Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐINH THỊ LOAN
KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI
Ở HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐINH THỊ LOAN
KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI
Ở HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
Ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Thìn
HÀ NỘI – 2015
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 23 tháng 6 năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Đồng Văn Phường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, những kết qủa nghiên cứu khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Đinh Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI 7
1.1 Những vấn đề chung về kinh tế du lịch sinh thái 7 1.2 Những nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái 20 1.3 Kinh nghiệm về phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở một số địa phương và bài học rút ra cho Hoa Lư 26
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI Ở HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH 40
2.1 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế du lịch sinh thái của huyện Hoa Lư 40 2.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch sinh thái của huyện Hoa Lư – Ninh Bình từ năm 2010 đến 2015 54 2.3 Những tồn tại và vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế du lịch sinh thái
ở huyện Hoa Lư 81
Chương 3 : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI Ở HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH 86
3.1 Mục tiêu và phương hướng của huyện Hoa Lư trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch sinh thái 86 3.2 Các giải pháp phát triển kinh tế du lịch sinh thái huyện Hoa lư, tỉnh Ninh Bình 97
KẾT LUẬN 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC
Trang 6PTNT : Phát triển nông thôn
VQG : Vườn quốc gia
KBTTN : Khu bảo tôn thiên nhiên
GNP : Gross National Product – Tổng sản lượng quốc gia
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Uỷ ban nhân dân
NXB : Nhà xuất bản
TP : Thành phố
Trang 7MỤC LỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Danh sách các bến đò ở Hoa Lư:……… … 48
Bảng 2.2: Hệ thống hang động tại khu du lịch Tam Cốc - Bích Động … 59
Bảng 2.3: Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại
Hoa Lư……… …75
Bảng 2.4: Số liệu về hoạt động kinh doanh du lịch Hoa Lư so
sánh giữa năm 2013 và 2014……… … 78
Bảng 2.5: Số khách du lịch tới Tam Cốc – Bích Động so với cả
tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2010 – 2014 … 79
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng
tỉ trọng nông nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái Hiện nay ở các nước có thu nhập thấp, các nước Nam Á, châu Phi nông nghiệp vẫn còn chiếm trên 30% GNP, công nghiệp khoảng 35% Trong khi
đó các nước có thu nhập cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Italia…trên 70% GNP do nhóm ngành dịch vụ đem lại, nông nghiệp chỉ đóng khoảng 3-5% tổng sản phẩm quốc dân
Với những tiềm năng được thiên nhiên ưu đãi, du lịch Việt Nam đang có nhiều cơ hội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nhất là sau khi Việt Nam lọt vào nhóm 20 điểm đến được thế giới yêu thích, theo khảo sát mới đây của Tạp chí du lịch Conde Nast Traveller Việt Nam với lợi thế có chiều dài bờ biển, rừng núi hoang sơ với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và nhiều rừng cấm, đó là những di sản thiên nhiên của quốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái như Vịnh
Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên, vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long Đặc biệt là đã có tới 8 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp ba miền
Vai trò của du lịch trong ngành dịch vụ cũng ngày càng rõ nét Theo hội đồng du lịch và lữ hành thế giới, năm 1994 du lịch quốc tế trên toàn thế giới đã chiếm 6% GNP, tức là có doanh thu gần 4000 tỷ đô la, vượt trên công nghiệp ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp Du lịch thu hút trên 200 triệu lao động chiếm hơn 12% lao động trên thế giới Cùng với sự phát triển của ngành du lịch nói chung thì Du lịch sinh thái (DLST) đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và trở thành mối quan tâm lớn của nhiều
Trang 9quốc gia trong chiến lược phát triển du lịch Ngày nay khi nền công nghiệp bùng nổ kéo theo môi trường bị ô nhiễm nặng nề thì DLST có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con người Mô hình DLST giúp con người có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, tìm hiểu nền văn hóa bản địa đặc sắc, thỏa mãn nhu cầu khám phá và hồi phục sức khỏe cho con người
DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn tự nhiên và phát triển cộng đồng
và đây là loại hình du lịch có nhiều đóng góp thiết thực cho việc phát triển bền vững, bảo vệ tự nhiên và mang lại lợi ích kinh tế Chính vì vậy kinh tế DLST đã trở thành mục tiêu phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới về
du lịch bởi tính ưu việt của nó Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Đông Nam của đồng bằng bắc bộ, hấp dẫn du khách bởi quần thể du lịch kỳ thú với những giá trị tự nhiên và văn hóa nổi bật như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Cốc, Bích Động, Cố đô Hoa Lư, Nhà Thờ đá Phát Diệm Khi làm việc với lãnh đạo Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, đồng chí Nông Đức Mạnh đã nói: “… Cách thủ đô Hà Nội hơn 90km, lại ở vị trí rất thuận lợi trên các tuyến đường sắt, đường bộ, đường sông và đường biển, với số lượng di tích lịch sử văn hoá dày đặc, Ninh Bình cần xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn” Đồng chí Tổng bí thư đã gợi mở với lãnh đạo tỉnh Ninh Bình những bước đi và giải pháp để trong tương lai gần, nơi đây sẽ là điểm đến của du lịch cả nước, là nơi nghỉ cuối tuần của khách trong nước và quốc tế
Hoa Lư là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Ninh Bình, được thành lập năm 1977 và mang tên kinh đô Hoa Lư của Việt Nam thế kỷ X vì phần lớn các di tích của cố đô Hoa Lư hiện nay nằm trên huyện này Cố đô Hoa
Lư được hình thành và lưu giữ từ hơn 1000 năm trước Hoa Lư là một huyện giàu tiềm năng du lịch sinh thái, mảnh đất một thời là kinh đô của nước Đại Cồ Việt Hoa Lư có địa hình thuộc vùng bán sơn địa, là nơi
Trang 10chuyển tiếp giữa miền rừng núi và đồng bằng nên có rất nhiều các hang động, thắng cảnh thuận lợi phát triển du lịch sinh thái Tuy nhiên quá trình phát triể du lịch sinh thái ở Hoa Lư – Ninh Bình đã bộc lộ một số khó khăn, hạn chế như: Phát triển du lịch sinh thái chưa thự sự hiểu quả, quá trình phát triển du lịch sinh thái còn nhiểu bất ổn
Với đề tài “Kinh tế du lịch sinh thái ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
hiện nay”, em mong muốn góp phần luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn đồng
thời kiện nghị các giải pháp nhằm khai thác có hiệu kinh tế du lịch sinh thái của huyện Hoa Lư để phát triển hơn nữa kinh tế du lịch của tỉnh
- Ths Bùi Thị Thu (2012) – Thị trường du lịch tỉnh Hòa Bình, năm 2012 Tác giả đã phân tích được Hòa Bình là một địa phương có ưu thế mạnh mẽ về phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thía và du lịch cộng đồng, điều quan trọng nhất là tác giả đã phân tích được thực trạng phát triển thị trường du lịch tại tỉnh Hòa Bình, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng hiệu phát triển của thị trường du lịch tại địa phương
