1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay

116 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn - Góp phần hệ thống hoá các vấn đề về lý luận kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững; tổng kết các bài học kinh nghiệm về kinh

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ KIỀU THANH

KINH TẾ DU LỊCH PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ KIỀU THANH

KINH TẾ DU LỊCH PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY

Ngành : Kinh tế chính trị

Mã số : 60.31.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ THÌN

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày …… tháng 01 năm 2015

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Lưu Văn An

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kiều Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ DU LỊCH PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 8

1.1 Du lịch và kinh tế du lịch 81.2 Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững 141.3 Kinh nghiệm về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở một số địa phương trong nước và bài học rút ra cho tỉnh Lào Cai 31

Chương 2: THỰC TRẠNG KINH TẾ DU LỊCH PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY 38

2.1 Tổng quan đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ở tỉnh Lào Cai tác động đến kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững 382.2 Tình hình kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai 452.3 Đánh giá thực trạng kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

ở tỉnh Lào Cai 63

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH LÀO CAI ĐẾN NĂM 2020 76

3.1 Phương hướng phát triển kinh tế du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai đến năm 2020 763.2 Giải pháp phát triển kinh tế du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai 87

KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC 103

Trang 6

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc

UNWTO Tổ chức du lịch thế giới

VHTT&DL Văn hóa Thể thao & Du lịch

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG

Hình 1.1: Mối quan hệ trong phát triển bền vững 15

Bảng 1.1: So sánh phát triển du lịch bền vững và phát triển du lịch không bền vững 21

Bảng 1.2: Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững 27

Bảng 1.3: Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch 28

Bảng 1.4: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh tính bền vững của hoạt động du lịch tại một địa điểm 30

Bảng 2.1: Kết quả ban hành cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Lào Cai giai đoạn 2007 - 2013 49

Bảng 2.2 Khách du lịch quốc tế đến tỉnh Lào Cai qua các năm 50

Bảng 2.3: Khách du lịch nội địa đến tỉnh Lào Cai qua các năm 51

Bảng 2.4: Khách du lịch đến tỉnh Lào Cai qua các năm 52

Bảng 2.5: Tổng hợp doanh thu từ du lịch của tỉnh Lào Cai qua các năm 53

Bảng 2.6: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn tỉnh Lào Cai 54

Bảng 2.7: Hiện trạng cơ sở lưu trú của tỉnh Lào Cai qua các năm 56

Bảng 2.8: Kết quả kinh doanh cơ sở lưu trú của tỉnh Lào Cai qua các năm 56

Bảng 2.9: Kết quả kinh doanh lữ hành của tỉnh Lào Cai qua các năm 57

Bảng 2.10: Kinh doanh vận chuyển khách du lịch của tỉnh Lào Cai 58

Bảng 2.11: Doanh thu ăn uống của tỉnh Lào Cai qua các năm 59

Bảng 2.12: Doanh thu bán hàng của tỉnh Lào Cai qua các năm 60

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước Mặc dù, ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận Du lịch được mệnh danh là ngành “công nghiệp không có ống khói”, là “con gà đẻ trứng vàng” mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới Song song với mặt tích cực của du lịch thì mặt tiêu cực của nó cũng rất lớn như: ô nhiễm môi trường tự nhiên, phá hủy nhiều sinh vật cảnh, xâm hại nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, tác động xấu đến cộng đồng dân

cư địa phương Điều đó đã trở thành mối lo ngại lớn của các nhà chức trách, mọi người dân trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thúc giục những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch tìm kiếm con đường mới cho mình đó là phát triển du lịch một cách bền vững nhằm khắc phục những vấn

đề bất cập đặt ra Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng việc phát triển kinh tế du lịch theo hướng bền vững Coi đây là mục tiêu trọng tâm để Du lịch Việt Nam thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, điểm đến hấp dẫn và ngày càng đẳng cấp hơn

Đối với du lịch tỉnh Lào Cai cũng vậy, với tiềm năng du lịch phong phú

đã giúp cho ngành du lịch trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng nhanh và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, du lịch Lào Cai còn gặp nhiều khó khăn, phát triển nhưng vẫn ẩn chứa nhiều yếu tố thiếu bền vững: ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch; cơ sở vật chất vẫn còn nghèo nàn; sự thiếu đa dạng của sản phẩm du lịch; hiệu quả khai thác trong kinh doanh du lịch chưa cao…Vì thế, yêu cầu cấp thiết của du lịch Lào Cai là phải nghiên cứu một cách

cụ thể, đánh giá một cách khách quan về tiềm năng và thực trạng; đưa ra những

Trang 9

giải pháp đúng hướng để khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch sẵn có hướng tới sự phát triển bền vững lâu dài, tạo lên bức tranh toàn cảnh của tỉnh vùng cao năng động đang từng ngày đổi mới và hội nhập

Như vậy, kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững là một chiến lược lâu dài và quan trọng để Việt Nam nói chung, tỉnh Lào Cai nói riêng có thể gìn giữ được các nguồn tài nguyên du lịch hạn hẹp của mình Đồng thời, bảo vệ những tài sản hữu hình và vô hình để đảm bảo cho tương lai phát triển của ngành du lịch Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lí luận và thực tiễn

Xuất phát từ thực tế nêu trên, đề tài“Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai hiện nay” được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

 Trên thế giới

Mặc dù chúng ta có thể tìm thấy những ý tưởng về sự phát triển lâu bền từ nhiều nền văn minh cổ đại, nhưng khái niệm “phát triển bền vững” chỉ mới xuất hiện những năm 80 và đến đầu những năm 90, khi mà các tác động tiêu cực lên môi trường của sự bùng nổ du lịch trở nên rõ rệt, khái niệm “du lịch bền vững”

đã được đề cập đến Một số loại hình du lịch quan tâm đến môi trường dần xuất hiện như: Du lịch sinh thái, du lịch khám phá, du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch thay thế, du lịch mạo hiểm…góp phần nâng cao hình ảnh về một loại hình du lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững

Năm 1996, ngành du lịch toàn cầu đại diện bởi 3 tổ chức quốc tế gồm Hội đồng lữ hành du lịch thế giới (WTTC), Tổ chức du lịch thế giới (WTO), Hội đồng trái đất (Earth Council) đã phối hợp xây dựng: “Chương trình Nghị

sự 21 về du lịch: hướng tới phát triển bền vững về môi trường” nhằm đạt được sự phát triển bền vững thế giới trong thế kỷ 21

Tiếp theo đó, từ 23 đến 27/6/1997, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã tổ chức khoá họp về môi trường tại New York (còn được gọi là Hội nghị thượng

Trang 10

đỉnh Trái đất Rio+5) Tại đây, một lần nữa, tất cả các nước dù là phát triển hay đang phát triển đều nhận thức sâu sắc vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; từ đó nâng cao trách nhiệm của cả cộng đồng quốc tế

Năm 2012, trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc

về phát triển bền vững Rio+20 đồng tổ chức bởi UNWTO đã diễn ra hai sự kiện: Hội nghị về Đổi mới xanh trong du lịch và hội nghị về Du lịch vì một tương lai bền vững Nghiên cứu chung của UNEP và UNWTO chỉ ra rằng đầu

tư vào du lịch thân thiện với môi trường có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, giảm nghèo, tạo việc làm và cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu suy thoái môi trường

