1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quản trị và kinh doanh COMB 2014

464 10 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 464
Dung lượng 9,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của hội thảo là nhằm tạo ra một môi trường trao đổi học thuật và chia sẻ kinh nghiệm giữa các nhà khoa học, các doanh nhân và các nhà quản lý chính sách về các cơ hội và thách thức trong đổi mới kinh doanh. Trọng tâm của hội thảo COMB 2014 tập trung vào sự chuyển đổi mô hình kinh doanh và quản trị của các doanh nghiệp từ việc tái cấu trúc thị trường và nguồn cung ứng đến việc tái tổ chức các hoạt động bên trong doanh nghiệp và định vị thị trường.

Trang 1

HỘI THẢO KHOA HỌC

QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

CONFERENCE ON

MANAGEMENT AND BUSINESS (COMB 2014)

Đà Nẵng, tháng 9 năm 2014

Trang 2

BAN TỔ CHỨC TRƯỞNG BAN

GS TS Trương Bá Thanh Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng

PHÓ TRƯỞNG BAN

TS Đào Hữu Hòa P Hiệu trưởng - Trường Đại học Kinh Tế

Ông Lê Văn Hiểu Chủ tịch Hội doanh nhân trẻ Đà Nẵng

TS Nguyễn Thanh Liêm Trưởng khoa QTKD - Trường Đại học Kinh Tế,

ĐHĐN

ỦY VIÊN

TS Đoàn Ngọc Phi Anh Trưởng phòng KH, SĐH&HTQT

TS Đường Thị Liên Hà P Phòng KH, SĐH&HTQT

Ông Phan Hải P Chủ tịch Hội doanh nhân trẻ Đà Nẵng

TS Dương Anh Hoàng Trưởng phòng HC-TH

Ông Lý Đình Quân Giám đốc hỗ trợ và phát triển DNNVV

TS Trương Hồng Trình Phó khoa QTKD

Trang 3

BAN BIÊN TẬP TRƯỞNG BAN

GS TS Trương Bá Thanh Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng

PHÓ TRƯỞNG BAN

PGS TS Lê Thế Giới Phó Giám đốc Trung Tâm GDTX, ĐHĐN

PGS TS Võ Xuân Tiến Trưởng Ban Đào tạo SĐH, ĐHĐN

ỦY VIÊN

TS Đoàn Ngọc Phi Anh Trưởng phòng KH, SĐH&HTQT

TS Đoàn Gia Dũng Trưởng ban TCCB – ĐHĐN

TS Lê Thị Minh Hằng Trưởng bộ môn Quản trị Kinh doanh tổng quát

TS Nguyễn Hiệp Trưởng ban Tài chính - ĐHĐN

TS Đào Hữu Hòa P Hiệu trưởng – Trường ĐH Kinh Tế, ĐHĐN

TS Nguyễn Văn Hùng Phó Viện trưởng – Viện NC PTKT Đà Nẵng PGS TS Lê Văn Huy Trưởng P Đào tạo

TS Nguyễn Đình Huỳnh TGĐ Công ty công nghệ hóa chất ĐN

TS Phạm Thị Lan Hương Trưởng bộ môn Marketing

PGS.TS Trần Đình Khôi Nguyên Trưởng khoa Kế toán

TS Hồ Kỳ Minh Bí thư quận ủy Q Cẩm Lệ, Thành viên tổ tư vấn

phát triển Miền Trung

TS Nguyễn Phúc Nguyên Phó phòng Đào tạo

TS Nguyễn Xuân Lãn Phó khoa QTKD

TS Nguyễn Thanh Liêm Trưỏng khoa QTKD

PGS.TS Nguyễn Văn Phát Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh Tế, ĐH Huế PGS.TS.Nguyễn Trường Sơn Phó Ban Đào tạo SĐH, ĐHĐN

PGS.TS Nguyễn Mạnh Toàn P Hiệu trưởng – Trường ĐH Kinh Tế, ĐHĐN

TS Võ Quang Trí Bộ môn Marketing

TS Trương Hồng Trình Phó khoa QTKD

TS Nguyễn Quốc Tuấn Trưởng bộ môn Nguồn nhân lực

TS Đỗ Thị Thanh Vinh Trưởng khoa Kinh Tế - Đại học Nha Trang

Trang 4

MỤC LỤC

GS.TS Trương Bá Thanh

LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP NỘI ĐỊA

KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VÀO VÀO LĨNH VỰC BIA - RƯỢU – NƯỚC

GIẢI KHÁT

35

ThS Phùng Mạnh Hùng PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CHO CÁC

QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

64

Trần Kim Anh TÍNH MINH BẠCH CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CẤP TỈNH DƯỚI

GÓC NHÌN CỦA DOANH NGHIỆP KHẢO SÁT TẠI VÙNG KINH TẾ

TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ

72

PGS TS Nguyễn Trường Sơn JAPANESE SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES UNTIL 1990S AND

THAI SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES AT PRESENT:WHAT AND

HOW DO THE VIETNAMESE LEARN FROM BOTH COUNTRIES?

ĐÁNH GIÁ

108

ThS Phạm Thị Dự GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH ĐẮK LẮK 118

Trang 5

Lê Thế Phiệt VAI TRÕ CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC TRONG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC

KINH DOANH ĐIỆN TỬ

128

ThS Trần Thị Trương

HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DOANH NHÂN TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA VIỆT NAM

135

ThS Nguyễn Lan Anh, ThS.Nguyễn Thị Hạnh Duyên

TS Lê Thị Minh Hằng UNDERSTANDING SUPPLY CHAIN COLLABORATION IN ITS

DEFINITION AND APPLICATION

Nguyen Thanh Liem, PhD., Phan Minh Phuoc

151

ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT TRONG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM THỦY

SẢN XUẤT KHẨU TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG NƯỚC TA

157

ThS Vũ Văn Thịnh TIẾP CẬN CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG

NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP

172

ThS Phan Đình Quyết, Vũ Thị Thùy Linh PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC LIÊN

KẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CÁC DOANH NGHIỆP VỪA

VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM

184

Võ Thị Phương, Nguyễn Thị Minh Chi

MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG DI

ĐỘNG VÀ NGÂN HÀNG – ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO THANH

TOÁN DI ĐỘNG Ở VIỆT NAM

194

Lê Xuân Cù TÁI CẤU TRÖC CHUỖI CUNG ỨNG - HƯỚNG ĐI MỚI CHO XUẤT KHẨU

DỆT MAY VIỆT NAM

203

ThS Lê Mai Trang

CƠ CHẾ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG MỰC ỐNG -

TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN CAFICO VIỆT NAM

TS Ngô Thị Khuê Thư, Lê Thị Xinh CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THẺ ATM CỦA NGÂN HÀNG BIDV– GÓC NHÌN

TỪ SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI

243

ThS Nguyễn Đắc Thành, NCS Vũ Tuấn Hiệp

Trang 6

HÌNH ẢNH LÍ TRÍ VÀ HÌNH ẢNH CẢM XÖC: NGHIÊN CỨU SO SÁNH

GIỮAHAI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG VÀ NHA TRANG

256

TS Nguyễn Thị Bích Thủy, TS Phạm Thị Lan Hương

SỰ ƯA THÍCH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM ĐẠO ĐỨC:

TRƯỜNG HỢP SỮA RỬA MẶT PHỤ NỮ

267

ThS Trần Triệu Khải BÀN VỀ ĐO LƯỜNG TÀI SẢN THƯƠNG HIỆU ĐỊNH HƯỚNG KHÁCH

HÀNG TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ CUNG ỨNG CHO DOANH NGHIỆP

278

TS Phạm Thị Lan Hương, TS Nguyễn Thị Bích Thủy

PR CỘNG ĐỒNG - TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN KINH DOANH MỘT SỐ

ĐỀ XUẤT CHO NGÀNH SỮA TƯƠI VIỆT NAM

CÁC HÌNH THỨC TÀI TRỢ TRÊN CHUỖI CUNG ỨNG VÀ THỰC TRẠNG

TÀI TRỢ TRÊN CHUỖI CUNG ỨNG TẠI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

340

ThS Nguyễn Thị Nhã Uyên NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ

RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM

350

Thái Thị Thanh Duyên, TS Trương Hồng Trình

ThS Nguyễn Thanh Thảo, ThS Đoàn Thị Liên Hương LỆCH PHA TRONG THỊ TRƯỜNG VỐN VAY DÀNH CHO DOANH NGHIỆP

VỪA VÀ NHỎ VÀ SỰ BẤT HỢP LÝ CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH BẢO

LÃNH TÍN DỤNG CỦA NHÀ NƯỚC

370

ThS Đoàn Thị Liên Hương, Kỹ sư Lê Trường Kỹ - Dinco Corp

MÔ HÌNH CHO VAY TRỰC TUYẾN PEER – TO – PEER: KÊNH HUY ĐỘNG

VỐN CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

382

ThS Hoàng Công Huân, ThS Lê Đắc Anh Khiêm

Trinh Thuy Huong

Trang 7

HOẠT ĐỘNG M&A VÀ NHẬN DIỆN CÁC BIẾN ĐỘNG NHÂN LỰC SAU

CÁC HOẠT ĐỘNG M&A TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÖC DOANH

NGHIỆP

410

ThS Vũ Thị Minh Xuân ĐÀO TẠO VÀ THU HÖT LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO TRÊN ĐỊA BÀN

Nguyễn Quốc Tuấn

KỸ NĂNG MỀM - ĐÁP ỨNG NHU CẦU DOANH NGHIỆP, NHU CẦU XÃ

HỘI HIỆN NAY

443

Phạm Minh Nở ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ CÔNG VIỆC ĐIỂM – NHÂN TỐ

TRONG XÂY DỰNG CẤU TRÖC TIỀN LƯƠNG

450

ThS Nguyễn Thị Loan

Trang 9

LIