Bài nghiên cứu tập trung phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành thực phẩm Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành. Rút ra các kết luận về các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh ngành chế biến thực phẩm Việt Nam.
Trang 1ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH CHẾ BIẾN THỰC
PHẨM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
ThS Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt
Khoa Quản trị Doanh nghiệp, Trường Đại học Thương mại
TÓM TẮT Kết quả của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đ đưa Việt Nam trở thành một thị trường quốc gia mới nổi ở Đông Nam Á Để đạt được kết quả đáng khích lệ này phải kể đến nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng chiến lược phát triển dài hạn và xác định rõ vị trí của từng ngành sản xuất trong nền kinh tế để có thể hỗ trợ cho ngành chủ đạo phát triển và đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nững năm vừa qua Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm được xác định là ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh tại thị trường Việt Nam Tuy nhiên, khi đ là thành viên của WTO, tham gia ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) dẫn đến cạnh tranh trong ngành chế biến thực phẩm của Việt Nam ngày càng có xu hướng mạnh mẽ và khốc liệt Bài nghiên cứu tập trung ph n tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành thực phẩm Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm n ng cao năng lực cạnh tranh của ngành Bài nghiên cứu được triển khai dựa trên việc xử lý các dữ liệu thu thập được từ các nguồn thứ cấp, bằng các phương pháp tổng hợp, so sánh theo chuỗi thời gian để rút ra các kết luận về các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh ngành chế biến thực phẩm Việt Nam
ABSTRACT Having a great comperative advantage in food processing industry, Vietmam food rocessing enterprises have been constanly growing up in the beginning period Although still young industry, there are many threats for growth of this industry in the future This paper evaluated the competitiveness compentence of Vietnam’s food processing in 7 element group: Productivity, Price Index, Skills Employment, Export Market Share, Factor conditions, Demand Condisions, Supportting industries On this basic, the author suggests 3 solution toward development of food industry
1 Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh Của Ngành Và Các Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh Ngành
1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh ngành kinh doanh
Thuật ngữ năng lực cạnh tranh ngành ngay này đang có xu hướng được sử dụng phổ biến, tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ này Có thể liệt kê một số khái niệm như sau:
Theo OECD: ―Năng lực cạnh tranh ngành được định nghĩa là sức sản xuất ra thu nhập thương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất làm cho ngành phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế‖
Theo Bạch Thụ Cường, từ điển thuật ngữ chính sách thương mại quan niệm: ―Năng lực cạnh tranh ngành là năng lực mà các ngành tương tự của các quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế‖
Theo Liên Hiệp Quốc: ―Năng lực cạnh tranh của một ngành có thể đạt được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cán cân ngoại thương của ngành, cấn cân đầu tư nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài và đầu tư từ nước ngoài vào), và những thước đo trực tiếp về chi phí và chất lượng ở cấp ngành‖
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của một ngành kinh doanh được xem như là những năng lực đặc biệt mà ngành đó sở hữu, có khả năng giúp cho ngành và các doanh nghiệp trong ngành cạnh tranh thành công cả ở thị trường nội địa và thị trường quốc tế, có khả năng phát triển bền vững trong tương lai Năng lực cạnh tranh của ngành được coi là tiêu chuẩn để đánh
Trang 2tranh của các doanh nghiệp Việc nghiên cứu và đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành kinh doanh trong bài phân tích này dựa trên việc đánh giá khả năng của ngành so sánh với các quốc gia khác chứ không chỉ nhìn nhận trên góc độ thành tích của các doanh nghiệp trong ngành
1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thực phẩm
Với đặc thù của ngành chế biến thực phẩm của Việt Nam hoạt động phân tán, thiếu tính liên kết, do đó tác giả xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành chế biến thực phẩm như sau:
1.2.1 Năng suất lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu được đo bằng sản lượng hoặc giá trị gia tăng trên một đơn vị lao động Chỉ tiêu này phản ánh sản lượng hoặc giá trị gia tăng trung bình trên một đơn
vị lao động trong một thời kỳ nhất định Năng suất lao động được tính như sau:
PL = Y/L
Trong đó: PL là năng suất lao động
Y là sản lượng hoặc giá trị gia tăng
L là số lượng lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này chỉ thể hiện một phần năng suất của ngành, đây là chỉ tiêu được sử dụng thường xuyên nhất để đo lường năng suất, do lao động thường được xem là yếu tố đầu vào quan trọng nhất Năng suất lao động là một chỉ tiêu tương đối dễ tính toán và các dữ liệu sẵn
có cũng thường là cập nhật hơn
1.2.2 Mức độ biến động về giá
Biến động mức giá thực là chỉ tiêu đo lường sự thay đổi của mức giá trung bình của ngành theo thời gian so với mức giá tiêu dùng chung Đây là một chỉ số gián tiếp về mức độ hiệu suất của ngành thông qua lợi ích mà khách hàng được hưởng
Một ưu điểm quan trọng của chỉ số giá thực tế là nó được công bố thường xuyên và được cập nhật bởi các cơ quan thống kê Nhược điểm của chỉ số này là nó chỉ thể hiện gián tiếp sự thay đổi về hiệu suất và có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác
1.2.3 Kỹ năng lực lượng lao động
Kỹ năng của lực lượng lao động thể hiện chất lượng của lực lượng lao động và cũng là một yếu tố quyết định năng suất của ngành Cơ cấu lao động (xét theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật) của ngành cho phép đánh giá trình độ kỹ năng của nguồn lao động trong ngành Các
dữ liệu về kỹ năng của lực lượng lao động có thể được thống kê từ các doanh nghiệp, các cơ quan chủ quản hoặc hiệp hội chuyên ngành
Bên cạnh các chỉ tiêu về năng suất (hiện tại và tương lai), thành tích về mặt kinh tế của một ngành cũng được xem là các chỉ tiêu có ý nghĩa thể hiện năng lực cạnh tranh của ngành
1.2.4 Thị phần xuất khẩu
Một trong những cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh thường được các doanh nghiệp sử dụng là thị phần, do doanh nghiệp là nền tảng của ngành nên tiêu chí này cũng thường được
sử dụng ở cấp ngành để đánh giá khả năng của các doanh nghiệp trong ngành hoạt động ở thị trường quốc tế Ở cấp độ này, chúng ta cần phân tích thị phần quốc tế (thị phần xuất khẩu) và thị phần trong nước (thị phần nhập khẩu)
Thị phần xuất khẩu (ESij) của một quốc gia i và sản phẩm j được tính là tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu (Xij) sản phẩm j bởi các doanh nghiệp thuộc quốc gia i so với tổng giá trị
Trang 3kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đó của toàn thế giới Thị phần xuất khẩu được tính theo công thức dưới đây:
ESij = 100*(Xij / ∑iXij)
Trong đó: ESij là thị phần xuất khẩu của ngành j thuộc quốc gia i
Xij là kim ngạch xuất khẩu của ngành j thuộc quốc gia i
∑iXij là tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành j trên toàn thế giới
1.2.5 Các yếu tố đầu vào
Các yếu tố đầu vào là tình trạng của một quốc gia về mặt các yếu tố sản xuất, như là chất lượng lao động, cơ sở hạ tầng, vv, giữ vai trò quan trọng trong việc cạnh tranh ở bất kỳ một ngành công nghiệp nào để tăng năng suất, các yếu tố đầu vào sẽ góp phần làm tăng hiệu quả, chất lượng, vv, trong một ngành nhất định Trong cạnh tranh quốc tế, các điều kiện về yếu tố đầu vào được xem là nền tảng của lợi thế cạnh tranh mà các doanh nghiệp, các ngành
có thể tận dụng từ quốc gia của mình Đối với các nước phát triển, do điều kiện về các yếu tố sản xuất có lợi thế về công nghệ, lao động có chất lượng cao nên các ngành công nghiệp kỹ thuật cao của các nước này thường có năng lực cạnh tranh vượt trội Trong khi đó, các nước đang phát triển lại có các nguồn lực tài nguyên dồi dào, nguồn nhân lực đông đảo nên thường
có lợi thế hơn trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động cũng như những ngành có đầu vào là các loại sản phẩm thô
1.2.6 Nhu cầu trong nước
Điều kiện cầu trong nước là bản chất của nhu cầu thị trường trong nước về các sản phẩm và dịch vụ của ngành Thị trường trong nước có vai trò rất quan trọng để tạo ra khả năng cạnh tranh toàn cầu Nó cung cấp cho các nhà doanh nghiệp trong nước một bức tranh rõ ràng hơn về sự thay đổi nhu cầu của khách hàng, vào tạo áp lực buộc các doanh nghiệp phải đổi mới, nhờ đó tạo ra họ nhiều lợi thế trước các đối thủ nước ngoài trong một thị trường toàn cầu
Thị trường trong nước cạnh tranh chính là môi trường để các doanh nghiệp trong nước
cọ xát, từ đó nhận ra được những điểm yếu của chính mình, và từ đó xây dựng các năng lực riêng biệt cần thiết cho quá trình cạnh tranh không chỉ trên thị trường trong nước mà đặc biệt
là khi vươn ra thị trường thế giới Bên cạnh đó, qui mô của thị trường trong nước cũng là điều kiện để nuôi dưỡng các doanh nghiệp trước khi bước ra thị trường quốc tế
1.2.7 Ngành công nghiệp phụ trợ
Các ngành hỗ trợ là sự tồn tại của các ngành cung cấp đầu vào và các ngành công nghiệp liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế Các ngành cung cấp và ngành liên quan giúp cho ngành công nghiệp chính tạo ra các lợi thế cạnh tranh Hơn nữa, mối liên hệ chặt chẽ giữa các ngành sẽ tạo điều kiện đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ để duy trì các lợi thế cạnh tranh bền vững hơn Trong chuỗi giá trị của ngành, sự gắn kết của các công đoạn trong qui trình sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập sự bền vững trong sự phát triển của ngành
2 Đánh Giá Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Chế Biến Thực Phẩm Việt Nam
2.1 Năng suất lao động ( Điểm đánh giá 6/10)
Trang 4318.04 357.93 461.81 552.22584.61
0.00 100.00
200.00
300.00
400.00
500.00
600.00
700.00
2008 2009 2010 2011 2012
Năng suất lao động (tr
Đồng/người)
Hình 1: Biến động năng suất lao động ngành chế biến thực phẩm giai đoạn 2008 – 2012
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê
Năng suất lao động ngành chế biến thực phẩm Việt Nam được tính theo giá trị sản xuất của ngành trên tổng số lao động đang tham gia làm việc trong ngành Dựa trên các số liệu thống kê, năng suất lao động của ngành trong thời gian qua được thể hiện trong Hình 1 Như vậy, năng suất lao động của ngành chế biến thực phẩm không ngừng tăng trong giai đoạn 2008 – 2012 với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,46% Năng suất lao động không ngừng tăng lên đã chứng tỏ sự tiến bộ đáng kể của ngành Có được kết quả này một phần là
do sự đóng góp của sự phát triển của khoa học và công nghệ trong ngành
2.2 Mức độ biến động về giá ( Điểm đánh giá 4/10)
Bảng 1: Tình hình xuất khẩ một số mặt hàng thực phẩm chủ yếu giai đoạn 2011 - 2013
2 Rau, quả (Nghìn tấn) 112,64 100,72 103,71 -10,58% 2,97%