- Ths Nguyễn Bảo Thư (2011), Luận văn Thạc sĩ - Thị trường du lịch
ở thành phố Hải Phòng , Tác giả đã phân tích thực trạng phát triển thị trường du lịch tại tỉnh Hải Phòng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng hiệu phát triển của thị trường du lịch tại địa phương
- Báo cáo đề tài Nguồn nhân lực để phát triển du lịch Ninh Bình – UBND tỉnh Ninh Bình
Trang 11- Trường Đại học Hoa Lư, ThS Nguyễn Thế Bình (2009), đề tài đi sâu nghiên cứu về thực trạng và giải pháp để đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế du lịch tỉnh;
- Báo cáo Quy hoạch tổng thể du lịch Ninh Bình 2007-2015 – Viện Kiến trúc nhiệt đới, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, đề tài đi thẳng vào thực trạng, vạch ra quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh, nhưng chưa có phần cơ sở lý luận về du lịch
Các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn về kinh tế du lịch, song chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị về kinh tế du lịch huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài này sẽ có ý nghĩa cả về lý luận
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đó luận văn có nhiệm vụ sau đây:
- Luận giải cơ sở lý luận về kinh tế du lịch, du lịch sinh thái
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng kinh tế du lịch sinh thái của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây
- Đưa ra các quan điểm và các giải pháp phát triển kinh tế du lịch sinh thái của huyện Hoa Lư
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung đề tài nghiên cứu kinh tế du lịch sinh thái trong không gian
là toàn bộ những hoạt động du lịch tại tỉnh huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
- Thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2010 - 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về phát triển KTDLST
- Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội để nghiên cứu
Luận văn còn sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp các số liệu, phương pháp đối chiếu, so sánh để làm rõ hiệu quả, cũng như so sánh với các hoạt động kinh tế du lịch của các địa phương khác
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa lý luận về kinh tế du lịch sinh thái (KTDLST) trong hội nhập kinh tế quốc tế của một địa phương du lịch ở Việt Nam dưới góc
độ kinh tế chính trị Trong đó, luận văn đã khái quát các yếu tố cấu thành kinh tế du lịch sinh thái, phân tích làm rõ mối quan hệ giữa KTDLST với sự phát triển kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến KTDLST trong Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT)
- Chọn lọc một số bài học kinh nghiệm về phát triển KTDLST của các địa phương khảo cho KTDLST ở Hoa Lư nói riêng và cho Ninh Bình nói chung
- Đánh giá thực trạng về KTDLST, luận văn phân tích những thành tựu, hạn chế của KTDLST ở huyện Hoa Lư trong 5 năm vừa qua Từ đó, phân tích
Trang 13những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến những thành tựu, hạn chế đó
- Đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển KTDLST Hoa Lư trong thời gian tới
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch sinh thái
huyện Hoa lư, tỉnh Ninh Bình
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KINH TẾ DU LỊCH SINH THÁI
1.1 Những vấn đề chung về kinh tế du lịch sinh thái
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của kinh tế du lịch sinh thái
1.1.1.1 Khái niệm kinh tế du lịch sinh thái
Ngày nay sự hiểu biết về kinh tế du lịch sinh thái đã phần nào được cải thiện, thực sự đã có một thời gian dài kinh tế du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lược và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thế giới Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình như:
Năm 1987, Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái(DLST), định nghĩa DLST như sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này"
Mặc dù khái niệm du lịch sinh thái vẫn thường được sử dụng tương
tự như khái niệm du lịch bền vững, song trên thực tế, du lịch sinh thái nằm trong lĩnh vực lớn hơn cả du lịch bền vững Vì thế kỷ mới đang tới gần nên tất cả các hoạt động của con người cần phải trở nên bền vững - và du lịch không phải là một ngoại lệ Du lịch bền vững bao gồm tất cả các loại hình của du lịch (dù là loại hình dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên do con người tạo ra) Do đó, du lịch sinh thái cần được hiểu là một trong những phạm trù của du lịch bền vững Một bói biển lớn, một sũng bạc tiết kiệm năng lượng bằng cách không giặt khăn tắm hàng ngày cho khách hoặc giảm thiểu tác động môi trường bằng cách sử dụng loại xà phòng gây suy thoái tài nguyên sinh vật thì không phải là điểm du lịch sinh
Trang 15thái Qua đây, chúng ta khuyến khích ngành du lịch đại chúng có ứng xử thân thiện với môi trường, hay nói cách khác, chúng ta khuyến khích ngành
du lịch phát triển bền vững hơn
Năm 1991, đã xuất hiện khái niệm về Du lịch sinh thái "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu"
Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản của Du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường Quan điểm thụ động cho rằng Du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ Quan điểm chủ động cho rằng Du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ
du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương Do đó, người ta đã đưa ra một khái niệm mới tương đối đầy đủ hơn:
"Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương"
Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên
nhiên được quản lý bền vững về mặt sinh thái”
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta
có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi
ích tài chính cho cộng đồng địa phương”
Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiêp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự
Trang 16tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”
Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNDP) đề ra các đặc điểm sau đây của Du lịch sinh thái:
1 Tất cả các hình thức du lịch dựa vào tự nhiên, trong đó động cơ chủ yếu của khách du lịch là quan sát và đánh giá tự nhiên cũng như các truyền thống văn hóa từ các khu vực tự nhiên ấy
2 Nó chứa đựng tính chất giáo dục và giải thích
3 Thường tổ chức thành các nhóm nhỏ có cùng chuyên môn hay ở cùng một nơi
4 Hạn chế ít nhất tác dụng tiêu cực đối với môi trường tự nhiên hay kinh tế - văn hóa
5 Hỗ trợ việc bảo vệ môi trường tự nhiên bằng cách:
- Tạo lãi kinh tế cho các cộng đồng, tổ chức và chính quyền quản lý khu vực tự nhiên với mục đích bảo vệ
- Tạo việc làm và thu nhập thêm cho cộng đồng địa phương
- Tăng sự quan tâm đối với việc bảo vệ các di sản tự nhiên và văn hóa cho dân địa phương và khách du lịch
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái
“DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về
Trang 17những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng
đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”
Theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch đặc biệt tổng hợp các mối quan tâm cảm giác nhiều đến môi trường thiên nhiên và tìm đến những vùng thiên nhiên nhiều tiềm năng về môi trường sinh thái để cải thiện kinh
