1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay

153 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Sản Xuất Chương Trình Về Du Lịch Trên Sóng Phát Thanh Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Trịnh Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn PGS,TS. Đinh Thị Thu Hằng
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Phát thanh – Truyền hình
Thể loại luận văn thạc sĩ báo chí
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRỊNH THỊ THÙY TRANG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH VỀ DU LỊCH TRÊN SÓNG PHÁT THANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Khảo sát chương trình: “Chuyến đi kì thú” trên

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRỊNH THỊ THÙY TRANG

TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH VỀ DU LỊCH TRÊN SÓNG

PHÁT THANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát chương trình: “Chuyến đi kì thú” trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90, Đài Phát thanh và

Truyền hình Hà Nội, từ tháng 6-12/2019)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRỊNH THỊ THÙY TRANG

TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH VỀ DU LỊCH TRÊN SÓNG

PHÁT THANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát chương trình: “Chuyến đi kì thú” trên kênh VOV2, Đài Tiếng nói Việt Nam và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90, Đài Phát thanh và

Truyền hình Hà Nội, từ tháng 6-12/2019)

Chuyên ngành: Phát thanh – Truyền hình

Mã số: 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Đinh Thị Thu Hằng

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

Luận văn đã đƣợc sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn cao học

Hà Nôi, ngày tháng năm 2020

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Đinh Thị Thu Hằng Các số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ, chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác

Tác giả luận văn

Trịnh Thị Thùy Trang

Trang 5

DL Đài TNVN

Chương trình Chương trình phát thanh

Du lịch Đài Tiếng nói Việt Nam TCSX Tổ chức sản xuất

PV Phóng viên BTV Biên tập viên KTV Kỹ thuật viên PTV Phát thanh viên

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH VỀ DU LỊCH TRÊN SÓNG PHÁT THANH 11

1.1 Các khái niệm của đề tài 11

1.2 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam và quan điểm của Đảng và Nhà nước 19

1.3 Đặc điểm, quy trình và yêu cầu đối với tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH VỀ DU LỊCH TRÊN SÓNG PHÁT THANH TRÊN KÊNH VOV2 ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM VÀ KÊNH FM 90 ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI 44

2.1 Khái quát các kênh và chương trình thuộc diện khảo sát 44

2.2 Khảo sát quy trình tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh về du lịch của kênh VOV2 Đài Tiếng nói Việt Nam và kênh FM 90 Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội 49

2.3 Đánh giá việc tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh về du lịch của VOV2 và Phát thanh – Truyền hình Hà Nội 80

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH VỀ DU LỊCH TRÊN SÓNG PHÁT THANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 89

3.1 Một số vấn đề đặt ra 89

3.2 Những giải pháp thực hiện 94

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 117

TÓM TẮT LUẬN VĂN 145

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê về mức độ phù hợp chuyên môn của chương trình Chuyến

đi kì thú kênh VOV2 Đài Tiếng nói Việt Nam và chương trình Fm Du lịch kênh FM90 của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội năm 2019 53Bảng 2.2 Kết cấu chương trình “Chuyến đi kì thú” với chủ đề “Chuôn Ngọ-

Làng khảm trai nức danh đất Bắc” 64Bảng 2.3 Kết cấu chương trình “FM du lịch” với chủ đề “Hưng Yên: Điểm

đến cho những ai yêu thích du lịch văn hóa, tâm linh” 65Bảng 2.4 Kết cấu chương trình “FM du lịch” với chủ đề “Khám phá Sơn Tây,

điểm đến thú vị và hấp dẫn” 67Bảng 2.5 Thời lượng và thời gian phát sóng chương trình “Chuyến đi kì thú”

trên kênh VOV2 và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 69

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tổng hợp đánh giá nội dung đối với chương trình “Chuyến đi kì thú”

trên kênh VOV2 và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 62 Biểu đồ 2.2 Khảo sát về mức độ hài lòng của khán thính giả về kết cấu

chương trình “Chuyến đi kì thú” 65 Biểu đồ 2.3 Khảo sát về mức độ hài lòng của khán thính giả về kết cấu

chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 68 Biểu đồ 2.4 Mức độ quan tâm của thính giả đối với chương trình “Chuyến đi kì thú”

trên kênh VOV2 và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 70 Biểu đồ 2.5 Cách tiếp cận của thính giả với chương trình “Chuyến đi kì thú” trên

kênh VOV2 và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 71 Biểu đồ 2.6 Khán thính giả đánh giá về chất lượng âm thanh chương trình

“Chuyến đi kì thú” trên kênh VOV2 75 Biểu đồ 2.7 Khán thính giả đánh giá về chất lượng âm thanh chương trình “FM du

lịch” trên kênh FM90, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội 77

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình về du lịch chung cho

kênh VOV2 Đài Tiếng nói Việt Nam và kênh FM 90 Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội và nó đã trở thành một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt Du lịch nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, con người, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước Về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ, nên còn được gọi là ngành “công nghiệp không khói”, góp phần tạo nên nguồn thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước

Thời gian qua, báo chí đã góp phần định hướng, nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân, cộng đồng nói chung về công tác phát triển du lịch Thông qua báo chí, các chủ trương, chính sách phát triển du lịch của nhà nước, địa phương được phổ biến rộng rãi hơn Báo chí còn là một kênh thông tin quan trọng và hữu hiệu để quảng bá hình ảnh du lịch, quảng bá điểm đến, quảng bá sản phẩm và dịch vụ du lịch, đồng thời góp phần tích cực đối với công tác quản lý, xây dựng môi trường du lịch lành mạnh, văn minh

Cùng với các loại hình báo chí khác như: báo in, báo truyền hình, báo mạng điện tử, báo phát thanh đang từng ngày góp tiếng nói về quảng bá du lịch, đưa các thông tin hữu ích về du lịch đến thính giả, tham gia bảo vệ môi trường du lịch và ngăn chặn với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực du lịch Nếu như báo in truyền tải bằng chữ viết với những bài bình luận chuyên sâu, những bài phản ánh in đậm trên từng con chữ; báo truyền hình, báo mạng chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh chân thật cung cấp cho khán giả góc nhìn toàn cảnh nhất, thì báo phát thanh với ngôn ngữ âm thanh tổng hợp cùng tính thời sự cao lại có những thế mạnh riêng trong việc tiếp cận thính giả

Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) và Đài Phát thanh- Truyền hình TH) Hà Nội hiện nay, có nhiều chương trình tiếp cận chủ đề về du lịch Trong

(PT-số đó phải kể đến: chương trình Chuyến đi kì thú phát trên (kênh VOV2),

Trang 10

chương trình FM Du lịch phát trên (kênh Fm 90) Có thể nhận thấy, đây là chủ đề nóng và nếu được tiếp cận, đầu tư xây dựng sẽ đạt được hiệu quả thông tin cao và đưa chương trình gần gũi với thính giả, giúp thính giả có cái nhìn toàn cảnh hơn về nền du lịch Việt Nam, biết thêm những thông tin hữu ích về điểm đến cũng như đưa du lịch Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế Đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay, khi dịch Covid 19 đang hoành hành, nền du lịch của nước ta đang bị thiệt hại nặng nề thì việc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá thông tin du lịch càng quan trọng, vừa dập dịch chúng ta vừa duy trì quảng bá du lịch, để sau dập dịch giúp ngành du lịch của ta trỗi dậy

Tổ chức sản xuất chương trình là hoạt động quan trọng trong việc thực hiện các chương phát thanh hình nói chung, trong đó có chương trình du lịch, vì thế việc hiểu được công tác tổ chức sản xuất là vô cùng cần thiết Đặc biệt là đặt trong bối cảnh mạng xã hội và phương tiện truyền thông mới đang ngày càng trở nên phổ biến và được công chúng lựa chọn, tiếp nhận thông tin như hiện nay

Hoạt động tổ chức, sản xuất nội dung các chương trình du lịch hiện nay ở đài VOV và đài PT-TH Hà Nội còn nhiều bất cập như: Các chương trình thiếu cảm xúc, nặng về độc thoại (dịch-đọc), thông tin du lịch chưa tập trung phục vụ nhu cầu thính giả, người nghe chưa thấy được cảm hứng du lịch của mình Truyền thông về du lịch thiếu sự đặt người nghe vào trung tâm, thiếu tương tác

mà chỉ tập chung vào mô tả danh lam thắng cảnh Ngoài ra chưa có sự liên kết sản xuất giữa các chương trình du lịch và các đơn vị tổ chức du lịch hay các địa phương có nhu cầu quảng bá du lịch thu hút khách du lịch tới thăm…

Thực tiễn đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu kịp thời về tầm quan trọng của việc tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh về du lịch Mặt khác, đây là đề tài còn ít được nghiên cứu Những ý kiến đóng góp, phê bình của thính giả gần xa cho chương trình về du lịch trên đài truyền thanh cũng là yếu tố thôi thúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, ban biên tập chương trình đài truyền thanh truyền thanh phải nhanh chóng có những việc làm thiết thực để nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản xuất chương trình về du lịch của Đài

Trang 11

Từ những nguyên nhân đó, tác giả mạnh dạn đưa ra nghiên cứu đề tài

“Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở Việt Nam hiện nay” (Khảo sát chương trình: “Chuyến đi kì thú” trên kênh VOV2, Đài

