Những công trình khoa học được công bố trên đây là những nghiên cứu khác nhau về công tác tuyên truyền, về đổi mới công tác tuyên truyền , về phòng, chống ma tuý nói chung nhưng đến nay
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHAN TIẾN HUY
ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
PHÒNG, CHỐNG MA TÚY TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY
Ngành : Chính trị học Chuyên ngành : Công tác tư tưởng
Mã số : 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Hà Thị Bình Hòa
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Hà Thị Bình Hòa Các số liệu đã được điều tra, nghiên cứu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào
Phan Tiến Huy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG MA TÚY TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 9
1.1 Tuyên truyền và công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong
ĐBDTTS 9
1.2 Đổi mới và đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy
trong ĐBDTTS 21 1.3 Sự cần thiết phải đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy
trong ĐBDTTS 28 Chương 2: ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG
MA TÚY TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 35
2.1 Những nhân tố tác động đến đổi mới công tác tuyên truyền phòng,
chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên 35
2.2 Thực trạng đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong
ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên hiện nay 39
2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc đổi mới công tác tuyên truyền phòng,
chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên hiện nay 64 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG MA TÚY TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY71
3.1 Phương hướng tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma
túy trong đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên hiện nay 71
3.2 Giải pháp tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống
ma túy trong đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên hiện nay 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Theo báo cáo của cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm Liên
Hợp Quốc (UNODC) tại Việt Nam về tình hình ma túy thế giới 2014: tỷ lệ sử dụng ma túy trên toàn cầu vẫn gia tăng Hiện thế giới có khoảng 243 triệu người – tương đương với 5% dân số thế giới ở độ tuổi từ 15-64 đã từng sử dụng các chất ma túy trái phép Trưởng Đại diện khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương của UNODC - ông Jeremy Douglas cho rằng thị trường ma túy tại Đông Á và Đông Nam Á rất năng động và có dấu hiệu cho thấy đang
mở rộng mạnh mẽ Cũng theo UNODC, việc sử dụng Methamphetamine tiếp
tục gia tăng tại hầu hết các quốc gia thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Trong vòng 3 năm qua, lượng methamphetamine bị thu giữ đã tăng hơn 2 lần trên phạm vi toàn cầu Hoạt động sản xuất Methamphetamine được mở rộng tại Bắc Mỹ Trong 144 tấn chất kích thích dạng Amphetamine bị thu giữ trên thế giới, một nửa được thu giữ tại Bắc Mỹ và ¼ tại Đông Á và Đông Bắc Á
Từ năm 2009 đến 2013, số lượng các chất kích thần không được quản lý trên thị trường thế giới đã tăng hơn hai lần Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á tiếp tục là nguồn cung cấp các tiền chất pseudoephedrine và ephedrine sử dụng phi pháp vào việc sản xuất methamphetamine trong khu vực và các khu vực khác trên thế giới
Tại Việt Nam, các vụ bắt giữ liên quan đến ma túy tiếp tục tăng Theo thống kê của UNODC, trong 6 tháng đầu năm 2014, các cơ quan chức năng
đã phát hiện 10.256 vụ và bắt giữ 15.298 đối tượng phạm tội liên quan đến ma túy, có tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2013 Lượng cần sa bị thu giữ trong 6 tháng đầu năm 2014 có xu hướng gia tăng so với năm 2013 UNODC cũng cho biết, phần lớn lượng heroin được buôn lậu vào Việt Nam có nguồn gốc từ Myanmar, thông qua Lào Ngoài ra, các đường dây buôn bán ma túy từ Tây
Trang 6Phi tiếp tục sử dụng những người buôn ma túy qua đường hàng không để buôn lậu heroin cũng như cocain và các chất ma túy khác từ Tây Nam Á vào Việt Nam
Trong những năm qua, mặc dù Đảng và nhà nước ta đã chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường các biện pháp phòng, chống ma túy; thành lập các Trung tâm cai nghiện nhằm chặn "cung" và giảm "cầu" về ma túy, hoàn thiện các hệ thống luật pháp cùng với các chiến dịch tuyên truyền rầm rộ về phòng, chống ma túy.v.v Song, thực tế cho thấy tệ nạn này vẫn diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng Tình hình trên cho thấy một trong nhiều nguyên nhân dẫn tới tệ nạn ma túy không suy giảm là do tuyên truyền chưa hiệu quả Vì vậy đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy cho phù hợp với những thay đổi của đối tượng cũng như diễn biến phức tạp của tệ nạn này là việc làm cấp bách của Việt Nam cũng như tất cả quốc gia trên thế giới
1.2 Điện Biên là một tỉnh miền núi, biên giới ở phía Tây Bắc của Tổ
quốc Dân số của tỉnh trên 52 vạn người bao gồm 19 dân tộc anh em sinh sống Hiện nay toàn tỉnh Điện Biên có 5.464 người nghiện ma tuý (nam: 5.102 người, nữ: 362 người, độ tuổi từ 18-40 chiếm 60%); trong đó Dân tộc Mông chiếm 43,77%, dân tộc Thái chiếm 28,47%, dân tộc Kinh chiếm 16,72%, dân tộc khác chiếm 11% Trong một thời gian dài, lãnh đạo Đảng và chính quyền tỉnh Điện Biên đã có sự quan tâm chỉ đạo công tác tuyên tuyền cũng như các biện pháp phòng, chống ma túy song tệ nạn ma túy và số người nghiện ma tuý chưa giảm; Tỷ lệ tái nghiện còn cao, đặc biệt là số người nghiện ma tuý không chỉ tăng lên ở người lớn tuổi mà còn diễn ra ở các đối tượng là học sinh, sinh viên, cán bộ viên chức ở các thị xã, thị trấn
Tác hại của ma túy đã quá rõ ràng, sự lây lan ngày càng rộng nhưng nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma
Trang 7túy ở lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương cũng như đồng bào các dân tộc
ở Điện Biên còn nhiều hạn chế; Sự phối hợp giữa các cấp, ban ngành, đoàn thể trong tuyên truyền phòng, chống ma túy ở vùng đồng bào dân tộc chưa chặt chẽ Tệ nạn ma túy thâm nhập vào cộng đồng dưới các hình thức ngày một tinh vi, đối tượng tuyên truyền (là ĐBDTTS) đã có nhiều thay đổi…Vì vậy, đổi mới công tác tuyên truyền cho phù hợp với tình hình mới càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Là một cán bộ của tỉnh Điện Biên, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc đẩy lùi tệ nạn ma túy, làm cho Điện
Biên phát triển ngày càng ổn định và bền vững, em chọn đề tài: "Đổi mới
công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên hiện nay" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nguyên cứu về đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy có các tài liệu liên quan như sau:
2.1 Về công tác tuyên truyền và tuyên truyền phòng, chống ma túy
* Về công tác tuyên truyền
Nghiên cứu về công tác tuyên truyền có thể kể đến một số tác giả sau:
- PGS TS Lương Khắc Hiếu: Giáo trình nguyên lý công tác tư tưởng,
tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008
- TS Phạm Huy Kỳ: Các loại hình tuyên truyền và tiêu chuẩn đánh giá
các loại hình tuyên truyền , Tạp chí Lý luận chính trị truyền thông số
10/2009
- TS Hà Thị Bình Hòa: Tâm lý học Tuyên Truyền, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội 2012
* Tuyên truyền phòng, chống ma túy
- Đấu tranh phòng chống ma túy trên sống phát thanh, truyền hình, Nghệ