tế, phúc lợi xã hội, sức khoẻ và hưởng thụ, khám phá những cái mới, cái lạ, cái đẹp và sự trong lành của thế giới tự nhiên, tạo ra mối quan hệ hữu cơ, hoà đồng giữa con người với thiên nhiên, môi trường đồng thời hành động
có ý thức trách nhiệm làm cho thiên nhiên môi trường bền vững, phong phú phục vụ trở lại lợi ích của con người cả ở hiện tại và tương lai
1.1.1.2 Đặc điểm của kinh tế du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái luôn gắn với nhu cầu động cơ hướng về cội nguồn
và duy trì quan hệ tốt đẹp, thân thiện
-Sự phát triển của xã hội hiện đại, đặc biệt sự phát triển của công nghiệp và đô thị hoá đã kèm theo ô nhiễm về không khí, nước uống, sự quá tải thông tin, áp lực của công việc, các mối quan hệ xã hội đã tạo ra các trạng thái tâm lý căng thẳng Vì thế, nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi trong môi trường sinh thái để tìm lại sự cân bằng tâm lý ngày càng phát triển Du
Trang 18khách du lịch sinh thái muốn được tiêu dùng các sp du trong sach, tinh khiết (như thực phẩm, rau xanh, hoa quả, nước uống, không khí trong lành, tinh khiết, sạch sẽ…) Du khách muốn được thả mình trong môi trường cảnh quan yên tĩnh, nước suối trong suốt, những đàn cá tung tăng bơi lượn, trên cây sương mù bao phủ, khí hậu lành mạnh, rừng già với những thân cây cổ thụ, phong rêu phủ kín, trên cảnh cây tiếng chim ríu rít, phía dưới thác nước chảy ào áo, trải dài trắng xoá Bên cạnh đó tiếng suối reo nhè nhẹ, tạo nên những bản nhạc rừng hết sức ấn tượng, quyện với mùi thơm thoang thoảng của cá loại hoa rừng…
Luật Du lịch do Quốc hội thông qua năm 2005 xác định khái niệm
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch “dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”, nó có những đặc điểm sau:
(i) Là hình thức du lịch thân thiện và gần gũi với thiên nhiên
Theo như định nghĩa về Tour du lịch sinh thái thì thiên nhiên đóng
vai trò rất quan trọng trong loại hình du lịch này Những ai tham gia loại hình Tour du lịch sinh thái sẽ có nhiều cơ hội hơn khi tìm về với thiên nhiên, đồng xanh, cây cỏ, bờ lau, con nước v.v Nhờ vào lợi thế bờ biển dài và Việt Nam cơ bản là nước nông nghiệp nên chúng ta vẫn còn rất nhiều khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia có hệ sinh thái hoang sơ và nguyên sinh Do vậy, sẽ không ngạc nhiên khi loại hình du lịch sinh thái đang phát triển rầm rộ ở Việt Nam và được nhiều du khách hưởng ứng
Đến với các Tour du lịch sinh thái, du khách sẽ được đến những nơi
có thiên nhiên hùng vĩ, nguyên sơ, cùng khám phá về vẻ đẹp tự nhiên, đời sống và văn hóa ở mỗi vùng, miền Qua đó, du khách được trang bị thêm một số kiến thức cũng như nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của vùng miền nói riêng và dân tộc nói chung
Trang 19Những du khách tham gia các Tour du lịch sinh thái thường là những người ở thành phố lớn, hoặc những người ít có điều kiện tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, cây cỏ Chính vì thế, du khách tham gia Tour du lịch sinh thái thường cảm thấy rất thoải mái vì khung cảnh hoang sơ, trong lành
và mát mẻ Hầu hết du khách đều thích thú và phấn khích khi có cơ hội tìm hiểu về đời sống của hàng trăm loài động, thực vật hay tự mình sống trong khung cảnh yên ắng, bình dị ở những vùng nông thôn, hẻo lánh
Bởi vì khách du lịch sinh thái khi thực hiện một chuyến đi họ mong muốn trở về với những nơi có môi trường trong lành và chưa bị tác động nhiều bởi con người ở đó họ được hoà mình với thiên nhiên để được khám phá, được nghiên cứu tự nhiên và văn hoá bản địa và được thưởng thức bầu không khí trong lành, thoát khỏi cuộc sống đầy áp lực của công việc và ô nhiễm môi trường
Những nơi có môi trường tự nhiên là những nơi có bề dày về sự hình thành và phát triển của các hệ động thực vật và con người Một vài ha rừng thậm chí hàng ngàn ha rừng tự trồng cho dù có mang ý nghĩa tích cực như “phủ xanh đất trống đồi trọc” cũng không thể nói có thể làm DLST được Để có thể làm được DLST phải là nơi có tài nguyên tự nhiên dồi dào mà cụ thể là các hệ sinh thái được làm giàu bởi rất nhiều các loài động thực vật khác nhau Những yếu tố từ cây cối, nguồn nước, bầu khí quyển, đất đai cũng được tính đến Điểm chú ý ở đây là môi trường tự nhiên được đề cập phải là những nơi còn tương đối nguyên sơ, chưa bị hoặc ít bị can thiệp bởi bàn tay con người Những tài nguyên đó được hiện hữu dưới hình thức là các vườn quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiên hay các khu vực văn hóa lịch sử có gắn với không gian và tài nguyên thiên nhiên phong phú
Rất nhiều thứ được con người làm ra trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển Thậm chí con người có thể làm ra những rôbốt có khả năng như người thật với mục đích phục vụ cho cuộc sống của họ Nhưng hai chữ
Trang 20“sinh thái” trong DLST đề ra một nguyên tắc bất dịch: “hãy để thiên nhiên như nó vốn đã thế”, đó là quyết định thông minh nhất trong thỏa thuận cùng tồn tại giữa con người và thế giới tự nhiên
DLST không cho phép con người can thiệp vào các hệ sinh thái tự nhiên, cho dù đó là những can thiệp mang lại lợi ích kinh tế-xã hội cho con người và cho dù con người chấp nhận đền bù bằng vật chất cho những thiệt hại mà họ định gây ra đối với tự nhiên
Như vậy, DLST thường được thực hiện ở các khu bảo tồn tự nhiên, các vườn quốc gia, ở những nơi có mật độ dân số thấp và tài nguyên thiên nhiên phong phú, ở những khu vực có giá trị cao về môi trường tự nhiên như: hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã phong phú
(ii) Du lịch sinh thái hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hóa, xã hội tại điểm thăm quan
Các nhà kinh doanh DLST ngoài việc phải quan tâm nuôi dưỡng,
quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên để nó tồn tại và hấp dẫn du khách, họ phải đóng góp tài chính cho chính quyền sở tại, những cơ quan quản lý các tài nguyên từ những khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch của mình Những nguồn tài chính này làm tăng thêm ngân sách cho các khu vực nơi tổ chức hoạt động DLST để bù đắp cho các khoản chi phí như: quản lý, trồng thêm cây xanh, tôn tạo, trùng tu… Bên cạnh đó, những tiêu chí và đòi hỏi cao hơn của DLST đối với công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn các hệ sinh thái khiến các nhà kinh doanh du lịch sinh thái phải chuẩn
bị kỹ lưỡng và đưa ra những yêu cầu cao hơn đối với những hướng dẫn viên và với các khách du lịch mà mình phục vụ
Du khách của loại hình DLST thường là những người yêu mến, thân
thiện với thiên nhiên, họ muốn đi du lịch là để được tìm hiểu và nghiên cứu những nơi họ đến Họ xác định nhu cầu du lịch của mình là tìm hiểu và thưởng ngoạn các hệ sinh thái vì thế họ luôn cố gắng hạn chế việc xâm hại
Trang 21và phá huỷ những tài nguyên quý hiếm cả về mặt hữu hình lẫn vô hình của môi trường Ý thức đúng đắn khi đi du lịch giúp du khách cân nhắc và suy nghĩ trước mỗi hành động có khả năng tác động tới môi trường xung quanh Do đó trong và sau mỗi chuyến đi họ thường có những tổng hợp đánh giá của riêng mình Những hoạt động nghiên cứu, khám phá, tổng hợp của họ ít nhiều cũng có những đóng góp và giúp ích cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá, xã hội nơi họ đến thăm quan
