm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức [45,tr.154] Hay nói cách khác, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của các cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu đã
đề ra [45, tr.154] Còn điều hành là điều khiển mọi bộ phận và quy trình hoạt động chung [45, tr.321]
Như vậy, thực chất của hoạt động quản trị là quản lý, bao gồm các khâu lập kế hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các hoạt động của cá nhân,
Trang 18nhóm, tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu đã đề ra
Theo tác giả có thể hiểu khái niệm quản trị theo cách hiểu sau: Quản trị
là quá trình lên kế hoạch, tổ chức sắp xếp công việc, nhân sự để phối hợp hoàn thành mục tiêu đề ra Nếu như khái niệm quản lý đi vào tìm hiểu chủ thể
và khách thể quản lý, phương tiện và phương thức quản lý, thì quản trị chủ yếu nhấn mạnh vai trò nội tại, từ bên trong tổ chức, có tính chất “tự quản” công việc
để bảo đảm mục tiêu, kế hoạch cũng như tối ưu hóa quá trình công việc
1.1.2 Khái niệm thông tin
“Thông tin” xuất phát từ tiếng La tinh “Imformation”: được hiểu là thông báo, giải thích, tóm tắt Thông tin có thể là những thông báo về đối tượng và hiện tượng xảy ra xung quanh chúng ta, về những thông số, bản chất của chúng, những điều mà hệ thống thông tin (máy móc, con người) đã truyền tải lại trong quá trình công việc và cuộc sống
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “thông tin” với ý nghĩa: “là động từ được hiểu là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết, danh từ
nghĩa là tin tức được truyền đi cho biết” [45, tr 17]
Trong cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí” của nhóm tác giả Trường Đại học Khoa học - Xã hội - Nhân văn: “Thông tin” là công cụ chủ yếu để báo chí thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành môi giới giữa báo chí
và công chúng Nó là “dụng cụ làm việc”, với sự giúp đỡ của dụng cụ đó, những công việc đa dạng, quan trọng được hoàn thành Đối với báo chí, những công việc đó như một hệ thống xã hội đặc biệt Đó là lý do giải thích tại sao báo chí gồm tất cả các tổ chức thông tin thuộc loại hình khác nhau và
ở những cấp độ khác nhau với ý nghĩa là tất cả các “phương tiện thông tin
đại chúng” [36]
Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người Mà ngay trong thiên nhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loại
Trang 19động vật khác nhau Thông tin được dùng để chỉ chất lượng nội dung thông báo nói chung
Theo quan niệm của nhóm tác giả trong cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền do PGS.TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên năm 2007, từ “thông tin” được sử dụng với những ý nghĩa khác nhau trong tình huống cụ thể: “Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo Trong trường hợp này người ta xem chất lượng nội dung
thông báo bằng “lượng thông tin” được chuyển đến đối tượng tiếp nhận
Trong Luận văn Thạc sỹ báo chí học về đề tài: “Thông tin đối ngoại về
văn hóa trên báo chí”, tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền khẳng định:
“Thông tin là tin tức, thông báo, tri thức về một sự vật hay một hiện tượng được chứa đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử
dụng qua các phương thức thích hợp” [25, tr 14]
Qua tìm hiểu các khái niệm trên theo tác giả có thể hiểu thông tin là những thông điệp nhằm chia sẻ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm… giữa các đối tượng giao tiếp một cách tương đối bình đẳng, nhiều chiều, nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ tiến tới điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực hóa hoạt động thực tiễn
1.1.3 Khái niệm thông tin chính trị
Chính trị là toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước; sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước
Chính trị liên quan đến quyền lợi của giai cấp và nhà nước Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, bao gồm hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, đảng phái chính trị xuất hiện khi xã hội phân chia giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế nhất định Chính trị còn tồn tại khi nào còn giai cấp, còn nhà nước
Trang 20Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chính trị trước hết là bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hiệu lực quản lí của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Như vậy, theo tác giả có thể hiểu khái niệm thông tin chính trị chính là
những thông điệp về những hoạt động của các đảng chính trị, nhà nước, chính khách, hoạt động đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của các đối tượng liên quan
Thông tin chính trị trong chương trình “Góc nhìn sự thật” của kênh ANTV bao gồm các thông tin về: Điều tra, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các hoạt động khủng bố, bạo loạn, lật đổ và Điều tra, chống “suy thoái” trong nội bộ Đảng
1.1.4 Khái niệm chương trình và chương trình truyền hình
- Khái niệm chương trình
Về khái niệm chương trình, chương trình là toàn bộ những nội dung dự kiến hành động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định
Chương trình còn được định nghĩa là một loạt các hoạt động được thực hiện với sự hỗ trợ của các nguồn nhân sự nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể cho các nhóm khách hàng, nhóm đối tượng đã được định sẵn Để đánh giá chương trình là sự thu thập cẩn thập các thông tin về một chương trình hoặc một vài khía cạnh của một chương trình đề ra các quyết định cần thiết đối với chương trình
Tác giả Trần Bảo Khánh trông cuốn sách Sản xuất chương trình truyền hình viết: “Với sự xuất hiện của phát thanh, sau đó là truyền hình thì cũng
xuất hiện thuật ngữ chương trình Đây là thuật ngữ mang tính bản chất của chúng Có thể đưa ra khái niệm như sau về chương trình: “Chương trình là kết quả của quá trình giao tiếp với công chúng” [26, tr.30] và “Chương trình tạo thành chu kỳ khép kín những mắt xích trong chuỗi giao tiếp” [26, tr.31]
Trang 21- Khái niệm chương trình truyền hình
Xuất hiện như một điều thần kỳ, nhờ sự sáng tạo của con người, truyền hình đã tạo ra những “món ăn” tin thần vô cùng “thơm ngon”, được tạo nên bằng những “nguyên liệu” và “công thức” phức tạp “Công thức” này người
ta gọi là “chương trình truyền hình”
Trong cuốn Sản xuất chương trình truyền hình theo tác giả Trần Bảo Khánh, chương trình truyền hình được hiểu như sau: “Là kết quả hoạt động,
là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận kỹ thuật – tài chính – nội dung” [26, tr.31] Định nghĩa này còn khá chung chung chỉ nêu được chủ thể thực hiện (tập thể) và các thành phần chính yếu “kỹ thuật – tài chính – nội dung”
Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng cho rằng:
“Chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề
cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng tương đối ổn định và được phát theo định kỳ” [37, tr.142] Theo định nghĩa này, tác giả đã nêu được những yếu tố trong một chương trình truyền hình từ cấu trúc (tin, bài, phóng sự đi kèm hình hiệu, lời dẫn), nội dung (theo một chủ đề nhất định), hình thức, thời lượng và thời gian
Tóm lại, từ những phân tích ở trên, kết hợp nghiên cứu thực tiễn có thể rút ra quan niệm: “Chương trình truyền hình là một phương tiện truyền thông nhằm chuyển tải thông tin qua hình ảnh và âm thanh Sản phẩm truyền hình bao gồm một hay nhiều tác phẩm cùng với những thông tin, linh kiện đi kèm; thường hướng vào nội dung chủ đề cụ thể, với hình thức nhất định, thời lượng
và thời gian được xác định rõ ràng; đây là một sản phẩm của một tập thể, mà mỗi thành viên đều là mắt xích quan trọng
1.1.5 Khái niệm quản trị thông tin chính trị chương trình truyền hình
Quản trị chương trình truyền hình có thể hiểu là: Quá trình bố trí, tổ chức, sắp xếp công việc, nhân sự để hoàn thành chương trình trên truyền hình
Trang 22Quá trình đó bao gồm các yếu tố sau:
- Quản trị mục tiêu chương trình
- Quản trị nhân sự
- Quản trị hệ thống máy móc trang thiết bị
- Quản trị quy trình sản xuất nội dung thông tin
1.2 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò của báo chí với công tác đấu tranh chính trị
Báo chí ở nước ta là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước là tiếng nói
của quần chúng Báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt
động của Đảng ta, là yếu tố cấu thành hoạt động tư tưởng, lý luận của Đảng
Báo chí có nhiệm vụ truyền bá đường lối, chính sách của Đảng đến với quần chúng Thông tin kịp thời, phân tích sâu sắc những sự kiện mới; phát hiện và phản ánh trung thực những điển hình tiên tiến, nhiệt tình ủng hộ những nhân tố mới, dũng cảm đấu tranh chống những hiện tượng lạc hậu, trì trệ và mọi biểu hiện tiêu cực khác; đề cập và chỉ ra phương hướng giải quyết những vấn đề thiết thực mà xã hội quan tâm; xây dựng dư luận xã hội lành mạnh, động viên quần chúng hoàn thành nhiêm vụ cách mạng của Đảng
Chính vì vậy, Đảng ta luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của báo chí trong công tác xây dựng Đảng Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa
VIII đã xác định “báo chí, công luận là một trong bốn hệ thống giám sát cán
Trang 23chính sách của Đàng và Nhà nước, góp phần xây dựng tình cảm, đạo đức, lối sống lành mạnh, mở mang dân trí về mọi mặt, bồi dưỡng ý thức cách mạng, nâng cao ý thức cảnh giác chống lại những luận điệu xuyên tạc của kẻ địch
Chỉ thị 08 - CT/TW ngày 31-3-1992 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản” nêu rõ:
Báo chí, xuất bản có trách nhiệm góp phần làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, động viên toàn Đảng, toàn dân vượt qua khó khăn thử thách, năng động sáng tạo trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày 17/10/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 22 - CT/TW về
“Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản” Chỉ thị nêu rõ:
Báo chí là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị,
xã hội và diễn đàn của nhân dân Nhiệm vụ chính trị hàng đầu của báo chí là
“luôn luôn đi đầu trong việc bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”
Tại Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nêu rõ phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"
Đảng lãnh đạo báo chí, nhưng quản lý báo chí là việc của Nhà nước Nhà nước quản lý báo chí thông qua luật pháp, quy chế, thể lệ dựa trên các quan điểm và định hướng chính trị của Đảng Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước đối với báo chí là nhằm mục đích bảo đảm thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đáp ứng nhu cầu thông
Trang 24tin ngày càng cao của nhân dân, đồng thời tạo điều kiện cho hệ thống báo chí nước ta phát triển đúng hướng
Qua đó chúng ta có thể thấy, xuất phát từ vai trò và sức mạnh của báo chí, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác đấu tranh chính trị là một nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu, thường xuyên của báo chí Đặc biệt hiện nay khi chúng ta luôn phải đối mặt với sự chống phá của các thế lực bên ngoài cùng với nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng hoạt động âm mưu “diễn biến hòa bình”, thường xuyên phát tán các luận điệu sai trái, thù địch, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương tiện báo chí, truyền thông Internet, mạng xã hội, không ngừng tìm cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng làm tan rã nội bộ thì vai trò của báo chí với công tác đấu tranh chính trị lại trở nên rõ nét hơn
1.2.2 Một số lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu vấn đề quản trị thông tin chương trình truyền hình
- Lý thuyết quản trị truyền thông, cho rằng, quản trị thông tin bắt đầu từ việc quản trị mục tiêu, quản trị nội dung, chủ đề, đề tài cho đến quản trị hình thức – ngôn ngữ, giọng điệu, phong cách trình bày, bố cục câu chuyện, , tất
cả đều được setup nhằm tối ưu hóa năng lực tác động cũng như khả năng thuyết phục công chúng – nhóm đối tượng của chương trình truyền hình
- Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda Setting Theory) Đây là lý thuyết do Maxwell Mccombs và Donald Shaw (Mỹ) đề xướng năm
1972, trong đó mô tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông Trong xã hội, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới
và coi nó quan trọng hơn những thông tin khác Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức
Trang 25năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí - truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng bằng cách phú cho các “chương trình” nét nổi bật khác nhau,
từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn đường trong tương lai
- Lý thuyết “truyền thông can thiệp xã hội” Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thông tin – giao tiếp của công chúng xã hội, truyền thông thể hiện phương tiện và phương thức kết nối xã hội, từ đó tạo lập sức mạnh xã hội để can thiệp
xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra Từ lý thuyết can thiệp xã hội của truyền thông, có thể hiểu về sự can thiệp xã hội của báo chí-truyền thông như sau: báo chí cung cấp thông tin, kiến thức và tạo diễn đàn công chúng - xã hội chia sẻ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm theo nhu cầu thực tế và về các sự kiện và vấn đề thời sự đang đặt ra; trên cơ sở ấy, giúp công chúng xã hội mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức; từ đó, báo chí
- truyền thông góp phần làm thay đổi, điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội của công chúng và cộng đồng xã hội nói chung
1.3 Hoạt động quản trị thông tin chương trình truyền hình
1.3.1 Chủ thể quản trị thông tin chương trình truyền hình
Để thực hiện tốt hoạt quản trị thông tin chương trình thì vai trò của chủ thể quản trị vô cùng quan trọng Chủ thể quản trị thông tin chương trình truyền hình mà tác giả đề cập bao gồm: Tổng biên tập, tổng giám đốc các kênh truyền hình, dưới đó là nhà báo, phóng viên và biên tập viên
1.3.2 Đối tượng của hoạt động quản trị thông tin chương trình
Đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản trị thông tin chương trình là những mối quan hệ con người bên trong và bên ngoài của đài truyền hình, các kênh truyền hình Chủ thể quản trị tác động lên con người thông qua đó tác
Trang 26động lên các yếu tố vật chất và phi vật chất như vốn, vật tư máy móc, thiết bị công nghệ thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động
Đối tượng của hoạt động quản trị thông tin chương trình trong luận văn này chính là quản trị các mối quan hệ, bao gồm: quản trị con người, quản trị mục tiêu, hình thức chương trình, quản trị hệ thống trang thiết bị sản xuất chương trình
1.3.3 Phương thức quản trị thông tin chương trình
Phương thức thông tin chương trình truyền hình chính là cách thức và phương pháp quản trị để chương trình truyền hình đạt được chất lượng tốt nhất, đáp ứng yêu cầu của kênh và phù hợp với nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng Có nhiều phương thức quản trị khác nhau, song trong luận văn này tác giả sẽ đề cập tới một số phương thức quản trị như sau:
- Một là, quản trị thông qua công tác kiểm tra, giám sát Phương thức quản trị này không chỉ kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất thông tin chương trình truyền hình mà còn cả sau khi phát sóng với sự phản hồi thông tin từ công chúng Làm tốt phương thức quản trị này sẽ giúp các kênh truyền hình kịp thời rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hoạt động quản trị thông tin chương trình cho ra đời những chương trình hay hơn, phù hợp hơn
- Hai là, quản trị thông qua tài chính Đây là phương thức quản trị thông tin chương trình mang lại hiệu quả cao Bởi lẽ, thông qua việc chi trả thù lao, nhuận bút, việc thưởng phạt trong thực hiện chương trình sẽ tạo động lực trực tiếp để quản trị thông tin chương trình tốt hơn
- Ba là, quản trị thông qua hệ thống cơ cấu nhân sự hợp lý Đây là phương thức nhưng cũng vừa là yêu cầu trong quản trị thông tin chương trình truyền hình Thực tế cho thấy nếu có một tổ chức hợp lý với đội ngũ nhân sự
có đủ trình độ, kiến thức, kỹ năng và tâm huyết thì việc quản trị sẽ thuận lợi Đặc biệt vai trò của người đứng đầu tổ chức càng cần phải có bản lĩnh chính trị, có kiến thức, có kỹ năng và kinh nghiệm quản trị
Trang 27- Bốn là, quản trị thông qua quy chế, quy định Điều này là vô cùng cần thiết Ngoài luật Báo chí 2016, các Thông tư, Quy định của cơ quan chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này thì rất cần thiết phải có quy chế, quy định cụ thể để căn cứ vào đó để thực hiện, quy trách nhiệm và xử lý các vấn đề nảy sinh nếu có Nếu thiếu hệ thống này thì rất dễ rơi vào tình trạng đùn đẩy trách nhiệm
- Năm là, quản trị thông qua chế độ thông tin báo cáo Đây là phương thức quản trị được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các buổi giao ban chuyên môn, rút kinh nghiệm Đặc biệt phương thức này đòi hỏi sự liên
hệ mật thiết trong ê kíp sản xuất chương trình với bộ phận nghiệm thu, duyệt phát sóng Làm tốt vấn đề này sẽ có sự phối hợp nhịp nhàng, kịp thời hỗ trợ trên mọi phương diện để thực hiện chương trình đạt chất lượng tốt nhất
Trên thực tế cho thấy, trong quá trình quản trị thông tin các chương trình truyền hình chúng ta không nên tuyệt đối hóa phương thức quản trị nào
mà cần có sự phối hợp của tổng thể nhiều phương thức khác nhau thì mới mang lại hiệu quả quản trị cao nhất
1.3.4 Nội dung quản trị thông tin chương trình
Quản trị mục tiêu chương trình
Mỗi hoạt động của con người điều có mục tiêu và mục đích xác định và
có ý nghĩa quan trọng là cái đích mà chủ thể hướng đến Từ việc thiết lập mục tiêu và bằng mọi cách để mục tiêu đó được thực hiện, thông qua kế hoạch và các điều kiện khác Mục tiêu là kết quả có thể đo lường trong tương lai mà chúng ta có thể hình dung ra và mong muốn đạt được thông qua một một kế hoạch hành động với những điều kiện cụ thể
Khi đã xác định được rõ mục tiêu, chúng ta có thể tổ chức, kết nối , đinh hướng và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, hình thành động lực, quyết tâm, sáng tạo nhằm hướng tới đích đã xác định Do vậy quản trị mục tiêu có ý nghĩa quyết định
Trang 28Đối với quản trị thông tin chương trình truyền hình, việc quản trị mục tiêu chính là định hướng sáng tạo, từ khâu xác định chủ đề, đề tài và triển khai thực hiện từ khâu format chương trình, kịch bản, khâu tiền kỳ, hậu kỳ cũng như duyệt phát sóng cho đến đo lường hiệu quả thực tế từ công chúng
Kênh ANTV là kênh truyền hình chuyên biệt về ANTT, và phóng sự điều tra được xem là những chương trình chuyên biệt của kênh về ANTT Ngay từ khi chương trình điều tra được thành lập đã bám sát vào mục tiêu của Kênh đó là cũng cấp cho công chúng cái nhìn khách quan nhất về ANTT của Việt Nam hiện nay Mục tiêu các phóng sự điều tra thường xuyên được lãnh đạo Kênh quán triệt tới từng cán bộ, phóng viên, biên tập viên ở các chương trình, đặc biệt là những phóng sự điều tra thì mục tiêu chương trình luôn được quán triệt ngay trong từng cuộc họp, sau đó sẽ phổ biến đến phóng viên , phóng viên căn cứ vào mục tiêu chung lựa chọn đề tài phù hợp với mục tiêu sau đó sẽ trình phê duyệt của lãnh đạo Trung tâm và chuyển về ban biên tập nếu được thông qua sẽ tổ chức sản xuất, do vậy quản lý mục tiêu chương trình luôn được đặt lên hàng đầu, giúp các chương trình chuyên đề của ANTV luôn theo đúng định hướng và phục vụ tốt cho nhu cầu thông tin công chúng xứng đáng là kênh truyền hình chuyên biệt về ANTT hàng đầu tại Việt Nam hiện nay, góp phần đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của người dân, đóng góp và sự phát triển của đất nước
- Quản trị quy trình sản xuất thông tin chương trình
Đối với hầu hết tất cả các chương trình truyền hình để xây dựng nội dung một chương trình truyền hình, cần trải qua hai giai đoạn chính: tiền kỳ và hậu kỳ
PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh chủ biên cuốn “Phóng sự truyền hình, lý thuyết và
kỹ năng nghề nghiệp” đã đưa ra quy trình sản xuất cụ thể cho phóng sự truyền
hình như sau: Đối các chương trình trên truyền hình, để tìm ra được câu trả lời cho các vấn đề đang đặt ra, trong quá trình sản xuất, đội ngũ nhà báo, phóng viên còn phải thực hiện hoạt động điều tra bằng nhiều phương pháp điều tra
Trang 29khác nhau Những phương pháp này được quy định bởi các mục tiêu và đối tượng điều tra, nhà báo phải lựa chọn, sắp xếp sử dụng phương pháp này một cách có khoa học, logic để đạt được hiệu quả
Giai đoạn tiền kỳ
Giai đoạn tiền kỳ bao gồm việc nghiên cứu thực tế, xác định chủ đề, làm kịch bản, chuẩn bị các điều kiện nhân sự, kỹ thuật, dịch vụ cần thiết và ghi hình Trong đó, ghi hình là trung tâm, tập trung nhiều sự chú ý nhất của giai đoạn tiền kỳ Cụ thể các khâu trong giai đoạn tiền kỳ như sau:
Chọn đề tài: đây được xem là khâu đầu tiên, quan trọng mang tính chất khoanh vùng đối tượng phản ánh Đây cũng là lúc phóng viên quyết định nội dung hình thức thể hiện tác phẩm Đề tài có thể do ban biên tập phân công hoặc do phóng viên phát hiện và lựa chọn Đề tài trước tiên phải đáp ứng được "các tiêu chí của đề tài một tác phẩm báo chí truyền hình là: là
sự kiện, sự việc có thật; mới xảy ra hoặc có thể không mới nhưng tính thời