An, Luận văn thạc sỹ (2006) Hoàng Quyền, Học viện báo chí và tuyên truyền
Trang 82.2 Đổi mới công tác tuyên truyền và đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên
* Nghiên cứu về đổi mới công tác tư tưởng, tuyên truyền có các công trình sau:
- Trần Trọng Tân (1995), Góp phần đổi mới công tác tư tưởng - lý luận,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Luận án Tiến sĩ Triết học của Lê Hanh Thông (2003), Đổi mới giáo dục
LLCT cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam bộ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án này nói
đến các cách thức để đổi mới giáo dục LLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
- Đổi mới công tác tuyên truyền Bình đẳng giới cho phụ nữ Thành Phố
Hồ Chí Minh hiện nay (2014), Luận văn Thạc sỹ Trần Thị Phương Hoa, Học Viện Báo chí và tuyên truyền
- Đổi mới công tác tư tưởng của Đảng bộ phường ở quận 4, Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay (2014), luận văn thạc sỹ Hồ Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Đổi mới công tác tư tưởng đối với cộng đồng người Hoa tại Quận 5 Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay.( 2014), Luận văn thạc sỹ Hà Việt Cường, Học viện Báo chí và tuyên truyền
* Nghiên cứu về ma túy có các nghiên cứu sau:
- “Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý của lực lượng Cảnh sát nhân dân”(2000), Luận án Tiến sĩ luật học của Trần Văn Luyện, Học viện Cảnh sát nhân dân
- TS Trần Văn Luyện - PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phát hiện và điều tra các tội phạm về ma tuý”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- “Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra khám phá các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
Trang 9trên địa bàn tỉnh Sơn La của lực lượng Cảnh sát nhân dân”(2003), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Văn Điền, Học viện Cảnh sát nhân dân;
- “Tổ chức phát hiện và điều tra khám phá tội phạm buôn bán, vận chuyển chất ma tuý của lực lượng Cảnh sát Kinh tế - Công an thành phố Hồ Chí Minh”(2003), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Dương Văn Quang, Học viện Cảnh sát nhân dân;
- “Thực hiện pháp luật phòng, chống ma tuý trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay”(2005), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hoàng Lan, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;
- Lê Thế Tiệm (2005), “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý trong tình hình mới”, Tạp chí Cộng sản, (6), tr.7-10
- “Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma tuý theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”(2007), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi Mạnh Cường, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
* Nghiên cứu về vấn đề ĐBDTTS có một số công trình cụ thể như sau:
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước: KX.04-11 do cố GS.TS Bế Viết Đẳng
là chủ nhiệm: “Luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách đối với các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội miền núi
- Khổng Diễn (chủ Biên): Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996
- Lê Duy Phong (Chủ biên) Kinh tế thị trường và sự phân hóa giầu nghèo vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1999
- Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam,Ủy ban Dân tộc, Nxb Văn hóa, Dân tộc, Hà Nội 2006
Trang 10Trong những công trình trên các tác giả đã tập trung nghiên cứu về vấn
đề kinh tế - xã hội, phát triển bền vững ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vấn
đề xây dựng bảo vệ tổ quốc vùng biên giới, vùng dân tộc ít người và đề ra các giải pháp phát triển vùng dân tộc thiểu số
Những công trình khoa học được công bố trên đây là những nghiên cứu khác nhau về công tác tuyên truyền, về đổi mới công tác tuyên truyền , về phòng, chống ma tuý nói chung nhưng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề đổi mới tuyên truyền phòng, chống ma túy đặc biệt đối với đối tượng
là đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS và thực trạng công tác này ở tỉnh Điện Biên; Từ đó luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền
phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở Điện Biên hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
Công tác phòng, chống ma túy có nhiều nội dung hoạt động khác nhau, trong giới hạn của luận văn tốt nghiệp cao học, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên từ tháng 1/2012 đến tháng 6/2014
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền và chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy; Đề tài có tiếp thu và kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử
6 Cái mới của đề tài
Đây là lần đầu tiên vấn đề “Đổi mới tuyên truyền phòng, chống ma túy
trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên” được nghiên cứu Nó góp phần làm sáng tỏ
thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên hiện nay
Trang 127 Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần làm rõ tính đặc thù của công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS ở tỉnh Điện Biên từ đó góp phần xây dựng tỉnh Điện Biên ngày càng phát triển ổn định và bền vững
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
8 Kết cấu của đề tài
Luận văn dày 100 trang, gồm phần mở đầu, kết luận và danh mục của 65 tài liệu tham khảo Nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương 8 tiết, kèm theo 11 bảng và 10 biểu đồ
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG MA TÚY
TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Tuyên truyền và công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
1.1.1 Tuyên truyền và công tác tuyên truyền
1.1.1.1 Tuyên truyền
Theo một số tài liệu nghiên cứu, tuyên truyền là thuật ngữ đã được nhà thờ La Mã sử dụng từ gần 400 năm về trước, dùng để chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo với sứ mệnh thuyết phục, lôi kéo những người khác phấn đấu theo đức tin của đạo Kito Về sau, thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng rộng rãi nhằm biểu đạt các hoạt động cụ thể như ngôn ngữ, hình ảnh, đạo cụ… nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của người khác, hướng họ hành động theo một khuynh hướng nhất định
Trong Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có hai
nghĩa, rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng,Tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, khoa học, triết học, nghệ thuật… nhằm biến những quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động
cụ thể của quần chúng
Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quan điểm, lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tế phù hợp với thế giới quan ấy [4, tr13]
Như vậy, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên truyền tư tưởng, tuyên truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tuyên
Trang 14truyền một thế giới quan, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tích cực
xã hội của hành động con người
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, tuyên truyền “là giải thích rộng rãi
để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo” [65, tr 984] Từ điển
Tiếng Việt thông dụng cũng đưa ra cách lý giải ngắn gọn : tuyên truyền là giải
thích rộng rãi để thuyết phục, vận động mọi người làm theo Khi bàn về
Người tuyên truyền và cách tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm” [35, tr14]
Tuyên truyền có đặc điểm :
- Tuyên truyền là hoạt động truyền bá, phổ biến, giải thích của chủ thể về một tư tưởng, một học thuyết hay một vấn đề nào đó đối với đối tượng tuyên truyền
- Tuyên truyền nhằm mục đích thay đổi nhận thức của đối tượng nhằm hình thành một kiểu ý thức xã hội Trên cơ sở đó xây dựng thái độ tích cực đối với việc thực hiện mục đích tuyên truyền
- Đích cuối cùng mà tuyên truyền phải đạt được là : kích thích, thúc đẩy đối tượng hành động theo mục đích tuyên truyền
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm tuyên truyền
như sau : Tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể tác động đến
đối tượng tuyên truyền thông qua nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống…từ đó kích thích, thúc đẩy đối tượng hành động theo mục đích của tuyên truyền
Tuyên truyền có nhiều cách phân chia tùy theo góc độ nghiên cứu Nếu phân chia theo tính chất hệ tư tưởng, ta có: tuyên truyền tư sản và tuyên truyền vô sản Nếu phân chia theo nội dung, ta có: tuyên truyền kinh tế, tuyên
Trang 15truyền chính trị, tuyên truyền văn hóa… Nếu phân chia theo phạm vi tác động đến đối tượng, ta có tuyên truyền cá biệt (cho một người), tuyên truyền nhóm
và tuyên truyền đại chúng (cho nhiều người) Nếu phân chia theo phương thức tác động, ta có tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng hay tuyên truyền trực tiếp và tuyên truyền gián tiếp Ngoài ra, chúng ta còn có thể phân tuyên truyền thành tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại.v.v
1.1.1.2 Công tác tuyên truyền
Nói về vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền, Các Mác từng khẳng định:
Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [11, tr14]
Để biến “lý luận thành lực lượng vật chất”, công tác tuyên truyền phải được coi trọng hàng đầu, phải làm cho quần chúng hiểu, tin tưởng, để từ
đó hành động theo cách mạng
Bàn về hoạt động tuyên truyền, Lênin cho rằng, chỉ có tiến hành công tác tuyên truyền - cổ động mới có thể chứng minh trên một phạm vi rộng rãi tâm trạng thực sự của quần chúng, chỉ có tiến hành công tác tuyên truyền - cổ động mới có thể thiết lập mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và toàn thể giai cấp công nhân, mới siết chặt được hàng ngũ của giai cấp vô sản cách mạng và mới cung cấp được tài liệu xác thực để phán đoán xem những điều kiện chín muồi của những trận đánh mới có tính chất quyết định hơn với tốc độ mau chóng như thế nào
Trong cuốn “Về công tác tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam”, PGS TS
Đào Duy Quát cho rằng công tác tuyên truyền, trước ta thường gọi là công tác
Trang 16huấn học, là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Công tác tuyên truyền là:
Hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức có cơ sở khoa học thực tiễn quy luật xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, niềm tin vững chắc vào sự đổi mới toàn diện của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hành động tự giác, sáng tạo trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh vững bước lên xã hội chủ nghĩa [41, tr.21]
PGS.TS Lương Khắc Hiếu khi viếtnhững “Nguyên lý công tác tư tưởng” cho rằng:
Công tác tuyên truyền là: một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó [24, tr.31]
Có thể thấy, công tác tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, làm cho chúng trở thành nhân tố chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội Từ đó, công tác tuyên truyền góp phần động viên, cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 17Tổng hợp các ý kiến trên, cho thấy khái niệm về công tác tuyên truyền của PGS.TS Lương Khắc Hiếu đã phản ánh được khá đầy đủ nội dung, bản chất của công tác tuyên truyền và tác giả chọn đây là khái niệm công cụ của
- Thứ nhất, ĐBDTTS là những cộng đồng người sống rải rác ở vùng sâu,
vùng xa, miền núi, hải đảo
Do phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt, đồng bào các dân tộc thiểu số thường sống phân tán ở vùng xa xôi hẻo lánh, đường giao thông đi lại còn khó khăn; nhiều nơi phương tiện đi lại chủ yếu chỉ dựa vào đôi chân; Có xã miền núi số dân không đông nên tập hợp không dễ dàng Có nơi muốn gặp gỡ đồng bào để tuyên truyền, vận động phải đi bộ hàng ngày đường Vì lẽ đó việc tiếp nhận thông tin của đồng bào cũng như việc tiếp cận đồng bào để tuyên truyền vận động còn gặp rất nhiều trở ngại
- Thứ hai, Điều kiện sống cũng như lao động sản xuất của ĐBDTTS còn nhiều thiếu thốn
Do ĐBDTTS sống phân tán, không có thói quen giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sống cũng như lao động sản xuất; Cuộc sống của đồng bào thường mang tính chất tự cung tự cấp, chủ yếu dựa vào chăn nuôi, trồng trọt; năng suất lao động thấp, kinh tế yếu kém; điều kiện giáo dục; phương tiện thông tin liên lạc còn nghèo nàn; giao lưu gặp nhiều trở ngại từ phong tục, tập quán cũng như khoảng cách quá xa xôi; Thời gian cũng như phương tiện thu
Trang 18nhận thông tin còn thiếu, vì vậy trình độ nhận thức nói chung, đặc biệt là sự hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như cách phòng, chống ma túy ở đồng bào còn nhiều hạn chế
- Thứ ba, Giao tiếp bằng tiếng phổ thông còn khó khăn, thông tin trực tiếp chiếm ưu thế
Do đời sống còn nhiều thiếu thốn, điều kiện đến trường lớp chưa nhiều (nếu có đến trường cũng không được học hành cơ bản) nên trình độ nhận thức của đa số ĐBDTTS không cao; khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông kém Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều đồng bào còn không hiểu hết ý và nghĩa của ngôn ngữ nói và viết của tiếng phổ thông Thời gian để nghe đài, đọc báo xem tivi không đáng kể Có nơi việc mở đài, ti vi nhiều khi chỉ để vui cửa vui nhà Nếu đồng bào có xem ti vi, đọc báo hay nghe đài cũng hiểu không nhiều
vì tiếng phổ thông còn hạn chế đây là những trở ngại rất lớn trong công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS
ĐBDTTS thường cư trú ở vùng cao - địa bàn hiểm trở Việc giao thông
đi lại khó khăn; Dân cư thưa, ở tản mát nên việc lắp đặt các trạm phát thanh công cộng ở đây là không mấy hiệu quả Thông tin về cuộc sống, sản xuất và các hoạt động khác trong ĐBDTTS mang tính chất trực tiếp Hoạt động này được thực hiện qua giao lưu nhóm như: sự gặp gỡ trò chuyện, cùng hút thuốc lào của dăm ba người đàn ông hay sự gặp gỡ trao đổi của một vài phụ nữ về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống gia đình hay những người xung quanh Sự gặp gỡ, trao đổi ở các phiên chợ hay thông tin từ những người xa đến là những nguồn truyền tin lớn ở cộng đồng Vì vậy cùng với việc nghiên cứu phát triển các phương tiện thông tin hiện đại để TTPCMT thì việc phát huy ưu thế của các hình thức thông tin trực tiếp ở vùng ĐBDTTS là rất quan trọng Nhất là việc sử dụng vai trò của người có uy tín như già làng, trưởng
Trang 19bản; các đảng viên là người dân tộc có uy tín, các tổ chức hội nhóm có ý nghĩa to lớn trong công tác tuyên truyền cho ĐBDTTS
- Thứ tư, tính đặc thù trong phong tục tập quán của ĐBDTTS
Do điều kiện hoạt động và hoàn cảnh sống, mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán riêng Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội được mọi người công nhận và làm theo Những thói quen trong nhận thức, ứng xử của mỗi dân tộc là những khuôn mẫu, những quy tắc chi phối hành vi của các thành viên và được hình thành trong quá trình phát triển của dân tộc ấy Những tập quán, thói quen tồn tại dưới dạng quy ước, hương ước, quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng, tính cưỡng chế của
nó được thực hiện thông qua dư luận, qua niềm tin của cá nhân và cộng đồng
Có những phong tục tập quán phù hợp với nếp sống văn hóa mới nhưng cũng
có những hủ tục cần phải loại bỏ khỏi đời sống cộng đồng Nếu nội dung tuyên truyền phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào chắc chắn sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ và ngược lại Việt Nam, một đất nước có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, điều đó cũng có nghĩa là có 54 phong tục tập quán cùng tồn tại Vấn đề là ở chỗ người tuyên truyền phải biết khai thác, kết nối
để các ĐBDTTS nhận thức được tác hại của ma túy cũng như sự cần thiết phải phòng, chống sự thâm nhập của ma túy vào cộng đồng, là một trong
những điều kiện để ĐBDTTS có một cuộc sống văn minh, tốt đẹp hơn
1.1.2.2 Công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS và các thành tố của công tác tuyên truyền phòng chống ma túy
* Ma túy
"Ma túy" là một thuật ngữ đã được đề cập trong nhiều tài liệu song xung
quanh thuật ngữ này hiện vẫn đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Ma túy theo nghĩa Hán Việt được hiểu là "mê mẩn" nhằm để chỉ các chất gây ngủ, gây mê và có khả năng gây nghiện Theo cách hiểu này thì các chất "ma
Trang 20túy" được định nghĩa là: Các chất có tính gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng Sự nghiện ngập chính là biểu hiện của trạng thái bị ngộ độc mãn tính do các chất ma túy gây nên cho người sử dụng chúng
Trong từ điển tiếng Việt thì ma túy được hiểu: "Ma túy là chất kích thích
lấy từ Cần sa, tên thường gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện" [54, tr 583] Như vậy, với cách giải
thích trên thì ma túy chỉ đơn thuần là chất được lấy từ cây Cần sa Rõ ràng quan niệm này là chưa đầy đủ, vì ngoài cây Cần sa còn nhiều cây khác, các hợp chất khác có khả năng gây nghiện đều được coi là ma túy
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1982, thì ma túy được hiểu theo nghĩa rộng là:
Mọi thực thể hóa học là những thực thể hỗn hợp khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khỏe bình thường, việc
sử dụng nó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học, làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ [10,tr 15]
Như vậy, hiểu theo khái niệm này thì mọi chất đưa vào cơ thể con người, làm thay đổi chức năng sinh học hoặc tâm lý học (loại trừ thực phẩm, nước, ôxy) đều được gọi là ma túy Và các chất ma túy được phân làm hai loại: hợp pháp và không hợp pháp Loại hợp pháp là các chất ma túy như thuốc giảm đau, thuốc ngủ, thuốc an thần (ma túy thông dụng như rượu, bia, thuốc lá ) ma túy bất hợp pháp là các loại ma túy như Hêrôin, nhựa cần sa, thuốc phiện Hiện nay, theo công ước quốc tế về kiểm soát ma túy của Liên hợp quốc ( công ước quốc
tế 1988) thì chỉ có 225 chất ma túy chịu sự kiểm soát của các cơ quan bảo vệ pháp luật (trong đó không có rượu, bia, thuốc lá, cà phê)
Theo chương trình kiểm soát Ma túy quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP) năm 1991 thì:
Trang 21Ma túy là những chất độc, có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo Khi xâm nhập vào cơ thể con người có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức, trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng, gây nên những tổn thương cho cá nhân người sử dụng và cả cộng đồng [10, tr15]
Theo khoản 1, điều 2, Luật phòng, chống ma túy năm 2000 thì ma túy là
"Các chất gây nghiện và chất hướng thần được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành" [ 39, tr 1]: ma túy bao gồm tất cả những chất có khả năng gây nghiện và chất hướng thần được quy định trong danh mục do chính phủ quy định Theo quy định trong văn bản Luật phòng, chống ma túy thì chất gây nghiện được định nghĩa là:
Chất gây kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng Còn chất hướng thần là chất kích thích, gây ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng [54, tr15]
Ma túy đá hay còn gọi là hàng đá, chấm đá là tên gọi chỉ chung cho các loại ma túy tổng hợp, có chứa chất Methamphetamine(meth) và Amphethamine (amph) thậm chí là Niketamid được phối trộn phức tạp từ nguyên liệu tự nhiên và hóa chất khác nhau trong đó thành phần chính, phổ biến là Methamphetamine Loại ma túy này được giới sử dụng gọi là “đá” vì hình dạng bên ngoài trông giống đá - là tinh thể kết tinh thành những mảnh vụn li ti, gần giống với hạt mì chính (bột ngọt) hoặc giống hạt muối và óng ánh giống đá Ngoài dạng phổ biến trên, ma túy đá còn bán bất hợp pháp trên thị trường dưới các dạng cục, bột, viên nén Đây là một loại ma tuý mới tồn tại dưới dạng thức tinh thể
Ma túy đá không chỉ được biết đến với tác dụng gây phê cho người nghiện mà còn là một loại thuốc khiến người dùng thèm muốn cả
Trang 22chuyện quan hệ tình dục Nhiều người dùng ma túy đá để vui chơi hết mình,
để chứng tỏ đẳng cấp mà không biết sự tàn phá của nó đối với sức khỏe đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến xã hội Biểu hiện của những người thường xuyên
sử dụng ma túy đá thường thấy như: chém, giết người vô cớ; cuồng dâm, hoang tưởng, mất kiểm soát hành vi và nặng hơn là mắc bệnh tâm thần và suy kiệt thể chất, khả năng tình dục
Như vậy, Ma túy được hiểu là những chất độc nguy hiểm, có khả năng
gây nghiện cao, làm cho người sử dụng lệ thuộc vào chúng, gây tác hại xấu cho sức khỏe người sử dụng và ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng
* Phòng, chống ma túy
Theo từ điển tiếng Việt năm 1994:
Phòng là “Liệu để có phiện pháp tránh, ngăn ngừa, hoặc lâm thời đối
phó với điều không hay có thể xảy ra”[54, tr756]
Chống là “ Hoạt động ngược lại, gây trở lực cho hành động của ai, hoặc
cho tác động của cái gì” [54, tr164]
Như vậy phòng, chống có nghĩa là dùng các biện pháp, cách thức để gây
ra sự cản trở đối với một hoạt động nào đó Mục đích cuối cùng của hoạt động phòng, chống là không để cho hoạt động đó xảy ra, hoặc chí ít cũng gây ra những khó khăn, bất lợi cho hoạt động đó
Vậy: phòng, chống ma túy có nghĩa là dùng nhiều biện pháp, cách thức
nhằm ngăn ngừa sự xâm nhập của tệ nạn ma túy vào đời sống cộng đồng, để bảo
vệ sức khỏe, những giá trị văn hóa, đạo đức và tài sản cho con người và xã hội
Từ các nội dung trên, có thể hiểu tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS như sau:
Tuyên truyền phòng, chống ma túy cho đồng bào dân tộc thiểu số là một hoạt động có chủ đích của chủ thể tuyên truyền, tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến đối tượng tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tác
Trang 23hại của ma túy; hình thành thái độ và tính tích cực hành động ở đối tượng tuyên truyền trong việc phòng, chống với ma túy
* Các thành tố của công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong
ĐBDTTS
- Chủ thể tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS
Chủ thể có thể hiểu “là đối tượng gây ra hành động mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị sự chi phối của hành động, gọi là khách thể ”[ 54, tr.173]
Chủ thể tuyên truyền là những giai cấp, những tổ chức, những cộng đồng xã hội mà lợi ích của họ gắn liền với các hoạt động tuyên truyền
Như vậy, chủ thể tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
được hiểu là tất cả những người, tổ chức theo chức năng, nhiệm vụ hay trách
nhiệm xã hội tham gia vào công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong
ĐBDTTS
Căn cứ vào mức độ liên quan giữa mục đích tuyên truyền phòng, chống