Tiếng nói Việt Nam và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, từ tháng 6-12/2019 ) để chỉ ra thực trạng việc tổ

chức sản xuất các chương trình phát thanh về du lịch hiện nay, từ đó, luận văn

sẽ đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại trong công tác tổ chức sản xuất, nhằm đưa các chương trình phát thanh về du lịch khẳng định thêm vị thế trong lòng khán giả gần xa

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

So với các loại hình truyền thông khác như báo in, truyền hình, báo mạng thì phát thanh là loại hình báo chí ra đời tương đối sớm, với ưu thế về phương thức truyền tải thông tin sinh động, chân thực bằng lời nói, tiếng động

và âm nhạc, phát thanh luôn chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng và chiếm vị thế quan trọng trong lòng thính giả, bởi các đặc tính vốn có của nó như: tính tiện lợi, tính riêng tư thân mật Vì vậy, phát thanh là đối tượng được nghiên cứu, tìm hiểu nhiều Trong thời gian qua, có một số công trình nghiên cứu được công bố dưới dạng sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận văn… Xin được khái quát một số công trình nghiên cứu sau:

- Các công trình nghiên cứu về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh:

Cuốn Báo phát thanh- Lý thuyết và kĩ năng cơ bản của PGS,TS Đinh

Thị Thu Hằng, Trong Chương 7 cuốn sách đã đưa ra quy trình tổ chức sản xuất

chương trình phát thanh nói chung, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về việc sản xuất các chương trình phát thanh hiện nay

Giáo trình Báo chí phát thanh do 13 tác giả ở Phân viện Báo chí và

Tuyên truyền và Đài TNVN viết (do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại Qua đó giúp chúng ta có cái

Trang 12

nhìn tổng quan hơn về những vấn đề của phát thanh, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lương chương trình phát thanh

Cuốn Dẫn chương trình phát thanh, truyền hình (Sách chuyên khảo), của

PGS TS Đinh Thị Thu Hằng (2015), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Trình bày một số vấn đề chung về hoạt động dẫn chương trình phát thanh, truyền hình; dẫn chương trình tin tức trên sóng phát thanh, truyền hình; yêu cầu về năng lực, phẩm chất của người dẫn chương trình phát thanh, truyền hình

Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc tại các tỉnh miền núi phía Bắc (2013) tác giả Nguyễn Thị Lệ Thủy Trong Chương 1 luận

văn làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết liên quan tới lý luận báo phát thanh và chương trình phát thanh; Những lý luận này sẽ là những căn cứ vững chắc để làm rõ quy trình sản xuất, chất lượng nội dung và hình thức của các chương trình phát thanh

Sản xuất chương trình phát thanh tiếng Dao (Khảo sát Cơ quan thường

trú khu vực Tây Bắc của VOV và Đài Phát thanh – Truyền hình Yên Bái 6 tháng đầu năm 2014) của tác giả Phạm Xuận Thọ Luận văn đã đưa ra quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc và khảo sát quy trình sản xuất các chương trình phát thanh tiếng Dao của Đài PT – TH Yên Bái

và của Đài TNVN giao cho CQTT Tây Bắc sản xuất Những lý luận và thực tiễn về quy trình tổ chức chương trình phát thanh sẽ là cơ sở cho những đề tài sau này

Trong luận văn Thạc sỹ Truyền thông đại chúng bảo vệ tại Học viện

Báo chí và Tuyên truyền năm 2015 với đề tài: Hoạt động sản xuất chương

trình phát thanh tại VOV1, tác giả Nguyễn Văn Phú cũng đề cập đến quy trình

tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tại VOV1.Từ đó cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh

Luận văn Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng Khmer cho bà

con dân tộc khmer của Đài Phát thanh - Truyền hình Sóc Trăng hiện nay

(2015) tác giả Lư Xuân Lái Khảo sát thực trạng và chỉ những thành công, hạn

Trang 13

chế trong tổ chức sản xuất chương trình phát thanh dành cho khán thính giả là

bà con dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng Đề xuất những giải pháp góp phần cải tiến quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng

Nguyễn Thanh Giang 2016, Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh

tiếng dân tộc trên đài Phát thanh - Truyền hình Hà Giang (khảo sát từ tháng

6/2015 đến tháng 6/2016), Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn

về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài Phát thanh - truyền hình Hà Giang, luận văn chỉ ra thực trạng còn tồn tại, những hạn chế trong công tác tổ chức sản xuất, biên - phiên dịch và phát sóng hiện nay Từ đó

đề xuất giải pháp nhằm cải tiến quy trình, hình thức tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc, góp phần tăng cường vai trò tác động của chương trình phát thanh tiếng dân tộc trong việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang

Nguyễn Thị Thương Huyền 2018, Luận án tiến sĩ “Quy trình sản xuất

sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay” Luận án đã hệ thống hóa và

làm rõ những vấn đề lý luận chung về quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại, mô tả về thực trạng quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay Từ đó đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam trong thời gian tới Nghiên cứu các bước trong quy trình sản xuất sản phẩm và các yếu tố tác động tới quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại ở 4 kênh báo chí đối ngoại chủ lực của Việt Nam hiện nay, gồm: báo Vietnam News, kênh phát thanh đối ngoại quốc gia VOV5, kênh truyền hình đối ngoại VTV4

và báo điện tử VietnamPlus Ngoài ra tác giả cũng khảo sát quy trình sản xuất các sản phẩm báo chí đối ngoại thuộc Đài PTTH Quảng Ninh nhằm so sánh, tìm ra sự khác biệt về quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại của trung ương với sản phẩm báo chí đối ngoại của địa phương

Trang 14

Nguyễn Hồng Ánh 2018, Luận văn thạc sĩ: “Quản lý các chương trình

phát thanh trực tiếp tại các đài phát thanh - truyền hình khu vực phía Bắc (Khảo sát các đài PT - TH Hà Nội, đài PT - TH Thanh Hoá, đài PT - TH Bắc Ninh)” Luận văn đã hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến

đề tài, cùng với đó là phân tích, đánh giá thực trạng một số các chương trình phát thanh trực tiếp, tìm hiểu về quy trình quản lý của các chương trình phát thanh trực tiếp ở các Đài Phát thanh – Truyền hình địa phương Cụ thể là các chương trình phát thanh trực tiếp của các Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa và Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh khi kết hợp với các doanh nghiệp, cơ quan truyền thông khác Qua đó rút ra những thành tựu đạt được cũng như hạn chế cần khắc phục để đề xuất một số những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác quản lý

- Các công trình nghiên cứu về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh

về du lịch:

Tác giả Mai Văn Hương, trong khóa luận tốt nghiệp bảo vệ tại Học viện

Báo chí và Tuyên truyền năm 2017 với đề tài: Tổ chức sản xuất chương trình

du lịch tại VOV (khảo sát chương trình FM Kênh phát thanh Dân tộc Quốc gia

từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016), đã đề cập đến các hoạt động tổ chức sản xuất chương trình tại địa phương Hà Giang

- Phát triển hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch của các trung tâm

xúc tiến du lịch tại các địa phương Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội Phan

Thị Thái Hà (2012) Luận văn ThS.Chuyên Ngành: Du lịch, Trường Đại học KHXH&NV Luận văn đã khái quát hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tuyên truyền, quảng bá du lịch nói chung và về công tác tuyên truyền, quảng

bá du lịch, một trong những chức năng nhiệm vụ cơ bản của trung tâm xúc tiến

du lịch Khái quát thực trạng hoạt động tuyên truyền quảng bá trên cả nước, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch của Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch Hà Nội Đề xuất các định hướng và giải

Trang 15

pháp phát triển hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch đối với các trung tâm xúc tiến du lịch (cấp tỉnh, thành phố) thông qua nghiên cứu trường hợp Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Hà Nội

Như vậy, tất cả các công trình trên đều là cơ sở cho luận văn và cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố có đề tài trùng hợp với đề tài tôi lựa chọn Do đó, có thể nói đây là một đề tài mới và cần thiết để thực hiện, không trùng lặp với những đề tài đã được công bố trước đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về TCSX chương trình phát thanh về du lịch và khảo sát, phân tích thực trạng TCSX chương trình phát thanh về du lịch của Đài TNVN và PT-TH Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh về du lịch trên sóng phát thanh ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn thực hiện một số nhiệm

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát 2 chương trình: “Chuyến đi kì thú” trên kênh VOV2

Trang 16

(Đài TNVN) và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 (Đài PT- TH Hà Nội) từ tháng 6-12/2019

(Vì đây là những chương trình có nội dung đi chuyên sâu vào du lịch, nổi bật trên sóng Đài Tiếng Nói Việt Nam và Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội về du lịch, đã có lịch sử nhiều năm phát sóng)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, Nhà nước và các chủ trương, định hướng của ngành giáo dục về công tác báo chí, một số lý thuyết về báo chí nói chúng và báo chí phát thanh nói riêng, từ

đó, vận dụng vào việc khảo sát thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh của Đài PT&TH Hà Nội và Đài TNVN

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu được sử dụng để khảo sát các văn bản, các chỉ thị, nghị quyết và các tài liệu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của báo chí nói chung và báo chí phát thanh nói riêng Qua đó xây dựng khung lý thuyết cho đề tài

