1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền

117 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Tiếp Nhận Sản Phẩm Báo Chí Của Sinh Viên Ngành Báo Chí - Truyền Thông Ở Học Viện Báo Chí Và Tuyên Truyền
Tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang
Người hướng dẫn TS. Lý Thị Minh Hằng
Trường học Học viện báo chí và tuyên truyền
Chuyên ngành Báo chí - Truyền thông
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực trạng hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông, trong đó tập trung khảo sát các biểu hiện của hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí; mức

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

HÀNH VI TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ

CỦA SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG

Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

(Khảo sát năm 2019)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

HÀNH VI TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ

CỦA SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG

Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

(Khảo sát năm 2019)

Chuyên ngành : Báo chí

Mã số : 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lý Thị Minh Hằng

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Luận văn đã được hiệu chỉnh theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ

N n t n n m

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn đều được trích dẫn trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

Trang 5

Với sự kính trọng và lòng biết ơn, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất

đến TS Lý Thị Minh Hằng, Cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ em

trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Phòng Đào tạo; Lãnh đạo Viện Báo chí và Quý Thầy/Cô trong Viện Báo chí cũng như các nhà khoa học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập và tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Lãnh đạo, cán bộ, anh chị em đồng nghiệp qua các thời kỳ tại Viện Tâm lý học - nơi tôi công tác

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Quý Thầy/Cô và các bạn sinh viên tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo điều kiện giúp tôi tiến hành nghiên cứu, chia sẻ thông tin và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Lời cảm ơn cuối cùng, tôi xin được dành cho gia đình của tôi đó là Cha, Mẹ, anh chị em, những người thương yêu của tôi đã luôn ủng hộ, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn, những khó khăn trong quá trình học tập Gia đình đã luôn sát cánh cùng tôi, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt những năm học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cám ơn!

N t n 1 n m

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG 12

1.1.Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.Biểu hiện về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông 17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông 24

1.4 Các lý thuyết tiếp cận vấn đề nghiên cứu 34

Tiểu kết c ươn 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÀNH VI TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN 38

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 38

2.2 Tổ chức nghiên cứu 39

2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông 43

Tiểu kết c ươn 2 71

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HÀNH VI TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN 73

3.1 Đối với các cơ quan báo chí 73

3.2 Đối với cơ sở đào tạo 79

3.3 Đối với sinh viên 85

Tiểu kết c ươn 3 88

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

TÓM TẮT LUẬN VĂN 96

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG BỐ 97

PHỤ LỤC - 1

Trang 7

-DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

1 Danh mục sơ đồ

Sơ đồ 1: Khung lý thuyết của đề tài 10

2 Danh mục bảng Bảng 2.1: Khách thể nghiên cứu xét theo biến số 40

Bảng 2.2: Sự khác biệt trong tiếp nhận loại hình báo chí theo m t số tiêu chí 44

Bảng 2.3: Mức đ đọc báo của sinh viên so sánh theo m t số biến số 47

Bảng 2.4: Thờ đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên 51

Bảng 2.5: Địa đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên 53

Bảng 2.6: Cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên 56

Bảng 2.7: Tên tờ b o côn c ún t ườn xu ên đọc nhất theo Nghiên cứu thị trường Việt Nam khảo s t n m 15 59

Bảng 2.8: Loại thông tin mà sinh viên đọc 62

Bảng 2.9: Tần suất các yếu tố ản ưởn đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông 64

Bảng 2.10: So sánh sự khác biệt giữa giới tính và các yếu tố ản ưởn đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí 65

Bảng 2.11: Sự khác biệt giữa các yếu tố ản ưởn đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên (theo ngành học) 67

Bảng 2.12: Sự khác biệt giữa yếu tố n m ọc đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên 68

Bảng 3.1: Kiến nghị của s n v ên đối vớ cơ quan b o chí 73

Bảng 3.2: Kiến nghị đối vớ cơ sở đ o tạo 79

3 Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: Loại hình tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên 43

Biểu đồ 2.2: Mức đ đọc báo của sinh viên 46

Biểu đồ 2.3: Thờ lượng tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên mỗi ngày 49

Biểu đồ 2.4: Thờ đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí cúa sinh viên 50

Biểu đồ 2.5: Mục đíc t ếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên 53

Biểu đồ 2.6: Địa đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên (%) 55

Biểu đồ 2.7: Cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên 56

Biểu đồ 2.8: Những tờ b o m s n v ên t ườn xu ên đọc nhất 58

Biểu đồ 2.9: Nhữn tran b o đ ện tử mà sin v ên t ườn xu ên đọc nhất 60

Biểu đồ 2.10: Mức đ quan tâm của s n v ên đến các loại thông tin báo chí 63

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại hiện nay, báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng có vai trò to lớn trong đời sống xã hội Đó là phương tiện quan trọng giúp con người nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là phát triển giáo dục, hình thành nhân cách sống của mỗi người

Một trong những nhóm công chúng có nhu cầu cao, đồng thời tiếp nhận một cách nhanh nhạy nhất các thông tin báo chí là nhóm sinh viên [7] Nhóm này là những người trẻ tuổi, nhiệt huyết, là lớp người có vai trò quyết định sự thành công của quá trình hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam Trong thời đại bùng nổ thông tin, kỷ nguyên khoa học công nghệ, sinh viên có nhận thức nhạy cảm, có nhu cầu cao tiếp nhận các thông tin, thông điệp từ các sản phẩm báo chí Chính vì vậy, sinh viên phải là nhóm mà các phương tiện truyền thông đại chúng cần quan tâm

Tuy nhiên, hiện tượng một số lượng đáng kể sinh viên “lười” đọc báo đang

là một thực tế phổ biến trong đời sống tinh thần của sinh viên Theo số liệu báo cáo của Vụ Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2017, trung bình, người Việt Nam chỉ đọc 7,07 tờ báo/năm, có 26% người Việt không đọc [38] Kết quả này cho thấy, văn hóa đọc của người Việt Nam nói chung, của sinh viên nói riêng đang là vấn đề đáng báo động và là vấn đề cần được quan tâm

Sinh viên ngành báo chí - truyền thông là đối tượng cần tiếp nhận các sản phẩm báo chí thường xuyên nhất, nhiều nhất so với công chúng là sinh viên nói chung trong xã hội Việc tiếp nhận các sản phẩm báo chí đối với sinh viên ngành báo chí - truyền thông không chỉ mang nghĩa “mình trong nghề nên phải đọc” mà

nó còn là cách để bổ trợ tìm kiếm, phát hiện đề tài, sự kiện, cũng như trang bị kiến thức, kỹ năng làm báo Đối với sinh viên ngành báo chí - truyền thông, việc đọc báo giúp sinh viên học nghề, làm nghề và rèn nghề Tuy nhiên, hiện nay, do sự tác động của mạng xã hội, sinh viên ngành báo chí - truyền thông dường như không còn

Trang 9

hứng thú với việc tiếp nhận các sản phẩm báo chí truyền thống mà thay vào đó là sử dụng mạng xã hội trong khi các thông tin trên mạng xã hội không đảm bảo được tính chính xác cao

Nghiên cứu thực trạng hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông, trong đó tập trung khảo sát các biểu hiện của hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí; mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên cho chúng ta một bức tranh chung về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên hiện nay Mặt khác giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về văn hóa đọc sinh viên, trong đó có một số lượng sinh viên sau này là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm báo chí Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đối với các cơ quan quản lý báo chí trong việc cung cấp, đăng tải thông tin đáp ứng được nhu cầu và khuyến khích hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên Đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn có ý nghĩa đối với cơ sở đào tạo trong việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên - những người trực tiếp tạo ra

các tác phẩm báo chí sau này

Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền” làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu về hành vi đọc báo của 179 công chúng Bangladesh, Muhammad Ziaulhaq Mamun và Rezwanul Huque Khan (2011) chỉ ra rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đọc báo của công chúng Bangladesh là chất lượng thông tin của

tờ báo, tiếp theo là chất lượng văn bản, tiêu chuẩn đạo đức của nhà báo và giá trị thương hiệu của tờ báo [49] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, độ tuổi tỷ lệ thuận với mức độ đọc báo của công chúng, tức là công chúng càng nhiều tuổi thì càng đọc báo thường xuyên hơn Xét về giới tính, nam giới đọc báo nhiều hơn nữ giới (64,3% ở nam so với 35,6% ở nữ) Xét về kênh phân phối, giao hành tận nơi là phương thức được sử dụng thường xuyên nhất khi độc giả muốn mua tờ báo để đọc [49] Nghiên

Trang 10

cứu không tìm thấy bất cứ mối liên hệ nào giữa thu nhập và hành vi đọc báo của công chúng Thông tin mà độc giả quan tâm nhất là thông tin về thời sự (chiếm 48%), tiếp theo là thông tin về thể thao (chiếm 20,1%), theo sau là tin về kinh doanh (12,8%), thời sự quốc tế (9,5%) văn hóa và cuộc sống (chiếm 6,1%) Xét theo nghề nghiệp, nhân viên nhà nước thường xuyên đọc báo nhất (chiếm 21,8%), tiếp đến là doanh nhân (chiếm 2,2%), người quản lý cấp trung (chiếm 13,4%), sinh viên (chiếm 12,8%) [49]

Cuộc khảo sát về thực trạng đọc báo in của công chúng trên thế giới được thực hiện bởi Hiệp hội Truyền thông Tin tức Quốc tế (INMA) và Nghiên cứu và Phân tích Phương tiện (RAM) vào năm 2013 tại 14 quốc gia khác nhau ở châu Âu trong số gần 30.000 độc giả từ 80 tờ báo khác nhau Kết quả cuộc khảo sát cho thấy, 70% (trong tổng số 3.000 độc giả ở Anh được khảo sát) độc giả ở Anh dành hơn 21 phút cho tờ báo của họ và 30% trong số họ đọc báo hơn 41 phút/ngày Tiếp theo là