sự vẫn cao, tác động đến cuộc sống của công chúng và được nhiều người quan tâm; đề tài có thể ghi hình được" [25,tr 90] Bên cạnh đó, đề tài của các chuyên đề trên truyền hình phải là “những trạng thái hoàn cảnh có vấn đề” như đã phân tích ở phần trên
Xác định chủ đề, tư tưởng chủ đề: chủ đề là vấn đề trung tâm, vấn đề bao quát được nhà báo nêu lên, để bộc lộ được chủ đề tác phẩm, phóng viên cần đề cập chủ đề dưới một hoặc vài góc nhất định Còn tư tưởng chủ đề là thái độ, tình cảm, chính kiến của người viết gửi gắm qua sự kiện, vấn đề mà
họ phản ánh Đây được xem là khâu xác định nội dung, hình thức thể hiện và đối tượng tiếp nhận thông tin Từ đó xác định được phương pháp khai thác tài liệu, góc độ tác phẩm đề cập,…
Tiếp xúc sự kiện và nhân vật: đây là khâu tìm hiểu thông tin về vấn đề,
sự kiện qua việc tra cứu các tài liệu liên quan và tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các nhân vật để từ đó nắm được bản chất của sự kiện và tìm cách thể
Trang 30hiện phù hợp Từ khâu này, nhà báo, phóng viên bắt đầu áp dụng các phương pháp điều tra để tiếp cận, tìm hiểu các nguồn thông tin bao gồm một số phương pháp như sau:
Phương pháp thu thập thông tin: Việc phát hiện một bức tranh đầy đủ
về các sự kiện là đối tượng, mục tiêu điều tra của nhà báo sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu thông tin xác đáng về mọi mặt của sự kiện Các nguồn thông tin được nhà báo sử dụng trong quá trình điều tra có thể chia thành hai nhóm cơ bản: Nhóm các nhân vật có những thông tin thu hút sự quan tâm của nhà báo (các nhân chứng, những người chứng kiến sự kiện hoặc lưu giữ thông tin ); nhóm thứ hai là các cơ quan, tổ chức có mối quan hệ qua lại với các phương tiện thông tin đại chúng được điều chỉnh bằng luật pháp và các văn bản chuẩn mực khác Ngoài ra, một trong những nguồn thông tin quan trọng trong tay nhà báo điều tra đó chính là tư liệu cá nhân của chính nhà báo Cùng với đó, việc tìm kiếm thông tin trên Internet cũng quan trọng và cần thiết Việc sử dụng các nguồn tin cần phải phù hợp với quyền thu nhận thông tin được luật pháp cho phép
Phương pháp xử lý tài liệu: trên những cơ sở khác nhau, tài liệu được chia ra làm nhiều loại Xét về mặt ghi nhận thông tin có thể chia tài liệu thành các nhóm: bản thảo, bản in, ảnh, đĩa CD, Về mặt hoạt động tạo ra chúng, tài liệu có thể được phân thành: tài liệu hành chính nhà nước, tài liệu xã hội chính trị, tài liệu khoa học, Về hình thức sở hữu có thể chia thành: tài liệu công cộng,
sở hữu nhà nước, sở hữu cá nhân, “Khi phân tích các tài liệu cần phân biệt mô
tả các sự kiện và cách diễn giải chúng; xác định xem người lập tài liệu đã sử dụng những nguồn thông tin nào, nguồn thông tin đó là nguồn tin gốc hay sao chép; xác định rõ những ý định của người viết tài liệu đó; tính tới bối cảnh mà người viết có tác động tới chất liệu của tài liệu Điều cũng quan trọng nữa là nếu
có thể thì cần so sánh nội dung của những tài liệu được nghiên cứu với những
thông tin thu được từ các nguồn khác về vấn đề điều tra”
Trang 31Viết kịch bản: đây là khâu quan trọng, giúp phóng viên xác định rõ chủ
đề, bám sát chủ để xây dựng cấu trúc, sắp xếp, lựa chọn thông tin nhằm làm cho tác phẩm rõ ràng, mạch lạc, bộc lộ rõ chủ đề Qua kịch bản giúp cho ban biên tập nắm được nội dung, kế hoạch sản xuất, hoạch định được chương trình Kịch bản cũng sẽ tạo sự thống nhất giữa các thành viên trong ekip sản xuất, là sợi dây liên kết giữa phóng viên, biên tập viên và phóng viên quay phim Đối với phóng sự truyền hình nói chung kịch bản thường được viết dưới dạng đề cương, mang tính dự kiến, dự báo
Quay phim: đây là khâu sáng tạo quan trọng Khi quay phóng sự phải chú ý khuôn hình nhiều bối cảnh, bố cục khuôn hình phải thể hiện được thông tin cần thiết Ở đây, phải có sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng giữa các thành viên trong ekip sản xuất Trong đó, phóng viên tại hiện trường cũng phải song hành thực hiện điều tra nhằm khai thác thông tin, thu thập chứng cứ để tìm ra câu trả lời thông qua nhiều phương pháp như:
Phương pháp quan sát: Phương pháp này dựa trên nhận thức của phóng viên về thực tế thông qua tri giác “Khác hẳn với quan sát thông thường mang tính chất ngẫu nhiên, quan sát của nhà báo là có mục đích Đối tượng quan sát của nhà báo có thể tương đối đơn giản nhưng cũng có thể là các tiến trình sự kiện, tình huống xã hội, văn hóa, tôn giáo, đạo đức đặc biệt phức tạp” [1, tr 20] Trên các cơ sở khác nhau, phương pháp quan sát có thể được phân chia thành các loại như sau:
Xét vào mức độ tiếp xúc của người quan sát với đối tượng quan sát có thể chia thành: quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp
Xét về sự công khai về vai trò của người quan sát có thể thia thành: quan sát công khai (nhà báo tuyên bố, công khai với những người xung quanh
để họ biết mình là ai, sẽ làm gì, thông báo mục đích, nhiệm vụ và yêu cầu giúp đỡ) và quan sát bí mật (nhà báo quan sát mà không để người khác biết)
Trang 32Trên cơ sở sự tham gia của nhà báo có thể chia thành: quan sát có tham gia (trực tiếp tham gia vào sự kiện, hoạt động để quan sát) và quan sát không tham gia (quan sát từ bên ngoài)
Phương pháp phỏng vấn và nói chuyện: đây là một phương pháp phổ biến để khai thác thông tin Đối với phương pháp này, nhà báo phải biết cách đặt vấn đề một cách linh hoạt, lái câu chuyện theo hướng cần thiết, lưu ý người đối thoại về những vấn đề được công chúng quan tâm Nhà báo khi chuẩn bị phỏng vấn cần phải hiểu rõ về đối tượng của mình, tốt nhất là nên phỏng vấn trong cuộc nói chuyện riêng, soạn sẵn các câu hỏi, tránh đưa ra các câu hỏi đóng, tiến hành phỏng vấn sao cho mở ra câu trả lời tiếp theo, những câu hỏi phức tạp nên nêu ra vào cuối buổi phỏng vấn Nói chung, nhà báo cần
có kỹ năng giao tiếp tốt khi sử dụng phương pháp này
Phương pháp thử nghiệm: Đây là một trong những phương pháp quan trọng được sử dụng trong điều tra báo chí Khi tiến hành phương pháp thử nghiệm, nhà báo phải tạo ra tình huống nhân tạo, không tồn tại trước đó sau
đó nghiên cứu tình hình bằng cách áp dụng những phương pháp quan sát khác Sau khi phương pháp thử nghiệm kết thúc, tình huống nhân tạo do nhà báo tạo ra sẽ biến mất Sự khác biệt của các tình huống được nghiên cứu sẽ dễ dàng bộc lộ nếu được đưa ra so sánh Trong đó, điều kiện cần thiết cho việc tiến hành thành công phương pháp thử nghiệm đó là yếu tố vạch kế hoạch
Các phương pháp điều tra hình sự: việc làm quen với các cơ sở của môn hình sự học có thể có lợi nhất định cho nhà báo điều tra, đặc biệt là đối với những người mới vào nghề Bất cứ cuộc điều tra nào kể cả điều tra trong nghề báo sẽ được tiến hành có hiệu quả nếu như người điều tra chuẩn bị tiến hành nó một cách sáng tạo, áp dụng các thủ thuật và nhiều biện pháp trong đó
có cả các phương pháp điều tra hình sự, tuy nhiên vẫn phải nằm trong khuôn khổ các quyền hạn được luật pháp cho phép
Trang 33Giai đoạn hậu kỳ
Giai đoạn hậu kỳ bao gồm việc dựng hình, viết và thể hiện lời bình, chọn và sử dụng âm nhạc, tiếng động, hoàn thiện và duyệt phát sóng chương trình Đây là giai đoạn tổ chức lại các tư liệu hình ảnh, sử dụng các chất liệu ngôn ngữ, tiếng động và âm nhạc để nâng cao khả năng thể hiện của hình ảnh, hoàn thiện logic pháttriển của sự kiện, vấn đề, đưa đến cho công chúng truyền hình sự cảm thụ trọn vẹn và sinh động Cụ thể như sau:
Dựng phim: khâu này có mục đích chính là giúp phóng viên kể câu chuyện một cách có hiệu quả và duy trì sự quan tâm của khán giả Sử dụng nghệ thuật Montage đối với phóng sự truyền hình không chỉ đơn thuần là việc chọn một đoạn hay rút ngắn những hình ảnh đã thu được mà đây là việc tổ chức lại, thiết lập trình tự và độ dài cảnh, chuyển từ cảnh này sang cảnh khác, duy trì sự liên tục về hình và tiếng để đem lại tính hợp lý và nội dung nhằm giúp người xem dễ hiểu Về mặt nghệ thuật, dựng là tác động vào cách diễn giải của người xem, tạo dựng không khí Sử dụng kỹ xảo để tăng nhịp điệu, tiết tấu, giải quyết các vấn đề dồn nén không gian, thời gian của câu chuyện
Viết lời bình: lời bình đem lại những thông tin mà hình ảnh không thể diễn đạt hết được, lời bình làm tăng tính logic, độ sâu sắc, chính xác và cảm xúc trong phóng sự điều tra Phóng viên viết lời bình dựa trên kết quả quan sát trực tiếp hiện thực khách quan, không chủ quan, suy đoán, bịa đặt… Ở đây, để đảm bảo tính khách quan, trung thực của thông tin đưa đến cho khán giả, phóng viên, nhà báo điều tra cũng cần áp dụng các phương pháp như:
Phương pháp chọn lọc thông tin thu nhận được: thực tế, trong mỗi cuộc điều tra báo chí, nhà báo có thể điều tra ra được rất nhiều vấn đề, tìm kiếm được rất nhiều thông tin, bằng chứng, tuy nhiên lượng thời gian phát sóng có hạn vì vậy nhà báo cần biết cách chọn lọc những thông tin cần thiết trước hết
và có lợi tối đa cho việc đạt tới mục tiêu của mình Muốn làm được điều đó cần phải biết đánh giá tầm quan trọng của những thông tin nhận được “Tầm
Trang 34quan trọng của thông tin trước hết được xác định bởi nội dung của nó nghĩa là dung lượng sự kiện cũng như độ tin cậy, trung thực của nội dung thông tin”
Các phương pháp suy luận dữ liệu theo kinh nghiệm: Những thông tin thu nhận được trong giai đoạn tiền kỳ cần được xử lý để có sự thấu hiểu về sự kiện Việc suy nghĩ về thông tin thu nhận được trên cơ sở kinh nghiệm trong quá trình điều tra được thực hiện bằng những phương pháp rất khác nhau Có thể kể đến một số phương pháp như sau:
Các phương pháp chứng minh và bác bỏ: Chứng minh là sự xét đoán logic trong đó khẳng định hoặc bác bỏ tính chân thực của ý nghĩa nào đó bằng những luận điểm đã được kiểm chứng trong thực tế Việc lập luận chứng minh luôn bao gồm 3 yếu tố: luận điểm, lý lẽ, trình bày Bác bỏ là một hành động logic khi vạch ra tính chất giả dối hoặc không xác thực được nêu ra dưới hình thức luận điểm
Các phương pháp nội dung - lý thuyết: Phương pháp này có khả năng tính tới sự vận động, tính chất thay đổi của thế giới thực tế Các nhóm phương pháp nội dung - lý thuyết trong phát hiện mối liên hệ của đối tượng như sau: phương pháp phân tích và tổng hợp (xuất phát từ việc phân chia đối tượng thành các phần, sau đó kết hợp các phần đó lại); phương pháp giả định (xuất phát từ sự cần thiết phải vượt ra ngoài giới hạn tình trạng phát triển trực tiếp hiện nay của hiện tượng); phương pháp lịch sử, phương pháp logic (xuất phát
từ sự cần thiết khi nghiên cứu đối tượng để làm rõ các nét phát triển riêng biệt cũng như các mối liên hệ thực chất của nó) Ngoài ra, cũng tồn tại một nhóm phương pháp giải thích đối tượng phản ánh gồm: phương pháp mô tả đối tượng; phương pháp phân tích nhân - quả; các phương pháp đánh giá, dự báo
sự phát triển của đối tượng,
Phương pháp nghệ thuật: phương pháp này chỉ có thể được sử dụng trong giai đoạn trình bày tài liệu và hoàn thiện phóng sự điều tra Bản chất của phương pháp này chính là việc áp dụng không giới hạn óc tưởng tượng
Trang 35của tác giả tự do xây dựng hình tượng nghệ thuật và qua đó phát hiện sự thật của cuộc sống nói chung để trình bày tác phẩm Phương pháp này bao gồm việc sử dụng các yếu tố điển hình hóa, ngôn ngữ hình tượng biểu cảm, sử dụng tính ước lệ trong kết cấu các sự kiện,…
Lồng tiếng, nhạc, tiếng động: đây là khâu hoàn thiện và chau chuốt lại sản phẩm nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm và tăng hiệu ứng truyền tải
Duyệt và phát sóng: sau khi hoàn thành các công đoạn sản xuất phóng
sự, đây là khâu của ban biên tập và ban thư ký để đưa sản phẩm lên phát sóng phục vụ công chúng
Theo dõi thông tin phản hồi: sau khi đã phát sóng cần lắng nghe ý kiến, thông tin phản hồi từ các bên liên quan để đánh giá đúng hiệu quả tác động của sản phẩm cũng như giúp phóng viên điều chỉnh để tiếp tục sáng tạo những tác phẩm chuyên đề khác
Mỗi chuyên đề truyền hình là một ngôn ngữ tổng hợp trong đó hai phương tiện thể hiện quan trọng nhất là hình ảnh động và âm thanh Bản thân việc sản xuất chuyên đề truyền hình đòi hỏi một công nghệ không kém phần phức tạp với nhiều loại thiết bị kỹ thuật khác nhau, nhiều thành viên với những chuyên môn khác nhau cùng tham gia Vì thế, bất cứ chương trình truyền hình nào cũng là kết quả lao động của một tập thể Mặc dù, với sự phát triển nhanh và mạnh mẽ của công nghệ ngày này, nhiều phóng viên có thể kiêm nhiệm tất cả các vị trí gồm cả quay phim, kỹ thuật, dựng hình nhưng thực tế dấu ấn của tính tập thể vẫn không thể xóa đi hoàn toàn Những tư liệu sẵn có, việc tổ chức sản xuất, duyệt, phát sóng,… vẫn làm cho các chương trình truyền hình thể hiện rõ tính tập thể Đó cũng là điều kiện đảm bảo cho sự khách quan của truyền hình Bên cạnh đó, việc sản xuất phóng sự điều tra cũng phải luôn đảm bảo các yếu tố kỹ thuật Bởi vì "mỗi tác phẩm báo chí truyền hình đều được sản xuất theo những tiêu chuẩn kỹ thuật, từ ghi hình,
Trang 36dựng hình đến truyền dẫn phát sóng do đó đòi hỏi các khâu phải tuân thủ kỹ thuật để tín hiệu hình ảnh đến người xem trung thực nhất" [31, tr 190]
Quản trị nguồn lực quản trị
- Quản trị nhân sự
Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều gắn liền với một phương thức sản xuất nhất định Nhưng dù ở bất cứ xã hội nào thì vấn đề mấu chốt của quá trình sản xuất là tổ chức nhân sự Trong mỗi hoạt động bất kỳ cơ quan, tổ chức nào
dù có nguồn tài chính dồi dào, trang thiết bị, máy móc hiện đại nhưng nếu không có người vận hành thì cũng trở nên vô ích, bởi vậy nhân sự có vai trò quan trọng, nếu biết sử dụng và quản lý tối nguồn lực nhân sự thì sẽ mang lại hiệu qủa cho tổ chức đó Với truyền hình cũng vậy, để tổ chức sản xuất ra một chương trình truyền hình thì cần đến một đội ngũ nhân sự đông đảo, do vậy việc quản lý để đội ngũ này hoạt động có hiệu quả là việc quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thanh công của chương trình đó
Việc quản trị nhân sự bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Phân tích công việc
- Tuyển dụng nhân sự
- Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân sự
- Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc sử dụng hệ thống kích thích vật chất, tinh thần đối với nhân sự
Quản trị nhân sự gắn liền với việc tổ chức, bất kỳ cơ quan, doanh nghiệp nào hình thành và hoạt động đều phải có kế hoạch tổ chức nhân sự, mức độ phức tạp tùy thuộc vào loại hình công việc
Nhân sự của một ekip thực hiện một chương trình truyền hình có nhiều
bộ phận: bộ phận kỹ thuật (âm thanh, ánh sáng…), bộ phận sản xuất (tổ chức sản xuất, biên tập viên, đạo diễn, trợ lý, quay phim…)
Một chương trình truyền hình không phải là sản phẩm của cá nhân nào
mà là sản phẩm của tập thể Đây là điểm khác biệt của truyền hình so với tác
Trang 37phẩm báo in, báo mạng Người làm báo in, báo mạng có thể tự thân độc lập đi viết bài, chụp ảnh, biên tập nộp cho người duyệt bài và đăng bài Còn để sáng tạo một chương trình truyền hình thì có nhiều khâu, mỗi khâu cần sự tham gia của một bộ phận nhân sự như: biên tập, quay phim, kỹ thuật Đặc biệt, đối với chương trình truyền hình trực tiếp, vai trò của các bộ phận nhân sự là ngang nhau, nếu thiếu bộ phận nào thì không thể đảm bảo phát sóng chương trình Với tính chất như vậy, việc tổ chức sản xuất cho nhân sự trong quá trình sản xuất chương trình hết sức quan trọng Mỗi nhân sự trong quy trình sản xuất có chuyên môn riêng, nhưng đều phải hướng tới chương trình chung Nhân sự trong một kênh truyền hình bao giờ cũng phức tạp, cồng kềnh hơn so với các tòa soạn báo thuộc những loại hình báo chí khác Chi phí cho nhân sự cũng tốn kém hơn
Việc quản trị nhân sự hết sức quan trọng trong việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình nói riêng và trong hoạt động của các cơ quan báo chí nói chung Người làm báo được xem là “nhân vật trung tâm của các cơ quan báo chí” [35, tr.216] và việc “tổ chức và quản lý để đào tạo và sử dụng tài năng thật
sự là chuyện đáng bàn Đã làm nghề thì phải được đào tạo”[35, tr.218]