ma túy trong ĐBDTTS với chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền phòng, chống
ma túy trong ĐBDTTS thì chủ thể tuyên truyền phòng, chống ma túy trong
ĐBDTTS được xác định như sau:
- Các báo cáo viên, tuyên truyền viên ở hệ thống cơ quan của Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị - xã hội… Đây là những chủ thể quan trọng và chủ yếu của công tác tuyên truyền phòng, chống
ma túy trong ĐBDTTS
- Mục đích tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng ĐBDTTS
Mục đích tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS là nâng cao nhận thức, trang bị cho đồng bào hiểu biết cần thiết về ma túy và tác hại của
nó đối với con người từ đó hình thành thái độ tích cực đối với những thông tin cũng như các chương trình, kế hoạch về phòng, chống ma túy đồng thời tích
cực tham gia các hoạt động đấu tranh với tệ nạn ma túy
Trang 24- Đối tượng tuyên truyền phòng, chống ma túy
Tệ nạn ma túy có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, kinh tế, tinh thần của chính con người và ảnh hưởng xã hội Đối tượng của hoạt động tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS chính là đồng bào dân tộc ở các lứa tuổi… Việc xác định đúng đối tượng để lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền phù hợp là một trong những điều kiện quan trọng để tuyên truyền có hiệu quả
- Nội dung tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng ĐBDTTS gồm: + Những thông tin về tác hại của ma túy đối với con người và cộng đồng
+ Tệ nạn ma túy và những hậu quả của nó ở Việt Nam và thế giới
+ Những quan điểm của Đảng, của Nhà nước về phòng, chống ma túy
+ Các biện pháp phòng, chống ma túy
- Hình thức tuyên truyền phòng chống ma túy
Trong tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng ĐBDTTS được tiến hành dưới nhiều hình thức: Tuyên truyền miệng (các lớp tập huấn, các buổi họp chi bộ, các buổi sinh hoạt tại xã, phường, thị trấn, thôn bản…); Tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng như: đài phát thanh, truyền hình, báo viết, các loại sách, tờ rơi, tranh ảnh, internet…Tuyên truyền cổ động trực quan (Hệ thống panô, áp phích); các hd, phong trào; Các hình thức văn hóa
- văn nghệ, câu lạc bộ; các hội thi tìm hiểu về tệ nạn ma túy…
- Phương pháp tuyên truyền phòng, chống ma túy
Đối tượng của hoạt động tuyên truyền phòng, chống ma túy là ĐBDTTS
có độ tuổi, giới tính; có nhu cầu, trình độ, sở thích khác nhau nhưng điểm đáng chú ý nhất là trình độ của đồng bào còn hạn chế, tiếng phổ thông kém Vì vậy để tuyên truyền phòng, chống ma túy có hiệu quả cần chú ý tính chất trực quan,
“nắm tay chỉ việc” Trong tuyên truyền chú ý sử dụng phối hợp nhiều phương pháp đó là: phương pháp dùng lời nói (báo cáo, thuyết trình, tọa đàm); phương
Trang 25pháp thực tiễn (đi tham quan, học tập, các hoạt động phong trào…); phương pháp trực quan (tranh ảnh, video pa nô, áp phích, khẩu hiệu )
- Phương tiện tuyên truyền phòng, chống ma túy
Để thực hiện mục đích công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong đồng bào dân tộc thiểu số cùng với việc sử dụng nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền khác nhau cần có các phương tiện tương xứng như: máy chiếu, máy tính, các phương tiện truyền thông đại chúng, pa nô, áp phích, khẩu hiệu, đặc biệt là những phương tiện trực quan
Các thành tố trên có quan hệ biện chứng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng đồng bào dân tộc Đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS muốn đạt kết quả cần tiến hành nghiên cứu tác động của từng yếu tố
1.2 Đổi mới và đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
1.2.1 Đổi mới và đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy
1.2.1.1 Đổi mới
Theo từ điển Tiếng Việt 1994, “đổi mới”được hiểu là: “thay đổi cho khác
hẳn với trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển” [54,Tr 326]
Trong Triết học, đổi mới là quá trình mang tính chủ động, nằm trọng quy luật vận động và phát triển tự nhiên của sự vật Đó là sự “tha hóa”, sự thay đổi
của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Bất kì sự vật, hiện tượng,
cá nhân, cộng đồng và dân tộc nào cũng luôn luôn trải qua quá trình đổi mới như là bản năng để tự thích nghi với những thay đổi của môi trường sống Vì thế, đổi mới ít nhiều bao hàm nghĩa vận động của các sự vật, hiện tượng
Đổi mới cũng có thể hiểu là cải cách lỗi thời thay vào đó, thừa kế cái tốt
cũ và thêm cái mới hợp với thời đại mới (tương thích) Đó là con đường tiến
Trang 26hóa của nền văn minh; đổi mới nghĩa là tiến hành mọi việc theo một cách thức khác, khám phá lĩnh vực, hình thức, phương pháp hay những phương tiện mới và chấp nhận rủi ro khi tiến hành đổi mới Đổi mới cũng có nghĩa là phải đón nhận những thách thức mới để có thành công
Từ những quan điểm trên có thể hiểu đổi mới là: sự thay đổi, cải cách
trên thực trạng và nền tảng của cái cũ, cái đã lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn
Trong xã hội hiện nay, đổi mới trên mọi lĩnh vực để xã hội phát triển là cần thiết Đổi mới là trào lưu tư tưởng tiến bộ, là xu thế thời đại Những ai không có tư tưởng đổi mới, hành động đổi mới thường dễ sa vào bảo thủ, duy trì những cái đã lỗi thời Đổi mới là xu thế, là yêu cầu tất yếu để phát triển sự vật, hiện tượng, đó là quy luật Đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống
ma túy cho ĐBDTTS cũng không nằm ngoài quy luật đó
1.2.1.2 Đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng ĐBDTTS
Đổi mới công tác tuyên truyền là tiến hành thay đổi, cải cách một cách
khoa học, theo một mục đích, kế hoạch, chương trình nhất định hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước…nhằm nâng cao trình độ nhận thức, năng lực công tác của cán bộ đảng viên và nhân dân
Hiện nay, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, việc buôn bán và sử dụng
ma túy ảnh hưởng không nhỏ đối với sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Tệ nạn ma túy ngày càng tồn tại dưới nhiều hình thức và khó nhận biết Đối tượng buôn bán ma túy dùng các thủ đoạn ngày càng tinh vi, thậm chí còn được trang bị cả vũ khí nóng Với phương thức tuyên truyền cũ hiệu quả còn thấp Thực tế đó đòi hỏi phải đổi mới nội dung, hình thức,
Trang 27phương pháp, phương tiện công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng ĐBDTTS
Vậy: Đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
là thay đổi công tác tuyên truyền theo một chương trình, kế hoạch nhất định nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS
1.2.2 Nội dung đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Với quan niệm đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy như trên, đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS bao gồm: Đổi mới nhận thức, hoạt động của chủ thể và đối tượng tuyên truyền tuyên truyền; đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền; cải tạo xây dựng môi trường thuận lợi cho công tác tuyên truyền phòng,
Chủ thể tuyên truyền là các cá nhân, các tổ chức, các cộng đồng xã hội
mà lợi ích của họ gắn liền với các hoạt động tuyên truyền
Như đã trình bày ở trang 19, chủ thể tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS được hiểu là tất cả những người, tổ chức theo chức năng, nhiệm
vụ hay trách nhiệm xã hội tham gia vào hoạt động này nhằm thực hiện các mục đích của tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS Căn cứ vào mức độ liên quan giữa mục đích tuyên truyền với chức năng, nhiệm vụ phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS thì chủ thể tuyên truyền được xác định như sau:
- Các báo cáo viên, tuyên truyền viên ở các hệ thống cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Đây là những chủ thể quan trọng và chủ yếu của công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Trang 28- Cán bộ của các tổ chức đoàn thể, các đảng viên có uy tín là người dân tộc; các già làng, trưởng bản… thông qua các hoạt động của mình để tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Muốn đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS, việc làm trước tiên là phải đổi mới nhận thức của chủ thể tuyên
truyền - đây là điều kiện tiên quyết, đảm bảo sự thành công của công tác này
Sự tận tâm và hết lòng của chủ thể tuyên truyền là điều kiện đảm bảo cho sự đổi mới công tác tuyên truyền có hiệu quả Thực tế cho thấy, có cán bộ lãnh đạo, cán bộ tuyên truyền chỉ xem tuyên truyền phòng, chống ma túy là một trong nhiều "việc thường ngày ở huyện" mà chưa dành cho công tác này sự
quan tâm cần thiết
Các chủ thể công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS hơn ai hết phải được trang bị hiểu sâu sắc về tác hại của ma túy đối với cá nhân và cộng đồng Đây là một công tác phải được tiến hành thường xuyên liên tục bởi, cùng với sự thay đổi các phương thức tấn công của tệ nạn ma túy vào cộng đồng thì nhận thức cũng như việc thỏa mãn nhu cầu thông tin của ĐBDTTS cũng luôn thay đổi; Phương thức tuyên truyền cũ sẽ trở nên nhàm chán, lạc hậu, ít gây được sự quan tâm chú ý của đồng bào Đây là vấn đề mà các chủ thể tuyên truyền cần nhận thức và có sự thay đổi cho phù hợp Nhận thức trên sẽ làm cho mỗi chủ thể tuyên truyền có thêm quyết tâm đổi mới hoạt động của mình nhằm góp phần loại trừ ma túy ra khỏi đời sống ĐBDTTS
* Đổi mới nhận thức của ĐBDTTS về phòng, chống ma túy
Trước đây phòng, chống ma túy chỉ được hiểu là ngăn chặn những hành
vi sử dụng ma túy nhưng phòng, chống ma túy cần được hiểu là sự ngăn chặn
từ xa những hành vi có liên quan đến ma túy như: việc trồng cây thuốc phiện, sản xuất thuốc phiện, chiết xuất những chất ma túy tổng hợp và hiện nay là
Trang 29ma túy đá; những hành vi buôn bán, vận chuyển tàng trữ, sử dụng ma túy trái phép, sử dụng thuốc phiện để thay thế cho thuốc chữa bệnh…
Đổi mới nhận thức của ĐBDTTS về phòng, chống ma túy là làm cho họ hiểu rõ hơn về tác hại của ma túy đối với con người và xã hội, từ đó có thái độ đúng đắn đối với vấn đề này Nhận thức của ĐBDTTS về phòng, chống ma túy còn thể hiện ở việc đấu tranh tố giác tội phạm ma túy tại nơi sinh sống; Tích cực vận động bà con bỏ những thói quen sinh hoạt có liên quan đến ma túy; Vận động những người nghiện đi cai nghiện tại các cơ sở giáo dục tại địa phương; Tích cực tuyên truyền, lên án những kẻ gieo cái chết trắng vào trong cộng đồng Có thể nói việc đổi mới nhận thức của ĐBDTTS có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy đạt kết quả
* Đổi mới nội dung công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Trước đây nội dung tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS chỉ là không hút thuốc phiện đã trở nên quá quen thuộc và nhàm chán Hiện nay nội dung tuyên truyền phòng, chống ma túy đã được biên soạn phong phú
và đa dạng hơn rất nhiều, bao gồm những nội dung sau:
- Ma túy, tác hại của ma túy và những hình thức thâm nhập của nó vào cộng đồng
- Phòng, chống ma túy không chỉ là không hút thuốc phiện mà còn là không trồng cây thuốc phiện và sử dụng những chất gây nghiện
- Tình hình ma túy ở địa phương và những hậu quả của nó gây ra
- Các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của địa phương về công tác phòng, chống ma túy như: Chỉ thị 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ
Chính trị về "Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới"; “Chiến lược quốc gia phòng, chống và kiểm soát ma tuý ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng
Trang 30đến năm 2030”; “Chương trình quốc gia về phòng, chống và kiểm soát ma tuý giai đoạn 2012-2015” của Chính phủ Nội dung về các Luật phòng, chống ma
túy, Luật hình sự
- Các điển hình (các cá nhân, địa phương) trong công tác phòng, chống ma túy
- Các phong trào hoạt động phòng, chống ma túy
- Các biện pháp phòng, chống ma túy ở địa phương
Do trình độ nhận thức của đồng bào có hạn, nhận thức mang tính trực quan, việc đưa ra các tình huống cụ thể để hướng dẫn đồng bào biết cách phòng, chống ma túy là việc làm hết sức có ý nghĩa
* Đổi mới hình thức công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Mặc dù hình thức tuyên truyền chỉ là biểu hiện bên ngoài, là cái để chuyển tải nội dung tuyên truyền tới đối tượng nhưng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tập trung chú ý của đối tượng Hình thức tuyên truyền có phù hợp với thói quen nhận thức cũng như thị hiếu của đối tượng hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tuyên truyền Hình thức tuyên truyền phòng, chống ma túy rất đa dạng Đó có thể là các chương trình, chuyên mục của đài phát thanh, các chương trình truyền hình; các chương trình văn hóa, văn nghệ; các cuộc hội họp, câu lạc bộ, hội thảo, các hội thi tìm hiểu…nhưng đối với ĐBDTTS thì những hình thức tuyên truyền mang tính trực quan như tranh, ảnh, băng video; tấm gương của người thật, việc thật (cả tích cực và tiêu cực)
là những hình thức tuyên truyền có hiệu quả
* Đổi mới phương pháp công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Trước đây, tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS chủ yếu là sử dụng phương pháp tuyên truyền miệng (thuyết phục, vận động) Hiện nay, do môi trường giao tiếp của đồng bào đã rộng mở hơn, trình độ nhận thức và việc
Trang 31thỏa mãn nhu cầu thông tin của đồng bào đã cao hơn trước Tình hình trên đòi hỏi phương pháp tuyên truyền PCMT cho ĐBDTTS phải có sự thay đổi
Để đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau Các phương pháp tuyên truyền được lựa chọn tùy thuộc vào đặc điểm tâm lý từng đối tượng, từng lứa tuổi và điều kiện sống của họ Ngoài các phương pháp tuyên truyền trực quan như tranh, ảnh, pa nô, áp phích khẩu hiệu thì việc sử dụng video, máy trình chiếu, các loại hình văn hóa, văn nghệ sẽ làm tăng thêm hiệu quả tác động của nó Trong tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS nên sử dụng phương pháp nêu gương hay vai trò của các cá nhân có uy tín để tuyên truyền có hiệu quả
* Đổi mới phương tiện công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Phương tiện là những vật dụng chuyển tải nội dung và phương pháp tác động của tuyên truyền Sử dụng phương tiện tuyên truyền nào có liên quan trực tiếp đến đặc điểm nhận thức và hoạt động của đối tượng.Những phương tiện tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS thường sử dụng gồm: Xem tranh ảnh, khẩu hiệu, pa nô áp phích, Loa phát thanh nhưng hiện nay video, các phim tài liệu, các hoạt động văn hóa, văn nghệ,
các phong trào hoạt động tại các thôn bản đã được tăng cường
* Đổi mới không gian, thời gian tiến hành công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS
Do đặc trưng của ĐBDTTS là những người sống tản mát tại các vùng núi cao nên không gian và thời gian tiếp nhận những thông tin của đồng bào
có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tuyên truyền Hiệu quả tuyên truyền ở vùng ĐBDTTS thấp có nguyên nhân từ việc sử dụng không gian và thời gian tuyên truyền chưa hợp lý Những hình thức tuyên truyền trước đây như: pa
nô, áp phích, khẩu hiệu ở các trung tâm hiệu quả tác động đến đồng bào rất
Trang 32thấp; việc sử dụng các nhà văn hóa kém hiệu quả vì đồng bào không có thời gian tham gia, nếu có tham gia thì hiệu quả thấp vì hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ phổ thông Việc tổ chức những hoạt động chung cho đồng bào ở các thôn bản rất ít và khó khăn Chính vì vậy cần chú ý đổi mới không gian tuyên tuyền cho phù hợp hơn với đồng bào
Bên cạnh đó yếu tố thời gian cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy Tuyên truyền cho ĐBDTTS vào lúc nào, mùa nào, tháng nào trong năm có hiệu quả cũng là yếu tố cần phải xem xét cụ thể trong tuyên truyền
1.3 Sự cần thiết phải đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống
ma túy trong ĐBDTTS
1.3.1 Nhận thức của một bộ phận cán bộ tuyên tuyền công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng ĐBDTTS còn hạn chế
1.3.1.1 Đối với chủ thể công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy
* Đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò quan trọng trong việc hiện thực hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc",
"cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ để hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [34,tr.269]
Những hạn chế trong nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý về đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy đã phần nào làm giảm hiệu quả của hoạt động này Việc đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống
ma túy chỉ nhận được sự quan tâm, đầu tư của các cấp lãnh đạo khi họ có nhận thức đầy đủ và sâu sắc về công tác này Chính vì vậy việc đổi mới công
Trang 33tác tuyên truyền phòng, chống ma túy đạt được hiệu quả khi có sự quan tâm
và chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo Tuyên truyền, thuyết phục để nhận được sự ủng hộ cần thiết từ các cấp lãnh đạo, Đảng và chính quyền địa phương là một việc làm không thể thiếu
* Đối với cán bộ tuyên truyền
Cán bộ tuyên truyền là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định và thực hiện các nhiệu vụ khác nhau tại Ban Tuyên giáo các cấp, các ngành, các đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội; có chức năng tham mưu, giúp cấp uỷ chỉ đạo, quản lý, kiểm tra và tác chiến trên các mặt hoạt động của công tác tuyên giáo Cán bộ tuyên giáo làm công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS nghiên cứu, theo dõi, tổng hợp tình hình ma túy trên địa bàn tỉnh, dự báo những diễn biến và xu hướng tệ nạn ma túy diễn ra trong thời gian tới để, kịp thời báo cáo, kiến nghị với cấp uỷ
phương hướng, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp giải quyết
Cán bộ tuyên giáo còn chủ trì hoặc tham gia thẩm định các đề án của cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể có liên quan đến lĩnh vực ma
túy, thành viên trực tiếp của Ban chỉ đạo phòng, chống ma túy của tỉnh
Tổ chức mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên từ tỉnh đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra nội dung thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan xuất bản do cấp uỷ quản lý Hướng dẫn công tác tuyên truyền về phòng, chống ma túy trong Đảng và trong toàn xã hội Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ tuyên truyền, nghiệp vụ công tác nghiên cứu dư luận xã hội, nghiệp vụ công tác tuyên tuyền … cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo
cơ sở
1.3.1.2 Đối với đối tượng tuyên truyền
Việt Nam là đất nước có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi một tộc người có thói quen, phong tục, tập quán, chi phối trực tiếp đến cách nghĩ,
Trang 34cách làm của mỗi dân tộc Thời gian qua, công tác tuyên truyền về phòng, chống ma túy trong đồng bào dân tộc đã góp phần làm chuyển biến nhận thức
và hành vi của đồng bào về tác hại của ma túy và phòng, chống ma túy trong cộng đồng… Tuy vậy những nội dung, hình thức tuyên truyền không phù hợp với phong tục tập, tập quán, thói quen sống của đồng bào dân tộc đã dẫn tới hậu quả: một bộ phận đồng bào dân tộc nghiện hút, buôn bán, vận chuyển và tàng trữ ma túy… Vì vậy đổi mới công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy cho phù hợp với phong tục, tập quán của từng tộc người là việc làm cần thiết Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống ma túy với nhiều nội dung, hình thức phù hợp với từng địa bàn, từng vùng; vận động nhân dân không trồng, không tái trồng cây thuốc phiện, cây có chứa chất
ma túy; tăng cường cán bộ xuống cơ sở, nhất là những địa bàn trọng điểm phức tạp về ma túy; cử cán bộ đi học lớp tập huấn, bồi dưỡng về phòng, chống ma túy góp phần từng bước nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Phối hợp với các địa phương vận động quần chúng nhân dân phát hiện, tố giác hộ gia đình, cá nhân trồng cây có chứa chất ma túy trên địa bàn; thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân các dân tộc là việc làm cần thiết
1.3.2 ĐBDTTS nhận thức về phòng, chống ma túy chưa đầy đủ
Trước đây do thói quen, phong tục tập quán đồng bào sử dụng ma túy như thuốc chữa bệnh: đau bụng, đi ngoài, cầm máu… cây thuốc phiện còn được dùng là thực phẩm để ăn thay cho rau ăn hàng ngày; việc hút thuốc phiện ở một số các gia đình dân tộc thiểu số được xem là như việc hút thuốc
lá, thuốc lào của người Kinh Rất ít đồng bào lường được hết tác hại của ma túy đối với bản thân, với gia đình và xã hội, ý thức phòng, chống ma túy của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế Điều đó chứng tỏ nội dung, hình
Trang 35thức, phương pháp tuyên truyền trước đây là chưa hiệu quả Vì vậy để nâng cao hiệu quả tuyên truyền phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS nhất thiết phải có sự đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền Nội dung tuyên truyền có thể được biên soạn dưới nhiều hình thức khác nhau, người tuyên truyền cần biết khai thác đặc điểm xã hội của đồng bào để tuyên truyền có hiệu quả
1.3.3 Hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng ĐBDTTS chưa cao
Tính đến nay số người nghiện ma túy trên toàn quốc có hồ sơ kiểm soát
đã lên hơn 170.000 người (năm 2012) Thiệt hại do ma túy gây ra ước tính trung bình mỗi ngày khoảng từ 8 đến 8,5 tỷ đồng, mỗi năm đốt từ 2000 đến
3000 tỷ đồng do việc sử dụng các loại ma túy, chưa kể đó còn là nguồn gốc của tội phạm hình sự, tệ nạn mại dâm, HIV/ AIDS Riêng về tỉnh Điện Biên có 5.464 người nghiện ma tuý (trong đó nam: 5.102 người, nữ: 362 người, độ tuổi từ 18-40 chiếm 60%) Dân tộc Mông chiếm 43,77%, dân tộc Thái chiếm 28,47%, dân tộc Kinh chiếm 16,72%, dân tộc khác chiếm 11%
Số liệu trên cho thấy hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng đồng bào DTTS chưa cao Tình hình trên xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như: Sự yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tuyên truyền; sự hiểu biết về ma túy và tác hại của ma túy còn hạn chế; điều kiện phương tiện tuyên truyền phòng chống ma túy thiếu nhàm chán, cũ kỹ; sử dụng thông thạo tiếng dân tộc còn hạn chế; nhận thức của đồng bào còn hạn chế do trình độ học vấn thấp, không nói được tiếng phổ thông; hay thói quen
sử dụng ma túy của đồng bào dân tộc thiểu số có từ xưa Do đó nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số là việc làm cần thiết
Trang 361.3.4 Nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền phòng, chống ma túy cho ĐBDTTS còn nghèo nàn, thiếu hấp dẫn
Thực tế các nội dung tuyên truyền phòng, chống ma túy nhiều năm qua còn thiếu tính hấp dẫn, chủ yếu toàn sử dụng những tài liệu cũ, không được đổi mới và cập nhập thường xuyên Nội dung tuyên truyền về tác hại của ma túy thường chung chung, không cụ thể Trong khi đó tình hình tội phạm về