- Phương pháp quan sát, phân tích thực tế được sử dụng để nhằm làm sáng tỏ thực trạng TCSX chương trình phát thanh về du lịch VOV2 và FM 90

- Phương pháp phỏng vấn sâu: được sử dụng đối với các cán bộ lãnh đạo Đài Tiếng Nói Việt Nam, Đài PT-TH Hà Nội, phóng viên, biên tập viên Đài Tiếng Nói Việt Nam và Đài PT-TH Hà Nội, những người am hiểu, quan tâm đến vấn đề du lịch nhằm thu thập những cứ liệu thực tế cho quá trình nghiên cứu: 5 người Gồm 2 lãnh đạo và 3 PV, BTV

- Điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả thực hiện điều tra thính giả qua 200 phiếu hỏi online (thu về 192 phiếu hợp lệ) tại 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc

Trang 17

Ninh và Thái Nguyên để biết được đánh giá của họ về chương trình Chuyến đi

kì thú trên kênh VOV2 và chương trình FM Du lịch trên kênh FM 90, mà tác giả thực hiện khảo sát, nhu cầu của họ đối với việc truyền thông về du lịch trên sóng phát thanh Với 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh và Thái Nguyên có văn hóa nghe Đài cơ bản tương đồng với nhau

- Các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp được sử dụng để làm sáng tỏ thực trạng TCSX chương trình phát thanh về du lịch, qua đó chỉ rõ các đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của hoạt động này, từ đó đề xuất các giải giáp, kiến nghị có tính khả thi nhằm góp phần nâng cao việc TCSX chương trình phát thanh về du lịch trong diện khảo sát nói riêng và các chương trình phát thanh về du lịch ở Việt nam hiện nay nói chung

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống một cách tổng quát, chuyên sâu về TCSX chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở Việt Nam

Việc phân tích để làm rõ thực trạng, chỉ ra những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế trong TCSX chương trình phát thanh về du lịch và nêu ra những kiến nghị, giải pháp sẽ là những đóng góp mới vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn và góp phần nâng cao kỹ năng TCSX chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Thứ nhất, thấy được vai trò, vị trí của việc TCSX các chương trình phát

thanh cũng như tình huống sản xuất các chương trình phát thanh nói chung và chương trình phát thanh về du lịch nói riêng

Thứ hai, luận văn cung cấp cái nhìn tổng quát và chi tiết về các chương

trình phát thanh về du lịch tại các Đài hiện nay

Thứ ba, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ TCSX chương

trình phát thanh về du lịch

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 18

Đề tài đóng góp cho chương trình phát thanh về du lịch dành cho các thính giả trên kênh VOV2, Đài TNVN và kênh FM90 Đài PT-TH HN trong việc nâng cao hơn nữa kỹ năng TCSXchương trình phát thanh theo nhóm hiện nay Hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho chiến lược phát triển trong việc sản xuất các chương trình chuyên nghiệp của đài PT Trung ương (TW) và địa phương, góp phân đưa ngành phát thanh của nước ta phát triển

Luận văn đi vào nghiên cứu một cách hệ thống về TCSX chương trình phát thanh dành cho thính giả ưa thích du lịch trên kênh VOV2, Đài TNVN và

FM 90 Đài PT-TH HN,thông qua việc khảo sát chất lượng các chương trìnhvề

du lịch được phát sóng trên kênh các kênh VOV2, Đài TNVN và FM 90 Đài PT-TH HN Việc nghiên cứu tập trung vào khảo sát, phân tích việc xây dựng nội dung, bố trí nhân lực và kỹ thuật hiện nay của nhà đài Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là gợi ý tham khảo cho những người đang trực tiếp tham gia vào công việc sản xuất các chương trình phát thanh trên kênh các kênh VOV2, Đài TNVN và FM 90 Đài PT-TH HN nói riêng và các đài khác nói chung

Bên cạnh đó, tác giả hy vọng luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho việc học tập nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành báo chí và những ai quan tâm đến đề tài này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh

Chương 2: Thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình về du lịch trên sóng phát thanh Đài PT&TH Hà Nội và VOV2

Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

tổ chức sản xuất các chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở Việt Nam hiện nay

Trang 19

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT

CHƯƠNG TRÌNH VỀ DU LỊCH TRÊN SÓNG PHÁT THANH

1.1 Các khái niệm của đề tài

Tổ chức là một sự sắp xếp có hệ thống những người được nhóm lại với nhau để đạt được những mục đích nhất định Các đơn vị kinh doanh, nhà hàng, ban nhạc, cơ quan nhà nước… là những ví dụ về tổ chức

Công tác tổ chức bao hàm 2 nội dung cơ bản là Tổ chức cơ cấu (tổ chức cơ cấu quản lý và tổ chức cơ cấu sản xuất kinh doanh) và Tổ chức quá trình (tổ chức quá trình quản trị và tổ chức quá trình chuẩn bị cho sản xuất sản phẩm).[30]

Mỗi tổ chức đều hình thành trên một cấu trúc nhất định nào đó và cùng hoạt động để đạt được mục đích mà từng cá thể, cá nhân đơn lẻ không thể thực hiện được Như vậy có thể thấy sự khác biệt về mục đích chính là yếu tố phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác

Vậy các tổ chức là những tập hợp bao gồm nhiều cá thể, nhiều thành viên và rõ ràng, những thành viên này sẽ đưa ra các quyết định và xác định mục đích hướng đến Và chính các thành viên này cũng sẽ thực hiện hàng loạt hành động, hành vi để hiện thực hoá các mục tiêu, mục đích đã đề ra theo sự phân công công việc và phân công nhiệm vụ

Trang 20

Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, sản xuất là tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động, [25, tr.342], là hoạt động bằng sức lao động của con người hoặc bằng máy móc, chế biến các nguyên liệu thành của cải vật chất cần thiết Vật phẩm cho xã hội phải được hiểu bao gồm sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần mang những nét đặc thù Tính đặc thù của sản phẩm phụ thuộc vào các nhân tố sản xuất như nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn,phương tiện sản xuất và công nghệ sản xuất

Có thể nói bất kỳ hoạt động sản xuất nào nhằm phục vụ đời sống của con người đều cần có cách tổ chức sản xuất hiệu quả, từ khâu lựa chọn đầu vào, sử dụng máy móc trang thiết bị nào, trình độ lao động ra sao để phù hợp với yêu cầu công nghệ, lãnh đạo, tổ chức phân công lao động như thế nào cho hợp lý theo không gian và thời gian sao cho hoạt động sản xuất đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất [7, tr.29] Và cuối cùng, tổ chức sản xuất có vai trò quyết định đối với hiệu quả của quá trình sản xuất

Giáo trình giảng dạy môn Tổ chức lao động, Học viện Công nghệ Bưu

chính Viễn thông cho rằng: “Tổ chức sản xuất là quá trình con người dùng

sức lao động của mình thông qua công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động, nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm có ích cho nhu cầu xã hội”

Nếu coi sản xuất là một quá trình tổ chức sản xuất là biện pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối quan hệ và phối hợp hoạt động của các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia vào quá trình sản xuất đó một cách hợp lí theo gian

Nếu coi sản xuất là một trạng thái thì tổ chức sản xuất là các biện pháp, phương pháp, các thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên

hệ và phân bổ chúng một cách hợp lí về không gian

Để tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm, đầu tiên cần phải phân chia quá trình sản xuất tạo nên các sản phẩm thành các quá trình riêng Căn cứ vào phương pháp, kỹ năng khác nhau, dựa trên lao động máy móc sẽ hình thành

Trang 21

nên loại hình sản xuất, cơ cấu sản xuất, lập kế hoạch sản xuất và tổ chức công tác điều phối sản xuất

Như vậy có thể hiểu, tổ chức sản xuất là làm ra những gì cần thiết để liên kết với người lao đồng, các quy trình lao động để tạo ra vật phẩm, đáp ứng nhu cầu thiết thực cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động, trên cơ sở các quy tắc ngề nghiệp và theo quy trình nhất định Thực chất của quá trình tổ chức sản xuất là việc phân chia quá trình sản xuất phức tạp thành quá trình thành phần (tức là các bước công việc), trên cơ sở đó

áp dụng những hình thức công nghệ, các biện pháp tổ chức phân chia công lao động và các phương tiện, công cụ lao động thích hợp Trong quá trình đó tìm biện pháp phối hợp hài hòa giữa các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất

Vì thế, có thể hiểu Tổ chức sản xuất là sự sắp xếp, bố trí các công đoạn

từ đầu đến cuối, tạo thành một quy trình phù hợp, để từ đó đạt được mục tiêu, mục đích sản xuất đã đề ra với hiệu quả cao nhất

1.1.2 Chương trình phát thanh

Có nhiều tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về chương trình phát thanh khác nhau

Trong cuốn áo phát thanh- ý thuyết và k năng cơ bản PGS, TS Đinh

Thị Thu Hằng chủ biên thì Chương trình phát thanh là một chỉnh thể trong đó các thành phần tin bài, âm nhạc, lời dẫn được bố trí sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông

và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [7, tr 153]