Những du khách, nhất là du khách nước ngoài khi đến thăm quan vườn quốc gia Cúc Phương họ có thể nghiên cứu về loài bướm, về voọc quần đùi trắng, về các loại thực vật điển hình của vườn như: chò chỉ Kim giao… hay du khách khi đi thăm quan các bản làng dân tộc (như bản Lác, Mai Châu - Hoà Bình; chợ Tình Sapa…) việc họ đến thăm quan những nơi này thực sự làm sống lại các làn điệu hát múa dân gian truyền thống của dân tộc Mường, hay làm sống lại các ngành nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, nấu rượu cần…bản thân họ cũng tham gia vào việc sưu tầm tư liệu, nghiên cứu thậm chí xuất bản những cuốn sách có giá trị về các nền văn hoá đặc trưng nơi họ đến thăm, đưa ra những sáng kiến bảo tồn và phát huy những nền văn hóa đó
Các tổ chức, cá nhân sau khi tham gia vào các tour DLST họ được
tận mắt chứng kiến cảnh quan môi trường, tài nguyên thiên nhiên nơi họ đến thăm và đặc biệt được giáo dục, được hiểu biết thêm về môi trường và tầm quan trọng của hệ sinh thái họ có thể đóng góp các nguồn lực tài chính,
hỗ trợ về mặt kiến thức khoa học, kinh nghiệm quản lý cho các rừng quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiên phục vụ cho du lịch sinh thái
Cư dân địa phương có thu nhập từ việc tham gia vào hoạt động du
lịch sinh thái từ đó sẽ hạn chế việc khai thác tài nguyên mang tính tiêu cực như: săn bắn động vật quý hiếm, chặt cây đốn củi, phá rừng làm rẫy… gây ảnh hưởng xấu tới các loài động, thực vật có giá trị về thẩm mỹ và kinh tế cũng như môi trường sống xung quanh họ
Trang 22Tất cả những điều trên nói lên rằng DLST có khả năng hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá, xã hội tại điểm thăm quan
(iii) Các hoạt động mang tính giáo dục, giảng giải nâng cao nhận thức về
hệ sinh thái và môi trường sống là nội dung quan trọng của Du lịch sinh thái
DLST là một phương tiện tốt để truyền đạt thông tin vì nó có khả năng đưa con người tiếp cận trực tiếp và thấy rõ vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người
Một trong những đặc điểm nổi trội và khác với các hình thức du lịch khác là DLST đẩy mạnh các hoạt động mang tính giáo dục về các hệ sinh thái và môi trường sống Các hoạt động giáo dục này bao gồm việc giảng giải về lịch sử, nguồn gốc hình thành, tập quán sinh hoạt, mối quan hệ tương tác qua lại giữa các loài động thực vật và vai trò của chúng trong thiên nhiên DLST hướng dẫn cách thức để những người làm du lịch và khách du lịch tiến hành hoạt động du lịch đúng cách với thái độ trân trọng, giữ gìn và bảo
vệ môi trường sống Các hoạt động giáo dục, chỉ dẫn cách thức du lịch đúng đắn mà DLST thực hiện có thể bằng nhiều cách khác nhau: phương pháp hướng dẫn, thuyết minh trực tiếp từ hướng dẫn viên tới khách du lịch, các tờ giới thiệu, tờ bướm thông tin về du lịch, các mô hình, mô phỏng, các phương tiện nghe nhìn
(iv) Dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiên và nhân văn du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa
Khi du lịch phát triển và mở rộng, nhiều địa phương đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, người dân được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng như: Điện thắp sáng, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước và thông tin liên lạc Nhưng những lợi ích được DLST mang lại mà những người trong cuộc gồm cả cá nhân và tổ chức trước đó hầu như không có được
Nếu như du lịch đại trà tập trung vào phát triển, mở rộng quy mô kinh doanh của họ mà không quan tâm đúng mức đến vai trò và sự có mặt của người dân bản địa trong việc triển khai các dự án và các chương trình du lịch tại những nơi có tài nguyên thiên nhiên như rừng quốc gia, các khu dự trữ
Trang 23thiên nhiên thì DLST đã khơi dậy và đánh thức những tiềm năng sẵn có này
để mang lại thu nhập đáng kể cho cư dân địa phương bằng các hoạt động dịch vụ du lịch như: phục vụ lưu trú, ăn uống bán hàng lưu niệm và các dịch
Những người làm DLST đã nhận ra vấn đề, thấy được chính những người dân bản địa, họ sinh ra và tồn tại cùng với các hệ sinh thái và môi trường thiên nhiên xung quanh từ bao đời lại có được kiến thức truyền thống văn hoá quý giá của cha ông họ để lại về thiên nhiên và môi trường xung quanh, họ có văn hóa, phong tục tập quán riêng của dân tộc mình Nếu chỉ quan tâm đến thiên nhiên, bảo vệ và tôn tạo các giá trị tài nguyên để phát triển du lịch
mà không quan tâm đến lợi ích của người dân bản địa thì sẽ không có được nền chính trị ổn định và kinh tế công bằng mà điều này lại chính là những nhân tố
và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển DL
Một biện pháp mà DLST góp phần mang lại các lợi ích kinh tế, phát huy các giá trị văn hóa và xã hội của những người dân bản địa là: sử dụng những người dân bản địa làm các dướng dẫn viên du lịch tại những khu DLST Khuyến khích người dân gìn giữ và phát triển những nghề truyền thống của mình như dệt thổ cẩm, thêu ren, làm hàng thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây đặc sản của địa phương… để khách du lịch được chiêm ngưỡng, học hỏi và mua sắm các sản phẩm nơi họ đến thăm quan Các lễ hội, phong tục tập quán cần được gìn giữ và phát huy vì đó là những nét đặc trưng riêng
Trang 24của vùng sinh thái du lịch, là điểm nhấn để thu hút khách tham quan DLST giúp người dân bản địa chủ động làm kinh tế cùng với việc gìn giữ bản sắc văn hóa của mình bằng việc cung ứng dịch vụ lưu trú trong hành trình của khách du lịch Rất nhiều điểm DLST người ta tổ chức cho khách lưu trú ngay trong nhà dân, du khách được ăn cùng mâm, ngủ cùng nhà với người dân địa phương, thậm chí còn tham gia vào một số công đoạn sản xuất hàng hoá truyền thống của địa phương, được thưởng thức các món ăn, tìm hiểu phong tục, tập quán lối sống cũng như sinh hoạt của cư dân; tiêu chí của DLST là khai thác tối đa nguyên liệu sẵn có tại địa phương để tạo ra dịch vụ và hàng hóa phục vụ khách du lịch chính những nguyên liệu địa phương cùng với các sản phẩm đặc thù là những nguyên nhân làm hấp dẫn du khách Theo đó DLST đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân địa phương
1.1.2 Vai trò của kinh tế du lịch sinh thái
Kinh tế du lịch sinh thái đã, đang và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới bởi những nguồn lợi mà nó đem lại cho đất nước sở tại là rất lớn cả trên phương diện kinh tế lẫn xã hội Cụ thể:
1.1.2.1 Những đóng góp của kinh tế du lịch sinh thái
+ Kinh tế du lịch sinh thái là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất, thể hiện trước hết ở chỗ, du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hoá công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, nông lâm sản… theo giá bán lẻ cao (nếu bán qua xuất khẩu sẽ theo giá bán buôn), hơn nữa, hàng hoá không bị hạn chế bởi hàng rào thuế quan quốc tế
Trang 25+ Kinh tế du lịch sinh thái khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài do du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao vì vốn đầu tư tương đối ít so với ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải mà khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp
+ Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng Hay nói cách khác, du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc thu nhập và chi tiêu nhân dân theo các vùng
+ Du lịch quốc tế làm một trong những nguồn cung ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