ma túy diễn biễn ngày một nguy hiểm hơn, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, tình hình nghiện ma túy có xu hướng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước, trong đó các biên pháp cai nghiện, và tái hòa nhập với cộng đồng không được chú trọng Nội dung tuyên truyền ĐBDTTS xóa bỏ cây thuốc phiện, thay thế bằng các giống cây trồng, vật nuôi khác không được tiến hành thường xuyên, liên tục và quyết liệt, chủ yếu tuyên truyền theo từng đợt
Ngoài ra đời sống xã hội, ĐBDTTS ngày càng quan tâm đến nhiều lĩnh vực khác nhau Muốn thu hút nhiều hơn sự quan tâm của đồng bào dân tộc đối với phòng, chống ma túy thì phương pháp tuyên truyền phải có sự thay đổi cho phù hợp Với cách thức tuyên truyền cũ cho thấy chưa đáp ứng được mục đích của tuyên truyền phòng, chống ma túy trong giai đoạn hiện nay Khi nhận thức của ĐBDTTS và hoàn cảnh sống của đồng bào đã có nhiều thay đổi thì công tác tuyên truyền cũng thay đổi trong đó hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền cần phải có sự đổi mới Từ trước đến nay, tuyên truyền phòng, chống ma túy chủ yếu thực hiện qua các phương tiện truyền thông đại chúng vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền cần phải sử dụng những hình thức tuyên truyền đa dạng, cụ thể hơn nữa để thu hút sự quan tâm của đồng bào Đặc biệt chú ý đến thời lượng cũng như thời điểm tuyên truyền sao cho đầy đủ và thích hợp mới mong có hiệu quả; Phương pháp tuyên truyền phòng, chống ma túy cần ứng dụng công nghệ thông tin như: trình chiếu, hình ảnh về tác hại của ma túy; cùng với đó là tổ chức các
Trang 37hoạt động phong trào để thu hút sự tham gia đông đảo của đồng bào vào việc phòng, chống ma túy
1.3.5 Dư luận xã hội ở vùng ĐBDTTS về phòng, chống tác hại của
ma túy chưa cao
Bất cứ một chủ trương, đường lối chính sách nào của Đảng, Nhà nước muốn trở thành hiện thực phải có sự tham gia của tất cả mọi người trong xã hội Việc phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS cũng không nằm ngoài quy luật trên Thời gian qua, dư luận về phòng, chống ma túy trong ĐBDTTS chưa cao vì nhiều lý do như: thói quen trồng và sử dụng thuốc phiện của đồng bào dân tộc thiểu số có từ trước đây, hay lợi nhuận từ việc buôn bán, vận chuyển chất ma túy mang lại Thói quen trồng, sản xuất và sử dụng ma túy của ĐBDTTS đã có từ rất lâu đời, cây thuốc phiện vẫn thường được trồng nhiều ở trên các vùng núi cao, giao thông đi lại khó khăn Thời tiết mát lạnh, nhiều gió - là môi trường thuận lợi để cây thuốc phiện dễ trồng và phát triển Hạt thuốc phiện bay đến đâu là cây có thể mọc đến đó Đồng bào trồng thuốc phiện thành nhiều ha, có địa phương trước đây có diện tích trồng thuốc phiện lên đến hơn 100ha Thói quen sử dụng thuốc phiện, cùng với việc bị bọn tội phạm ma túy lôi kéo vì lợi nhuận và vì lời đồn phóng đại tác dụng của nó mà việc trồng, sản xuất, sử dụng thuốc phiện được ĐBDTTS tiếp tục thực hiện Lợi nhuận từ việc buôn ma túy trên toàn thế giới hàng năm ước tính khoảng 500 tỷ USD; thậm chí có những nước như Côlombia, Apganixtan, Tresnia… Ma túy đã thao túng cả vào lĩnh vực chính trị Một số phe phái đã lấy ma túy để có nguồn tài chính mua sắm vũ khí phục vụ chiến tranh Có thể khẳng định buôn lậu ma túy đem lại siêu lợi nhuận Điển hình như đối với nước ta việc buôn bán vận chuyển Hêroin, thuốc phiện từ nước ngoài vào Việt Nam có lãi suất từ 2,5-3 lần; thuốc tân dược gây nghiện vào đến Hà Nội lãi trên 10 lần, đến thành phố Hồ Chí Minh khoảng 20 lần Giá mua 1 bánh
Trang 38Hêroin tại Lào là 120-150 triệu đồng vận chuyển qua biên giời về đến Điện Biên có giá bán là 220-250 triệu đồng lãi gấp 10 lần Một đối tượng vận chuyển trót lọt 1 chuyến hàng khoảng 100 bánh Hêroin đã kiếm được khoảng
10 tỷ đồng, chưa kể chúng còn vận chuyển thêm cả ma túy tổng hợp, ma túy đá… Do lợi nhuận của việc buôn bán, vận chuyển ma túy rất lớn, nhiều đối tượng đã lôi kéo cả gia đình, người thân vào con đường phạm tội, dù biết bản
án cao nhất là tử hình có thể dành cho họ Vì vậy việc xây dựng dư luận xã hội nhằm tạo ra sự đồng thuận trong ĐBDTTS đối với việc phòng, chống ma
túy là việc làm cần thiết dù rằng phải tiến hành một cách lâu dài
Trang 39Chương 2 ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG MA TÚY TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN -
Năm 2004 sau khi chia tách tỉnh Điện Biên có những đặc điểm đáng chú
ý sau: Điện Biên là một tỉnh miền núi vùng cao Tây Bắc, diện tích tự nhiên 9.554,1km2, 50% diện tích ở độ cao trên 1000m so với mực nước biển, 70% diện tích có độ dốc 250 trở lên; Địa hình hiểm trở, chia cắt, có nhiều sông suối
và là nguồn của sông Đà, sông Mã Đường biên giới quốc gia dài 398,5km (với Lào 360km, với Trung Quốc 38,5km), có cửa khẩu quốc gia Tây Trang – Xốp Hùn (Phong Sa Lỳ), cửa khẩu Huổi Puốc – Na Son (Luông Pra Băng), sân bay Điện Biên Phủ có đường bay quốc tế với Lào – Căm Pu Chia – Myanma, có trục đường 6 Hà Nội – Sơn La nối 279 về Điện Biên – Tây Trang Đường quốc lộ 12 từ Điện Biên đến Lai Châu Từ xưa đến nay Điện Biên vẫn nổi tiếng là địa bàn trọng điểm về tệ nạn ma túy của cả nước
Điện Biên có 88 xã, phường, thị trấn, 1 thành phố, 1 thị xã, 6 huyện, trên 520.000 người có 19 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Thái chiếm 40,4%, dân tộc Mông chiếm 27,8%, dân tộc Kinh chiếm 19,7%; mật độ 47 người/km2 Dân số phân bố không đều: Mường Nhé 10 người/km2, thành phố Điện Biên Phủ 1.200 người/km2
Tỉnh Điện Biên là địa bàn trọng yếu về quốc phòng an ninh biên giới trong chiến lược bảo vệ tổ quốc khu vực: Trung Quốc, Lào, Myanma, Thái
Trang 40Lan nơi đây, vấn đề dân tộc, lợi dụng tôn giáo, ma tuý còn nhiều diễn biến phức tạp
* Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên
a) Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Điện Biên năm 2013 là 10,14% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ; giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp; nông nghiệp 37,7% (giảm 9%), công nghiệp xây dựng 28,5% tăng (0,7%), dịch vụ 33,8% (tăng 0,3%) Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng 7,3%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,9%, dịch vụ tăng 11,5%; Tổng mức đầu tư phát triển là 1.100 tỷ đồng
Sản xuất lương thực tăng 9,3%, đạt bình quân 385kg/người Gần 4.000 ha ruộng, nương có bờ, đó được ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và cho năng suất cao Chăn nuôi: Đàn gia súc tăng 4,5%(tổng số đàn gia súc 324.000 con), đàn trâu 96.000 con, đàn bò 26.000 con Phát triển thuỷ sản kết quả tốt, sản lượng tăng 46,5% so với 2012, giải quyết kịp thời dịch gia cầm
Sản xuất công nghiệp tăng, nhất là sản lượng điện tăng 22,4%, gạch tăng 13,8%, bột giấy và giấy tăng 154,6% Xây dựng mới một số cơ sở công nghiệp chế biến, triết nạp gas, khai thác than
Hoạt động dịch vụ thương mại có chuyển biến mới: lượng khách đến Điện Biên năm 2013 khoảng 175.000 lượt người tăng 75%, doanh thu tăng gần 2 lần so với năm 2012
b) Về xã hội
Thời gian qua ở tỉnh Điện Biên có chuyển biến mới nhiều hoạt động theo hướng xã hội hoá chất lượng được nâng cao
Về giáo dục đào tạo: Toàn tỉnh có 52 trường mẫu giáo, 232 trường phổ
thông, 6 trường chuyên nghiệp, dạy nghề Thời gian qua tỉnh Điện Biờn đã hợp tác với 10 trường đại học để đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị; 100% xã phổ cập tiểu học, gần 30% đạt chuẩn THCS gần 10,7 vạn HSPT Chất lượng tốt nghiệp tiểu học là 98,8%; PTCS là 95%; THPT là