3 Hạt điều (Nghìn tấn) 177,6 221,8 261,2 24,89% 17,76%
8 Bánh kẹo và sản
phẩm từ ngũ cốc (Tỷ
USD)
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê
Mặc dù sản phẩm của ngành chế biến thực phẩm khá đa dạng và phong phú, song Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được một số sản phẩm chủ yếu như: thủy sản, rau quả, điều, cà phê, bánh kẹo Trong những năm qua, hoạt động xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam đã gặp khá nhiều khó khăn do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng thực phẩm có xu hướng giảm vào năm 2013 như cà phê, gạo, chè so với các năm trước đó (Bảng 1)
Trong khi tình hình xuất khẩu không khởi sắc thì giá xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu này cũng liên tục có xu hướng biến động theo chiều hương giảm so với các năm trước Ngoại trừ ba mặt hàng rau, quả, bánh kẹo và chè có tăng nhẹ về giá xuất khẩu thì giá các mặt hàng khác lại giảm mạnh Điển hình như giá gạo và hạt điều, giá xuất khẩu giảm xấp xỉ 10% so với
Trang 5các năm trước Điều này cũng cho thấy phần nào về sức cạnh tranh của ngành thực phẩm Việt Nam trên các thị trường xuất khẩu Trong khi tại thị trường nội địa nhóm hàng thực phẩm lại
là nhóm hàng có mức độ biến động về giá mạnh
Bảng 2: Biến động giá xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm chủ yếu
8 Bánh kẹo và sản phẩm từ
ngũ cốc
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê và tính toán của tác giả
2.3 Kỹ năng lực lượng lao động ( Điểm đánh giá 4/10)
Trong ngành công nghiệp nói chung, trình độ chuyên môn của người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của quá trình phát triển Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất và quản lý ở các doanh nghiệp Hiện có khoảng 73% lực lượng lao động công nghiệp có trình độ chuyên môn
kỹ thuật và tay nghề thấp, do vậy, đã hạn chế khả năng tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm
Ngành chế biến thực phẩm là một phân ngành của ngành công nghiệp, nên cũng không nằm ngoài khung khổ đó Do phổ biến là giết mổ và chế biến thủ công, nhỏ lẻ nên số lao động của các cơ sở chế biến công nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ Theo Tổng cục thống kê, đến cuối năm 2013 trong ngành chế biến thực phẩm chỉ có xấp xỉ 30% số lượng doanh nghiệp trong ngành có quy mô lao động trên 200 người còn lại đều là các doanh nghiệp nhỏ lẻ, phân tán với số lượng lao động dưới 200 người Điều này cho thấy đây là ngành phân tán mỏng Cũng theo số liệu của Tổng cục thống kê, mới chỉ có 18% lao động trong ngành được qua đào tạo và có trình độ chuyên môn đáp ứng nhu cầu của công việc Đây là một kết quả khá hạn chế mà các doanh nghiệp trong ngành cần phải có định hướng cải thiện
Tại các cơ sở chế biến nhỏ, số lao động thường xuyên (ký hợp đồng dài hạn) có trình
độ am hiểu về công nghệ, thiết bị và vệ sinh an toàn thực phẩm tương đối tốt Tuy nhiên, lực lượng này chỉ phát huy tác dụng tối đa trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu, một phần nhỏ cho sản phẩm chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong nước Mặt khác, số lao động trong lĩnh vực chế biến thịt sản xuất các sản phẩm truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là phổ biến, thiếu kiến thức công nghệ, đặc biệt là kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm
2.4 Thị phần thị trường nội địa và xuất khẩu ( Điểm đánh giá 5/10)
Năm 2013, Việt Nam sản xuất được 44 tỷ USD các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thực phẩm bao gồm trồng trọt, thủy sản và chăn nuôi Ngoài ra, Việt Nam nhập khẩu 6,5 tỷ USD các nguyên liệu đầu vào quan trọng như nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu sữa, hải sản, dầu ăn và chất béo, lúa mì, trái cây và rau quả cho ngành thực phẩm
Trang 6Hình 2: Kết quả tăng trưởng và doanh thu một số mặt hàng thực phẩm chính năm 2013
Nguồn: Euromonitor International
Năm 2013, Việt Nam sản xuất được 44 tỷ USD các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thực phẩm bao gồm trồng trọt, thủy sản và chăn nuôi Ngoài ra, Việt Nam nhập khẩu 6,5 tỷ USD các nguyên liệu đầu vào quan trọng như nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu sữa, hải sản, dầu ăn và chất béo, lúa mì, trái cây và rau quả cho ngành thực phẩm
Trong năm, giá trị sản xuất lương thực thực phẩm của Việt Nam ước tính đạt hơn 52,1
tỷ USD trong đó tiêu thụ trong nước chiếm 66,8%, đạt 34,8 tỷ USD, còn lại là xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (thủy sản, gạo, cà phê, hạt điều) đạt kim ngạch 17,3 tỷ USD
Lương thực thực phẩm chủ yếu được tiêu thụ thông qua các kênh thương mại và kênh truyền thống Kênh truyền thống bao gồm gần 779.000 khu chợ và các cửa hàng tư nhân nhỏ, kênh này rất phù hợp với thực phẩm mua số lượng nhỏ và thường xuyên Các kênh truyền thống chiếm 75% giá trị bán lẻ thực phẩm, 25% giá trị còn lại thông qua kênh thương mại gồm 447 siêu thị và đại siêu thị, 365 siêu thị mini và cửa hàng tiện lợi, 560.000 nhà hàng và quán ăn và 12.500 khách sạn
Các thị trường xuất khẩu thực phẩm chính cảu Việt Nam phải kể đến Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN và các quốc gia khác Trong đó thị trường xuất khẩu chủ yếu và lớn nhất là Mỹ với 22% giá trị xuất, tiếp đó đến các quốc gia EU với 20%
2.5 Yếu tố đầu vào (Điểm đánh giá 6/10)
Đối với ngành chế biến thực phẩm, các ngành công nghiệp phụ trợ, bao gồm: công nghiệp cơ khí, bưu chính – viễn thông, giao thông vận tải, công nghiệp bao bì, công nghiệp hoá chất, Ở nước ta, các ngành đó đã phát triển mạnh trong thời gian qua, tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập, thiếu khả năng cạnh tranh:
Chi phí dịch vụ hạ tầng như: điện, nước, viễn thông, cảng biển, chi phí vận tải của nước
ta được đánh giá là cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực Cụ thể, cước viễn thông quốc tế cao hơn các nước trong khu vực từ 30% đến 50%, giá điện dùng trong công nghiệp cao hơn nhiều so với Myanma, Thái Lan, Indonexia và Lào Cước phí vận tải, bốc xếp, lưu kho tại các cảng cao (gấp 1,5 đến 2 lần các nước trong khu vực) Tiêu cực phí quá nhiều, như: qua các trạm kiểm soát dọc đường, khi xe vào cảng hay khi hàng lên tàu, cùng với thủ
Trang 7tục và lệ phí hải quan, hàng hải , hàng không rườm rà làm tăng chi phí và thời gian cho doanh nghiệp;
Hình 3: Tỷ trọng sản xuất và tiêu thụ thực phẩm năm 2013
Nguồn: Euromonitor International
Hình 4: Thị trường và tỷ trọng xuất khẩu chính của ngành năm 2013
Nguồn: Euromonitor International
2.6 Yếu tố đầu vào (Điểm đánh giá 6/10)
Đối với ngành chế biến thực phẩm, các ngành công nghiệp phụ trợ, bao gồm: công nghiệp cơ khí, bưu chính – viễn thông, giao thông vận tải, công nghiệp bao bì, công nghiệp
Trang 8hoá chất, Ở nước ta, các ngành đó đã phát triển mạnh trong thời gian qua, tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập, thiếu khả năng cạnh tranh:
Chi phí dịch vụ hạ tầng như: điện, nước, viễn thông, cảng biển, chi phí vận tải của nước
ta được đánh giá là cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực Cụ thể, cước viễn thông quốc tế cao hơn các nước trong khu vực từ 30% đến 50%, giá điện dùng trong công nghiệp cao hơn nhiều so với Myanma, Thái Lan, Indonexia và Lào Cước phí vận tải, bốc xếp, lưu kho tại các cảng cao (gấp 1,5 đến 2 lần các nước trong khu vực) Tiêu cực phí quá nhiều, như: qua các trạm kiểm soát dọc đường, khi xe vào cảng hay khi hàng lên tàu, cùng với thủ tục và lệ phí hải quan, hàng hải , hàng không rườm rà làm tăng chi phí và thời gian cho doanh nghiệp;