Mỗi cơ quan sản xuất chương trình truyền hình có tổ chức nhân sự khác nhau, có thể phân theo ban: Ban chuyên đề, ban thời sự, ban giải trí… hoặc phân theo tính chất nội dung thông tin: Phòng kinh tế, phòng văn hóa, phòng thể thao…Việc tổ chức nhân sự vào các phòng ban phải tùy thuộc vào năng lực, nguyện vọng của từng người Thực tế, có những người làm thời sự rất tốt nhưng không phù hợp làm chương trình chuyên đề và ngược lại Người làm quản trị phải làm thế nào để khai thác tối đa năng lực của từng nhân sự
Chất lượng nhân sự làm truyền hình rất quan trọng, việc tổ chức lực lượng nhân sự đó như thế nào cho hợp lý còn quan trọng hơn Không giống các ngành nghề khác, nghề báo đòi hỏi cao tính sáng tạo và vai trò của cái tôi
cá nhân Tờ báo nào cũng có phong cách riêng, nhưng mỗi bài báo lại cũng có
Trang 38sự khác nhau, có màu sắc Việc tổ chức nhân sự trong một cơ quan báo chí nói chung và truyền hình nói riêng vừa phải đảm bảo tính thống nhất về tư tưởng, hành động nhưng cũng phải đảm bảo khuyến khích ý kiến cá nhân của người làm báo, phát huy tinh thần sáng tạo
Mỗi nhân sự trong quy trình sản xuất có chuyên môn riêng, nhưng đều phải hướng tới chương trình chung Chất lượng nhân sự làm chương đã quan trọng nhưng việc tổ chức lực lượng nhân sự đó như thế nào cho hợp lý còn quan trọng hơn Việc tổ chức nhân sự vừa phải đảm bảo tính thống nhất về tư tưởng, hành động nhưng cũng phải đảm bảo khuyến khích ý kiến cá nhân, phát huy tinh thần sáng tạo
Bên cạnh nhân sự sản xuất chính cho chương trình, hiện nay còn có thêm đội ngũ cộng tác viên, cố vấn, chủ yếu về lĩnh vực chuyên môn Đội ngũ cộng tác viên này tuy không làm nghề báo nhưng có hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực mà chương trình đề cập đến
Những nhân sự chính của chương trình như tổ chức sản xuất, các biên tập viên có thể học tập, bổ sung thêm kiến thức về chuyên môn từ những cộng tác viên này Ngoài ra còn một số ít cộng tác viên cung cấp các thông tin từ nhiều mặt của đời sống có liên quan nằm rải rác ở một số tỉnh, thành trên cả nước Đội ngũ nhân sự chính dù giỏi đến đâu cũng không thể thay thế được trí tuệ của toàn xã hội, và chính mạng lưới cộng tác viên đã giúp chương trình thu hút được trí tuệ của nhiều người, ở nhiều vùng miền khác nhau góp phần cập nhật thông tin nhanh chóng, đa dạng, kịp thời
Tiểu kết chương 1
Đấu tranh chính trị gắn liền với đấu tranh kinh tế, đấu tranh văn hóa, tư tưởng là hình thức đấu tranh cơ bản và quan trọng nhất của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; là hình thức đấu tranh cao nhất của một giai cấp, chính đảng nhằm đạt được những mục tiêu chính trị nhất định mà cao nhất là giành địa vị thống trị xã hội cho giai cấp, chính đảng đó
Trang 39Khi nói về trách nhiệm chính trị của báo chí - thực chất là nói đến trách nhiệm, năng lực của báo chí truyền thông trong việc thực hiện sứ mệnh là phương tiện, công cụ của Đảng, Nhà nước nói chung, của từng nhân tố trong
hệ thống chính trị Việt Nam nói riêng trong các hoạt động giành, giữ và sử dụng quyền lực Nhà nước
Trong chương này, tác giả đã khái quát các khái niệm, thuật ngữ về quản lý sản xuất, chương trình truyền hình, hoạt động quản trị thông tin chương trình truyền hình từ nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong những lĩnh vực báo chí truyền thông Tác giả đã nguyên cứu hoạt động quản trị thông tin chương trình truyền hình dựa trên việc nghiên cứu hoạt động quản trị mục tiêu, quản trị quy trình sản xuất, quản trị nhân sự… Từ những luận điểm, những cơ sở lý luận khoa học đó để củng cố và xây dựng thành khung cơ bản cho hoạt động quản trị thông tin trong chương trình “ Góc
nhìn sự thật” của kênh ANTV mà tác giả sẽ trình bày trong những phần tiếp
theo của luận văn
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ THÔNG TIN CHƯƠNG TRÌNH
“GÓC NHÌN SỰ THẬT” TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH NTV
2.1 Tổng quan về kênh truyền hình NTV và chương trình “Góc nhìn sự thật”
2.1.1 Giới thiệu về Kênh truyền hình ANTV
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Truyền hình Công
an Nhân dân (ANTV)
Xác định tầm quan trọng của báo chí và để đáp ứng nhu cầu của công chúng theo dõi về đề tài ANTT, ngày 3 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý chủ trương thành lập kênh truyền hình ANTV Kênh truyền hình này do Trung tâm Phát thanh, Truyền hình, Điện ảnh Công an Nhân dân (nay là Cục Truyền thông CAND) phối hợp cùng công
ty AVG để tổ chức sản xuất chương trình
Truyền hình ANTV (thuộc Bộ Công an Việt Nam) được phát sóng thử nghiệm từ 0h ngày 1 tháng 12 năm 2011 và chính thức phát sóng từ ngày 11 tháng 12 năm 2011 “Nhân văn, tin cậy, kịp thời, hấp dẫn” là 4 tiêu chí mà Trung tướng, nhà văn Hữu Ước, Tổng biên tập kênh truyền hình ANTV đưa
ra sau khi phát sóng Truyền hình ANTV được phát trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt Nam, SCTV, HTVC, THVL, Truyền hình Cáp Hà Nội BTS, Truyền hình số vệ tinh của VTC, My TV và truyền hình số mặt đất và số vệ tinh của AVG Phóng viên, cộng tác viên của Kênh truyền hình có mặt tại tất cả các Tổng cục, Bộ Tư lệnh (nay là các Cục trực thuộc Bộ Công an) và 63 Công an tỉnh, thành phố của Việt Nam Ngoài các chương trình về an ninh trật tự, kênh truyền hình Công an Nhân dân có các chương trình về văn hóa, điện ảnh, ca nhạc, sân khấu, phim Ngày 8/1/2014, ANTV chính thức ra mắt trang