Trong cuốn Truyền thông đại chúng, GS.TS Tạ Ngọc Tấn (chủ biên)

thì CTPT là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng khán thính giả cụ thể “ Thông thường một chương trình phát thanh

mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc

Trang 22

hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình [38, tr 117-118]

Mỗi CTPT được xem như một số báo Tùy chức năng nhiệm vụ của tờ báo mà tính định kì của chúng mau hay thưa Với phát thanh do đặc điểm của

tờ báo điện tử nên tính định kì của CT có thể tính bằng giờ, thậm chí ngắn hơn [31, tr.56] Điều này tạo cho đài phát thanh khả năng cập nhật thông tin mới nhanh chóng và kịp thời hơn hẳn so với thông tin trên các ấn phẩm báo chí, nhất là những sự kiện xảy ra trong khoảng thời gian dài Tuy nhiên do thời điểm phát của các CT luôn ấn dịnh vào một giờ trong ngày nên thính giả khó nắm bắt đầy đủ chuỗi thông tin nếu không theo dõi đầy đủ ở những CT kế tiếp

Để thính giả chủ động đón nghe đầy đủ các BTV thường sử dụng hình thức giới thiệu trước một số thông tin quan trọng sẽ phát ở CT kế tiếp

Tùy vào mục đích của người thực hiện chương trình đó nên mỗi CTPT

có phạm vi phản ánh, lĩnh vực phản ánh riêng, gắn với từng nội dung cụ thể, các CTPT đòi hỏi lựa chọn phương thức thực hiện riêng Những CT có đặc điểm thông tin chiều sâu, không yêu cầu quá cao về tính thời sự cấp bách nhưng cần có sự dàn dựng công phu thì việc lựa chọn phương thức thu thanh trước sẽ phát huy tối đa thế mạnh Còn những CT có đặc điểm phản ánh trên diện rộng, đòi hỏi phát huy tính thời sự cấp bách, nhanh chóng, tức thời thì việc lựa chọn phương thức phát thanh trực tiếp sẽ phát huy tốt hơn thế mạnh của loại hình

Những đ c điểm của TPT như sau [24, tr.89]:

- CTPT được mở đầu bằng nhạc hiệu hoặc nhạc chương trình Thính giả thường thông qua nhạc hiệu để nhận diện chương trình Vì vậy mỗi chương trình sẽ có một nhạc hiệu riêng và thông qua nhạc hiệu có thể tạo được đặc trưng riêng cho chương trình

- Lời xướng của PTV, người dẫn chương trình: Lời xướng được dùng như một thông báo ngắn gọn cho tên của CTPT Mỗi một đài có cách lựa chọn

Trang 23

riêng, lời xướng có thể bao gồm như: tên chương trình, thông điệp chương trình muốn gửi gắm, tần số phát sóng Chẳng hạn, Đài TNVN có lời xướng

“Đây là Đài TNVN, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”;

- Cấu trúc của CTPT: Mỗi CTPT đều ổn định về cấu trúc Với chương trình thời sự thường có 3 phần: tin - bài - tiết mục được phân chia bằng những đoạn nhạc cắt Chương trình chuyên đề thường có hai phần tiết mục trở lên và được phân cách bằng những nhạc cắt, nhạc tiết mục Với các chương trình có thời lượng lớn, số tiết mục có thể tăng

- Lời kết của chương trình hoặc lời chào thính giả Cách chào và hẹn gặp lại tạo sự gắn kết thính giả với chương trình và duy trì sự chú ý của người nghe đối với vấn đề họ quan tâm

Trong thực tế, có nhiều cách phân loại các CTPT Theo tác giả Tạ Ngọc

Tấn, “ ăn cứ vào đ c điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng người

ta chia chương trình phát thanh thành 4 loại chính: chương trình tin tức, thời

sự tổng hợp; chương trình chuyên đề; chương trình giải trí và chương trình giáo dục” [38, tr.118] Việc phân loại các chương trình theo các tiêu chí đặc

điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng theo tác giả, “chỉ mang tính

tương đối, dựa vào tính nổi trội của những đ c điểm cụ thể Vì thế, ranh giới giữa các chương trình chỉ mang tính tương đối” [38, tr.119]

Tuỳ theo tiêu chí, đối tượng công chúng, sẽ có các CTPT khác nhau Nếu phân chia theo tính chất của thông tin và năng lực phản ánh sẽ có chương trình thời sự, chương trình chuyên đề, chương trình giải trí… Việc phân chia chỉ mang tính chất tương đối vì mục đích của tất cả những người làm báo phát thanh đều cố gắng mang đến cho công chúng những chương trình bổ ích, hấp dẫn nhất

Vì vậy, có thể hiểu rằng: Chương trình phát thanh là một sản phẩm báo

chí hoàn chỉnh, bao gồm: nhạc hiệu, tin bài, lời dẫn, nhạc cắt, tiểu

Trang 24

phẩm…được sắp xếp ch t chẽ sao cho phù hợp với ý đồ của người thực hiện chương trình, trong một thời lượng nhất định nhằm đáp ứng yều cầu của cơ quan chủ quản và thỏa mãn nhu cầu của thính giả nghe đài

1.1.3 Du lịch

Hoạt động du lịch trên thế giới hình thành từ rất sớm, từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ phong kiến, rồi đến cận đại và hiện đại Hoạt động kinh doanh du lịch cũng dần được phát triển và ngày càng được nâng cao lên cả về cơ sở vật chất kỹ thuật đến các điều kiện về ăn, ở, đi lại, vui chơi, giải trí,…Ngày nay, hoạt động du lịch đã mang tính toàn cầu, du lịch trở thành một nhu cầu thiết yếu của người dân các nước kinh tế phát triển Du lịch cũng là một tiêu chuẩn

để đánh giá đúng mức sống của dân cư nước đó Và vì vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch [38, tr.69]

Theo Phan Thị Thái Hà, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của

những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư [33 Tr.85]

Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm stress vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách chưa biết Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động (hướng dẫn viên, các dịch vụ liên quan )

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, có các dạng du lịch:

Du lịch làm ăn

Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt

Du lịch nội quốc, quá biên

Trang 25

Du lịch tham quan trong thành phố

Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm

Du lịch người cao tuổi

Hiện nay ngành du lịch đang phát triển mạnh ở các nước thuộc thế giới thứ ba Nhu cầu về du lịch càng tăng thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được coi trọng Có một dạng du lịch nữa, đó là du lịch xúc tiến thương mại,

vừa đi du lịch vừa kết hợp làm ăn, cũng rất phổ biến tại Việt Nam

Theo định nghĩa của Luật du lịch Việt Nam thì du lịch là các hoạt động

có liên quan đến chuyến đi của con người (cá nhân hoặc tập thể) đến những nơi không thuộc khu vực mình cư trú thường xuyên nhằm mục đích tham quan, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định (không bao gồm mục đích công việc) [23, tr.18]

Ngành du lịch có mối liên kết mạnh mẽ với các nhóm ngành khác (nhất là

về dịch vụ) như: ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, giao thông, giải trí Có thể nói, chúng có mối quan hệ cùng tiến, cùng lùi với nhau Ngành du lịch hiện mang lại rất nhiều cơ hội việc làm, mức thu nhập tốt dành cho người lao động [23]

Theo giáo sư thụy sĩ là Hunziker và Krapf đã khái quát: “Du lịch là tổng

hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương - những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào” [14] Quan niệm này

Trang 26

được hiệp hội quốc tế các chuyên gai khoa học về du lịch thừa nhận

Theo I I Pirôgionic (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư

trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi

cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa ho c thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và hóa.” [15, tr.125]

Từ các định nghĩa đã nêu, có thể hiểu Du lịch là những hoạt động của

con người ở ngoài khu lưu trú của mình, với mục đích thỏa mãn các nhu cầu

về tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi, ăn uống hoặc khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm …trong một khoảng thời gian nhất định

1.1.4 Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch

Ngày nay, du lịch là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống con người, ngoài ra du lịch đã, đang và tiếp tục trở thành lĩnh vực kinh doanh, dịch

vụ quan trọng trong nền kinh tế ở hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới Nhìn từ góc độ kinh tế, du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác Như vậy, du lịch là một ngành kinh tế độc đáo phức tạp, có tính đặc thù, mang

nội dung văn hoá sâu sắc và tính xã hội cao [33, tr 67]

Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch về cơ bản giống với quy trình tổ chưc sản xuất các chương trình phát thanh khác, nhưng mỗi lĩnh vực lại có những đặc thù tính chất riêng

Ví dụ, để sản xuất một CTPT thời sự hay du lịch thì vẫn phải thực hiện

các bước như: xác định mục tiêu và xây dựng nội dung chương trình, xây dựng

kế hoạch và phân công công việc, chuẩn bị thiết bị kĩ thuật cần thiết khi đi phỏng vấn, viết kịch bản, biên tập chương trình, sản xuất chương trình…Nhưng

tổ chức sản xuất chương trình thời sự khác với chương trình du lịch vì CT thời

sự thường là các tin bài phản ánh nhanh về các sự kiện, vấn đề thời sự trên các

Trang 27

lĩnh vực khác nhau, mục đích chủ yếu của CT thời sự là phản ánh diện mạo đời sống đang thay đổi thông qua các sự kiện, vấn đề mới xuất hiện Còn CTPT du lịch thì có thể là tin bài, phóng sự, phản ánh, âm nhạc… giới thiệu các điểm du lịch nổi tiếng, tư vấn, trải nghiệm, tuyên truyền bản sắc văn hóa dân tộc, quảng

bá hình ảnh thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam ra bạn bè quốc tế….Như vậy có thể thấy cách thức thực hiện một CTPT thời sự và du lịch có thể giống nhau nhưng về nội dung và hình thức của các CT sẽ khác nhau, mỗi CT sẽ có những đặc điểm riêng và mục tiêu riêng, sứ mệnh riêng