 Tại Việt Nam

Đối với nước ta, du lịch Việt Nam thực sự khởi sắc từ những năm 90 và trở thành đề tài được quan tâm nghiên cứu Đã xuất hiện nhiều công trình khoa học, luận văn, luận án, nghiên cứu vấn đề về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở các khía cạnh khác nhau như:

- TS Phạm Lê Thảo (2000), Xây dựng hệ thống giải pháp cho phát triển

du lịch bền vững ở Việt Nam, đề tài nhánh, đề tài khoa học - công nghệ độc lập

cấp Nhà nước cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam Tác giả đã đưa ra những giải pháp thiết thực trong việc phát triển kinh tế

du lịch bền vững căn cứ vào những kết quả nghiên cứu đạt được

- Lý thuyết về du lịch bền vững đã được nghiên cứu bởi các chuyên gia

đầu ngành, tiêu biểu là cuốn giáo trình: “Du lịch bền vững” của TS Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) và “Môi trường

và phát triển bền vững” (Nxb Giáo dục, 2007) đã trình bày cụ thể về khái niệm,

các nguyên tắc và định hướng phát triển kinh tế du lịch bền vững

- Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch cũng thực hiện nhiều đề tài

nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững tiêu biểu là công trình: Cơ sở khoa

Trang 11

học và giải pháp phát triển du lịch bền vững Việt Nam (2002); Du lịch sinh thái - những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam (Nxb Giáo dục, 2002); Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát Bà - Hải Phòng do PGS.TS Phạm Trung Lương làm chủ nhiệm Các công trình

trên đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững; căn cứ vào những kết quả nghiên cứu đạt được, hệ thống các giải pháp tương đối đồng bộ và cụ thể nhằm phát huy những lợi thế

và hạn chế những bất cập để góp phần đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững

ở Việt Nam theo những nguyên lý đã được xác định

- Tổng cục Du lịch (2005), Giới thiệu sách cẩm nang về phát triển du lịch bền vững, Hội đồng khoa học - Tổng cục Du lịch, Hà Nội đã cho chúng ta

cái nhìn toàn diện hơn về nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng Qua đó khẳng định lợi ích và xu thế tất yếu của kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

- TS Nguyễn Bá Lâm (2007), Giáo trình Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững Khoa Du lịch, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà

Nội đã đề cập một cách tổng quát các khái niệm về kinh tế du lịch và kinh tế

du lịch phát triển theo hướng bền vững, vị trí vai trò của kinh tế du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, nêu bật vị trí của môi trường tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế du lịch bền vững và trách nhiệm của những người làm tham gia vào hoạt động kinh tế du lịch

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, các hội thảo đề cập đến phát triển du lịch bền vững như: Hội thảo quốc tế về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (Cộng hòa liên bang Đức) tổ chức tại Huế (1997); Hội thảo

về Du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam tại Hà Nội (1998)…

Trang 12

Trong đó, rất nhiều tham luận được trình bày và đã đóng góp nhiều giá trị quý báu về cơ sở lí luận và cả những kinh nghiệm thực tiễn phát triển du lịch bền vững của các nhà nghiên cứu du lịch và môi trường đến từ nhiều nước trên thế giới và Việt Nam

số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Sa Pa trong xu thế hội nhập; Du lịch nghỉ dưỡng tại Sa Pa - Lào Cai…

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, có hệ thống về thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế du lịch

phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai Vì vậy, đề tài ““Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai hiện nay” không có sự trùng lặp

với các đề tài đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận về kinh tế du lịch, kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững, các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững và các tiêu chí đánh giá kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai, đưa ra những phương hướng và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai đến năm 2020

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa và phân tích rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững Từ đó, xây dựng nền tảng lý luận vững chắc và các tiêu chí đánh giá kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững hiện nay

Phân tích thực trạng kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai, tìm ra những thuận lợi và khó khăn, hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch theo hướng bền vững Đặc biệt, làm rõ nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch theo hướng bền vững của tỉnh Lào Cai

Đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai phát triển theo hướng bền vững đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2007 đến năm 2013

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên các học thuyết của chủ nghĩa Mác

-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, các quan điểm chủ trương, chính sách, những tổng kết kinh nghiệm của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lào Cai về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững;

kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung nghiên cứu gần với đề tài

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhưng chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp thu thập, thống kê, phân tích và tổng hợp tài liệu, lập bảng số liệu, so sánh và rút ra kết luận chung

6 Những đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn

- Góp phần hệ thống hoá các vấn đề về lý luận kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững; tổng kết các bài học kinh nghiệm về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở một số địa phương trong nước Trên cơ sở đó để

đề ra phương hướng và giải pháp cho việc phát triển kinh tế du lịch bền vững của tỉnh Lào Cai

- Đánh giá thực trạng kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai trong thời gian qua Làm rõ những thành công đạt được và những hạn chế cần được khắc phục, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm đưa kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai phát triển theo hướng bền vững

- Khẳng định trong quá trình phát triển kinh tế, phát triển kinh tế du lịch phải gắn với bảo tồn, các di sản văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Lào Cai trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Tỉnh, địa phương và các độc giả quan tâm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ DU LỊCH

PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Giới du lịch phương tây thường công nhận định nghĩa của 2 giáo sư người Thụy Sỹ là W.Hunzikor và K.Krapf: “Du lịch là tập hợp các mối quan

hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên

và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [13, tr.16]

Ở Việt Nam, Khoa Du lịch và Khách sạn trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội đưa ra khái niệm:

Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn

du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp [13, tr.20]

Khái niệm trên đây mới đề cập đến mặt kinh tế trong hoạt động du lịch, coi du lịch là một ngành kinh doanh và nêu lên các thành phần tham gia trong các hoạt động kinh doanh, đích cần đạt của hoạt động kinh doanh

Trang 16

Theo Luật Du lịch Việt Nam 2006, tại điểm 1 điều 4 Du lịch được nêu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [22, tr.9] Khái niệm này mới đề cập đến hiện tượng di chuyển và mục đích của du khách một cách khái quát chung, mà chưa đề cập rõ nét trên hai mặt của du lịch là đi du lịch và kinh doanh trong lĩnh vực du lịch

Như vậy, cả hai khái niệm trên chưa có sự gắn kết mặt kinh doanh du lịch và hoạt động thưởng ngoạn của du khách Mặc dù, trong thực tế nó đồng thời diễn ra hoạt động cùng một thời điểm của người đi du lịch và người kinh doanh du lịch

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin thì sản xuất được coi là trực tiếp đồng nhất với tiêu dùng và tiêu dùng coi là trực tiếp ăn khớp với sản xuất, cái đó được các nhà kinh tế học gọi là tiêu dùng sản xuất Theo đó, du lịch là một hoạt động của con người mà trong quá trình đó đồng thời diễn ra cả hai mặt: Sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm du lịch thì mới đảm bảo được một tour du lịch hoàn chỉnh Bởi thế, để đưa ra được khái niệm vừa mang tính lý luận và phản ánh được thực tế hoạt động của nó cần thiết có sự thống nhất biện chứng giữa người cung cấp và người tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ du lịch Từ những lập luận đã nêu ở trên, dưới góc độ lý luận của khoa học Kinh

tế chính trị có thể hiểu rằng:

Du lịch là hoạt động, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa người với người, con người với tự nhiên trong quá trình di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên Việc tổ chức các hoạt động kinh doanh và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ từ các tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn của đất nước, nhằm thỏa mãn những nhu cầu về vật chất, tinh thần của khách du lịch

và mục đích của chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực đó

Trang 17

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội…

1.1.1.2 Kinh tế du lịch

Ở Việt Nam trong cuốn Kinh tế du lịch - Tiến sỹ Nguyễn Hồng Giáp

cho rằng: “Toàn bộ kinh tế du lịch là một hệ thống gồm những phần nhỏ hay

là tiểu hệ thống, nguyên nó có thể chia nhỏ ra thêm nữa và những biến số độc lập với nhau cho phép biến đầu vào (nguồn nhân lực, tư bản, nguyên liệu, khoa học kỹ thuật) thành đầu ra (sản phẩm và dịch vụ)” [14, tr.27] Đây là cách tiếp cận kinh tế du lịch dưới góc độ lý thuyết kinh tế học hiện đại theo hướng quan tâm đến toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia ở tầm vĩ mô như: sản lượng quốc gia, thu nhập quốc dân, tiêu dùng các hộ gia đình, tiết kiệm, đầu tư, thất nghiệp, việc làm, tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế

Một cách tiếp cận khác, Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Kinh tế

du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù mang tính dịch vụ và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hóa, lịch sử, vv…) nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch…” [15, tr.486]

Định nghĩa tiếp cận theo góc độ này coi kinh tế du lịch là loại hình kinh

tế có tính đặc thù, tổng hợp bao hàm cả vật thể lẫn phi vật thể Các loại dịch

vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên nhân văn với việc

Trang 18

sử dụng các nguồn lực: vốn, khoa học - công nghệ và nguồn lực lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã từng quan niệm rằng, lực lượng sản xuất xã hội không những bao gồm các yếu tố vật chất mà còn bao gồm cả yếu tố tinh thần Như vậy, có thể hiểu là sản phẩm tiêu dùng của con người cũng bao hàm cả loại sản phẩm vật thể và loại sản phẩm phi vật thể, có sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về vật chất, nhưng cũng có những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về tinh thần Kinh tế du lịch là tổng hòa các mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế, kinh tế với

xã hội của hoạt động du lịch, hình thành trên cơ sở phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa và nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của con người trong

xã hội ngày càng được nâng cao

Ngày nay, hoạt động kinh tế du lịch mang tính đại chúng, tính toàn cầu

và tính liên tục, mối quan hệ của nó với toàn bộ nền kinh tế - xã hội ngày càng được nâng cao Nhận thức được hiệu quả và lợi nhuận do kinh tế du lịch mang lại mà các nước tư bản trên thế giới có tiềm lực tài chính, không ngừng đầu tư để cạnh tranh phát triển lĩnh vực du lịch dịch vụ Điều đó vừa góp phần thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất phát triển, song cũng tạo ra sự phân cách giàu nghèo trong xã hội và cũng chính quá trình đó làm cho tài nguyên cạn kiệt, môi trường hủy hoại, cạnh tranh và mâu thuẫn giữa các nước tư bản, các tập đoàn tư bản, các nước đang phát triển ngày càng gay gắt hơn Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về kinh tế du lịch dưới góc

độ kinh tế chính trị như sau:

Kinh tế du lịch là một phạm trù phản ánh bước tiến mới của lực lượng sản xuất trong quá trình tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu

Trang 19

ngày càng tăng cho du khách, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Ở các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì có mục đích, tính chất và chiến lược phát triển kinh tế du lịch khác nhau

1.1.2 Vai trò của kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội

Trên thế giới, du lịch của một nước phát triển làm tăng nguồn ngân sách nhà nước, giải quyết đời sống xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế có liên quan phát triển theo

Trước hết, du lịch phát triển góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch trong khối ngành dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội và tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân Trên thế giới, nhiều nước do du lịch phát triển đã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn Năm 1995 các nước thu nhập

du lịch quốc tế cao: Mỹ 58 tỷ USD, Italia 27 tỷ USD Du lịch là một trong những nguồn thu ngoại tệ hàng đầu ở nhiều nước như: Thailand, Philippin, Hongkong

Việc phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như: giao thông, xây dựng, bưu điện, hàng không, nông nghiệp, ngân hang…vì du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, các sản phẩm du lịch tạo ra không đơn thuần là của ngành du lịch mà còn là sự kết hợp, hỗ trợ liên ngành Ví dụ: muốn có cơ sở lưu trú thì cần có ngành xây dựng…

Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế Du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” hàng hóa công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, nông lâm sản…theo giá bán lẻ cao hơn (bán qua xuất khẩu sẽ theo giá buôn) mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế Đồng thời, còn là ngành

“xuất khẩu vô hình” hàng hóa du lịch Hai hình thức xuất khẩu trên đem lại lợi

Trang 20

nhuận cao do tiết kiệm được chi phí đóng gói, bảo quản, thuế xuất nhập khẩu, thu hồi vốn nhanh vì nhu cầu du lịch là nhu cầu có khả năng thanh toán

Phát triển du lịch bền vững góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, mới lạ, có sức hấp dẫn khách du lịch, đem lại cho du khách những chuyến đi với chất lượng và hiệu quả cao Từ đó, du lịch thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các nguồn đầu tư từ nước ngoài

Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, thì phát triển du lịch bền vững đảm bảo giải quyết các vấn đề xã hội, công ăn việc làm cho người lao động Do đặc trưng ngành du lịch là ngành phục vụ đòi hỏi nhiều lao động sống, thu hút một bộ phận lớn dân cư tham gia vào các dịch vụ, xây dựng, bán sản phẩm…Cho nên phát triển kinh tế du lịch sẽ tạo điều kiện tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân địa phương Từ đó góp phần xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi

Phát triển du lịch bền vững còn góp phần giới thiệu truyền bá nét văn hoá dân tộc cho bạn bè trên thế giới Phát triển du lịch bền vững ngày càng trở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay:

Là nhân tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thế giới và tạo điều kiện trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Du lịch là một ngành mang yếu tố đối ngoại, không chỉ đơn thuần liên quan đến yếu tố khách quốc tế mà còn là mối liên hệ hợp tác giữa các nước, các tổ chức quốc tế mang tính chính phủ và phi chính phủ về du lịch Tác động tích cực trong việc hình thành mối quan hệ và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới, góp phần tăng cường nền hòa bình và đoàn kết quốc tế

Du lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức

và khoa học, đảm bảo cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển để thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng Du lịch bền vững là phương tiện cải thiện và nâng cao sức khỏe, giáo dục và phúc lợi cho xã hội Giúp

Trang 21

giảm thiểu đói nghèo và ngăn ngừa vấn đề suy thoái môi trường trong hiện tại

và tương lai

Phát triển du lịch bền vững là biện pháp thiết thực nhất để cứu lấy môi trường thiên nhiên và là biện pháp gián tiếp cứu lấy con người Vì bảo vệ môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sống trong môi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người được hưởng lợi từ đó: không bị nhiễm độc nguồn nước, không khí và đất đai Nếu không có phát triển bền vững thì tương lai của các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt Hơn nữa, phát triển du lịch bền vững còn mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng đồng địa phương

Có thể nói rằng, kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững là xu thế tất yếu và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới

1.2 Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

1.2.1 Khái niệm

Khái niệm phát triển bền vững

Năm 1987, cụm từ “phát triển bền vững” được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bền vững là “ Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai” [21, tr.24] Quan niệm trên chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống của con người trong quá trình phát triển, tuy nhiên chưa thấy đề cập đến vấn đề xã hội

Tại hội nghị môi trường toàn cầu RIO-92 và RIO-92+5, quan niệm phát triền bền vững được các nhà khoa học bổ sung: “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp của ba hệ thống tương tác

là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa xã hội” [21, tr.11]

Trang 22

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững Rio+10 ở Johannesburg (Nam Phi) tháng 8/2002 đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: tăng trưởng về mặt kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống [29, tr 25] Dưới quan điểm phát triển này, phát triển bền vững được hiểu là kết quả tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống nói trên Xác định phát triển bền vững không cho phép con người vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác Phát triển bền vững không chỉ nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế Hiện nay, phát triển phải dựa trên tính bền vững cả về môi trường - sinh thái, văn hóa - xã hội và kinh tế

Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính, mang tính ba chiều, đôi khi được ví như

“ba chân” Nếu một chân bị gãy cả hệ thống sẽ bị sụp đổ dài hạn Cần nhận thức rằng ba chiều này phụ thuộc nhau về rất nhiều mặt, có thể hỗ trợ và cạnh tranh lẫn nhau Nói đến phát triển bền vững có nghĩa là tạo được sự cân bằng giữa ba chiều Mối quan hệ đó được thể hiện qua hình vẽ sau:

Hình 1.1: Mối quan hệ trong phát triển bền vững

Bền vững về mặt kinh tế: Là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong

một thời gian dài, tạo nên sự thịnh vượng cho cộng đồng dân cư và đạt hiệu quả cho mọi hoạt động kinh tế Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau

đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn

Trang 23

Bền vững về văn hóa - xã hội: Tôn trọng văn hoá và truyền thống địa

phương; tôn trọng nhân quyền và bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội; đòi hỏi phân chia lợi ích công bằng, chú trọng công tác xóa đói giảm nghèo, tránh mọi hình thức bóc lột

Bền vững về mặt môi trường: Bảo vệ, quản lý các nguồn tài nguyên,

giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường và cố gắng có lợi nhất cho môi trường, bảo tồn sự đa dạng sinh học và các tài sản thiên nhiên khác

Ở Việt Nam, khái niệm “phát triển bền vững” được biết đến triển khai nghiên cứu lý luận bởi các nhà khoa học vào khoảng cuối thập kỷ 80 đầu thập

kỷ 90 của thế kỷ XX Cùng với các nước trên thế giới, phát triển bền vững đã trở thành nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước ta theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tại Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng nhấn mạnh “bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [29, tr.37]

Quan điểm phát triển bền vững của Đảng được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [10, tr.162] Đây là cơ sở lý luận để ngày 17/8/2004 Chính phủ ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam họp

từ ngày 12/01/2011 đến ngày 19/01/2011, quan điểm phát triển bền vững được thể hiện tập trung, xuyên suốt trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng; từ

Trang 24

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cho đến Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; biểu hiện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường; giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững có mối quan hệ mật thiết với nhau “phát triển bền vững là

cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội” [11, tr.99]

Khái niệm kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

Hiện nay, trên thế giới chưa thống nhất về quan niệm về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững Theo Antonio Machado định nghĩa kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững là:

Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành

du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, Đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương [40, tr.237]

Định nghĩa này tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch, chứ chưa đề cập một cách tổng quát tính bền vững cho toàn ngành du lịch Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững được Tổ chức Du lịch thế giới (United National World Tourist Organization, viết tắt là UNWTO) định nghĩa như sau: Sự phát triển bền vững của ngành du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và của địa phương du lịch, đồng thời bảo vệ và thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương lai Sự quản lý của ngành phải cân bằng và đáp ứng được nhu cầu

về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ mà vẫn duy trì được các giá trị của sinh thái, văn hóa

và môi sinh [40, tr.237]

Trang 25

Hội nghị Bộ trưởng du lịch các nước Đông Á - Thái Bình Dương tại Việt Nam đưa ra quan điểm về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

đó là: Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau, du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ môi trường mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường

tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương

Ở Việt Nam, quan điểm phát triển du lịch bền vững được thể hiện xuyên suốt qua các văn kiện các Đại hội Đảng gần đây Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011 khẳng định rõ

“là phát triển du lịch bền vững, theo định hướng du lịch sinh thái và du lịch văn hóa - lịch sử, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, góp phần tích cực trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc…” [11, tr.108]

Tóm lại: Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững là một vấn đề

không thể thiếu được trong quá trình đi lên của đất nước nói chung và của ngành du lịch nói riêng Tuy nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển đó

1.2.2 Các nguyên tắc đảm bảo cho kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

Muốn đảm bảo phát triển du lịch bền vững thì nhất thiết phải tuân thủ chặt chẽ 10 nguyên tắc cơ bản sau để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế và môi trường xã hội [13, tr.20]

Một là khai thác và sử dụng nguồn lực (tài nguyên) một cách bền vững, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Được coi là nền tảng cơ bản nhất để kinh doanh du lịch phát triển lâu dài

Trang 26

Hai là giảm thiểu tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải

nhằm giảm chi phí khôi phục tài nguyên và giảm chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch

Ba là duy trì tính đa dạng tự nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hoá Việc duy trì đó sẽ tạo sức bật cho ngành du lịch giúp du lịch phát triển một cách bền vững, là chỗ dựa sinh tồn cho ngành công nghiệp du lịch

Bốn là phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội Đối với mỗi phương án phát triển cần đánh giá tác động của môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên, môi trường

Năm là phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển Ngành du lịch mà hỗ trợ các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến giá trị và chi phí về môi trường sẽ vừa bảo vệ được kinh tế địa phương phát triển lại vừa tránh được các tổn hại về môi trường

Sáu là lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương Sự tham gia của cộng đồng địa phương không chỉ đem lợi ích cho cộng đồng và môi trường

mà còn nâng cao chất lượng phục vụ du lịch

Bảy là lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng liên quan Việc trao đổi, thảo luận nhằm giảm thiểu những mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi, đi đến tính thống nhất về quan điểm giúp phát triển du lịch lâu dài

Tám là chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ giúp cho du lịch phát triển bền vững và tăng chất lượng các sản phẩm du lịch

Chín là tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm Đó là việc cung cấp

thông tin một cách đầy đủ cho du khách, quảng bá du lịch một cách có trách nhiệm qua đó giúp du khách thoả mãn tối đa nhu cầu của mình

Trang 27

Mười là coi trọng công tác nghiên cứu Nghiên cứu và giám sát các hoạt động du lịch thông qua việc sử dụng, phân tích các số liệu rất cần thiết nhằm giải quyết những vấn đề tồn đọng, mang lại lợi ích cho các điểm tham quan, ngành du lịch và khách du lịch

1.2.3 Dấu hiệu nhận biết kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững và kinh tế du lịch phát triển theo hướng không bền vững

Có những loại hình du lịch được coi là bền vững hơn các loại hình du lịch khác Ở hầu hết các nước trên thế giới thực tế cho thấy, du lịch 3S với các nghĩa là biển (Sea), cát (Sand), ánh nắng (Sun) và du lịch tình dục (Sextour) phần lớn đều có thể phát triển với quy mô lớn nhưng chúng dần trở nên không bền vững Nguyên nhân là một số nơi, dưới con mắt của người bản xứ, du khách là những kẻ giàu có đáng ghét, những kẻ đem lại bất hạnh cho dân cư địa phương, đặc biệt là phụ nữ Họ du nhập lối sống không được nhân dân địa phương chấp nhận, nhiều đoàn du khách bị tấn công (đối với du lịch tình dục)

và sự quá tải về số lượng đi du lịch câu cá, đi săn bắt quá đông ở một khu du lịch (đối với du lịch nghỉ biển 3S)

Để làm rõ khái niệm phát triển du lịch bền vững cũng như phân biệt nó với du lịch không bền vững, một số nhà nghiên cứu đã luận bàn đến tác động của du lịch đến 3 phân hệ kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường Thông qua việc so sánh, đánh giá một bảng danh mục các yếu tố được coi là sự đóng góp

và sự phát triển bền vững và không bền vững trong phát triển du lịch được hình thành Dưới đây là bảng so sánh từ cách tiếp cận của Antonio Machado [40, tr.240] Trong hoạt động thực tiễn cần xem xét các vấn đề làm giảm tính bền vững của phát triển du lịch, đồng thời, so sánh các hoạt động bền vững với các hoạt động không bền vững Những yếu tố bền vững và không bền vững liệt kê dưới đây không mang tính chất bắt buộc Chúng phụ thuộc nhiều vào liều lượng, khả năng quản lý và kiểm soát của Nhà nước, vào khả năng tự kiểm soát của ngành du lịch

Trang 28

Bảng 1.1: So sánh phát triển du lịch bền vững

và phát triển du lịch không bền vững

Khái niệm chung Phát triển nhanh Phát triển chậm

Tốc độ phát triển Chậm Nhanh

Mức độ kiểm soát Có Không

Quy mô Phù hợp Không phù hợp

Mục tiêu Dài hạn Ngắn gọn

Phương pháp tiếp cận Theo chất lượng Theo số lượng

Phương thức Tìm kiếm sự cân bằng Tìm kiếm sự tối đa

Đối tượng tham gia kiểm soát Địa phương Trung ương

Chiến lược Quy hoạch trước,

triển khai sau

Không có quy hoạch, triển khai tùy tiện

Kế hoạch Theo quan điểm Theo dự án

Mức độ quan tâm Toàn bộ Vùng trọng điểm

Áp lực và lợi ích Phân tán Tập trung

Quản lý Quanh năm, cân bằng Thời vụ, cao điểm

Nhân lực sử dụng Địa phương Bên ngoài

Quy hoạch kiến trúc Bản địa Theo thị hiếu của du

khách Marketing Tập trung, theo đối tượng Tràn lan

Sử dụng nguồn lực Vừa phải, tiết kiệm Lãng phí

Tái sinh nguồn lực Có Không

Hàng hóa Sản xuất tại địa phương Nhập khẩu

Nguồn nhân lực Có chất lượng Kém chất lượng

Du khách Số lượng ít Số lượng nhiều

Học tiếng địa phương Có Không

Du lịch tình dục Không Có

Thái độ du khách Thông cảm và lịch thiệp Không ý tứ

Sự trung thành của du khách Trở lại tham quan Không trở lại tham quan

Nguồn: Tổng Cục Du lịch Việt Nam (VNAT) và Tổ chức Phát triển bền vững Tây Ban Nha

(FUNDESO) (2003), Dự án “Xây dựng năng lực cho phát triển Du lịch ở Việt Nam”, Hà Nội

Trang 29

1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

1.2.4.1 Nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

Nhóm nhân tố về tài nguyên du lịch

Theo Luật du lịch 2006 thì: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người Là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn của du lịch” [22, tr.29]

Tài nguyên du lịch được phân ra làm 2 nhóm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

Thứ nhất, về tài nguyên du lịch tự nhiên

“Tài nguyên du lịch tự nhiên là các hiện tượng, đối tượng trong môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta được lôi cuốn vào việc phục vụ cho mục đích du lịch” [43, tr.35]

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần tự nhiên, các tổng thể tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác, sử dụng tạo ra các sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch Trong số các thành phần tự nhiên có một số thành phần chính tác động trực tiếp và thường xuyên đối với các hoạt động du lịch với tư cách là tài nguyên du lịch là: địa hình, khí hậu, nguồn nước và sinh vật

Một là, địa hình: Thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra mọi

hoạt động của con người Địa hình tạo nền cho phong cảnh, một số kiểu địa hình đặc biệt, các di tích tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhiều loại hình du lịch

Hai là, khí hậu: Là thành phần của tự nhiên sớm được khai thác như

một dạng tài nguyên du lịch quan trọng để thu hút khách, khí hậu tạo nên tính chất mùa vụ trong hoạt động du lịch

Trang 30

Ba là, thủy văn: Được xem như một dạng tài nguyên quan trọng, nhiều

loại hình du lịch gắn bó với đối tượng nước như: Bề mặt nước, các hồ, sông lớn, nước khoáng, suối nước nóng… hấp dẫn rất cao đối với khách du lịch

Bốn là, sinh vật: Tạo nên phong cảnh, làm cho thiên nhiên đẹp và sống

động hơn có giá trị phục vụ loại hình du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, tài nguyên sinh vật (tính đa dạng sinh học, sự bảo tồn nhiều loài gen quý giá)

Các dạng tài nguyên luôn gắn bó với nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau và cùng được khai thác một lúc tạo nên các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh có tính tổng hợp cao

Thứ hai, về tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị nhận thức nhiều hơn giá trị giải trí, ít bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, thường tập trung ở các khu vực quần cư

và thu hút du khách có mức thu nhập, có trình độ văn hóa cũng như yêu cầu nhận thức cao hơn

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các loại di tích lịch sử, lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa, thể thao và các hoạt động nhận thức khác, là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch

Một là, di tích lịch sử - văn hóa: Là những không gian vật chất cụ thể,

khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại Dựa trên tính chất, đặc điểm hình thành, giá trị có thể chia thành: di tích văn hóa khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật và các loại danh lam thắng cảnh

Hai là, lễ hội: Là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp, hết sức đa dạng

và phong phú, một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại

Trang 31

Ba là, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: Có ý nghĩa đối với du

lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc cổ, các nét văn hóa truyền thống, trang phục dân tộc…

Bốn là, các đối tượng văn hóa - thể thao và các hoạt động nhận thức khác: Có ý nghĩa đối với du lịch gồm các trung tâm của các viện khoa học,

các trường đại học, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, hội trợ, liên hoan

âm nhạc, các cuộc thi đấu thể thao, cuộc thi hoa hậu,…[43, tr.50]

Nhóm các nhân tố về kinh tế - xã hội - chính trị

Nhóm các nhân tố về kinh tế - xã hội - chính trị có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế du lịch bao gồm: dân cư và lao động, sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế, nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, điều kiện sống, thời gian rỗi và các yếu tố chính trị

Thứ nhất, dân cư và lao động

Là yếu tố quan trọng có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của du lịch Dân cư là nguồn gốc tạo ra nguồn nhân lực lao động cho xã hội, vừa là lực lượng trực tiếp tham gia ngành dịch vụ du lịch, đồng thời là lực lượng trực tiếp tiêu thụ sản phẩm du lịch

Thứ hai, sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế

Có tầm quan trọng hàng đầu đối với việc phát triển du lịch, nó làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu đó thành hiện thực Sự phát triển của nền sản xuất xã hội trước hết là làm ra đời hoạt động du lịch, rồi sau đó thúc đẩy

nó phát triển với tốc độ nhanh hơn Sự phát triển của du lịch cũng bị chi phối bởi các ngành kinh tế khác, đặc biệt là một số ngành như nông nghiệp, công nghiệp và giao thông vận tải…

Thứ ba, nhu cầu nghỉ ngơi du lịch

Nhu cầu nghỉ ngơi là nhu cầu con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất và tinh thần trong quá trình sinh hoạt và lao động của con người Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch cùng với sự thay đổi của nó theo thời

Trang 32

gian và không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển kinh tế du lịch

Thứ tư, điều kiện sống

Là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống (vật chất, tinh thần) của con người đạt tới trình độ nhất định Khi thu nhập của người dân tăng lên thì ngoài việc chi tiêu cho cơm ăn, áo mặc thì

họ sẵn sàng chi tiêu cho các dịch vụ trong đó có cả việc đi du lịch

Thứ năm, thời gian rỗi

Là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhằm khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ và tinh thần của con người Thời gian rỗi của con người tăng lên là yếu tố thuận lợi đối với du lịch

Thứ sáu, các yếu tố chính trị

Là điều kiện quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển du lịch của các quốc gia trên thế giới Hòa bình và sự ổn định về chính trị là đòn bẩy cho hoạt động du lịch Chiến tranh và sự bất ổn về chính trị gây cản trở hoạt động

du lịch, phá hủy công trình du lịch và đe dọa tính mạng du khách…

Nhóm nhân tố về kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Thứ nhất, về kết cấu hạ tầng

Giao thông được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu vì nó có vai trò đẩy mạnh hoạt động du lịch Du lịch luôn gắn với sự di chuyển của con người, vì vậy

nó phụ thuộc vào mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông

Thông tin liên lạc là phần quan trọng trong kết cấu hạ tầng của hoạt động du lịch Sự thuận tiện của nó còn giúp cho việc giao dịch kinh doanh du lịch được thông suốt, nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu

Hệ thống các công trình cấp điện và cấp thoát nước đóng vai trò quan trọng, các sản phẩm của chúng phục vụ nhu cầu trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của du khách như: điện cần thiết kể cả đối với những

Trang 33

loại hình du lịch ít đòi hỏi tiện nghi nhất như du lịch sinh thái; nước sạch cung cấp cho khách du lịch trong các chuyến đi và một hệ thống cấp thoát nước hợp lý là giải pháp khắc phục lượng nước thải với những hóa chất có hại cho môi trường

Như vậy, có thể nói kết cấu hạ tầng hoàn hảo chính là đòn bẩy cho các hoạt động kinh tế trong đó có hoạt động du lịch và đây là điều kiện quan trọng cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng

Thứ hai, về cơ sở vật chất kỹ thuật

Du lịch là một ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật

du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm: cơ sở lưu trú, cơ sở phục vụ

ăn uống, mạng lưới các cửa hàng thương nghiệp, cơ sở thể thao, y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và cơ sở phục vụ các dịch vụ

bổ sung khác, trong đó khâu trung tâm của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là các phương tiện phục vụ cho việc ăn nghỉ của khách Vì vậy, quy mô và chất lượng của các cơ sở lưu trú phục vụ cho khách du lịch chính là cơ sở để đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật của điểm du lịch [32, tr.47]

1.2.4.2 Tiêu chí đánh giá kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững dựa vào bộ chỉ tiêu môi trường của tổ chức du lịch thế giới UNWTO

Để đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại một điểm, một khu

du lịch cần phải có những phương pháp đo khách quan, giá trị đo đều như nhau, xu thế nhanh, rẻ tiền và tốn ít thời gian Chỉ tiêu môi trường là phép đo

độ nhạy của môi trường và phát triển, là những thông tin tổng hợp giúp đánh giá các hoạt động bền vững của du lịch Chính vì vậy, Tổ chức du lịch thế giới UNWTO đã xây dựng hai bộ chỉ tiêu đơn là:

Trang 34

Thứ nhất, chỉ tiêu chung cho ngành du lịch bền vững (Bảng 1.2)

Bảng 1.2: Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững

1 Bảo vệ điểm du lịch Loại bảo vệ điểm du lịch theo tiêu chuẩn IUCN

2 Áp lực Số du khách viếng thăm điểm du lịch (tính theo năm,

tháng cao điểm)

3 Cường độ sử dụng Cường độ sử dụng - thời kỳ cao điểm (người/ha)

4 Tác động xã hội Tỷ số Du khách/Dân địa phương (thời kỳ cao điểm)

5 Mức độ kiểm soát Các thủ tục đánh giá môi trường hoặc sự kiểm soát

hiện có đối với sự phát triển của điểm du lịch và mật

độ sử dụng

6 Quản lý chất thải Phần trăm đường cống thoát tại điểm du lịch có xử lý

(chỉ số phụ có thể là giới hạn kết cấu của năng lực cơ sở

hạ tầng của điểm du lịch, ví dụ như cấp nước, bãi rác)

7 Quá trình lập quy hoạch Có các kế hoạch nhằm phục vụ cho điểm du lịch (kể

cả các yếu tố du lịch)

8 Các hệ sinh thái tới hạn Số lượng các loài hiếm đang bị đe dọa

9 Sự thỏa mãn của du khách Mức độ thỏa mãn của khách du lịch (dựa trên các

phiếu thăm dò ý kiến)

10 Sự thỏa mãn của địa phương Mức độ thỏa mãn của điạ phương (dựa trên các phiếu

thăm dò ý kiến)

Nguồn: Tổng Cục Du lịch Việt Nam (VNAT) và Tổ chức Phát triển bền vững Tây Ban Nha

(FUNDESO) (2003), Dự án “Xây dựng năng lực cho phát triển Du lịch ở Việt Nam”, Hà Nội

Trang 35

Thứ hai, chỉ tiêu đặc thù cho điểm du lịch (Bảng 1.3)

Bảng 1.3: Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch

1 Các vùng bờ biển - Độ suy thoái (% bãi biển suy thoái, bị xói mòn)

- Cường độ sử dụng (số người/1m bãi biển)