Na Uy chỉ có 56% [47] Tuy nhiên, con số này giảm dần vào năm 2017 Trong năm

2017, chỉ 28% người châu Âu cho biết đọc báo chí hàng ngày, giảm rất nhiều lần so với những năm trước đó, thấp hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Tờ El Páis của Tây Ban Nha, đã bán được 400.000 bản trong năm 2007, giảm xuống 267.000 bản trong tháng 4 năm 2014 Thu nhập quảng cáo giảm mạnh 60% khi cuộc khủng hoảng xảy ra và vẫn chưa hồi phục Kết quả nghiên cứu này cho thấy số lượng phát hành báo in bị giảm, tức là số người đọc báo cũng giảm, trong đó có đối tượng thanh niên Từ đó, hai nghiên cứu này cho thấy, công chúng báo chí châu Âu, trong đó có đối tượng thanh niên cũng đang bỏ dần thói quen đọc báo in [32]

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sản phẩm báo chí và công chúng, Tạ Ngọc Tấn (1998) đã chỉ ra những tác động của báo chí đến lối sống tích cực của thanh niên

Việt Nam Đề tài đã bước đầu nêu ra một số vấn đề lý thuyết, sử dụng các kết quả

điều tra xã hội học từ đối tượng sinh viên để đưa ra kết luận có tính khoa học về khả năng tác động của báo chí với vấn đề giáo dục lối sống cho sinh viên hiện nay [30]

Trang 11

Nghiên cứu về tâm lý khi tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng, Đỗ Thị Thu Hằng chỉ ra rằng, tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí bao hàm cả quá trình lĩnh hội, thái độ, tình cảm và ý chí; cả những hiện tượng thuộc tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội quy định hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng Theo tác giả, đặc thù tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng là chịu tác động bởi thị giác cảm tính và thị giác lý tính Theo trình tự của sự lĩnh hội, với báo in và báo điện tử, công chúng tiếp cận tác phẩm báo chí bằng thị giác cảm tính - bao gồm hình ảnh, chữ lớn, hấp dẫn - trước, sau đó mới quyết định có đọc tiếp hay không Ba mức độ đọc của công chúng bao gồm: đọc lướt, lựa chọn; đọc chi tiết; đọc sâu Công chúng tiếp cận bằng mắt rất nhanh, dừng điểm nhìn vào những khu vực có ấn tượng, có hình ảnh liên quan đến nhu cầu, thị hiếu của họ, hay đơn thuần chỉ là “lạ mắt”, sau đó quyết định có lựa chọn đọc tiếp hay không [13]

Trong nghiên cứu về công chúng Hà Nội với việc đọc báo in và báo điện tử của Nguyễn Thu Giang (2007) với mẫu khảo sát trên 450 khách thể là người dân Hà Nội từ 15 tuổi trở lên, kết quả cho thấy có 52% số người đọc báo in hàng ngày [11]

Nghiên cứu đề tài cấp cơ sở “Sự tiếp cận phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng Việt Nam” của Lưu Hồng Minh (2009) khảo sát trên bốn loại hình báo chí (báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo điện tử) của người dân tỉnh Đồng Tháp, Lào Cai và Yên Bái Kết quả nghiên cứu cho thấy, truyền hình là loại hình được người dân tiếp cận nhiều nhất (chiếm 70,8%), tiếp theo là phát thanh (chiếm 19,6%), cuối cùng là báo in và báo điện tử [21]

Nghiên cứu về điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của tác giả Nguyễn Văn Dững thực hiện năm 2003 đã chỉ ra rằng, nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của thanh niên sinh viên Hà Nội rất lớn mà các cơ quan báo chí chưa thể đáp ứng được

Từ mức độ và cách tiếp nhận mà cách ứng xử của thanh niên sinh viên trước các sản phẩm báo chí phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống và học tập/làm việc của họ [7] Hơn 10 năm sau, cũng nghiên cứu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận các sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân Tiền Giang, Nguyễn Thị Thanh Loan (2015) đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên

Trang 12

cứu các sản phẩm báo chí Tiền Giang và công chúng tại Tiền Giang; Mô tả, khảo sát và phân tích làm rõ được thực trạng tiếp nhận sản phẩm báo chí địa phương của công chúng công nhân ở Tiền Giang hiện nay Từ đó, tác giả đưa ra được giải pháp khả thi giúp các cơ quan báo chí Tiền Giang xây dựng được các sản phẩm báo chí dành cho đối tượng công chúng công nhân trên địa bàn Tiền Giang và các tỉnh lân cận [20]

Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Thu Hà (2015) về “Xu hướng tiếp cận sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam” chỉ ra rằng, công chúng báo in đang giảm dần và chững lại với lượng độc giả thấp Cụ thể, có 30,5% số người được hỏi khẳng định sử dụng báo in với mức độ “hàng ngày”, 21,5% trả lời thỉnh thoảng đọc

ở tần suất “vài lần/tuần”, 9,3% là “vài lần/tháng” và “vài lần/năm” là 3,3% [12]

Luận văn “Hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước hiện nay” của Hoàng Thị Thu Hằng (2013) cho thấy, nam giới tiếp cận báo điện tử cao hơn nữ giới (75% ở nam so với 25% ở nữ); công chúng từ 21 đến 25 tuổi đọc báo điện tử nhiều hơn các nhóm tuổi khác; sinh viên là nhóm có tần suất đọc báo điện tử lớn nhất, chiếm đến 75,9% [14]

Trong nghiên cứu của Phạm Hương Trà và Hoàng Thu Hằng về việc tiếp nhận thông tin báo chí bằng điện thoại di động trên 500 thanh niên tại hai tỉnh là thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước cho thấy, địa điểm đọc báo của thanh niên trên điện thoại di động chủ yếu là ở nhà, những lúc rảnh rỗi và đọc báo bất cứ thời điểm nào Tuy nhiên, đa phần, thanh niên chỉ đọc lướt và chỉ đọc những thông tin mà họ cảm thấy hay, hấp dẫn và cần thiết Cách đọc này không phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa bàn cư trú khác nhau Tức là các tiêu chí trên không ảnh hưởng tới cách thanh niên đọc báo Những loại tin tức

mà thanh niên trong nghiên cứu này hay đọc nhất là những tin tức về thời sự, xã hội

và đời sống Những thanh niên có giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa bàn cư trú khác nhau thì mức độ ưu tiên lựa chọn những thông tin về các lĩnh vực của đời sống khác nhau thì khác nhau [34] Theo một nghiên cứu khác của hai

Trang 13

tác giả này, các yếu tố tác động đến hành vi đọc báo của thanh niên bao gồm: công nghệ truyền thông số và mạng Internet di động ngày càng phát triển; nhu cầu được

sở hữu một không gian riêng, một thế giới ảo mang bản sắc của riêng mình ngày càng cao; truy cập mạng Internet là hình thức giao tiếp đại chúng lớn nhất Đồng thời các tác giả đưa ra một số khuyến nghị đối với cơ quan báo chí và công chúng nhằm nâng cao hiệu quả thông tin báo chí trên điện thoại di động [35]

Gần đây, kết quả nghiên cứu của Khoa Báo chí - Truyền thông (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) kết hợp với Công ty nghiên cứu thị trường GCOMM (2015) dựa trên việc phỏng vấn trực tiếp 1.052 sinh viên tại 22 trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, có 35% số sinh viên lựa chọn báo in để đọc tin tức Như vậy, còn một tỷ lệ lớn sinh viên không lựa chọn báo in là loại hình báo chí cung cấp thông tin cho mình Về lý do sinh viên không đọc báo in, có 52% số sinh viên cho biết mình không đọc vì không có thói quen đọc, 37% cho biết vì đã được cung cấp thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng khác [18]

Luận văn “Hành vi đọc báo mạng điện tử trên điện thoại di động của sinh viên trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay” của Nguyễn Thị Ngọc Huế (2017) đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về báo điện tử, tìm hiểu hành vi và các yếu tố tác động đến hành vi đọc báo mạng điện tử của sinh viên, đề xuất một số khuyến nghị nhằm đáp ứng hành vi đọc báo mạng điện tử trên điện thoại di động của sinh viên [17]

Bên cạnh đó, có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu sau: Nhu cầu đọc báo của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh (chỉ với báo in) của Bành Tưởng Chân (1999) [2]; Sinh viên Hà N i và truyền t ôn đại chúng của Lý Hoàng Ngân (2000) [24]

dựa trên số lượng điều tra của chương trình nghiên cứu “Sinh viên Hà Nội trong

giao tiếp đại chúng” của Viện Xã hội học [36]; Chân dung Công chúng truyền thông qua khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh của Trần Hữu Quang (2001) mô tả

mô thức tiếp nhận thông tin từ truyền thông đại chúng của công chúng thành phố

Hồ Chí Minh dựa trên trục nội dung tiếp nhận [27]; Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo

Trang 14

chí của công chúng Hà N i của Trần Bá Dung (2008) [4]; Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng hiện nay (Khảo sát công chúng tỉnh Nghệ An) của

Nguyễn Thị Hoàng Yến (2014) [41];…

Có thể thấy, ở Việt Nam và trên thế giới, những công trình nghiên cứu về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí trên nhóm công chúng là sinh viên còn hạn chế

và chưa có bất cứ nghiên cứu nào về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành được mục đích nghiên cứu, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: 1- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

2- Khảo sát và đánh giá thực trạng về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí, thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền

3- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí

của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trên nhóm khách thể là

sinh viên ngành báo chí - truyền thông ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 15

- Phạm vi về n i dung: Luận văn tập trung nghiên cứu biểu hiện của hành vi

tiếp nhận sản phẩm báo chí cụ thể là loại hình báo in (bản giấy, bản trực tuyến – e-

paper), báo điện tử (theo phương thức đọc)

- Phạm vi về khách thể: Luận văn tiến hành khảo sát trên 280 sinh viên ngành

báo chí - truyền thông Ngoài ra, luận văn thực hiện phỏng vấn sâu 15 sinh viên và

5 giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp chủ yếu sau:

- P ươn p p n ên cứu tài liệu: Tiếp cận các giáo trình, tài liệu để đúc

kết những vấn đề cơ bản về lý luận cũng như thực tiễn báo chí - truyền thông, cụ thể

là hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông Theo đó, các tài liệu được sử dụng trong luận văn là các cuốn sách đã xuất bản, các bài báo, bài tạp chí được lấy từ các nguồn đáng tin cậy về mặt khoa học như googleschoolar, researchgate,…

- P ươn pháp phỏng vấn anket: Khảo sát sinh viên ngành báo chí - truyền

thông ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền bằng hình thức phát phiếu hỏi với số lượng 280 phiếu Luận văn tiến hành thiết kế bảng hỏi dựa trên khung lý thuyết đã được xây dựng Bảng hỏi gồm hai phần: Phần 1 là các câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu học (như: giới tính, tuổi, năm học…); Phần hai là các câu hỏi về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên (như: mục đích, mức độ, cách thức,…) Mục đích của việc thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập số liệu về thực trạng hành vi tiếp nhận

Trang 16

sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông tại Học viện Báo chí

và Tuyên truyền

- P ươn p p p ỏng vấn sâu: Phỏng vấn giảng viên và sinh viên ngành báo

chí - truyền thông với số lượng là 20 người (gồm 05 giảng viên và 15 sinh viên) Phương pháp này được sử dụng để bổ sung thông tin và minh chứng cho kết quả nghiên cứu từ bảng hỏi

- P ươn p p t u t ập và xử lý số liệu: Phiếu hỏi được thiết kế và phát

phiếu trực tiếp tới sinh viên tại lớp học Sinh viên nhận phiếu và tự điền vào phiếu hỏi theo hướng dẫn của điều tra viên Mẫu nghiên cứu của luận văn được chọn theo cách chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện Số liệu sau khi thu về được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 dành cho nghiên cứu khoa học xã hội

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết của đề tài

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên các công trình nghiên cứu có liên quan mà tác giả tiếp cận được và thực tế hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên, Luận văn đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết 1: Đa số sinh viên đọc báo điện tử thường xuyên hơn là báo in và báo in bản trực tuyến

Giả thuyết 2: Loại thông tin mà sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông hay đọc nhất là thông tin giải trí

Giả thuyết 3: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên, trong đó thời gian, sở thích, nhu cầu là ba yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất Đồng thời có sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng ở một số yếu tố giữa các ngành học và năm học

Trang 17

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

và là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các đề tài về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của con người nói chung

Sơ đồ 1: Khung lý thuyết của đề tài

Trang 18

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông Bên cạnh đó, góp phần nâng cao văn hóa đọc, cách lựa chọn, tìm kiếm thông tin trên báo chí cũng như cũng như trang bị kiến thức, kỹ năng làm báo, giúp sinh viên học nghề, làm nghề và rèn nghề

Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng

8 Kết cấu của luận văn

Trong luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

Chương 2 Thực trạng hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chương 3 Giải pháp tăng cường hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

Trang 19

Thuyết Hành vi của Watson bàn về hành vi con người là những tổ hợp phản ứng của cơ thể để trả lời các kích thích tác động vào cơ thể Theo ông, để nghiên cứu hay điều khiển hành vi nói chung và hành vi con người nói riêng cần dựa vào

yếu tố đầu trong công thức S (stimulation: kích thích) → R (react: phản ứng) [57]

Trong Từ điển Tâm lý học do Corsini chủ biên, khái niệm hành vi được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Hành vi là những hành động, phản ứng, những tương tác đáp lại kích thích bên trong và bên ngoài, bao gồm những cử chỉ quan sát được một cách khách quan, những cử chỉ thuộc về nội tâm và quá trình vô thức” [43]

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì hành vi được hiểu là “Cách ứng xử trong một hoàn cảnh nhất định, được biểu hiện bằng lời nói,

cử chỉ, hành động nhất định” [39, tr 781]

Trong luận văn của Nguyễn Thị Ngọc Huế, tác giả cho rằng “Hành vi là những cảm xúc, suy nghĩ của con người có những tính chất tương đối nhất thời, những cách ứng xử ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể, nhất định mà ta có thể quan sát được” [17]

Theo Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng lại cho rằng “Hành vi

là sự tương tác với môi trường có ở động vật trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) của chúng Tính tích cực có định hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài” [6, tr 168]

Trang 20

Qua tổng hợp các khái niệm của các tác giả trên, chúng tôi định nghĩa “Hành

vi là những hoạt đ ng có mục đíc được biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể đối với thế giới xung quanh nhằm đ p lại các kích thích bên trong của cơ t ể”

Hành vi tiếp nhận

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì tiếp nhận là đón nhận cái gì đó từ người khác hoặc từ nơi khác chuyển đến [39, tr 1.638] Tiếp nhận thông tin là một quá trình quan trọng trong quá trình hoạt động của truyền thông đại chúng Có thể nói, hành vi tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng là yếu tố đầu tiên trong cả quá trình kể từ khi thông điệp được truyền đi cũng như quá trình công chúng tiếp nhận, xử lý để định hướng cho hành vi của mình Nói cách khác, đây là quá trình quan trọng đầu tiên diễn ra trong quá trình giao tiếp đại chúng

Trong báo chí, muốn tiếp nhận được thông tin thì tất yếu phải lựa chọn thông tin Quy luật này diễn ra đối với cả hai loại hình truyền tải thông tin và tiếp nhận thông tin Hành vi lựa chọn thông tin như thế nào sẽ quyết định đến hiệu quả tiếp nhận thông tin của công chúng hay hiệu quả thông điệp mà nhà truyền thông phát đi [13]

Từ phân tích trên, khái niệm hành vi tiếp nhận được hiểu là những hoạt đ ng

có mục đíc được biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể k đón n ận c ì đó từ n ười khác hoặc từ nơ k c c u ển đến nhằm đ p lại các kích thích bên trong cơ t ể

1.1.2 Sản phẩm báo chí

Theo điều 3 của Luật Báo chí năm 2016 thì báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo xuất bản định kỳ và phát hành truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình Báo in, Báo nói, Báo hình, Báo điện tử [28]

Trong nghiên cứu này, báo chí được hiểu theo điều 3 của Luật Báo chí năm

2016 Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ thực hiện trên loại hình báo in (bản giấy, bản trực tuyến) và báo điện tử

Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in Đây là khái niệm đối với báo in bản giấy Tuy nhiên, dưới sự phát triển của khoa học công nghệ, để

Trang 21

thu hút sự quan tâm của công chúng, các cơ quan báo chí đã đưa những trang báo in dưới dạng hình ảnh lên trên không gian mạng Do vậy, trong luận văn này, nghiên cứu khảo sát cả hai phương thức chuyển tải của loại hình báo in là bản giấy và bản trực tuyến (xin xem phụ lục 1)

Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử

Theo Đại Từ điển tiếng Việt, sản phẩm có nghĩa là “cái do con người lao động tạo ra” [39, tr 1.427] Như vậy, nói đến sản phẩm tức là đề cập đến một vật, một việc đã trải qua một quá trình biến đổi, vận động hoặc lao động nhất định để trở thành một thứ hoàn chỉnh Trong lĩnh vực báo chí, người ta thường dùng khái niệm sản phẩm báo chí để chỉ những tác phẩm báo chí đã được hoàn thiện của các kênh truyền thông đại chúng, sau đó đưa đi in (đối với báo in), phát sóng (đối với truyền hình và phát thanh) hoặc đưa lên mạng internet (đối với báo điện tử) Điều đó có nghĩa sản phẩm báo chí đã được xã hội hóa thông tin, chỉ tồn tại có ý nghĩa trong mối quan hệ nhà báo - sản phẩm báo chí - công chúng Đó là cách hiểu theo nghĩa hẹp, với nghĩa sản phẩm đơn lẻ

Theo quan niệm của tác giả Tạ Ngọc Tấn (2004): “Trong thông tin báo chí, sản phẩm báo chí hoàn chỉnh (tờ báo, bản tin, chương trình phát thanh, truyền hình) giữ vai trò phương tiện giao tiếp giữa chủ thể và khách thể thông tin.” [31, tr 7] Sản phẩm báo chí là những ấn phẩm hoàn chỉnh thuộc báo in, các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình hoặc các trang thông tin, báo điện tử chứa đựng nhiều loại tác phẩm nhằm chuyển tải thông tin đến cho công chúng

Sản phẩm báo chí là ấn phẩm, phụ trương của báo in; nội dung hoàn chỉnh của báo điện tử; bản tin thông tấn; kênh phát thanh, kênh truyền hình; chuyên trang của báo điện tử (Luật Báo chí năm 2016)

Trong khuôn khổ luận văn này, sản phẩm b o c í được hiểu là những ấn phẩm hoàn chỉnh về n i dun cũn n ư ìn t ức chuyển tải

1.1.3 Sinh viên ngành báo chí - truyền thông

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, hiện nay, cả nước có hơn 1,5 triệu sinh viên đang theo học các trường đại học, cao đẳng, trung cấp [33]

Trang 22

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Ở đó,

họ được truyền đạt kiến thức, kỹ năng về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Sinh viên có tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 tuổi, dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức, đang được đào tạo chuyên môn Vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo Đây cũng là tầng lớp vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị - xã hội

Từ cách tiếp cận của Báo chí học, sinh viên là nhóm công chúng - đối tượng trẻ có nhu cầu tiếp nhận thông tin nhiều hơn để nâng cao và hoàn thiện nhận thức, thái độ và kỹ năng sống, trang bị kiến thức toàn diện và thích ứng với môi trường sống mới Họ là những nhóm đối tượng sống tập trung trong môi trường đặc thù chủ yếu với mối quan hệ xã hội gần gũi như thầy/cô - trò, bạn bè, cư dân lân cận và với tâm lý hướng mạnh vào khả năng hội nhập với môi trường và cộng đồng trên phạm vi ngày càng rộng lớn hơn Đó là nhóm công chúng nhạy bén với tình hình thời cuộc và môi trường, yêu thích lao động… Nhóm công chúng sinh viên cũng có những hoàn cảnh, điều kiện sống đặc thù là phần đông trong số họ mới sống xa gia đình và bắt đầu hình thành lớp bạn bè mới trong sinh viên; phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và nếp sống của gia đình… Do đó, phần lớn ít có điều kiện để thỏa mãn nhu cầu sống, nhất là nhu cầu tiếp nhận sản phẩm báo chí

Sinh viên ngành báo chí - truyền thông là người học ngành Báo chí và ngành Truyền thông tại trường đại học Trong nghiên cứu này, chính họ là những sinh viên theo học chuyên ngành báo in, báo phát thanh, báo truyền hình…và chuyên ngành truyền thông đại chúng, truyền thông quốc tế…

Đối với ngành Báo chí, sinh viên được đào tạo theo bốn loại hình báo chí truyền thống là báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo điện tử Sinh viên được đào tạo kỹ năng sáng tạo tác phẩm báo chí; kỹ năng tổ chức và sản xuất tác phẩm và sản phẩm báo chí; kỹ năng biên tập; kỹ năng làm video, audio, chụp ảnh…

Đối với ngành Truyền thông, sinh viên được đào tạo kỹ năng tổ chức nội dung và sản xuất các sản phẩm truyền thông đa phương tiện; nghiên cứu và ứng

Trang 23

dụng truyền thông đa phương tiện; thiết kế, thực hiện dự án phát triển truyền thông

đa phương tiện…

Như vậy, sinh viên sau khi ra trường có khả năng thực hiện các kỹ năng nghiệp vụ của nhà báo tại các tòa soạn báo, tạp chí, hãng tin, đài phát thanh, đài truyền hình, báo mạng điện tử; làm chuyên môn trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị đòi hỏi kiến thức, kỹ năng ngành báo chí Cụ thể:

- Có năng lực hoạt động nghiệp vụ báo chí để có thể hội nhập bình đẳng trong hoạt động nghề nghiệp trong khu vực và thế giới

- Có khả năng làm việc tại các cơ quan báo chí - truyền thông

- Có khả năng thích ứng rộng để có thể thực hiện các chức trách công tác tại các cơ quan đơn vị có liên quan đến truyền thông như: các cơ quan văn hóa - tư tưởng; các cơ quan, tổ chức truyền thông vận động xã hội; các bộ phận thông tin tổng hợp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị - xã hội… [15]

Như vậy, sinh viên ngành báo chí - truyền thông vừa là nhóm công chúng, vừa là những người góp phần làm nên nội dung sản phẩm báo chí trong tương lai

Vì vậy, việc nghiên cứu hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của nhóm sinh viên sinh viên ngành báo chí - truyền thông có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Trong nghiên cứu này, chúng tôi gọi tắt sinh viên ngành báo chí - truyền thông là sinh viên

1.1.4 Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay có 4 loại hình báo chí truyền thống là báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo điện tử Bốn loại hình báo chí này đều

có 4 phương thức tiếp nhận khác nhau là đọc - nghe - xem - kết hợp (kết hợp cả ba phương thức tiếp nhận đọc - nghe - xem)

Báo in (tiếp nhận bằng phương thức đọc) là loại hình báo chí truyền thống ra đời sớm nhất Sau đó là phát thanh (phương thức nghe), truyền hình (phương thức xem là chủ đạo) và cuối cùng là báo điện tử (phương thức kết hợp)

Đối với phương thức đọc chỉ xuất hiện chủ yếu ở báo in và báo điện tử dựa trên cơ chế tác động lý tính (tác động vào thị giác) thông qua việc sử dụng ngôn ngữ

Trang 24

chữ viết, hình ảnh tĩnh, điều này tạo nên tính tích cực trong việc tiếp nhận thông tin báo chí Bởi nó được thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi đọc chứ không phải hành

vi xem Khi đọc báo, người đọc buộc phải liên tưởng, tư duy logic vì chính ngôn ngữ viết mang cấu trúc của tư duy logic, với các khái niệm và phán đoán được sắp xếp theo quy luật của tư duy logic

Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên thông qua phương thức đọc trên hai loại hình báo chí chủ yếu là báo in (bản giấy, bản trực tuyến) và báo điện tử

Từ tổng hợp, phân tích quan niệm về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của các tác giả, khái niệm hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí trong luận văn được hiểu

như sau: Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông là những hoạt đ ng có mục đíc được biểu hiện ra bên ngoài khi sinh viên đón n ận m t ấn phẩm báo chí hoàn chỉnh cả n i dung lẫn hình thức chuyển tải.

1.2 Biểu hiện về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

1.2.1 Mục đích tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên

Mục đích tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên thể hiện nhu cầu và mục đích của bản thân, có thể kể đến các mục đích sau:

Hiểu biết về cu c sống

Hiểu biết là việc con người nhận rõ và thấu hiểu một vấn đề nào đó trong cuộc sống [39, tr 805] Một trong những chức năng của báo chí là nâng cao dân trí, hiểu biết của công chúng về các lĩnh vực của đời sống xã hội Ngoài ra, báo chí có vai trò to lớn tham gia phát triển giáo dục, nâng cao dân trí

Khi nói đến chức năng giáo dục của báo chí cũng có nghĩa là nên chú ý không chỉ nhấn mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, trách nhiệm công dân, mà còn giáo dục, cung cấp kiến thức hiểu biết về pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật; trao đổi và chia sẻ kỹ năng kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm ăn, cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội cũng như cho cộng đồng dân cư

Nâng cao nhận thức

Trang 25

Xuất phát từ chức năng khai sáng - giải trí mà một trong những mục đích tiếp nhận sản phẩm báo chí nhằm nâng cao nhận thức của công chúng nói chung, sinh viên nói riêng Thật vậy, báo chí không chỉ là kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, mà còn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững

Một lợi ích nữa của việc đọc báo là người đọc nắm được các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Từ đó, sinh viên

có thể hiểu, nhận thức, điều chỉnh hành động của bản thân sao cho phù hợp, không

vi phạm pháp luật

Ngoài ra, thông qua các thông tin báo chí, người dân không những được tiếp cận các phương diện của đời sống xã hội mà ngoài ra còn có thể biết được tri thức dân tộc trong nước cũng như trên thế giới Từ đó thì có thể tiếp cận thông tin, các

mô hình thiết thực từ nước ngoài để tự học tập và làm theo để góp phần phát triển cho quê hương đất nước

Nắm bắt thông tin

Một xã hội muốn phát triển thì trình độ tri thức của người dân phải luôn luôn được nâng cao và đặt mục tiêu hàng đầu Chính báo chí sẽ góp phần làm tốt vai trò này Người dân chỉ cần đọc báo, hay là bật tivi lên thì thấy rõ ràng và nắm bắt được thông tin của những đất nước khác trên thế giới Từ đó có cái nhìn khách quan hơn, rộng hơn, tiếp thu được những văn hóa lành mạnh và tiên tiến hơn

Sinh viên cũng là đối tượng mà các cơ quan báo chí hướng tới, hay nói cách khác, sinh viên là nhóm công chúng tiềm năng, chiếm số lượng lớn

Bất cứ hành vi nào của con người đều mang tính mục đích và hành vi đọc báo cũng không ngoại lệ Thêm vào đó, báo chí ngày nay đã và đang tác động mạnh

mẽ đến mọi mặt của đời sống, trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội Theo Thuyết Nhu cầu của Maslow thì nhu cầu tìm kiếm thông tin là một trong năm nhu cầu của con người - nhu cầu xã hội (nhu cầu tầng thứ ba, sau nhu cầu về sinh lý và nhu cầu về an toàn)

Trang 26

Với sự thâm nhập ngày càng sâu rộng, báo chí có những tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới sự phát triển trí tuệ, hình thành nhân sinh quan, thế giới quan, bồi đắp tình cảm nhân văn cho sinh viên Nhắc tới sinh viên là nhắc tới tuổi trẻ Tuổi trẻ là tuổi của sự năng động, khao khát thông tin, hiểu biết Bên cạnh những thông tin từ gia đình, nhà trường, xã hội, báo chí là nguồn thông tin tươi mới, hấp dẫn, hữu ích đối với sinh viên như nhiều thông tin bổ ích về: tình hình kinh tế - xã hội trong nước, quốc tế và của địa phương, giá cả các mặt hàng, tình hình lao động - việc làm, tình hình an ninh - trật tự, các mô hình, điển hình làm kinh tế giỏi, gương người tốt, việc tốt, thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, thông tin thể thao Từ đó, sinh viên quan tâm hơn và có những phản ứng kịp thời, tích cực trước những sự kiện chính trị - kinh tế

- văn hoá - xã hội của thế giới, đất nước và địa phương

để giải trí sau những giờ học tập căng thẳng

Phục vụ cho học tập, nghiên cứu

Báo chí là phương tiện học tập hữu hiệu của sinh viên Với tính chất đa dạng, phong phú, đa chiều, cập nhật của thông tin, sinh viên có thể tìm thấy ở báo chí nguồn cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng sống Một số báo, tạp chí chuyên ngành

có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động trao đổi, nghiên cứu thông tin khoa học của sinh viên

Trang 27

Báo chí đã giúp mỗi sinh viên có thể trở thành một “nhà báo” (nghiệp dư), vừa là chủ thể cung cấp thông tin, vừa có những mối quan hệ tương tác rộng rãi, kịp thời với cộng đồng mạng, đặc biệt là trong môi trường truyền thông số đang phát triển và hình thành xu hướng “công dân toàn cầu”như hiện nay

Vì hành vi của nhóm khách thể nghiên cứu của đề tài là nhóm được đào tạo nghề làm báo nên đối với sinh viên ngành báo chí - truyền thông nên việc tiếp nhận sản phẩm báo chí chính là sự gắn kết mang tính chất công việc, không đơn thuần chỉ là sự giải trí hoặc nâng cao kiến thức thông thường Ngoài

ra, do đặc thù của chuyên ngành được đào tạo, nên sinh viên thường xuyên phải thực hiện những bài tập, những nghiên cứu có sử dụng đến các sản phẩm báo chí để tra cứu, tìm kiếm thông tin phục vụ cho quá trình học bài và làm bài Việc sinh viên ngành báo chí- truyền thông có đủ hay thiếu thông tin không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập trước mắt mà còn ảnh hưởng đến chất lượng làm nghề sau này

G ao lưu kết bạn

Báo chí còn là kênh thông tin giúp gắn kết cộng đồng Hình thức kết bạn trên báo chí rất đa dạng, tùy theo mỗi loại hình báo chí đều có các dạng kết bạn khác nhau: báo in là các chuyên mục như tìm bạn tâm giao…, báo mạng với các chuyên mục như: tâm sự - hẹn hò (VnExpress),…; báo phát thanh có chương trình kết bạn làm quen trên radio; báo truyền hình có các gameshow, chương trình như Hẹn hò bí mật, Người ấy là ai… Cách thức đối với việc giao lưu kết bạn là chia sẻ sở thích, thông tin, quan điểm của cá nhân và tìm đối tượng phù hợp với bản thân thông qua kênh kết nối là các phương tiện truyền thông đại chúng

Tuy nhiên, dưới sự phát triển của khoa học công nghệ và kỹ thuật, xu hướng này dần dần bị giảm đi bởi các app kết bạn trên điện thoại, các trang mạng xã hội (facebook, zalo) thì cách giao lưu, kết bạn thông qua báo chí ít được độc giả sử dụng, trong đó có đối tượng sinh viên

1.2.2 Mức độ tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên

Trong nghiên cứu này, mức độ đọc các loại hình báo chí được thể hiện cụ thể

ở tần suất và thời lượng, thời điểm đọc báo của sinh viên

Trang 28

a, Tần suất

Tần suất chính là số lần xuất hiện của một hiện tượng trong một thời gian nhất định Tần suất đọc báo của sinh viên là số lần sinh viên đọc báo trong khoảng thời gian Chỉ số này cho phép xác định xem mức độ đọc báo của sinh viên như thế nào? Có thường xuyên hay không?

Khi nói đến tần suất đọc báo, các nghiên cứu đều có cách chia khác nhau Trong nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hằng (2013), tác giả chia tần suất đọc báo in trên điện thoại di động theo 7 mức độ: 1- Nhiều lần một ngày, 2- Một lần một ngày, 3- Vài lần một tuần, 4- Một lần một tuần, 5- Vài lần một tháng, 6- Một lần một tháng, 7- Hầu như không Tương tự, tác Nguyễn Thị Ngọc Huế (2017) cũng chia tần suất đọc báo điện tử theo 7 mức độ như trên [14], [17]

Trong nghiên cứu này, tần suất đọc báo của sinh viên được làm 4 mức độ như sau: 1- Hầu như ngày nào cũng đọc; 2- Hàng tuần có đọc; 3- Hàng tháng có đọc; 4- Hầu như không đọc

b, Thời lượng, thờ đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí

Thời lượng là lượng thời gian dành cho một hoạt động nào đó Thời lượng tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên được tính theo đơn vị phút để có thể tính toán được thời gian trung bình sinh viên tiếp nhận sản phẩm báo chí

Thời điểm là một “điểm mốc” trong một khoảng thời gian nào đó Thời điểm không có độ dài, nghĩa là nó chỉ được dùng để chỉ “một điểm” để làm “mốc” trong thời gian Trong nghiên cứu này, thời điểm đọc báo của sinh viên được chia thành bốn thời điểm cụ thể (thời gian rảnh rỗi, nghỉ giữa giờ học/làm thêm, một khoảng thời gian cụ thể, xác định và bất cứ lúc nào) với ba mức độ khác nhau để sinh viên lựa chọn (thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi)

1.2.3 Nội dung của sản phẩm báo chí sinh viên tiếp nhận

Nội dung chính là bản chất của sự việc, là cái chứa đựng bên trong hình thức [39, tr 1.280]

Nội dung của tác phẩm báo chí chính là đối tượng phản ánh của báo chí Hay nói các khác là thông tin trong tác phẩm báo chí đề cập tới vấn đề gì, thuộc lĩnh vực

Trang 29

nào Thông tin báo chí phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, đối tượng phản ánh ngày càng mở rộng Phản ánh là bản chất của thông tin báo chí Trong quá trình đó, các sự kiện có liên quan đến đời sống con người, phục vụ các quá trình xã hội được báo chí lưu giữ, tái hiện và chuyển tải trong xã hội, phục vụ các quá trình phát triển xã hội

Nội dung phản ánh của thông tin báo chí rất đa dạng, nhiều chiều Thông tin báo chí đem lại tri thức về thế giới khách quan, về sự tồn tại của xã hội, về mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thế giới tự nhiên; về những tri thức khoa học - công nghệ do con người tạo ra và đang được sử dụng ngày càng có hiệu quả trong nhận thức, cải tạo thế giới; về các thành tựu vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại…

Trong luận văn này, nội dung đọc được thể hiện qua các lĩnh vực của đời sống xã hội, tương ứng với đó là các chuyên mục trên báo in và báo điện tử Cụ thể

là các chuyên mục sau: Chính trị - Xã hội; Tư vấn sức khỏe - tình cảm; Văn hóa - Thể thao; Kinh tế; Khoa học kỹ thuật, Luật pháp; Giải trí; Quảng cáo; Rao vặt…

1.2.4 Cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên

Khi nói đến cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí, trước hết cần định nghĩa khái niệm cách thức là gì? Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Cách thức được hiểu là cách, lối thể hiện, hình thức diễn ra hành động” [39, tr 239]

Trong cuốn “Viết cho độc giả”, Loic Hervouret (1999) cho rằng, việc tác động được vào sự lựa chọn của độc giả không phải là dễ Khi độc giả cầm một tờ báo, quá trình dẫn đến đọc trọn vẹn một bài báo thường diễn ra theo ba giai đoạn gồm xem lướt, quyết định lựa chọn và đọc (có thể đọc trọn vẹn hay không đọc trọn vẹn bài báo đó) Tính tự do trong lựa chọn của công chúng là điểm người làm báo phải thừa nhận và tôn trọng, nhất là những độc giả có động cơ và mục đích rõ ràng trong việc tiếp nhận các dạng thông tin báo chí khác nhau: Mỗi độc giả có những tiêu chí của mình trong việc lựa chọn cái gì… Có những nguyên tắc và kỹ thuật để thu hút độc giả nhưng không có cách nào để buộc họ phải đọc báo; đọc hay không

là quyền của họ [19, tr 12 - 15] Như vậy, theo Loic Hervouret, để quyết định đọc hay không đọc một bài báo, đầu tiên độc giả phải đọc lướt rồi tùy thuộc vào mục

Trang 30

đích, động cơ mà cá nhân quyết định cách thức đọc như thế nào (có đọc trọn vẹn hay không)

Theo tác giả Đỗ Thị Thu Hằng (2013) thì cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí (thể hiện qua mức độ) đọc báo của công chúng, gồm ba mức độ:

Mức độ 1: Đọc lướt, lựa chọn Trong đó, công chúng có thể xem lướt, có thể chấm dứt việc xem nếu không thích hoặc không thỏa mãn được nhu cầu của họ, có thể tiếp tục lựa chọn tác phẩm, sản phẩm báo chí

Mức độ 2: Đọc chi tiết Công chúng có thể tìm một điểm vào tiếp theo để

tiếp nhận thông tin chi tiết về một vấn đề họ quan tâm

Mức độ 3: Đọc sâu Công chúng muốn tiếp cận sâu sắc, có hệ thống với những thông tin, vấn đề, chủ đề, con người trong tác phẩm báo chí Chính mức độ này làm cho khả năng tác động đến công chúng sâu sắc, chính xác, nhiều góc độ, có

hệ thống, từ đó tác động đến quan điểm, thế giới quan, nhân sinh quan, định hướng giá trị, lý tưởng, niềm tin của công chúng [13, tr 36 - 37]

Dựa trên quy luật cách thức tiếp nhận tác phẩm báo chí của tác giả Loic Hervouret cùng với sự phân chia cách thức tiếp nhận của tác giả Đỗ Thị Thu Hằng,

trong luận văn này, chúng tôi chia cách thức đọc báo của sinh viên làm 4 mức đ : Mức đ 1 - Đọc lướt; Mức đ 2 - Đọc phần mình thích; Mức đ 3 - Đọc tuần tự bài viết; Mức đ 4 - Đọc kĩ

1.2.5 Địa điểm sinh viên tiếp nhận sản phẩm báo chí

Địa điểm là một nơi chốn cụ thể xảy ra một việc gì đó [39, tr 629] Với đặc trưng của báo điện tử và báo in, việc sinh viện lựa chọn địa điểm đọc báo không có tính cố định so với các loại hình báo chí khác (ví dụ như truyền hình) Do vậy, sinh viên có thể lựa chọn địa điểm đọc báo theo ý muốn cá nhân

Qua việc tổng lược các nghiên cứu liên quan đến hành vi đọc báo có đề cập tới địa điểm đọc báo (ví dụ nghiên cứu của Bành Tưởng Chân năm 1999 hay nghiên

cứu của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huế năm 2013…), nghiên cứu đưa ra 5 địa đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên là: 1- Nơ ở (nhà riêng, Kí túc xá, phòng trọ), 2- Nơ l m t êm 3- T ư v ện trường, 4- Giản đườn k uôn v ên trường học, 5- Bất cứ nơ n o

Trang 31

Việc tìm hiểu địa điểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên sẽ giúp nghiên cứu có cái nhìn tổng thể về bức tranh hành vi đọc báo của sinh viên

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

Qua quá trình tổng thuật tài liệu và dựa trên những quan sát từ thực tế, luận văn đưa ra 11 yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí - truyền thông Trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn tiến hành nêu, mô tả và khái quát các yếu tố ảnh hưởng Việc nghiên cứu và phân tích sâu hơn sẽ được phát triển ở các nghiên cứu tiếp về hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng 11 yếu tố ảnh hưởng này bao gồm: 1- Thời gian; 2- Công việc làm thêm; 3- Mức sống; 4- Sở thích; 5- Thói quen; 6- Nhu cầu; 7- Chất lượng thông tin của tờ báo; 8- Yêu cầu của cơ sở đào tạo; 9- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật; 10- Xu hướng phát triển của các loại hình báo chí; 11- Cơ sở vật chất

1.3.1 Thời gian

Muốn thực hiện bất kỳ công việc gì cũng cần có thời gian nhất định Vì thế, thời gian của sinh viên được xem là yếu tố có ảnh hưởng tới hành vi tiếp nhận sản phảm báo chí Thời gian được quy ước là khoảng thời gian mà sinh viên có thể bố trí cho việc đọc báo

1.3.2 Công việc làm thêm

Hiện nay, đa số sinh viên đều nhận thức được rằng những kiến thức học có thể được trau dồi bằng nhiều cách khác nhau và họ đã chọn cách học với thực tế, đó

là đi làm thêm Việc làm thêm hiện nay đã không còn là hiện tượng nhỏ lẻ mà đã trở thành một xu thế, gắn chặt với đời sống học tập, sinh hoạt của sinh viên ngay khi vẫn còn ngồi trên ghế giảng đường Sinh viên đi làm thêm ngoài vì thu nhập, họ còn mong muốn tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn, học hỏi thực tế nhiều hơn Tuy nhiên, công việc làm thêm có thể ảnh hưởng nhiều đến hoạt động học tập, cụ thể là kết quả học tập của sinh viên như làm cho sinh viên không có nhiều thời gian học bao gồm cả việc học ở lớp, tự học Bên cạnh đó, việc đi làm thêm còn ảnh hưởng đến sức khỏe của phần lớn sinh viên Có một số sinh viên do tính chất của công việc

Trang 32

làm thêm và số giờ làm thêm gây cho sinh viên bị phân tâm, khó tập trung và đảm bảo được việc học [1, tr 31 - 40] Có thể thấy, công việc làm thêm tác động xấu đến kết quả học tập của sinh viên bởi các em không có thời gian để đọc báo, để tự học,

để trau dồi kiến thức

Theo ý kiến của sinh viên, hiện nay đa số sinh viên đều mong muốn lựa chọn công việc làm thêm gần gũi với chuyên ngành được đào tạo trong nhà trường để đem đến cho các em những kỹ năng trải nghiệm, bài học kinh nghiệm Cụ thể đối với sinh viên ngành báo chí - truyền thông là các công việc cộng tác viên viết bài, viết bài PR… Những công việc này không chỉ giúp sinh viên tăng thêm thu nhập,

mà còn giúp sinh viên tăng các kỹ năng cần thiết như thu nhập thông tin, xử lý ngôn

từ và biết thêm nhiều kiến thức mới Công việc này thúc đẩy sinh viên ngành báo chí - truyền thông phải đọc báo để có những thông tin, những kiến thức thực tiễn

Như vậy, có thể thấy, công việc làm thêm có thể ảnh hưởng đến hành vi đọc báo của sinh viên ngành báo chí - truyền thông

1.3.3 Mức sống

Mức sống (standard of living) không chỉ là sự thỏa mãn những nhu cầu của

đời sống vật chất mà cả các nhu cầu nhất định được sinh ra bởi chính những điều kiện mà con người đang sống và trưởng thành Mức sống là khái niệm phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất của các cá nhân trong nền kinh tế Nó còn được gọi là mức phúc lợi kinh tế, mức ích lợi hay mức thu nhập đầu người

Đối với sinh viên, mức sống được hiểu là khoản thu nhập của sinh viên cũng như số tiền sinh viên được gia đình tru cấp để trang trải các khoản học phí và chi phí sinh hoạt trong quá trình các em đang còn trên ghế nhà trường Vì sản phẩm báo chí là loại hàng hóa “đặc biệt” nên nó được gắn cho một giá trị nhất định (được định giá thông qua “giá cả”) Do vậy, mối quan hệ giữa mức sống và việc đọc báo của sinh viên có hàm ý rằng đó chính là mối quan hệ giữa kinh tế có thỏa mãn được nhu cầu/sở thích đọc báo của sinh viên hay không Hay với số tiền hàng tháng sinh viên

có được, liệu các em có duy trì được việc đọc báo thường xuyên của bản thân hay không Chính vì vậy, đây cũng là biến có hay không có sự tác động đến việc đọc báo của sinh viên

Trang 33

1.3.4 Sở thích

Theo Đại từ điển tiếng Việt, sở thích là ý thích của mỗi người [39, tr 1.461) Theo Lý thuyết hành vi, sở thích được coi là một trong những động cơ thúc đẩy hành vi của con người Ngoài ra, trong lĩnh vực báo chí, sản phẩm báo chí được coi

là một loại hàng hóa “đặc biệt” bởi loại hàng hóa này mang tính chất tinh thần, là thông tin Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc sinh viên có lựa chọn sản phẩm báo chí để đọc hay không một phần dựa trên sở thích cá nhân Hay nói cách khác, sở thích cá nhân được coi là một tiêu chí để cá nhân đó có lựa chọn sản phẩm báo chí hay không

Do vậy, các cơ quan báo chí luôn phải nghiên cứu hành vi của công chúng với mục đích tìm hiểu thị hiếu của công chúng đối với sản phẩm báo chí của mình Cụ thể

là các cơ quan báo chí cần phải cung cấp thông tin gì để thỏa mãn sở thích của công chúng? Đâu là nguyên nhân khiến họ lựa chọn tờ báo đó? Hình thức phát hành có phù hợp không? Việc nghiên cứu như vậy sẽ giúp các cơ quan báo chí thay đổi chất lượng thông tin, xác định giá cả, các kênh, hình thức chuyền tải thông tin…

1.3.5 Thói quen đọc báo

Thói quen là thành tố cấu thành quan trọng giúp hình thành nên hành vi đọc báo Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “thói quen là lối, cách sống hay hành động do lặp lại lâu ngày trở thành nếp rất khó thay đổi” [39, tr 1.580]

Khi hành vi đã trở thành thói quen thì việc thực hành hoạt động đọc như một phần trong cuộc sống “Thói quen đọc có nghĩa là hành động diễn tả sự giống nhau của việc đọc đối với cá nhân được diễn ra thường xuyên về thời gian đọc và sở thích loại tài liệu đọc” [53, tr 2 - 8] Thói quen là hành động được lặp đi lặp lại trở nên

vô thức tự động trong tư duy và hành động của mỗi cá nhân, vì “Từ thuở ấu thơ, thành viên của một nền văn hóa phải học mô thức hành vi của họ và cách nghĩ cho tới khi trở nên tự động và thành thói quen” [52, tr 22] Thói quen đọc có chức năng biểu đạt nhận thức và giá trị của việc đọc Các nghiên cứu thói quen thường tập trung nghiên cứu lượng thời gian đọc, mức độ thường xuyên đọc, chủ đề thích đọc

và loại tài liệu đọc [46, tr 437 - 467] Thói quen đọc báo có chức năng thể hiện

Trang 34

niềm yêu thích đọc của sinh viên qua lượng thời gian đọc, thông tin đọc và tờ báo đọc Như vậy, giá trị của việc đọc báo đóng vai trò như động lực thúc đẩy hình thành thói quen đọc của sinh viên Nói cách khác, lợi ích từ việc đọc báo đem lại chính là động lực thúc đẩy hành vi đọc báo của sinh viên, từ đó, dần hình thành thói

quen này ở sinh viên

1.3.6 Nhu cầu của sinh viên

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng

Thứ nhất, như nghiên cứu đã phân tích ở trên, sinh viên là nhóm công chúng

có nhu cầu cao trong việc tiếp nhận thông tin báo chí nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin giải trí, thông tin liên quan đến đời sống dân sinh hàng ngày (ăn, mặc, ở…)

Thứ hai, đối với sinh viên ngành báo chí - truyền thông, việc tiếp nhận sản phẩm báo chí chính là sự gắn kết mang tính chất công việc chứ không chỉ là sự giải trí hoặc nâng cao kiến thức thông thường Do vậy, nhu cầu đọc báo của sinh viên ngành báo chí - truyền thông không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập trước mắt

mà còn ảnh hưởng đến việc các em thực hành nghề sau này

Thứ ba, báo chí là cầu nối giúp sinh viên mở rộng mối quan hệ, giao lưu, gắn kết với nhau, mở rộng sự hiểu biết rộng rãi bên ngoài xã hội bởi báo chí là diễn đàn của mọi tầng lớp nhân dân

Thứ tư, việc đọc báo giúp sinh viên có thể thể hiện được quan điểm, thái độ của bản thân trước một sự kiện, vấn đề mà bài viết đã nêu thông qua việc tương tác với cơ quan báo chí về bài viết (viết thư, gọi điện thoại hoặc tương tác trực tiếp ở mục bình luận đối với báo điện tử)

Như vậy, có thể thấy, nhu cầu đọc báo của sinh viên có ảnh hưởng tới việc sinh viên lựa chọn thông tin nào trên báo chí để đọc cũng như ảnh hưởng trực tiếp tới cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí hay rộng ra là hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên

1.3.7 Chất lượng thông tin của tờ báo

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và mạng xã hội đã tạo ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các phương tiện truyền thông, trong đó, báo chí

Trang 35

là một trong những loại hình truyền thông bị tác động sâu sắc nhất Do vậy, việc không ngừng nâng cao chất lượng thông tin của tờ báo là cần thiết, tất yếu

Nói về chất lượng thông tin hiện nay có rất nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau Song, một khái niệm được nhiều người chấp nhận chính là “mức độ thỏa mãn nhu cầu về thông tin của những người sử dụng nó”

Để thỏa mãn các nhu cầu về thông tin, thì chất lượng thông tin cũng có các tiêu chí để đánh giá Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin: đó là tính độc đáo, tính đại chúng và tính hợp thời (đúng lúc)

Tính độc đáo của thông tin, là cái mới mà công chúng chưa biết

Tính đại chúng (dễ hiểu): Để công chúng nhận thức nội dung tác phẩm tương ứng với ý đồ tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (cách viết, cách thể hiện ) phải được công chúng nhận thức đầy đủ

Tính hợp thời (đúng lúc): Những tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc sẽ đáp ứng nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm đó Từ đó làm cho tác phẩm có giá trị hơn, tạo sự hứng thú, hấp dẫn công chúng

Chất lượng thông tin trên báo chí còn được xem xét ở việc đảm bảo các nguyên tắc trong hoạt động báo chí Cụ thể như thông tin báo chí phải phù hợp với các quy định của pháp luật; các quy tắc, giá trị xã hội; các giá trị văn hóa, truyền thống, đạo lý của dân tộc và phù hợp với nhu cầu phát triển…

Đối với báo in, với đặc điểm là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc nên cũng có những tiêu chí để đánh giá chất lượng Chất lượng thông tin còn được thể hiện ở nội dung, hình thức và phương thức thể hiện Về nội dung phải thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của đối tượng cần thông tin Đó là nội dung phải nhanh, đúng, trúng, hay và mang lại lượng thông tin mới, đáp ứng kịp thời nhu cầu cần thông tin của công chúng, góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra Hình thức phải tạo ấn tượng và phải đảm bảo tính đại chúng Đó là nhanh, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ thực hiện Về phương thức là không ngừng đổi mới để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển và giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn đặt ra