Kết hợp với khái niệm chung về tổ chức sản xuất và khái niệm về

chương trình phát thanh, khái niệm du lịch, chúng tôi đưa ra khái niệm về Tổ

chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch chính là thực hiện quá trình phân công nhiệm vụ của các thành viên, điều hòa các quan hệ, phối hợp hoạt động của các thành viên trong nhóm và quản lý tiến độ hoàn thành sản phẩm

về cả nội dung và hình thức, ở đây là chương trình phát thanh về du lịch

Trong quá trình đó, để đảm bảo chương trình hoàn thành về mặt thời gian, chất lượng, đảm bảo mục tiêu đề ra về cả nội dung và hình thức, người tổ chức sản xuất phải lên kế hoạch và tiên đoán, trù liệu trước những tình huống có thể xảy

để chuẩn bị kế hoạch, phương án tốt nhất

1.2 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam và quan điểm của Đảng

và Nhà nước

1.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có sự đa dạng sinh học lớn nhất thế giới: Có khoảng 10% số loài, trong khi diện tích đất chỉ chiếm chưa tới 1% trên thế giới Nhu cầu quản lý một cách bền vững các khu vực được ưu tiên bảo tồn và tăng cường tài chính để bảo tồn đa dạng sinh học là rất cần thiết cho tương lai của nền kinh tế Đa dạng sinh học là vốn tự nhiên quan trọng để phát triển nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là ngành du lịch

Bên cạnh đó, hệ thống chính sách, pháp luật trong nước về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học cũng ngày càng hoàn thiện Việt Nam đã ban hành

Trang 28

và triển khai các luật rất quan trọng để bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học như Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật Du lịch, Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,… cùng nhiều văn bản hướng dẫn thi hành

Nhiều khu bảo tồn của Việt Nam có tầm quan trọng toàn cầu và khu vực được công nhận, bao gồm: 8 khu Ramsar, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 2 khu di sản thiên nhiên thế giới, 1 khu di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 5 khu vườn di sản ASEAN Hiện nay tại Việt Nam, có hơn 180 khu bảo tồn thiên nhiên và 63 vùng chim quan trọng (IBA) Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch sinh thái Theo thống kê của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, các vườn quốc gia và khu bảo tồn tại Việt Nam thu hút trên 30% lượng khách du lịch hằng năm.[33, tr.38]

Những năm gần đây, ngành du lịch việt Nam tiếp tục nhận được những động lực và kỳ vọng phát triển mới, tích cực và mạnh mẽ Năm 2018, du lịch Việt Nam đón 15.497.791 lượt khách, tăng 19,9% so với năm 2017, phục vụ hơn 80 triệu lượt khách trong nước, tổng thu từ khách du lịch đạt hơn 620.000

tỷ đồng và là năm thứ ba liên tiếp, du lịch Việt Nam liên tục thăng hạng trên bản đồ du lịch thế giới Cũng năm này, lần đầu tiên Việt Nam được trao tặng giải thưởng “Điểm đến du lịch hàng đầu châu Á” tại Lễ trao Giải thưởng Du lịch thế giới-World Travel Awards (WTA) khu vực châu Á và châu Đại Dương năm 2018

Nửa đầu năm 2019, Việt Nam đã đón hơn chín triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 9% so với cùng kỳ năm trước và hứa hẹn một năm tạo đỉnh kỷ lục mới

về thu hút du khách quốc tế Đặc biệt, Hội nghị Bộ trưởng Du lịch ASEAN hằng năm đã được tổ chức thành công trong tháng 1-2019 tại Hạ Long, đang và sẽ mang lại nhiều thay đổi mới trong phát triển chuỗi sản phẩm du lịch ASEAN và quảng bá Việt Nam như là điểm đến đẹp, thân thiện, an toàn

Việt Nam được xếp thứ 24/141 quốc gia về tài nguyên du lịch, nhưng chỉ đứng thứ 75/141 về năng lực cạnh tranh du lịch toàn cầu; xếp hạng 89 về

Trang 29

mức độ mở cửa với quốc tế, trong đó yêu cầu về thị thực xếp hạng 119 (Việt Nam mới miễn thị thực cho công dân 22 nước, so với ở Thái-lan là 61, ở Malaysia là 155, Singapore là 158, Indonesia là 169 nước)

Việc mở rộng danh sách các quốc gia được miễn thị thực và áp dụng cấp thị thực điện tử trên nền tảng hạ tầng công nghệ thông tin ngày càng hiện đại

và an toàn là một bước tiến mới và thước đo trong hoàn thiện thể chế, chính sách, đổi mới nhận thức, tư duy, tạo động lực và kỳ vọng mới về phát triển du lịch Việt trong hội nhập quốc tế

Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng với đó là những nét văn hóa đa dạng mang bản sắc riêng từng vùng miền Các lễ hội văng hóa, di tích lịch sử

đã làm nên bản sắc, cốt cách, hình hài dân tộc Việt Nam Đặc biệt, đặc điểm của du lịch Việt Nam là an toàn nhờ điều kiện thiên nhiên ưu đãi, đây là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn điểm đến của du khách

Động lực và kỳ vọng đưa du lịch Việt Nam phát triển nhanh hơn nữa được cộng hưởng và lan tỏa từ xu hướng ngày càng nhiều tập đoàn, công ty, nhà đầu tư chiến lược trong nước và quốc tế tăng cường đầu tư xây dựng những khách sạn, khu nghỉ dưỡng, điểm du lịch cao cấp, trực tiếp góp phần cải thiện cơ

sở hạ tầng và nguồn nhân lực theo tinh thần hội tụ “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” và “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” , gắn với các đề án trọng điểm của du lịch Việt Nam vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bao gồm: Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2025; cơ cấu lại ngành du lịch (thị trường khách và sản phẩm du lịch) và ứng dụng công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch vừa theo chiều rộng, vừa chủ yếu theo chiều sâu; tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và cộng đồng, khuyến khích các doanh nghiệp du lịch quy mô lớn, có thương hiệu trong và ngoài nước phát triển thành lực lượng nòng cốt, giữ vai trò định hướng phát triển sản phẩm, thị trường du

Trang 30

lịch bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển bền vững theo quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; Đồng thời, phát triển kết cấu hạ tầng

và cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực và hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch; tăng cường năng lực, hiệu lực và hiệu quả phối hợp quản lý nhà nước về du lịch trong hình thành các khu du lịch trọng điểm, xây dựng “vùng động lực mới”, tạo đột phá cho phát triển du lịch

Ngoài ra, động lực và kỳ vọng mới cho du lịch cũng đến từ sự cần thiết

mở rộng việc trực tiếp cấp thị thực điện tử (E-visa) cho công dân người nước ngoài (hiện mới cho 40 nước) và cho phép người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh bằng thị thực điện tử qua các cửa khẩu quốc gia (hiện mới có 28 cửa khẩu) phù hợp với pháp luật Việt Nam, với mức phí cấp thị thực thấp và thời hạn đủ dài, thuận lợi hơn trên cơ sở phát triển chính phủ điện tử, cải cách thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu giữ vững an ninh quốc gia, trật tự xã hội trong tình hình mới

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch ở Việt Nam

Để đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, ngày

22/01/2020 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch

Việt Nam đến năm 2030

Mục tiêu đến năm đến năm 2025, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, phấn đấu thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu về phát triển du lịch trong khu vực Đông Nam Á và 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, trong đó tất cả 14 tiêu chí năng lực cạnh tranh du lịch đều tăng, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững

Tổng thu từ khách du lịch đạt 1.700 - 1.800 nghìn tỷ đồng (tương đương

77 - 80 tỷ USD), tăng trưởng bình quân 13 - 14%/năm; đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 12 - 14%; tạo ra khoảng 5,5 - 6 triệu việc làm, trong đó có khoảng 2 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 12 - 14%/năm

Về khách du lịch, phấn đấu đón được ít nhất 35 triệu lượt khách quốc tế

Trang 31

và 120 triệu lượt khách nội địa, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân về khách quốc tế từ 12 - 14%/năm và khách nội địa từ 6 - 7%/năm

Đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, đáp ứng đầy đủ yêu cầu

và mục tiêu phát triển bền vững

Để đạt được mục tiêu trên, chiến lược đề ra các giải pháp như tiếp tục đổi mới nhận thức, tư duy về phát triển du lịch; hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển du lịch; phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch; phát triển và đa dạng hóa thị trường khách du lịch; phát triển sản phẩm du lịch; đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch và hợp tác, hội nhập quốc tế về du lịch

Trong đó, về hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển du lịch, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật để tạo điều kiện cho du lịch phát triển; ban hành chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng để huy động nguồn lực đầu tư tại các cụm du lịch, khu vực động lực phát triển du lịch, khu du lịch quốc gia và khu vực có tiềm năng du lịch

Thúc đẩy quan hệ hợp tác công - tư và các mô hình quản trị tích hợp các khu vực công và tư nhân, doanh nhân và cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch bền vững; thiết lập các điều kiện tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, kích thích đổi mới, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển lực lượng doanh nghiệp, hình thành nhiều doanh nghiệp du lịch có thương hiệu mạnh; hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh du lịch tiếp thu công nghệ mới, kỹ năng số và tiếp cận tài chính

Trước đó, ngày 21/05/2019 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký Nghị

định số 45/2019/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực du lịch

Theo đó, Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa với mỗi hành vi vi

Trang 32

phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch đối với cá nhân là 50 triệu đồng, đối với tổ chức là 100 triệu đồng Với cơ sở lưu trú du lịch không niêm yết công khai nội quy theo quy định bị phạt tiền đến 05 triệu đồng Đặc biệt nếu có hành

vi bán hàng hóa, dịch vụ không đúng giá niêm yết bị phạt tiền từ 05 – 10 triệu đồng Bên cạnh việc phạt tiền, cơ sở lưu trú du lịch vi phạm bị đình chỉ hoạt động từ 01 đến 03 tháng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp Với hành vi tranh giành khách du lịch hoặc nài ép khách du lịch mua hàng hóa, dịch vụ hay phân biệt đối xử với khách du lịch bị phạt tiền từ 01 đến 03 triệu đồng

Đồng thời, hành vi vi phạm hành chính về cơ sở vật chất, dịch vụ lưu trú

du lịch không đảm bảo vệ sinh như: Không có khăn mặt hoặc khăn tắm; không thay khăn, thay bọc đệm hoặc chăn gối khi có khách mới cũng bị phạt tối đa đến 03 triệu đồng Đối với hướng dẫn viên du lịch không sử dụng thẻ hướng dẫn viên khi hành nghề hoặc sử dụng thẻ hướng dẫn viên du lịch giả, mức phạt tiền từ 15 đến 20 triệu đồng

Những căn cứ trên nhằm thúc đẩy ngành du lịch nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, không còn những tình trạng như chèo kéo, lừa gạt khách du lịch, hay chất lượng du lịch kém

Theo đề án “ ơ cấu lại ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành

ngành kinh tế mũi nhọn”, đã được Chính phủ phê duyệt, Việt Nam phấn đấu

đến năm 2025 là quốc gia có ngành du lịch phát triển hàng đầu Đông - Nam Á, đón và phục vụ 30 - 32 triệu lượt khách du lịch quốc tế, trên 130 triệu lượt khách du lịch nội địa, với tổng thu từ khách du lịch đạt 45 tỷ USD; Giá trị xuất khẩu thông qua du lịch đạt 27 tỷ USD; Ngành du lịch đóng góp trên 10% GDP

và tạo ra 6 triệu việc làm, trong đó có 2 triệu việc làm trực tiếp, với 70% được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ và kỹ năng du lịch

Ngày càng nhiều địa phương, như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Huế, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang… đã và đang tăng cường quản lý điểm đến, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn và vệ sinh an toàn thực phẩm cho du khách, xử

Trang 33

lý các tour 0 đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương và góp phần cùng cả nước phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn bền vững, theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn quốc gia

Bên cạnh đó, Tổng cục Du lịch cũng đã hoàn thiện và báo cáo Bộ VHTTDL trình Thủ tướng Chính phủ đề án “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” và “Phát triển du lịch nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới”

1.3 Đặc điểm, quy trình và yêu cầu đối với tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch

1.3.1 Đặc điểm của chương trình phát thanh về du lịch

Chương trình phát thanh là một tập hợp bao gồm: nhạc hiệu, tin bài, lời dẫn, nhạc cắt, tiểu phẩm…được sắp xếp chặt chẽ sao cho phù hợp với ý đồ của người thực hiện chương trình, trong một thời lượng nhất định nhằm đáp ứng yều cầu của cơ quan chủ quản và thỏa mãn nhu cầu của thính giả nghe đài

Điều kiện để tổ chức sản xuất các CTPT là việc sáng tạo các tác phẩm tin, bài Tuy nhiên không một tin, bài nào đến với người nghe một cách đơn lẻ

mà phải được tổ chức sắp xếp theo một trình tự nhất định, trong một ý đồ rõ ràng của người thực hiện nhằm đạt hiệu quả thông tin

CTPT là kết quả lao động của một tập thể Tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình sản xuất CTPT là đội ngũ các nhà quản lý, các biên tập viên, phóng viên, cộng tác viên, kĩ thuật viên…Với các công việc khác nhau, họ góp phần tạo nên các CTPT theo một kế hoạch, mục tiêu thông tin, tuyên truyên ngắn hạn và dài hạn CTPT là kết quả của một quá trình làm việc nhóm giữa các thành viên, trải qua các khâu, lên kế hoạch, phỏng vấn, viết bài… duyệt chương trình, thực hiện thu, cắt chỉnh, lồng ghép âm nhạc…nó vừa thể hiện năng lực, vai trò, nhiệm vụ của các đài phát thanh, cụ thể hóa các chiến lược thông tin vừa đáp ứng nhu cầu nhận biết, thụ hưởng thông tin của khán thính

Trang 34

giả thính giả

Một chương trình phát thanh đòi hỏi phải trải qua rất nhiều công đoạn, trong đó đề cao sự sáng tạo của các thành viên để mỗi CT sẽ ngày càng được cải thiện và nâng cao về chất lượng Các CTPT đều có những đặc điểm chung, tuy nhiên mỗi lĩnh vực sẽ có những đặc điểm khác nhau, ví dụ như CT du lịch

sẽ khác với CT thời sự, giải trí

Chương trình phát thanh về du lịch có những đặc điểm sau:

- Có tính chất quảng bá, thiên về sự tích cực, ca ngợi

Công tác quảng bá được xác định là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, giải pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển du lịch, góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của ngành “công nghiệp không khói” Vì vậy chương trình phát thanh về du lịch thường có tính chất quảng bá, để phổ biến rộng rãi những thông tin hữu ích về du lịch, những điểm đến hấp dẫn cho

du khách, góp phần thu hút sự tìm tòi, khám phá, trải nghiệm của mọi người Ngoài ra các CTPT về du lịch cũng hay thiên về sự tích cực, ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên thiên nhiên, đất nước, con người, ẩm thực hơn là phê phán Bởi các CTPT về du lịch, với mục đích là thu hút, lôi kéo du khách đến tham quan du lịch tại địa điểm đó, vậy thì phải làm sao đưa ra được hết cái hay cái đẹp của nơi đó để người nghe thấy hay, hấp dẫn thì họ mới đến, nếu như những CTPT

về du lịch chỉ toàn phê phán nói về ô nhiễm môi trường du lịch, chèo kéo khách, tăng giá dịch vụ …thì sẽ không thể thu hút du khách mà ngược lại kéo

họ xa hơn Nhưng không có nghĩa những CTPT về du lịch lúc nào cũng chỉ ca ngợi, nói vê sự tích cực, vẫn có những chương trình thực hiện nói lên thực trạng tại địa điểm đó, đưa ra lời khuyên cho du khách khi đến, tránh tình trạng lừa đảo, móc túi…Ở đây tác giả muốn nói CTPT về du lịch đa phần có tính chất quảng bá, thiên về sự tích cực, ca ngợi Đặc điểm này thể hiện rõ ở các

CT ở cả 2 kênh VOV2 và FM90

- Mục tiêu là thu hút, kích thích nhu cầu du lịch, khám phá của con người

Trang 35

Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của các chương trình phát thanh về du lịch Với mục tiêu thu hút, kích thích nhu cầu du lịch của du khách trong và ngoài nước, sự khám phá của con người, các chương trình phát thanh

về du lịch luôn luôn cung cấp đến thính giả nhưng thông tin mới, nóng về các chương trình giảm giá, khuyến mại của các công ty du lịch, giá vé máy bay rẻ, thông tin dịch vụ du lịch hấp dẫn, như ăn uống, nghỉ sưỡng, khách sạn, phương tiện đi lại…Những thông tin này sẽ thu hút người nghe khi họ có nhu cầu đi du lịch ở đâu đó, hoặc họ chưa có nhu cầu du lịch nhưng khi biết đến các thông tin giảm giá, khuyến mại hấp dẫn họ cũng sẽ có nhu cầu đi du lịch

Các chương trình phát thanh về du lịch còn thường đưa ra những chi tiết độc, lạ về phong cảnh, các loài động vật kích thích nhu cầu khám phá của con người, ví dụ như tại các địa điểm hang động, rừng núi sẽ kích thích sự khám phá của những bạn trẻ ưa thích du lịch mạo hiểm, phượt…Khi có một sự kiện

về du lịch nào đó có tầm ảnh hưởng thì ngay lập tức sẽ có CTPT du lịch phản ánh để mọi người nắm bắt, hoặc khi có một công ty lữ hành nào đó họ tung ra một số tua đi du lịch giảm giá hay miễn phí một số dịch vụ cho khách hàng, đây là lúc các CTPT về du lịch cần thông tin đến thính giả để họ có thể biết và đặt lịch, vừa góp phần kích thích nhu cầu du lịch, vừa làm tăng lượi nhuận cho các doanh nghiệp du lịch…