+Du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo: Hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, làm cơ sở cho những ngành đó (như giao thông vận tải, bưu điện, xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp, hải quan…) phát triển, đối với nền sản xuất xã hội, du lịch
mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá Mặt khác, sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện cho khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng
về sản xuất kinh doanh trong nước…
+ Phát triển du lịch đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh về dịch vụ
- Về xã hội:
+ Phát triển kinh tế du lịch sinh thái góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân Theo thống kê cứ 2,5 giây du lịch lại tạo ra một việc làm mới, đến năm 2005, cứ 8 lao động thì có một người làm trong ngành du lịch
+ Kinh tế du lịch sinh thái làm giảm quá trình đô thị hoá ở các nước phát triển: Việc khai thác kinh tế du lịch ở những vùng núi xa xôi, ven biển hay nhiều vùng hẻo lánh khác đòi hỏi phải có sự đầu tư về mọi mặt giao thông, điện, nước, y tế, giáo dục… do đó làm thay đổi diện mạo vùng đó,
sự thu hút, di chuyển lao động làm giảm áp lực dân cư lên những trung tâm dân cư
Trang 26+ Kinh tế du lịch nói chung là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo
có hiệu quả cho nước chủ nhà: thông qua du lịch, hàng hoá được chào mời tới khách du lịch trong nước và quốc tế Ngoài ra, thông qua du lịch, nước
sở tại cũng tạo nên thương hiệu đặc trưng riêng có về nét văn hoá, tập tục, đất nước, con người…
+ Du lịch giúp bảo tồn các nghề cổ truyền, các nét văn hoá truyền thống có nguy cơ bị lãng quên do khách du lịch thích mua các đồ lưu niệm mang tính dân tộc, thêm vào đó là sự tăng lên đáng kể của khách du lịch văn hoá, họ thường đi tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá dân tộc Do đó, việc tôn tạo và bảo dưỡng các di tích đó ngày càng được quan tâm đúng mức
+ Du lịch không những giúp cho khách du lịch có những khoảng thời gian nghỉ ngơi, giải trí mà còn giúp mọi người tăng thêm tầm hiểu biết về
xã hội (về phong cách sống, thẩm mỹ, ngoại ngữ…)
+ Du lịch làm tăng tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và của nhân dân giữa các quốc gia với nhau
1.1.2.2 Những vấn đề cần lưu ý khi phát triển kinh tế du lịch sinh thái
+ Phát triển kinh tế du lịch thụ động quá tải sẽ dẫn đến việc làm mất thăng bằng cho cán cân thanh toán quốc tế, sẽ gây áp lực cho lạm phát
+ Tạo ra sự phụ thuộc của nền kinh tế vào ngành dịch vụ du lịch (việc tiêu thụ dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tổ chủ quan và khách quan – khách du lịch, do đó việc bảo đảm doanh thu và phát triển ngành du lịch là khó khăn hơn so với các ngành sản xuất khác.)
+ Tính thời vụ của du lịch làm ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động của du lịch không được thường xuyên
+ Gây ô nhiểm môi trường bởi nước thải, rác thải từ hoạt động du lịch; ngoài ra, phát triển du lịch còn gây ra ô nhiểm không khí từ khí thải động cơ xe máy, tàu thuyền; ô nhiễm tiếng ồn từ giao thông và du khách; ô
Trang 27nhiễm phong cảnh do khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu, vật liệu ốp lát không thích hợp, biển quảng cáo thô kệch, dây điện, cột điện tràn lan… gây
ra sự hỗn độn; làm nhiễu loạn sinh thái từ hoạt động tham quan, xây dựng
cơ sở du lịch…; thêm vào đó là sự tiêu dùng hoang phí năng lượng…
+ Hình thành một số tệ nạn xã hội (do kinh doanh các dịch vụ không lành mạnh) và các tác hại sâu xa trong đời sống tinh thần của một dân tộc
1.2 Những nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái
Những nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế du lịch sinh thái bao gồm những nhân tố bên trong và bên ngoài của một nước để phát triển
kinh tế du lịch nói chung và kinh tế du lịch sinh thái nói riêng
1.2.1 Nhân tố bên trong
1.2.1.1 Tài nguyên du lịch Nhân văn
Hệ thống di sản văn hoá là những giá trị văn hoá tiêu biểu, đặc sặc
của mỗi địa phương, mỗi quốc gia Đó là những sản phẩm vật chất và tinh thần phản chiếu lịch sử văn hoá của quốc gia hoặc của từng tộc người trong cùng một cộng đồng dân tộc Hệ thống di sản văn hoá do con người tạo ra trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của mình Nó là đối tượng tìm kiếm để thoả mãn nhu cầu thẩm nhận của du khách Đồng thời, nó cũng là điều kiện tiền đề để tạo ra các chương trình và các loại hình cơ bản của hoạt động du lịch Bao gồm hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể:
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Theo Luật di sản văn hoá Việt Nam năm 2003:
“Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”
“ Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử - văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền
Trang 28miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, ngữ văn, truyển miệng; diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống văn hoá dân tộc và những tri thức dân gian” Bao gồm:
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,
văn hoá, khoa học
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự
kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch
sử, thẩm mỹ, khoa học
Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học
Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử,
văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt
quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học
Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm
giống như bản gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí
và những đặc điểm khác
Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di
sản văn hoá phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội
Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện,
thu thập, nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ
Trang 29Bảo quản di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những
nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn
có của di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Tu bổ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh là hoạt động
nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh
Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh là hoạt
động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã
bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đó
1.2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên
“Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất địa hình, địa
mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể sử dụng phục vụ cho mục đích du lịch” (Khoản 1, điều 13, chương II – Luật du lịch Việt Nam 2005)
Tài nguyên du lịch tự nhiên được phân thành các loại sau:
Địa hình, địa chất, địa mạo: Đó là các dạng địa hình đa dạng, có những đặc điểm tự nhiên như vùng núi có phong cảnh đẹp, các hang động, các bãi biển, đảo,…
Khí hậu: là những nơi có khí hậu thích hợp với con người, thuận tiện cho phát triển du lịch; phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng; phục vụ cho thể dục, thể thao…
Tài nguyên nước: Nguồn tài nguyên nước phục vụ du lịch như: sông,
hồ, ao, đầm; các nguồn tài nguyên nước khoáng, nước nóng phục vụ hoạt động nghỉ dưỡng, chữa bệnh…
Tài nguyên sinh vật: Bao gồm tất cả các loài động vật, thực vật sống trên lục địa và dưới nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc, lại tạo Tài nguyên sinh vật có ở các vùng quốc gia, các
Trang 30khu bảo tồn thiên nhiên, các rừng lịch sử sinh thái văn hoá, một số hệ sinh thái, một số điểm tham quan sinh vật,…
Ngoài ra còn tài nguyên du lịch xã hội: Con người trong những vùng địa lý, có lịch sử phát triển khác nhau sẽ tạo nên những bản sắc riêng của mỗi dân tộc Du lịch thúc đẩy sự giao thoa văn hoá; du khách từ các nơi khác tới và người bản địa tiếp xúc với nhau đều có thể thu được bổ ích và thoả mãn trong giao lưu Do dó, con người cũng là tài nguyên du lịch, là chủ thể của tài nguyên du lịch
Hệ thống di sản văn hoá và hệ thống cảnh quan thiên nhiên, con người của mỗi quốc gia dân tộc đều có nét riêng, tạo nên sự khác biệt Trong du lịch, nó là tiền đề để xác định tiềm năng kinh doanh du lịch; chúng tạo nên lợi thế so sánh, nếu quốc gia nào biết làm nổi bật những nét khác biệt đó thì sẽ phát triển được du lịch nội địa và cạnh tranh được lượng khách du lịch quốc tế
1.2.1.3 Hệ thống cơ sở vật chất
Để phát triển, mỗi ngành kinh tế đều đòi hỏi hệ thống cơ sở vật chất tương ứng Đối với phát triển du lịch, hệ thống cơ sở vật chất bao gồm:
Đường sá, phương tiện vận chuyển: Đó là hệ thống đường sắt, đường
bộ, đường thuỷ, nhà ga, bến cảng, sân bay… để phục vụ cho du khách trên các tuyến, điểm du lịch Các phương tiện vận chuyển bao gồm các phương tiện truyền thống và hiện đại như: xe đạp, xe ngựa, thuyền nan, voi, lạc đà, oto, xe điện, cáp treo, máy bay, tàu thuỷ…
Các cơ sở lưu trú, ăn uống: Bao gồm các cơ sở để phục vụ ăn, ngủ, nghỉ của du khách trên đường hành trình và tại điểm du lịch như: khách sạn, nhà hàng; đa dạng theo kiểu món ăn, thức uống và cách phục vụ khác nhau: làng du lịch, các trạm nghỉ dọc đường phục vụ ăn, nghỉ, bán xăng…
Các cơ sở vui chơi giải trí: là hệ thống cơ sở được quy hoạch, xây dựng tại thời điểm du lịch như: công viên giải trí, bể bơi, các loại sân thể thao, phòng thể thao, sân vận động, sàn nhảy, phòng hát Karaoke,…
Trang 31Hệ thống các dịch vụ khác: Đó là các trạm bưu điện, hệ thống thông tin liên lạc, gửi Fax, thư, mua báo,…; hệ thống chợ, siêu thị, cửa hàng phục
vụ nhu cầu mua sắm của khách du lịch; các cơ sở y tế, ngân hàng phục vụ
du khách khi bị đau ốm, đổi tiền…; các trung tâm thông tin du lịch, phòng họp, hội trường phục vụ du khách tổ chức các cuộc hội họp…
1.2.1.4 Nguồn lực dân cư – lao động
Đây là nguồn lực chi phối trực tiếp đến hoạt động kinh doanh du lịch, bởi lẽ:
Thứ nhất, nó tạo ra nguồn khách cho thị trường du lịch: nhu cầu du lịch phụ thuộc vào mức sống, thời gian nhàn rỗi, phong tục tập quán dân
cư Vì vậy, quốc gia nào có mức sống cao, thời gian nghỉ rỗi nhiều và du lịch trở thành tập quán phổ biến thì quốc gia ấy có nhu cầu du lịch cao và ngược lại
Thứ hai, nó cung cấp nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh du lịch: Hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi một lực lượng lao động rất lớn
Vì thế, nơi nào có dân số đông, nguồn lao động dồi dào sẽ thuận lợi cho phát triển du lịch và ngược lại
1.2.1.5.Đường lối, chính sách phát triển du lịch
Đây là một bộ phận quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế –
xã hội của từng quốc gia Ở mỗi địa phương, quốc gia, ngành du lịch có phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hay không thì nguồn tài nguyên
du lịch sẵn có là điều kiện cần, còn điều kiện đủ đó là yếu tố con người và
cơ chế chính sách đúng đắn, phù hợp, thuận lợi cho phát triển du lịch Đường lối, chính sách phát triển du lịch được cụ thể ở những việc làm sau:
- Đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; xây dựng chiến lược phát triển quốc gia, địa phương trong đó quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cho các giai đoạn trước mắt và lâu dài
- Ban hành hệ thống văn bản pháp luật thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch như pháp luật du lịch, văn bản pháp quy về
Trang 32nhập cảnh, hải quan,…
- Thành lập các cơ quan quản lý về du lịch từ trung ương đến địa phương hợp lý, khoa học và ổn định; đội ngũ quản lý có chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo tốt việc quản lý, điều hành mọi hoạt động của ngành
- Đầu tư, nâng cấp các tuyến, điểm du lịch hợp lý, khoa học Đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước,… tạo sự sôi động trên thị trường du lịch
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao mức sống nhân dân Coi trọng hoạt động xúc tiến, quảng bá phát triển du lịch Mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các tổ chức du lịch trong nước và quốc tế, ký kết các hợp đồng du lịch, trao đổi khách giữa các hãng lữ hành trong và ngoài nước
- Coi trọng việc bảo vệ môi trường du lịch để phát triển du lịch bền vững Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật bảo vệ môi trường sinh thái và môi trường xã hội trong hoạt động du lịch
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công nhân viên cho ngành du lịch Thường xuyên thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động
du lịch và kinh doanh du lịch
Trong hoạt động du lịch, những cơ hội như kỷ niệm các sự kiện lịch
sử, tổ chức các giải thể thao, tổ chức các cuộc thi hoa hậu, thời trang; tổ chức các chương trình ca nhạc, hội nghị, hội thảo quốc tế – là những cơ hội vàng để xúc tiến quảng bá cho du lịch và tổ chức các chương trình du lịch
1.2.2 Nhân tố bên ngoài
Trong xu thế hội nhập quốc tế, nguồn lực bên ngoài trở thành điều kiện khách quan vô cùng quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển du lịch nói riêng Nguồn lực bên ngoài chủ yếu bao gồm: vốn, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý Cụ thể, du lịch nước ta đã tranh thủ được nguồn vốn bên ngoài thông qua các dự án đầu tư xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, dịch vụ tại các trọng điểm du lịch; ngoài ra, chúng ta cũng tiếp thu được kinh nghiệm quản lý, kinh doanh du lịch từ các
Trang 33quốc gia có nền du lịch phát triển
Ngoài ra, tình hình ổn định kinh tế, chính trị thế giới cũng ảnh hưởng tới lượng khách du lịch quốc tế do đó ảnh hưởng tới việc phát triển du lịch
và thị trường du lịch ở bất kỳ một quốc gia nào
Trên đây là hệ thống các nguồn lực có tác động mạnh tới sự phát triển kinh tế du lịch Mỗi yếu tố giữ một vai trò riêng Hệ thống di sản văn hoá và cảnh quan thiên nhiên giữ vai trò tiền đề mang tính tiềm năng để tạo ra các tuyến, điểm du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò nền tảng
để phát triển du lịch; dân cư và lao động là yếu tố con người, giữ vai trò quyết định tới tốc độ phát triển du lịch; đường lối, chính sách phát triển du lịch giữ vị trí tiên phong, mở đường; nguồn lực bên ngoài giữ vị trí khách quan, ảnh hưởng sâu sắc tới phát triển du lịch Tất cả thống nhất, hoà quyện tạo thành động lực cho phát triển du lịch bền vững của mỗi quốc gia
1.3 Kinh nghiệm về phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở một số địa phương và bài học rút ra cho Hoa Lư
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển kinh tế
du lịch sinh thái
1.3.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Bình
Những đặc điểm về vị trí địa lý, đặc trưng của địa hình, cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa đã tạo cho Quảng Bình những tiềm năng to lớn
để phát triển kinh tế du lịch sinh thái - tham quan hang động Nổi bật nhất
là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
Là một trong 238 vùng sinh thái quan trọng nhất trên toàn cầu, 96,2% diện tích khu vườn quốc gia này được rừng bao phủ, qua các cuộc khảo sát hệ động, thực vật tại VQG PNKB, bước đầu đã thống kê được 1.762 loài thực vật bậc cao với 710 chi, 162 loài Có 63 loài thực vật được coi là có nguy cơ bị tuyệt chủng, trong đó có 38 loài ghi trong Sách Đỏ của Việt Nam và 25 loài được ghi trong danh sách các loài bị đe dọa toàn cầu
Có 1.074 loài động vật xương sống thuộc 338 giống với 134 họ, 43 bộ và
Trang 34352 loài động vật không xương sống, trong đó ngành thân mềm có 10 loài thuộc 8 chi, 6 họ và ngành chân khớp 292 loài thuộc 5 lớp Năm 2001 Chính phủ đã quyết định chuyển hạng khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha thành VQG PN-KB nhằm đáp ứng đầy đủ hơn và nâng cao khả năng bảo vệ nhiều loài động, thực vật quý hiếm nơi đây như loài Voọc Hà Tĩnh, Sao La và những những giá trị nổi bật về địa chất, địa mạo đại diện cho các giai đoạn của lịch sử trái đất
Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống trên 300 hang động lớn nhỏ, sông ngầm kỳ vỹ nhất thế giới như động Phong Nha, động Tiên Sơn, hang
Én, hang Sơn Đoòng, hang Khe Ry Đến nay, hơn 20 hang động với tổng chiều dài trên 80 km đã được khảo sát kỹ lưỡng đã, đang và sẽ đưa vào khai thác du lịch Xen kẽ giữa những dãy núi đá vôi trùng điệp với cấu trúc địa hình karst là những dòng sông, thung lũng xinh đẹp, những cánh rừng nguyên sinh chưa bị tác động bởi yếu tố con người PNKB hấp dẫn du khách trong và ngoài nước bởi vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã, hệ thống hang động huyền bí, môi trường sinh thái rừng nguyên sinh trong lành và tài nguyên du lịch đa dạng Từ tháng 7-2003, PNKB được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, được tăng cường quảng bá trong nước
và trên thế giới, ngày càng nhiều du khách đã đến tham quan nơi đây
Hiện nay, các tuyến, điểm tham quan du lịch chủ yếu của Quảng Bình đang tập trung tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, như: tuyến du lịch Phong Nha và Tiên Sơn; tuyến du lịch khám phá đường mòn sinh thái Suối nước Moọc; tuyến du lịch thăm Đền tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Đường 20 Quyết thắng và hang Tám thanh niên xung phong; tuyến du lịch khám phá động Thiên Đường; tuyến du lịch sông Chày – hang Tối; tuyến
du lịch khám phá thung lũng sinh tồn – hang Thủy Cung; tuyến du lịch sinh thái rào Thương – hang Én; đặc biệt, tuyến du lịch đẳng cấp quốc tế “Chinh phục Sơn Đoòng – hang động lớn nhất thế giới” đã được đưa vào thử nghiệm đã thu hút hàng triệu người trên thế giới quan tâm và đến nay tuyến
Trang 35du lịch này đã được UBND tỉnh Quảng Bình giao cho Công ty TNHH Một thành viên Chua Me Đất khai thác chính thức, Sơn Đoòng thực sự đã trở thành điểm đến và điểm nhấn của du lịch Quảng Bình và xa hơn nữa là du lịch Việt Nam
Trong 10 năm, từ khi VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đón nhận di sản thiên nhiên Thế giới đến hết năm 2013, VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đón trên 3,2 triệu lượt khách, chiếm 39,8% tổng lượt khách đến du lịch Quảng Bình Trong đó có 103.103 lượt khách quốc tế, chiếm 48,7% tổng lượt khách Quốc tế đến Quảng Bình; tạo công ăn việc làm cho gần 3.000 lao động, từng bước nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng địa phương, góp phần giảm áp lực đối với công tác quản lý và bảo tồn di sản
Từ thực tế trên, có thể khẳng định rằng, Phong Nha-Kẻ Bàng là khu vực du lịch quan trọng nhất trong không gian địa du lịch của tỉnh Quảng Bình, khách du lịch đến Phong Nha – Kẻ Bàng tăng chính là yếu tố quyết định giúp cho du lịch Quảng Bình phát triển
Xác định rõ vai trò, vị trí quan trọng của Phong Nha – Kẻ Bàng đối với sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Quảng Bình luôn đặc biệt quan tâm và có sự chỉ đạo kịp thời Đặc biệt, UBND tỉnh đã hợp tác với Tổ chức GTZ, Ngân hàng Phát triển Đức (KFW) và Tổ chức Hỗ trợ Phát triển (DED) của Đức thực hiện Quy hoạch phát triển du lịch bền vững khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn đến 2025 Bên cạnh đó, UBND tỉnh Quảng Bình cũng đã phê duyệt và ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025, trong đó xác định phát triển các sản phẩm du lịch tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, như:
du lịch hang động, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch văn hoá tộc người là các sản phẩm du lịch đặc thù và quan trọng của tỉnh
Khi xác định vai trò quan trọng mang tầm chiến lược của Di sản thiên nhiên thế giới VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đối với sự nghiệp phát
Trang 36triển du lịch của tỉnh nhà, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình
lần thứ XV đã định hướng: “phát triển du lịch từng bước trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn Ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, tập trung vào các trung tâm du lịch: Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Nhật Lệ, Bảo Ninh, đa dạng hoá các loại hình du lịch sinh thái – hang động ” Điều này một lần nữa khẳng định, du lịch Quảng Bình đóng vai
trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thúc đẩy và
phát triển các ngành nghề khác, tạo nhiều cơ hội giải quyết việc làm cho người lao động, chia sẻ lợi ích, phát triển cộng đồng và bảo vệ môi trường Tất nhiên, chìa khoá cho sự phát triển của du lịch Quảng Bình trong thời gian qua và thời gian tiếp theo chính là Di sản thiên nhiên thế giới VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
VQG PN-KB không chỉ đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp phát triển du lịch của Quảng Bình mà còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch “Con đường Di sản miền Trung” và phát triển du lịch Hành lang kinh tế Đông Tây
Để phát huy vai trò quan trọng của VQG PN-KB đối với sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh Quảng Bình, chính quyền và sở du lịch Quảng Bình đã phát triển du lịch theo các hướng sau:
Một là, triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Quy hoạch phát triển du lịch bền vững khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn đến 2025, trong đó đặc biệt lưu ý các vấn đề:
- Áp dụng các hướng dẫn, quy định và ban hành cơ chế chính sách cần thiết để thu hút nguồn lực thực hiện thành công quy hoạch;
- Đầu tư xây dựng theo quy hoạch đã được phê duyệt và giám sát công việc đầu tư xây dựng một cách chặt chẽ bám sát vào Quy hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt;
Trang 37- Cần nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, trong đó cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức cho các đối tượng quản lý, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng vùng đệm về phát triển du lịch
- Các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển du lịch ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng phải ký cam kết bằng hợp đồng với Ban quản lý Vườn về trách nhiệm bảo vệ môi trường, cảnh quan, khai thác hợp lý tài nguyên, đảm bảo phát triển du lịch bền vững và nghĩa
vụ của nhà đầu tư đối với Vườn Quốc gia