Trang 36

Đối với báo điện tử, với đặc điểm là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ chữ viết, âm thanh, hình ảnh, video clip… thực hiện bằng việc đăng/phát trực tiếp trên nền tảng internet nên ngoài những tiêu chí để đánh giá chất lượng như loại hình báo

in thì còn có thêm một số tiêu chí khác Đặc trưng của báo điện tử là: Khả năng đa phương tiện; tính hợp thời và phi định kỳ; tính tương tác và khả năng lưu trữ, tìm kiếm thông tin [10] Từ những đặc trưng này, có thể thấy, chất lượng thông tin của trang báo phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật, độ tin cậy của thông tin, khả năng kết nối và tương tác của công chúng

1.3.8 Yêu cầu của cơ sở đào tạo

Yêu cầu là của cơ sở đào tạo chính là những đòi hỏi, mong muốn mức độ đạt được về trình độ học vấn/chuyên môn của nơi đào tạo đối với sinh viên/học viên trước, trong và sau quá trình đào tạo tại trường

Yêu cầu của sơ sở đào tạo ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên được hiểu theo góc độ hẹp là yêu cầu của môn học/giáo viên đối với sinh viên trong việc thực hiện hành vi này Điều này được thể hiện ở việc yêu cầu của giáo viên bộ môn và môn học đối với việc tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên thông qua các bài tập, bài kiểm tra môn học, đề tài nghiên cứu khoa học

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ thực hiện trên khách thể sinh viên, vì vậy, với yếu

tố ảnh hưởng này, chúng tôi chỉ phân tích qua một số ý kiến phỏng vấn sâu giảng viên và sinh viên để có cái nhìn cụ thể hơn về tác động của yếu tố này đến hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên

1.3.9 Sự phát triển khoa học kỹ thuật

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động đến nhiều ngành nghề Báo chí Việt Nam cũng không đứng ngoài cuộc trong xu thế hội nhập mạnh

mẽ Đây là một cuộc đại cách mạng về khoa học và công nghệ, mà ở đó các hệ thống thông minh chiếm vai trò chủ đạo, gồm: Hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), hệ thống nhúng (embedded system) hay các hệ thống tự động hóa, hệ thống mạng cảm ứng (sensor networks), hệ thống thời gian thực và công nghệ in 3 chiều hay 4 chiều… Ngoài ra, liên kết, xử lý thông tin qua mạng xã hội

Trang 37

hay nền tảng web cũng ngày càng trở nên quan trọng trong kỷ nguyên số Các nền tảng này được xây dựng dựa trên mạng các dịch vụ, dữ liệu và con người

Ngày nay, “nhà báo người máy” hay “trí tuệ nhân tạo - AI” hoặc “báo chí tự động” không còn là khái niệm mới mà thực tế đã trở thành một tác nhân làm thay đổi nghề làm báo truyền thống đã được hình thành trong khoảng 4 thế kỷ nay Dưới sự phát triển của khoa học công nghệ, báo chí dần dần thay đổi từ báo in đến sự xuất hiện của báo điện tử, rồi mạng xã hội và nay là sự xuất hiện của “nhà báo” robot

Mặt khác, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội để báo chí phát triển hơn bởi nó tác động mạnh mẽ vào tất cả các yếu tố căn bản của nền báo chí truyền thông từng quốc gia, gồm: Nhà sản xuất, sản phẩm báo chí truyền thông và các nhóm công chúng Có thể thấy rõ một số xu hướng sau:

Các sản phẩm báo in truyền thống sẽ được thay thế bằng kênh phát thanh hay truyền hình thuần túy, công nghệ thực tại ảo (Virtual Reality - VR) và thực tại ảo tăng cường (Augmented Reality - AR), hình thành “báo nhúng” Ở đó, công chúng

có thể tiếp nhận thông tin bằng cả xúc giác và cảm xúc, như được tham gia đúng vào thời điểm xảy ra sự kiện trong không gian ảo 3 chiều hay 4 chiều - nơi có thể tái hiện lại sự kiện, nhân vật, âm thanh được mô phỏng lại đúng như ở hiện trường Bên cạnh đó, công nghệ cảm ứng, sự phát triển của hạ tầng viễn thông, công nghệ 3G, 4G, mạng xã hội thịnh hành, thân thiện với người dùng, làm gia tăng đột biến

số lượng độc giả tiếp cận với thông tin qua các thiết bị thông minh

Các sản phẩm báo chí phải thay đổi cả về tiêu chí cũng như sự sáng tạo trong nội dung và hình thức trình bày Những bài viết, bài phản biện các vấn đề nóng trong xã hội, những dòng bình luận nghiêm túc nhưng dài dòng, phải thay bằng sản phẩm thông tin đồ họa và các loại hình sản phẩm báo chí đa phương tiện, các video clip livestream trên mạng xã hội, hay các bản tin rap news…

Như vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ tác động đến tất cả các yếu tố của nền báo chí, từ đó tạo nên những xu hướng phát triển các loại hình báo chí khác nhau Cùng với sự phát triển này thì hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng dần có sự thay đổi: thay vì báo đọc trên báo giấy như trước đây thì ngày nay

Trang 38

công chúng đã quá quen với việc lấy thông tin trên điện thoại di động hay máy tính bảng, vừa thuận tiện, gọn nhẹ, nhanh chóng [16]

1.3.10 Xu hướng phát triển của các loại hình báo chí

a Đối với loại hình báo in

Việc nhiều tờ báo in vốn rất hấp dẫn đối với người đọc nay phải giảm số lượng phát hành đang đặt ra một số vấn đề cần giải quyết và trên thực tế, loại hình báo chí truyền thống này đang đi tìm sự thích nghi mới Để giải quyết được vấn đề trên, các báo in hướng tới sự thay đổi lớn sau:

Thứ nhất t a đổi n i dung thông tin

Một trong những lợi thế của báo in là chất lượng thông tin được bảo đảm Việc kiểm duyệt, biên tập được thực hiện chặt chẽ kỹ lưỡng khiến các thông tin trên báo in được bảo đảm tính chính xác, tính chính thống, tính khách quan Các vấn đề của đời sống, kinh tế, văn hóa được bàn giải chuyên sâu, có chọn lọc với những bài chuyên luận sâu sắc Do vậy, các tờ báo phải tiếp tục tận dụng những lợi thế này

để giúp bạn đọc nhận biết giá trị, bản chất căn cốt, tính khách quan, toàn cảnh của thông tin để có thể nhận thức đúng về sự việc đã xảy ra Để làm được điều này, phóng viên không chỉ cần kỹ năng tác nghiệp, mà cần tư duy logic, tư duy phản biện, tư duy phân tích chiều sâu trên nền tảng hiểu biết xã hội toàn diện và sâu sắc

Thứ a t a đổi về hình thức trình bày

Một trong các lợi thế khác của báo in là khổ báo được chú ý hoàn chỉnh về khuôn khổ và hình thức sao cho phù hợp với thị hiếu của người đọc, giúp họ dễ dàng lật, giở tìm kiếm thông tin mà không gặp trở ngại Ðể đáp ứng nhu cầu đó, nhiều tờ báo đã thay đổi kích cỡ tờ báo giúp người đọc có sự thuận tiện nhất định

Dưới sự tác động của khoa học kỹ thuật, một loại hình báo chí mới cũng đã manh nha được các cơ quan báo chí khai thác và sử dụng triệt để Đó là báo chí dữ liệu Việc tận dụng tối đa thế mạnh của báo chí dữ liệu, sử dụng hiệu quả tranh, ảnh, biểu đồ, đồ họa… vừa thu hút, vừa đem lại thông tin toàn cảnh cho công chúng

Bên cạnh đó, hiện nay nhiều tờ báo in còn chú trọng đổi mới cách thức trình bày, sinh động, đẹp mắt Các bài báo không chỉ có phần chữ viết (text) mà nội dung

Trang 39

còn được thể hiện qua nhiều hình thức khác như: biểu đồ, lược đồ, tranh, ảnh, box thông tin sao cho phù hợp cách đọc, cách tiếp nhận của nhiều đối tượng công chúng

Thứ ba, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ

Do sự thay đổi trong cách thức tiếp cận, thu nhận thông tin của độc giả buộc các

cơ quan báo chí, nhất là báo in phải đổi thay để tồn tại Các cơ quan báo in đang dần hướng tới báo chí đa nền tảng Với đặc thù nhỏ gọn, tích hợp nhiều trình duyệt khác nhau, báo chí phiên bản dành cho smartphone (điện thoại thông minh) đã trở thành loại hình báo chí phát triển với tốc độ chóng mặt Bên cạnh đó, các tòa soạn cũng có những phiên bản báo giấy trên trang báo điện tử để bạn đọc có thể tiếp cận cùng lúc cả báo in bản giấy lẫn bản điện tử Đây là xu hướng mới của báo chí hiện nay

Ngoài ra, công nghệ giấy điện tử hứa hẹn giúp họ tiếp cận nhiều độc giả hơn trong khi vẫn tiết kiệm chi phí in ấn và phân phối

b Đối với loại hình báo điện tử

Công nghệ số ra đời và phát triển đã làm xuất hiện nhiều loại hình báo chí mới, trong đó có báo điện tử Ở Việt Nam, thống kê cho thấy đến hiện tại, cả nước

có 77 tờ báo điện tử Báo điện tử không chỉ mang đến một cách đọc tin mới mà còn mang đến những cách tiếp cận thông tin mới mẻ, phù hợp tâm lý của đông đảo công chúng hiện đại Hiện nay, báo điện tử đang phát triển theo một số xu hướng sau:

- Cung cấp thông tin thông qua các thiết bị khác ngoài màn hình vi tính Hiện nay, ngoài màn hình máy vi tính, độc giả còn có thể tiếp nhận thông tin báo chí bằng các thiết bị điện tử khác nhau như trên điện thoại di động, thiết bị đọc sách điện tử (ebook reader),… Đây là hướng đi mới của loại hình báo điện tử và trên thực tế đã có rất nhiều các tờ báo điện tử cung cấp thông tin cho độc giả theo hướng này Có thể kể tới các apps đọc báo điện tử trên điện thoại di động như: app Dân trí, app VnExpress… (xin xem phụ lục 5)

- Nhanh hơn Tính tức thời và phi định kỳ được các tở báo điện tử khai thác tối đa nhằm thỏa mãn nhu cầu không muốn chờ đợi của công chúng

- Hấp dẫn hơn Các tờ báo điện tử sẽ chú ý hơn tới khả năng đa phương tiện Đó

là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố văn bản, hình ảnh, âm thanh, đồ họa… trong một

Trang 40

sản phẩm báo chí… sẽ tạo ra sự hấp dẫn, sống động đặc biệt cho công chúng Do vậy, các tờ báo điện tử sẽ đầu tư để tự sản xuất ra các sản phẩm đa phương tiện của riêng mình chứ không biên tập hay phát lại các chương trình cả các kênh truyền hình…

- Tương tác nhiều hơn Các yếu tố như siêu liên kết, công cụ tìm kiếm… trong các tờ báo, trang báo sẽ được tăng thêm để tạo liên kết, di chuyển bên trong khối tin tức và tăng khả năng trao đổi giữa tờ báo và độc giả Khi này, tờ báo không chỉ cung cấp thông tin mà còn trở thành phương tiện chia sẻ thông tin, ở đó, bạn độc trở thành người sản xuất thông tin cho chính mình

- Chuyên sâu hơn Với sự ra đời của các tờ báo chuyên ngành, khai thác sâu một lĩnh vực đã hình thành nên nền báo chí chuyên biệt, phục vụ cho một đối tượng bạn đọc ở một ngành nghề nhất định

- Uy tín hơn Với lợi thế có đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên nghiệp, vững vàng về chính trị, được tích lũy vốn sống và kinh nghiệm làm báo nhiều năm, cộng thêm thương hiệu và uy tín của tờ báo lâu năm trong lòng bạn đọc, những tờ báo mạng tử thuộc các cơ quan báo in, đài phát thanh, đài truyền hình lớn đang dần khẳng định vị thế của mình, có triển vọng trở thành tờ báo điện tử hàng đầu Việt Nam

- Rộng hơn Các tờ báo điện tử đang dần vươn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam với việc ra đời các phiên bản điện tử bằng tiếng nước ngoài như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc

- Quản lý chặt hơn Vấn đề bản quyền của các tờ báo điện tử đang là vấn đề nan giải Trong tương lai, các quy định của pháp luật sẽ dần thay đổi theo chiều hướng chặt chẽ hơn Nhờ vậy, các tờ báo điện tử có uy tín và thương hiệu sẽ là những tờ báo có số lượng độc giả truy cập nhiều nhất [10]

Như vậy, có thể thấy, xu hướng phát triển của các loại hình báo chí sẽ làm thay đổi diện mạo của mỗi một loại hình báo chí, từ đó làm thay đổi phương tiện, cách thức, hình thức tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng, trong đó có công chúng sinh viên ngành báo chí - truyền thông

1.3.11 Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất được coi là các yếu tố thuộc về phương tiện kỹ thuật tạo điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên, phổ biến nhất là nền tảng internet và thiết bị cá nhân (điện thoại thông minh - smartphone/máy vi tính)

Ngày đăng: 11/11/2021, 17:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phạm Tuyết Anh, Châu Thị Lệ Duyên, Hoàng Minh Trí (2013), “Tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học Trườn Đại học Cần T ơ, Số 26, Tr. 31 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Cần Thơ”, "Tạp chí Khoa học Trườn Đại học Cần T ơ
Tác giả: Nguyễn Phạm Tuyết Anh, Châu Thị Lệ Duyên, Hoàng Minh Trí
Năm: 2013
2. Bành Tưởng Chân (1999), Nhu cầu đọc báo của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu đọc báo của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Bành Tưởng Chân
Năm: 1999
4. Trần Bá Dung (2008), Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà N i, Luận án tiến sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà N i
Tác giả: Trần Bá Dung
Năm: 2008
6. Vũ Dũng (2012), Từ đ ển Thuật ngữ Tâm lý học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đ ển Thuật ngữ Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2012
7. Nguyễn Văn Dững và cộng sự (2003), Đ ều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của thanh niên sinh viên khu vực Hà N i, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, PGS.TS. Nguyễn Văn Dững làm chủ nhiệm, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền làm cơ quan chủ trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ ều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của thanh niên sinh viên khu vực Hà N i
Tác giả: Nguyễn Văn Dững và cộng sự
Năm: 2003
8. Nguyễn Văn Dững (2011), B o c í v Dư luận xã h i, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B o c í v Dư luận xã h i
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
9. Nguyễn Văn Dững (2011), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
10. Nguyễn Thị Trường Giang (2010), B o mạn đ ện tử - n ữn vấn đề cơ bản, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B o mạn đ ện tử - n ữn vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
11. Nguyễn Thu Giang (2007), Công chúng Hà N i với việc đọc b o n v b o đ ện tử, Luận văn thạc sĩ, Khoa Báo chí - Truyền thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chúng Hà N i với việc đọc b o n v b o đ ện tử
Tác giả: Nguyễn Thu Giang
Năm: 2007
12. Lê Thu Hà (2015), Xu ướng tiếp cận sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam, Luận án tiến sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu ướng tiếp cận sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 2015
13. Đỗ Thị Thu Hằng (2015), Giáo trình Tâm lý học báo chí, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học báo chí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
14. Hoàng Thị Thu Hằng (2013), Hành vi tiếp nhận t ôn t n b o c í trên đ ện thoạ d đ ng của côn c ún t an n ên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉn Bìn P ước hiện nay (thời gian khảo s t: t n 6 n m 13), Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi tiếp nhận t ôn t n b o c í trên đ ện thoạ d đ ng của côn c ún t an n ên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉn Bìn P ước hiện nay (thời gian khảo s t: t n 6 n m 13)
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hằng
Năm: 2013
15. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2019), Sổ tay sinh viên, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay sinh viên
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2019
16. Nguyễn Thúy Hồng (2018), Báo chí trong thờ đại cách mạng công nghiệp 4.0, Nội san Thông tấn số Xuân 2018. Nguồn:https://dhtn.ttxvn.org.vn/tintuc/bao-chi-trong-thoi-dai-cach-mang-cong-nghiep-4-0-6165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí trong thờ đại cách mạng công nghiệp 4.0
Tác giả: Nguyễn Thúy Hồng
Năm: 2018
17. Nguyễn Thị Ngọc Huế (2017), n v đọc báo mạn đ ện tử trên đ ện thoại di đ ng của s n v ên trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà N i hiện nay - Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: n v đọc báo mạn đ ện tử trên đ ện thoại di đ ng của s n v ên trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà N i hiện nay - Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Huế
Năm: 2017
18. Khoa Báo chí và Truyền thông (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) và Công ty nghiên cứu thị trường GCOMM (2015), Xu ướng tiếp cận thông tin báo chí của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu ướng tiếp cận thông tin báo chí của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Khoa Báo chí và Truyền thông (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) và Công ty nghiên cứu thị trường GCOMM
Năm: 2015
19. Loic Hervouret (1999), Viết c o đ c giả, Hội Nhà báo Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết c o đ c giả
Tác giả: Loic Hervouret
Năm: 1999
20. Nguyễn Thị Thanh Loan (2015), Nhu cầu đ ều kiện tiếp nhận các sản phẩm b o c í địa p ươn của công chúng công nhân Tiền Giang hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu đ ều kiện tiếp nhận các sản phẩm b o c í địa p ươn của công chúng công nhân Tiền Giang hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Loan
Năm: 2015
21. Lưu Hồng Minh (2009), Sự tiếp cận p ươn t ện truyền t ôn đại chúng của công chúng Việt Nam, Báo cáo đề tài cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tiếp cận p ươn t ện truyền t ôn đại chúng của công chúng Việt Nam
Tác giả: Lưu Hồng Minh
Năm: 2009
3. Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2020), Nguồn truy cập: https://ajc.hcma.vn/Pages/default.aspx Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Khung lý thuyết của đề tài - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Sơ đồ 1 Khung lý thuyết của đề tài (Trang 17)
Bảng 2. 1: Khách thể nghiên cứu xét theo biến số - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2. 1: Khách thể nghiên cứu xét theo biến số (Trang 47)
Bảng 2.2: Sự khác biệt trong tiếp nhận loại hình báo chí theo m t số tiêu chí - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2.2 Sự khác biệt trong tiếp nhận loại hình báo chí theo m t số tiêu chí (Trang 51)
Bảng 2.3: Mức đ  đọc báo của sinh viên so sánh theo m t số biến số  STT  Tiêu chí so sánh  Số lƣợng  ĐTB  ĐLC  P - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2.3 Mức đ đọc báo của sinh viên so sánh theo m t số biến số STT Tiêu chí so sánh Số lƣợng ĐTB ĐLC P (Trang 54)
Bảng 2.4: Thờ  đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2.4 Thờ đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên (Trang 58)
Bảng 2.5: Địa đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2.5 Địa đ ểm tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên (Trang 60)
Bảng 2. 6: Cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2. 6: Cách thức tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên (Trang 63)
Bảng 2. 7: Tên tờ báo côn  c ún  t ườn  xu ên đọc nhất theo Nghiên cứu thị - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2. 7: Tên tờ báo côn c ún t ườn xu ên đọc nhất theo Nghiên cứu thị (Trang 66)
Bảng 2. 8: Loạ  t ôn  t n m  s n  v ên đọc - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2. 8: Loạ t ôn t n m s n v ên đọc (Trang 69)
Bảng 2. 10: So sánh sự khác biệt giữa giới tính và các yếu tố ản   ưởn  đến - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2. 10: So sánh sự khác biệt giữa giới tính và các yếu tố ản ưởn đến (Trang 72)
Bảng 2. 11: Sự khác biệt giữa các yếu tố ản   ưởn  đến hành vi tiếp nhận - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2. 11: Sự khác biệt giữa các yếu tố ản ưởn đến hành vi tiếp nhận (Trang 74)
Bảng 2. 12: Sự khác biệt giữa yếu tố n m học đến hành vi tiếp nhận sản - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 2. 12: Sự khác biệt giữa yếu tố n m học đến hành vi tiếp nhận sản (Trang 75)
Bảng 3. 1: Kiến nghị của s n  v ên đối vớ  cơ quan b o c í - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 3. 1: Kiến nghị của s n v ên đối vớ cơ quan b o c í (Trang 80)
Bảng 3.2: Kiến nghị đối vớ  cơ sở đ o tạo - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
Bảng 3.2 Kiến nghị đối vớ cơ sở đ o tạo (Trang 86)
2. Hình thức trình bày bài báo - Hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên ngành báo chí   truyền thông ở học viện báo chí và tuyên truyền
2. Hình thức trình bày bài báo (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w