Ngành điện, theo nghiên cứu của Bộ Công nghiệp thì giá điện kinh doanh của nước ta cao hơn các nước trong khu vực, song chất lượng của dịch vụ cung cấp còn nhiều hạn chế Vì thế, trung bình gây thêm tổn thất chi phí điện cho doanh nghiệp từ 10% đến 15%;
Bưu chính viễn thông, để kinh doanh thành công trong điều kiện cạnh tranh trong nước
và thế giới đang diễn ra rất gay gắt, các doanh nghiệp cần rất nhiều thông tin chính xác về thị trường, công nghệ, người mua và người bán, về cung-cầu, giá cả, tỷ giá, thông tin về thay đổi chính sách của Nhà nước, Nhu cầu thực tế to lớn đó của hệ thống doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh nghiệp chế biến thực phẩm đòi hỏi phải phát triển mạnh hệ thông tin liên lạc bằng các hình thức khác nhau Nước ta trong những năm qua hệ thông thông tin kiên lạc đã phát triển rất nhanh chóng, với công nghệ tương đương các nước trong khu vực Tuy nhiên, giá cả dịch vụ của chúng ta còn cao hơn, đồng thời chất lượng dịch vụ chưa tốt gây ảnh hưởng cho người sử dụng
2.7 Nhu cầu trong nước ( Điểm đánh giá 7/10)
25.2 29
32.234.837.4
40.344.3
49.8 57.2
0
10
20
30
40
50
60
70
Tiêu thụ thực phẩm (tỷ USD)
Hình 5: Dự báo tiêu thụ thực phẩm của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018
Nguồn: Euromonitor International
Tổ chức Giám sát kinh doanh Quốc tế (BMI) dự báo tiêu thụ thực phẩm của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2018 sẽ tiếp tục tăng 5,1%/năm, ước tính đạt 57.2 tỷ USD Trong khi đó, mức tiêu thụ bình quân theo đầu người tính đến năm 2018, vào khoảng 605 USD/năm
Tiêu thụ thực phẩm tăng trưởng ấn tượng là do hai nguyên nhân chính sau đây: (i) thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam tăng và (ii) sự phát triển của ngành công nghiệp bán lẻ Hiện nay, mức thu nhập tại Việt Nam vẫn còn khá thấp so với tại các nền kinh tế phát triển và người tiêu dùng vẫn còn tập trung chủ yếu vào các lại lương thực thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu hàng ngày Tuy nhiên, khi thu nhập ngày càng tăng, thị hiếu và sở thích tiêu
Trang 9dùng của người tiêu dùng Việt Nam sẽ thay đổi, sẽ tập trung nhiều hơn vào những loại thực phẩm và đáp ứng được nhu cầu và có thương hiệu
2.8 Các ngành công nghiệp phụ trợ ( Điểm đánh giá 3/10)
Về sản phẩm của ngành chăn nuôi
Bảng 3: Thống kê sản lượng ngành chăn nuôi giai đoạn 2010 - 2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê Theo kết quả điều tra sơ bộ tại thời điểm 1/4/2014 của Tổng cục Thống kê, cả nước có 2,58 triệu con trâu, tương đương cùng kỳ năm trước; 5,18 triệu con bò, tăng 0,7% so với cùng
kỳ năm trước Cả nước có 26,39 triệu con lợn, tăng nhẹ (0,3%) so với cùng kỳ Tổng số gia
cầm của cả nước có 315 triệu con, tăng 0,7% so cùng kỳ năm 2013
Về quy mô vốn, máy móc, thiết bị, công nghệ
Trình độ công nghệ và trang thiết bị sản xuất của ngành công nghiệp nước ta ở mức trung bình yếu Tỷ lệ trang thiết bị kỹ thuật cũ, công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm 60% đến 70%, công nghệ tiên tiến và hiện đại chiếm 30% đến 40% Trình độ công nghệ của nước
ta chỉ ở mức 73/102 nước được xếp hạng Bức tranh toàn ngành công nghiệp là như vậy, ngành chế biến thực phẩm cũng không nằm ngoài thực trạng đó Tính đến tháng 12 năm 2012,
cả nước có gần 1500 cơ sở giết mổ, chế biến gia súc; 250 cơ sở giết mổ, chế biến gia cầm trong đó các cơ sở giết mổ gia súc hiện nay chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, công suất mỗi điểm từ 10 đến 300 con/ngày, chủ sở hữu hầu hết là tư nhân Đặc điểm nổi bật của hệ thống lò