- Chuẩn bị cho cộng đồng để thích nghi với tác động của việc phát triển du lịch và chuẩn bị cung cấp các cơ sở vật chất kỹ thuật đào tạo cho những người chuẩn bị hoạt động trong ngành du lịch tại Vườn Quốc gia
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xúc tiến quảng bá về Di sản Thiên nhiên thế giới VQG PN-KB, trong đó cần tập trung đẩy mạnh và
chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến quảng bá nhằm vào thị trường mục tiêu theo hướng lấy điểm đến, sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch làm đối tượng xúc tiến trọng tâm Trung tâm Du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng và các công ty đang được phép đầu tư khai thác tại Vườn có trách nhiệm và vai trò chủ đạo trong việc hoạch định chương trình xúc tiến quảng bá và huy động các tổ chức, doanh nghiệp chủ động tham gia theo cơ chế “cùng mục tiêu, cùng chia sẻ”
Ba là, tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển du lịch bền vững khu vực VQG PN-KB, như: đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao
chất lượng phục vụ du lịch; bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch; phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ du lịch; đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển du lịch; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch; tăng cường liên kết, hợp tác phát triển du lịch với các địa phương nằm trên “Con đường Di sản miền Trung” và Hành lang kinh tế Đông Tây
Bốn là, tập trung phát triển nguồn nhân lực cho du lịch
Trang 38Quảng Bình cũng cần có một đội ngũ lao động du lịch có trình độ và kinh nghiệm Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình thì năm 2015 toàn tỉnh cần 22.400 lao động, trong đó có 7.000 lao động trực tiếp Năm 2020 con số sẽ là 42.600 lao động, trong đó 13.300
là lao động trực tiếp Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, trước hết Sở VHTTDL phải là đầu tàu, cần có chương trình đào tạo, tham quan và học hỏi các mô hình phát triển du lịch sinh thái ở các tỉnh, quốc gia khác Tỉnh Quảng Bình nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng cũng cần xác định cho mình sự đầu tư xứng đáng vào loại hình du lịch sinh thái
Năm là, bảo tồn nguyên trạng và tính toàn vẹn của di sản
Theo quy hoạch, sẽ bảo tồn nguyên trạng và tính toàn vẹn của di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trong mối liên kết bảo tồn với vùng sinh thái Hin Nammo của Lào và quần thể sinh thái dãy Trường Sơn Thiết lập và kiểm soát các hành lang đa dạng sinh học lưu vực sông Son, sông Ranh, sông Nhật Lệ nối liền Vườn quốc gia với các vùng tự nhiên khác trong vùng miền Trung
Kiểm soát các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, khai thác đá
mỏ quặng, kinh tế thương mại, phát triển dân cư trong vùng đệm, đặc biệt tại các khu vực cửa khẩu Thượng Trạch, cửa khẩu Cha Lo, dọc 2 bên bờ sông Son để không ảnh hưởng đến bảo tồn
Phát triển khu du lịch quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, liên kết hợp tác với các trung tâm du lịch biển, du lịch văn hóa lịch sử trong địa bàn tỉnh Quảng Bình và các tỉnh miền Trung trên tuyến du lịch quốc gia "Con đường di sản miền Trung"
Xây dựng tuyến không gian lễ hội kéo dài từ biển đến Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng dọc theo đường thủy từ sông Gianh đến sông Son và theo đường bộ từ thành phố Đồng Hới đến đô thị Du lịch Phong Nha Xây dựng trung tâm dịch vụ du lịch cao cấp tại Sơn Trạch, Phúc Trạch Hình
Trang 39thành các điểm du lịch chất lượng cao trong Vườn quốc gia, trên sông Son, sông Troóc, sông Long Đại, thác nước Phù Định, núi Thần Đinh
Hình thành các tuyến du lịch theo đường Hồ Chí Minh nhánh Tây
và đường 20 Quyết Thắng; tuyến đến bản A Rem qua các hang động; tuyến theo đường Hồ Chí Minh đến đỉnh U Bò, hang Én và hang Sơn Đoòng, sông Long Đại;
Sáu là, phát triển đô thị du lịch và cảnh quan
Riêng đối với đô thị du lịch Phong Nha, sẽ phát triển đô thị du lịch
và cảnh quan; cung cấp các dịch vụ đô thị cao cấp phục vụ bảo tồn và phát triển du lịch Vườn quốc gia Dân số năm 2020 khoảng 13 - 18 nghìn người
và năm 2030 khoảng 15-20 nghìn người
Mở rộng, nâng cấp trung tâm xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch và lựa chọn quỹ đất cao ráo tại các thôn Xuân Sơn, Hà Lời để xây dựng các khu chức năng đô thị hạn chế ngập lũ sông Son Hình thành trung tâm dịch vụ
du lịch Phong Nha trên cơ sở nâng cấp trung tâm du lịch hiện có trên sông Son thành trung tâm dịch vụ du lịch cao cấp phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế
Mở rộng, nâng cấp trung tâm xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch về phía Đông đường Hồ Chí Minh Phát triển các khu nhà ở sinh thái, dịch vụ công cộng phục vụ khu dân cư nông thôn xã Phúc Trạch và lân cận, chợ nông sản đầu mối, dịch vụ quá cảnh trên đường Hồ Chí Minh
1.3.1.2 Kinh nghiệm của huyện Tam Đảo- Vĩnh phúc
VQG Tam Đảo là một địa danh rất có tiềm năng để phát triển DLST bởi thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, núi rừng chia cắt, hệ thống sông suối, thác dày đặc, tạo cho nơi đây sự phong phú và đa dạng về các loài động thực vật, trong đó có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm Thêm vào đó nơi đây còn có một quần thể di tích đền chùa nổi tiếng, với 6 dân tộc anh em sinh sống xung quanh vùng đệm tạo ra sự đa
Trang 40dạng về văn hóa cũng như ẩm thực, phong tục tập quán,…nhưng cho đến nay sự phát triển DLST ở VQG Tam Đảo chưa xứng với tiềm năng của nó
Vườn quốc gia Tam Đảo là một dãy núi trải dài 80Km, có chiều rộng
từ 10 – 15Km, chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Trung Tâm VQG Tam Đảo cách thủ đô Hà Nội khoảng 75Km về phía Tây Bắc, cách thành phố Vĩnh Yên 13Km về phía Bắc Diện tích của VQG Tam Đảo là 34.995ha, ranh giới được xác định từ độ cao 100m so với mực nước biển trở lên, thuộc địa giới hành chính của 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyến Quang VQG Tam Đảo được phân chia làm 3 phân khu chính:
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: có diện tích là 17.295ha nằm ở độ cao 400m trở lên ( trừ Khu nghỉ mát Tam Đảo)
Phân khu phụ hồi sinh thái: có diện tích là 15.398ha, nằm bao quanh phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Phân khu nghỉ mát, du lịch: có diện tích 2.302ha, nằm ở sườn Tây Bắc Tam Đảo( thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Phúc)
UBND huyện đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở xây dựng, Sở Công Thương xây dựng và triển khai dự án đầu tư điện chiếu sáng quảng trường và trang trí của khu danh thắng Tây Thiên giai đoạn I với việc lắp đặt khoảng 100 giàn đèn, cột đèn tại khu vực sân và cổng tam quan, trục hành lễ, sân lễ hội và khuôn viên đền Thõng Tiếp theo, huyện sẽ triển khai lập quy hoạch quảng cáo ngoài trời; xây dựng 01 cổng chào vào huyện tại đường 42 đoạn tiếp giáp với xã Kim Long, huyện Tam Dương; 5 cụm panô biển lớn, 100 panô treo cột điện, 50 cụm panô cố định theo đường 42m và 30 điểm treo băng zôn phục vụ tuyên truyền quảng bá cho
du lịch
Bắt đầu từ năm 2014, Huyện ủy, UBND huyện Tam Đảo đã chỉ đạo kiện toàn lại hệ thống thủ từ tại khu danh thắng Tây Thiên dưới sự chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của UBND huyện Bên cạnh đó, việc quản lý các khoản tiền hành sai, công đức tại khu danh thắng cũng được tăng cường Trong