Với những CTPT có nội dung giới thiệu điểm đếm, tham gia trải nghiệm, khám phá tại địa điểm du lịch nào đó, hay giới thiệu các món ăn địa phương cũng mang đặc điểm thu hút, kích cầu du lịch

- Hướng đến nhóm đối tượng yêu thích du lịch, có nhu cầu tìm hiểu

thông tin du lịch

- Đối tượng nghe của chương trình chuyến đi kì thú và fm du lịch là : thính giả nghe Đài, thích đi du lịch, những ai thích đi du lịch nhưng chưa được đặt chân đến các địa danh đó, muốn có các thông tin về địa danh du lịch

Việc hình thành các CT phải luôn dựa trên nhu cầu về đối tượng, nhằm

Trang 36

phục vụ một nhóm đối tượng nhất định Nhóm đối tượng đó có vai trò quyết định tới quá trình tổ chức một chương trình, nội dung, cách thiết kế, trình bày thông điệp CTPT về du lịch luôn tự điều chỉnh, sáng tạo qua từng số CT để phù hợp hơn với nhu cầu và thị hiếu của khán thính giả Do vậy CTPT về du lịch luôn mang tính đối tượng, thậm chí còn thể hiện tính đối tượng ngay trong tên CT, ví

dụ CT FM du lịch tên CT đã nói lên đối tượng của CT là ai, CT du lịch trên sóng phát thanh hay CT điểm đến… thậm chí lời xướng trong quảng bá chương trình cũng đã nói đến đối tượng mà chương trình muốn gửi gắm:

Quảng bá của chương trình chuyến đi kì thú là: Giọng nam : “ Ký ức

tuyệt vời của tôi là những chuyến đi ….”.Giọng nữ : “ Với những người dám ước mơ, thích chinh phục thì chẳng có nơi nào là không thể đến” Nam - nữ: Khám phá và trải nghiệm những vùng đất mới là những ký ức tuyệt vời trong tôi…

- Phạm vi nội dung hướng đến quảng bá vẻ đẹp tự nhiên và văn hóa của

Nếu đưa những thông tin về mảng nội dung khác ví dụ như: giáo dục, y tế… sẽ không phù hợp và loãng chương trình, vì đây là chương trình phát thanh về du lịch

- Hình thức thể hiện linh hoạt, phong phú, đa dạng

Ngoài nhạc hiệu chương trình, lời chào, các phần chào kết thì các phần, mục, tiểu mục trong chương trình…sẽ dược duy trì để tạo được thói quen tiếp

Trang 37

nhận cho thính giả, tạo được sự mạch lạc vê nội dung cho chương trình Cấu trúc trong các chương trình phát thanh chuyên đề của Đài Tiếng Nói Việt Nam thường có: phần tin, bài, phỏng vấn, voxpop, hoặc tiểu phẩm…Tuy nhiên vì là chương trình du lịch nên PV, BTV được thoải mái sáng tạo, biến hóa tác phẩm theo dụng ý của mình, miễn làm sao tôn lên được nội dung quảng bá, thu hút được khách du lịch

Ví dụ: Phong cách dẫn có thể linh hoạt, không nhất thiết phải nghiêm túc như các CT thời sự, hay nghiêm nghị như các CT về y tế… Phong cách dẫn của chương trình du lịch sẽ khác so với các chương trình khác, phải có sự linh hoạt, thoải mái trong cách dẫn, lời nói, giọng điệu cũng nhẹ nhàng, trầm bổng không giống với các chương trình thời sự để thu hút thính giả Đối tượng nghe chương trình là những người yêu thích du lịch, hoặc chưa được đi du lịch đến một số địa điểm, vậy nên các BTV phải làm sao để giới thiệu lôi cuốn và thu hút được thính giả để họ không chần chừ mà xách ba lô lên và đi ngay CT

du lịch thường có phong cách dẫn tự nhiên, đối thoại thân thiện và trẻ trung, hài hước gây tò mò… và một trong những yếu tố tạo nên phong cách thể hiện chương trình chính là người dẫn, họ như nhạc trưởng điều khiển, dẫn dắt cả một dàn nhạc, khâu nối các nội dung và giao tiếp với thính giả, có những thính giả yêu thích CT thông qua người dẫn, vậy nên người dẫn góp phần vào việc khẳng định phong cách của chương trình

Nhạc hiệu phải thể hiện được nội dung, ý nghĩa của CT, thính giả khi nghe thấy nhạc hiệu của quen thuộc của chương trình họ sẽ biết là thời điểm nghe chương trình đó đã đến, nhạc hiệu cũng là cách nhận biết và phân biệt với các CT khác, tạo ấn tượng vơi khán thính giả Nhạc hiệu được coi là gương mặt của cả chương trình, nên những người làm chương trình sẽ cố gắng tìm một nhạc hiệu phù hợp nhất, khác biệt nhất và hay nhất cho chương trình Dù nội dung mỗi số chương trình là khác nhau nhưng nhạc hiệu chỉ có một, trừ trường hợp thay đổi quan trọng về cơ cấu chương trình Vậy nhạc hiệu cần

Trang 38

phải đáp ứng được cả nội dung và hình thức CT, CT du lịch sẽ có nhạc hiệu khác CT y tế…Chương trình Chuyến đi kì thú của VOV2 các BTV đã sáng tạo

ra một nhạc hiệu rất hay, nó như lời mời gọi mọi người và tạo được sự ghi nhớ khắc sâu của thính giả, vì lời xướng trong nhạc hiệu chính là tên chương trình

Ngôn ngữ phải mang tính thu hút, hấp dẫn:

Tất nhiên bất cứ một chương trình phát thanh nào cũng cần tạo được sự hấp dẫn về thông tin để thu hút thính giả, nhưng đối với chương phát thanh vê

du lịch đặc điểm này càng quan trọng và cần thiết hơn hơn cả Bởi vì đối với chương trình du lịch thì nếu không tạo được sự hấp dẫn về thông tin thì sẽ mất thính giả, chúng ta phải làm sao làm nổi bật lên những thông tin về cảnh quan, con người, ẩm thực….để người nghe cảm thấy hay và thích thú Khác với các chương trình thời sự, chương trình cân thiết với cuộc sống, bắt buộc mọi người phải theo dõi, phải biết để năm bắt thông tin, thì chương trình du lịch là chương trình mang tính giải trí, người ta phải ăn uống, học tập, làm việc, có kinh tế thì sau đó người ta mới nghĩ đến việc giải trí, đi du lịch Nếu chương trình du lịch đó không đáp ứng được sự hấp dẫn về thông tin, không gây thu hút, hứng thú với người nghe để kéo họ đến với địa điểm đó thì họ sẵn sàng chuyển kênh, nghe thời sự Vì vậy, chương trình du lịch thì phải là chương trình có độ hấp dẫn vê thông tin cao, từ ngôn ngữ cơ thể, cho đến người dẫn, kịch bản…làm sao những thông tin du lịch phải hấp dẫn thính giả

1.3.2 Quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch

Quy trình TCSX chương trình phát thanh là quy trình chung, nhưng tùy vào mỗi thể loại chương trình, phương thức sản xuất chương trình mà trình tự, cách thức thực hiện các bước thực hiện có thể khác nhau Quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch như sau:

- Xây dựng kế hoạch và nội dung chương trình

Xác định kế hoạch cho chương trình là việc quan trọng hàng đầu để tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch hiệu quả Nó là hành lang để

Trang 39

quá trình truyền thông không đi lệch hướng và xác định được mục tiêu muốn đạt được Mục tiêu, ý tưởng thường được tiếp nhận bởi trưởng, phó ban biên tập Các thành viên trong ban biên tập có thể tham gia đề xuất nhưng người cuối cùng quyết định là trưởng, phó ban biên tập hoặc chủ nhiệm chương trình

Sau khi nắm bắt được kế hoạch tuyên truyền do trưởng, phó ban biên tập giao phó, biên tập viên là người xác định nội dung chương trình

Mỗi chương trình có thể xác định một trọng tâm và dành thời lượng nhiều hơn cho vấn đề đó Trọng tâm của CTPT về du lịch là một vấn đề về du lịch, một sự kiện nóng hổi, có thể là lễ hội hay các sự kiện văn hóa du lịch, đang được khán thính giả quan tâm, cảnh sắc thiên nhiên, địa điểm du lịch nào đó.Ví dụ, khi có Lễ hội chùa Hương hay Trẩy hội chùa Hương diễn ra, đây là một lễ hội của Việt Nam, nằm ở Mỹ Đức, Hà Nội Trong khu thắng cảnh Hương Sơn, được xem hành trình về một miền đất Phật - nơi Quan Thế Âm Bồ Tát ứng hiện tu hành Đây là một lễ hội lớn về số lượng các phật tử tham gia hành hương Trong bối cảnh này nếu không tiến hành tổ chức CT nhằm đi sâu tìm hiểu nét văn hóa lễ hội, giới thiệu cảnh sắc chùa hương…thì CTPT sẽ đứng ngoài cuộc với thính giả

Việc tổ chức sản xuất nội dung chương trình cần dựa vào những tiêu chí

cụ thể như: hoạt động thực tiễn hay nhu cầu của khán thính giả Chương trình du lịch của Đài cấp TW phải đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, kiến thức thiết yếu về du lịch đối với đời sống hằng ngày của mọi người dân, phù hợp với mọi đối tượng trên đất nước

Trong CT du lịch sẽ có bài phản ánh, phóng sự, voxpop, sử dụng phỏng vấn khách tham quan, tham gia….Như vậy sau khi hình thành ý tưởng, xác định mục tiêu, phóng viên cần phải tiến hành xây dựng kế hoach cho chương trình Việc xây dựng kế hoạch cho chương trình có ý nghĩa rất quan trọng Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu, nội dung chương trình phát thanh du lịch sẽ tạo

sự thống nhất và bám sát với thực tế đang diễn ra

Trang 40

- Tổ chức các nguồn lực

+ Về con người:

Trong bất kì quy trình tổ chức sản xuất nào thì yếu tố con ngươi cũng là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất Vì vậy, để tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch hiệu quả, thì cần phải có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của công việc trong qua trình tổ chức sản xuất Nguôn nhân lực phải được đào tạo và đạt yêu cầu về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn báo chi nói chung và trình độ chuyên ngành phát thanh nói riêng

Đối với Phóng viên, Biên tập viên: Phải được đào tạo cơ bản về báo chí,

ít nhất từ bậc Trung cấp trở lên, có hiểu biết về văn hóa dân tộc, cảnh quan thiên nhiên đất nước, con người, có sự yêu thích về du lịch Sử dụng thành thạo các thiết bị kĩ thuật như máy tính, máy ghi âm…phục vụ tác nghiệp tại hiện trường, phòng thu âm, có khả năng thực các tin, bài ban biên tập giao phó

Đối với Phát thanh viên: Phải là người có giọng nói hay, truyền cảm để thu hút thính giả, những người thích du lịch lắng nghe

Đối với Kỹ thuật viên: Là người có hiểu biết về khoa học công nghệ thông tin, có khả năng sử dụng các thiết bị máy móc kĩ thuật chuyên dụng, các phần mềm thu âm và xử lý âm thanh

+ Về tổ chức kĩ thuật:

Trang thiết bị kĩ thuật hiện đại, tân tiến giúp cho quá trình tổ chức sản xuất chương trình được nhanh hơn Đối với việc tổ chức sản xuất chương trình phát thanh về du lịch cần đảm bảo các điều kiện vê kĩ thuật công nghệ sau:

Đảm bảo trang thiết bị chuyên dụng dành cho phóng viên, biên tập viên trong quá trình tác nghiệp

Cần chuẩn bị tất cả những phương tiện kĩ thuật, thiết bị phục vụ cho việc sản xuất CT Các phương tiện, thiết bị thu và phát tín hiệu gọn nhẹ giúp cho phát thanh có lợi thế riêng trong việc tiếp cận với nhân vật, đặc biệt trong những hoàn cảnh tác nghiệp khó khăn, nguy hiểm hay nhỏ hẹp Với truyền hình, các phương tiện tác nghiệp khá cồng kềnh và cần phải dựng bài trước khi

Ngày đăng: 11/11/2021, 17:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Claudia Mast (2013), Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản, Nxb. Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản
Tác giả: Claudia Mast
Nhà XB: Nxb. Thông tấn
Năm: 2013
2. Đài Tiếng nói Việt Nam (2005), 261 phương pháp đào tạo phát thanh viên và người dẫn chương trình, Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 261 phương pháp đào tạo phát thanh viên và người dẫn chương trình
Tác giả: Đài Tiếng nói Việt Nam
Năm: 2005
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
4. Đinh Thị Thu Hằng (2013), áo phát thanh- ý thuyết và k năng cơ bản, NXB Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: áo phát thanh- ý thuyết và k năng cơ bản
Tác giả: Đinh Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2013
5. Đinh Thị Thu Hằng (2015), Dẫn chương trình phát thanh, truyền hình (Sách chuyên khảo), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn chương trình phát thanh, truyền hình (Sách chuyên khảo)
Tác giả: Đinh Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2015
6. Đức Dũng (2010), áo chí và đào tạo báo chí, Nxb. Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: áo chí và đào tạo báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb. Thông tấn
Năm: 2010
7. Đức Dũng (2010), Phóng sự báo chí hiện đại (tái bản lần thứ nhất), Nxb. Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự báo chí hiện đại
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb. Thông tin
Năm: 2010
8. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2005), ơ sở lý luận báo chí truyền thông, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ sở lý luận báo chí truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9. Giáo trình Báo chí phát thanh do 13 tác giả ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền và Đài TNVN viết (do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí phát thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2002) có tổng cộng 20 chương
10. Hai tài liệu: Phát thanh - Truyền thanh nông thôn và Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp, (do Ban Địa phương và Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng nghiệp vụ phát thanh của Đài TNVN dịch và lưu hành nội bộ) đều đã được tái bản năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát thanh - Truyền thanh nông thôn và Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp
11. Hoàng Anh (2003), Một số vấn đề sử dụng ngôn từ trên báo chí, Nxb. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề sử dụng ngôn từ trên báo chí
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2003
12. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2007
14. Lê Khắc Hiếu (2005), Nghệ thuật phát biểu miệng (Giáo trình lưu hành nội bộ), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật phát biểu miệng
Tác giả: Lê Khắc Hiếu
Năm: 2005
15. Lê Mạnh Hà (2016), Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thời sự quốc tế trên đài PTTH vĩnh long hiện nay, Luận văn thạc sĩ báo chí học, Học viện báo chí và Tuyên Truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thời sự quốc tế trên đài PTTH vĩnh long hiện nay
Tác giả: Lê Mạnh Hà
Năm: 2016
16. Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
17. Lê Thị Nhã (2010), ao động nhà báo - ý thuyết và k năng cơ bản, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ao động nhà báo - ý thuyết và k năng cơ bản
Tác giả: Lê Thị Nhã
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
18. Lê Thị Thanh Nhàn (2017), Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề về biên cương, hải đảo, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề về biên cương, hải đảo
Tác giả: Lê Thị Thanh Nhàn
Năm: 2017
19. Lois Baird, Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh. Trường Phát thanh, truyền hình và điện ảnh Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh
23. Mai Thanh Hải (2018), Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài phát thanh truyền hình Quảng Ninh, Luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài phát thanh truyền hình Quảng Ninh
Tác giả: Mai Thanh Hải
Năm: 2018
24. Nguyễn Thanh Giang 2016, Luận văn Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên đài Phát thanh - Truyền hình Hà Giang (khảo sát từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên đài Phát thanh - Truyền hình Hà Giang

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Logo đại diện kênh VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Hình 2.1. Logo đại diện kênh VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam (Trang 53)
Hình 2.2. Lô gô đại diện Đài PT-TH Hà Nội - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Hình 2.2. Lô gô đại diện Đài PT-TH Hà Nội (Trang 54)
Hình 2.3. Giao diện trang web: VOV2.VN và chương trình Chuyến đi kỳ thú - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Hình 2.3. Giao diện trang web: VOV2.VN và chương trình Chuyến đi kỳ thú (Trang 55)
Hình 2.4. Giao diện trang web: Hanoiitv.vn và chương trình FM du lịch, - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Hình 2.4. Giao diện trang web: Hanoiitv.vn và chương trình FM du lịch, (Trang 56)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình về du lịch chung cho  kênh VOV2 Đài Tiếng nói Việt Nam và kênh FM 90 Đài Phát thanh – Truyền - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ quy trình tổ chức sản xuất chương trình về du lịch chung cho kênh VOV2 Đài Tiếng nói Việt Nam và kênh FM 90 Đài Phát thanh – Truyền (Trang 58)
Bảng 2.1.  ảng thống kê về mức độ phù hợp chuyên môn của chương  trình Chuyến đi kì thú kênh VOV2 Đài Tiếng nói Việt Nam và chương  trình Fm Du lịch kênh FM90 của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1. ảng thống kê về mức độ phù hợp chuyên môn của chương trình Chuyến đi kì thú kênh VOV2 Đài Tiếng nói Việt Nam và chương trình Fm Du lịch kênh FM90 của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội (Trang 61)
Bảng 2.2. Kết cấu chương trình “Chuyến đi kì thú” với chủ đề “Chuôn - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2. Kết cấu chương trình “Chuyến đi kì thú” với chủ đề “Chuôn (Trang 72)
Bảng 2.3. Kết cấu chương trình “FM du lịch” với chủ đề “Hưng Yên:  Điểm đến cho những ai yêu thích du lịch văn hóa, tâm linh” - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Bảng 2.3. Kết cấu chương trình “FM du lịch” với chủ đề “Hưng Yên: Điểm đến cho những ai yêu thích du lịch văn hóa, tâm linh” (Trang 73)
Bảng 2.2. Thời lượng và thời gian phát sóng chương trình “Chuyến đi kì  thú” trên kênh VOV2 và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 - Tổ chức sản xuất chương trình về du lịch trên sóng phát thanh ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2. Thời lượng và thời gian phát sóng chương trình “Chuyến đi kì thú” trên kênh VOV2 và chương trình “FM du lịch” trên kênh FM90 (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w