mổ này là diện tích chật hẹp, phương tiện giết mổ thô sơ, vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế Từ năm 1997, Nhà nước có chủ trương xây dựng các khu giết mổ tập trung, công suất lớn từ 200 đến 500 con/ngày ở các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên, do thiếu các biện pháp về tổ chức và hành chính nên việc triển khai chậm chạp, hiệu quả thấp Các cơ sở chế biến nhỏ sản xuất trong điều kiện mất vệ sinh, sử dụng chất phụ gia tuỳ tiện, cơ quan Nhà nước có kiểm tra nhưng ngăn chặn và xử lý không kịp thời
3 Kết Luận Và Giải Pháp
Thông qua kết quả phân tích thực trạng về các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành thực phẩm Việt Nam ở trên, cùng với các điểm đánh giá tương ứng có thể kết luận
về năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thực phẩm Việt Nam thông qua Hình 6
Qua các tiêu chí đã phân tích và thông qua kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh ngành thực phẩm Việt Nam (Hình 6) có thể thấy ngành chế biến thực phẩm Việt Nam đang từng bước khẳng định vai trò của mình trên thị trường khu vực và thế giới Năng lực cạnh tranh của ngành ngày càng được cải thiện Trong đó năng suất lao động ngày càng cao là một trong những khía cạnh thể hiện năng lực cạnh tranh của ngành, nó cho phép hạ gia thành sản phẩm, gia tăng cơ hội thành công khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên với những hạn chế về công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, kỹ năng lực lượng lao động chưa thực sự tốt, biến động về giá cũng làm cho năng lực cạnh tranh của ngành mới dừng lại ở mức độ trung bình
Trang 10Đây cũng là những dấu hiệu thể hiện nguy cơ không bền vững trong năng lực cạnh tranh của ngành trong thời gian tới, cần phải có định hướng khắc phục
Hình 6: Biểu đồ năng lực cạnh tranh ngành chế biến thực phẩm Việt Nam
Nguồn: Tác giả
Thông qua kết quả phân tích thực trạng về các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành thực phẩm Việt Nam ở trên, cùng với các điểm đánh giá tương ứng có thể kết luận
về năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thực phẩm Việt Nam thông qua Hình 6
Qua các tiêu chí đã phân tích và thông qua kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh ngành thực phẩm Việt Nam (Hình 6) có thể thấy ngành chế biến thực phẩm Việt Nam đang từng bước khẳng định vai trò của mình trên thị trường khu vực và thế giới Năng lực cạnh tranh của ngành ngày càng được cải thiện Trong đó năng suất lao động ngày càng cao là một trong những khía cạnh thể hiện năng lực cạnh tranh của ngành, nó cho phép hạ gia thành sản phẩm, gia tăng cơ hội thành công khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên với những hạn chế về công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, kỹ năng lực lượng lao động chưa thực sự tốt, biến động về giá cũng làm cho năng lực cạnh tranh của ngành mới dừng lại ở mức độ trung bình Đây cũng là những dấu hiệu thể hiện nguy cơ không bền vững trong năng lực cạnh tranh của ngành trong thời gian tới, cần phải có định hướng khắc phục
Trên cơ sở kết luận về năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thực phẩm Việt Nam, tác giả đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành như sau:
Một là, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ theo hướng hiện đại hóa và tạo lập mối
liên kết giữa các hoạt động nuôi trồng, chế biến, sản xuất, kinh doanh, phân phối cho ttừng nhóm sản phẩm
Hai là, các doanh nghiệp trong ngành cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh, nỗ
lực nâng cao năng suất, chủ động tìm kiếm và phát triển thị trường kinh doanh
Ba là, nhà nước cần tăng cường quản lý về giá đối với các sản phẩm của ngành, hỗ trợ
các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm trong đào tạo và phát triển đội ngũ lao động có tay nghề