- Hệ động vật bờ biển/động vật dưới biển (số loài chủ yếu nhìn thấy)

- Chất lượng nước (rác, phân và lượng kim loại nặng)

2 Các vùng núi - Độ xói mòn (% diện tích bề mặt bị xói mòn)

- Đa dang sinh học (số lượng các loài chủ yếu)

- Lối vào các điểm chủ yếu (số giờ chờ đợi)

3 Các điểm văn hóa

(các cộng đồng

truyền thống)

- Áp lực xã hội tiềm tàng (tỷ số thu nhập bình quân

từ du lịch/số dân địa phương)

- Tính mùa vụ (% số cửa hàng mở cửa quanh năm trên tổng số cửa hàng

- Xung đột (số vụ việc có báo cáo giữa dân địa phương và du khách)

4 Đảo nhỏ - Lượng tiền tệ rò rỉ (% thu lỗ từ thu nhập trong ngành du lịch)

- Quyền sở hữu (% quyền sở hữu nước ngoài hoặc không thuộc địa phương đối với các cơ sở du lịch)

- Khả năng cấp nước (chi phí, khả năng cung ứng)

- Các thước đo cường độ sử dụng (ở quy mô toàn đảo cũng như đối với các điểm chịu tác động)

Nguồn: Tổng Cục Du lịch Việt Nam (VNAT) và Tổ chức Phát triển bền vững Tây Ban Nha

(FUNDESO) (2003), Dự án “Xây dựng năng lực cho phát triển Du lịch ở Việt Nam”, Hà Nội

Mặc dù, hai bộ chỉ tiêu trên đã được sử dụng ở nhiều nơi để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch và hoạt động du lịch Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chưa thực sự chính xác, khó đánh giá về: mức độ thỏa mãn của du khách

Trang 36

dựa trên phiếu thăm dò, loại bảo vệ điểm du lịch, lượng tiền rò rỉ Vì vậy, việc áp dụng hai bộ chỉ tiêu do UNWTO đưa ra chưa thật rộng rãi và thường

sử dụng thêm hệ thống chỉ tiêu về môi trường

Như chúng ta đã biết, hệ thống môi trường tổng hợp tại điểm du lịch ngoài 3 phân hệ: phân hệ sinh thái tự nhiên, phân hệ xã hội - nhân văn, phân

hệ kinh tế còn xuất hiện thêm phân hệ đáp ứng nhu cầu của du khách Sự xuất hiện của phân hệ mới này đã tạo ra những biến động mạnh mẽ về cấu trúc, mối quan hệ trong hệ thống Tính bền vững của hệ thống mới chỉ đạt được khi tạo lập được mối cân bằng mới mà không biến đổi thành một hệ thống suy thoái Trên thực tế, mối quan hệ mới - du lịch bền vững sẽ được thiết lập khi thỏa mãn yêu cầu sau:

Nhu cầu của du khách: được đáp ứng cao

Phân hệ sinh thái tự nhiên: không bị suy thoái

Phân hệ kinh tế: tăng trưởng cho cả các doanh nghiệp và cộng đồng địa phương

Phân hệ xã hội - nhân văn: giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương trên cơ sở tăng cường văn minh do mở rộng giao lưu với các du khách, các nền văn hóa khác nhau

Do vậy, các chỉ tiêu của phát triển du lịch bền vững theo phương pháp PRA (Participatory Rapid Appraisal - đánh giá nhanh có sự tham gia

của cộng đồng; Bảng 1.4) được sử dụng khá rộng rãi trong những đánh

giá nhanh về tác động bởi những ưu điểm như: thông tin định tính kết hợp

số liệu sẵn có mang tính đa dạng; lôi cuốn được sự tham gia của người dân; thuận lợi trong việc tìm hiểu các thông tin nhạy cảm về quan niệm, cách nhìn nhận của nhiều nhóm đối tượng về các hiện tượng, vấn đề của cộng đồng

Trang 37

Bảng 1.4: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh tính

bền vững của hoạt động du lịch tại một địa điểm

- Số ngày lưu trú bình quân/đầu du khách

- Tỷ lệ % các rủi ro về sức khỏe (bệnh tật, tại nạn) do

- % chất thải chưa được thu gom và xử lý

- Lượng điện tiêu thụ/du khách/ngày (tính theo mùa)

- Lượng nước tiêu thụ/du khách/ngày (tính theo mùa)

- % diện tích cảnh quan xuống cấp do xây dựng/tổng diện tích sử dụng do du lịch

- % số công trình kiến trúc không phù hợp với kiến trúc bản địa (hoặc cảnh quan)/tổng số công trình

- Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm (phổ biến-hiếm hoi-không có)

- % khả năng vận tải sạch/khả năng vận tải cơ giới (tính theo trọng tải)

3 Bộ chỉ tiêu đánh giá tác

động lên phân hệ kinh tế

- % vốn đầu tư từ du lịch cho các phúc lợi xã hội của địa phương so với tổng giá trị đầu tư từ các nguồn khác

- % số chỗ làm việc trong ngành du lịch dành cho người địa phương so với tổng số lao động địa phương

- % GDP của kinh tế địa phương bị thiệt hại do du lịch gây ra hoặc có lợi do du lịch mang lại

- % giá trị chi phí vật liệu xây dựng địa phương/tổng chỉ phí vật liệu xây dựng

- % giá trị hàng hóa địa phương/tổng giá trị hàng hóa tiêu dùng cho du lịch

- Sự xuất hiện các bệnh/dịch liên quan tới du lịch

- Tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch

- Hiện trang các di tích lịch sử văn hóa của địa phương (so với dạng nguyên thủy)

- Số người ăn xin/tổng số dân địa phương

- Tỷ lệ % mất giá đồng tiền vào mùa cao điểm du lịch

- Độ thương mại hóa của các sinh hoạt văn hóa truyền thống (lễ hội, ma chay, cưới xin, phong tục, tập quán…) xác định thông qua trao đổi với các chuyên gia

Nguồn: Tổng Cục Du lịch Việt Nam (VNAT) và Tổ chức Phát triển bền vững Tây Ban Nha

(FUNDESO) (2003), Dự án “Xây dựng năng lực cho phát triển Du lịch ở Việt Nam”, Hà Nội

Trang 38

1.3 Kinh nghiệm về kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững

ở một số địa phương trong nước và bài học rút ra cho tỉnh Lào Cai

1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Phú Thọ

Phú Thọ là tỉnh có địa hình bán sơn địa, nhịp cầu nối liền giữa thủ đô

Hà Nội với các tỉnh biên giới phía Bắc Phú Thọ là vùng đất cổ với nhiều di sản văn hóa Trong đó, Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng là một không gian văn hóa có một không hai vô cùng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam Hát Xoan Phú Thọ được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại; Vườn quốc gia Xuân Sơn là một trong 13 VQG của Việt Nam có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao; mỏ nước khoáng nóng Thanh Thủy có trữ lượng lớn hàm lượng nguyên tố vi lượng hữu ích…Tất cả đã tạo cho tỉnh Phú Thọ một tiềm năng vô cùng to lớn về

du lịch, có thể phát triển khá đa dạng các loại hình du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử, tham quan, nghỉ dưỡng

Cùng với trào lưu chung phát triển du lịch, kinh doanh du lịch trong

cả nước, du lịch tỉnh Phú Thọ đã dần tiếp cận và chuyển mình theo hướng phát triển bền vững Bước đi đầu tiên đó là ngành Thương mại du lịch đã xây dựng đề án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm

2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, được Tỉnh ủy - UBND tỉnh phê duyệt trở thành một trong những chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Trong đó đầu tư xây dựng các dự án phát triển các điểm du lịch, khu du lịch, khai thác các giá trị nhân văn và tài nguyên tự nhiên, tạo nên sự đa dạng về các sản phẩm du lịch mà

du lịch văn hóa được coi là xương sống, là điểm nhấn của tour du lịch về Phú Thọ đã được đặc biệt quan tâm

Với quan điểm đúng đắn lấy Việt Trì làm xuất phát điểm đến với các danh thắng, lễ hội trong tỉnh, quy hoạch khu du lịch Văn Lang đã được xây dựng đồng

Trang 39

thời với quy hoạch khu công viên Văn Lang - Thành phố Việt Trì Bên cạnh đó, còn triển khai lập quy hoạch chi tiết khu du lịch Bến Gót - Việt Trì; khu vui chơi giải trí tổng hợp Núi Trang - Phù Ninh; khu du lịch VQG thiên nhiên Xuân Sơn Phối hợp với các đơn vị tư vấn, các ngành có liên quan lập dự án khả thi, thiết kế

kỹ thuật thi công, tổng dự toán công trình đầu tư xây dựng các khu du lịch đã được quy hoạch trình UBND tỉnh phê duyệt để làm cơ sở gọi vốn đầu tư của các thành phần kinh doanh trong và ngoài nước Nhiều tour, tuyến du lịch, chương trình hợp tác du lịch về cội nguồn với các tỉnh lân cận như Lào Cai, Yên Bái có nét văn hóa, tự nhiên vừa tương đồng vừa độc đáo được xây dựng nối tour với tuyến điểm du lịch cả nước đã huy động được nguồn hỗ trợ của dự án chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội do Liên minh châu Âu tài trợ (EU) bắt đầu từ năm 2010

Song trùng với các hoạt động đó, ngành đã triển khai xây dựng các dự

án đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ và các dự

án đã được UBND tỉnh phê duyệt; lồng ghép việc xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch với các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; tăng cường xúc tiến đầu tư giới thiệu nguồn tiềm năng và các dự án đầu tư phát triển du lịch với các doanh nghiệp, các tập đoàn đầu tư trong và ngoài nước; thực hiện

ký kết hợp đồng, các văn bản với đối tác Nhờ những nỗ lực đó đến nay đã có hàng chục dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn gần 4 ngàn tỷ đồng, trong đó 4 dự án đã được cấp phép với số vốn đầu tư khoảng 470 tỷ đồng Tại Việt Trì đã có 5 dự án đầu tư vào khu du lịch Văn Lang với tổng số vốn trên 300 tỷ đồng Tại khu du lịch Bạch Hạc - Bến Gót có 1 dự án cấp phép đầu tư, với số vốn trên 100 tỷ đồng Tại Khu du lịch Núi Trang - Bãi Bằng đã cấp phép đầu tư cho Công ty liên doanh Phú Minh, với số vốn đầu tư

4 triệu USD Tại Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy: Có 2 dự án trình UBND tỉnh cấp phép đầu tư, với số vốn 250 tỷ đồng…

Trang 40

Để sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2020, tỉnh Phú Thọ đã đưa ra nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư như: hỗ trợ về đất, hỗ trợ đầu tư hạ tầng, phí hạ tầng, chi phí san lấp mặt bằng, các dịch vụ

và xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại; tăng cường xúc tiến quảng bá, xã hội hóa ngành du lịch Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu đáp ứng cho nhu cầu phát triển của ngành; đổi mới phương thức, nội dung hoạt động xúc tiến đầu tư; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền; tổ chức các chương trình xúc tiến đầu tư tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với các thông tin về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính

Nhờ thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, từng bước tạo được những sản phẩm du lịch đa dạng, tạo ra sự hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch, tăng nguồn thu cho ngân sách, giải quyết một phần việc làm và nâng cao đời sống cho nhân dân Trong những năm gần đây số lượng khách du lịch lưu trú trên địa bàn tỉnh có mức tăng trưởng hàng năm đạt từ 15-20%, năm sau luôn cao hơn năm trước Tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ đang được thức dậy, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị,

an ninh trật tự và an toàn xã hội, giữ gìn, phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa trên quê hương đất Tổ

1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Sơn La

Nằm ở trung tâm các tỉnh miền núi phía Tây Bắc, Sơn La có 250 km² đường biên giới với nước bạn Lào, có đường giao thông đường bộ, đường thủy thuận lợi; là vùng đất sinh sống lâu đời của 12 dân tộc anh em với các giá trị văn hóa dân tộc; có hệ thống hang động kỳ thú, thác nước hùng vĩ, các

hồ thủy điện, các mỏ nước khoáng nóng, khí hậu mát mẻ

Trong những năm qua, khi du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, thì ngành du lịch Sơn La cũng đã có những khởi sắc Nhận thức

Ngày đăng: 11/11/2021, 17:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mối quan hệ trong phát triển bền vững   Bền vững về mặt kinh tế: Là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Hình 1.1 Mối quan hệ trong phát triển bền vững Bền vững về mặt kinh tế: Là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong (Trang 22)
Bảng 1.1: So sánh phát triển du lịch bền vững - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 1.1 So sánh phát triển du lịch bền vững (Trang 28)
Bảng 1.3: Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 1.3 Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch (Trang 35)
Bảng 1.4: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh tính - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 1.4 Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh tính (Trang 37)
Bảng 2.1: Kết quả ban hành cơ chế, chính sách liên quan đến - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.1 Kết quả ban hành cơ chế, chính sách liên quan đến (Trang 56)
Bảng 2.2. Khách du lịch quốc tế đến tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.2. Khách du lịch quốc tế đến tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 57)
Bảng 2.3: Khách du lịch nội địa đến tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.3 Khách du lịch nội địa đến tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 58)
Bảng 2.4: Khách du lịch đến tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.4 Khách du lịch đến tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 59)
Bảng 2.5: Tổng hợp doanh thu từ du lịch của tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.5 Tổng hợp doanh thu từ du lịch của tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 60)
Bảng 2.7: Hiện trạng cơ sở lưu trú của tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.7 Hiện trạng cơ sở lưu trú của tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 63)
Bảng 2.8: Kết quả kinh doanh cơ sở lưu trú của tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.8 Kết quả kinh doanh cơ sở lưu trú của tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 63)
Bảng 2.10: Kinh doanh vận chuyển khách du lịch của tỉnh Lào Cai - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.10 Kinh doanh vận chuyển khách du lịch của tỉnh Lào Cai (Trang 65)
Bảng 2.11: Doanh thu ăn uống của tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.11 Doanh thu ăn uống của tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 66)
Bảng 2.12: Doanh thu bán hàng của tỉnh Lào Cai qua các năm - Kinh tế du lịch phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh lào cai hiện nay
Bảng 2.12 Doanh thu bán hàng của tỉnh Lào Cai qua các năm (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w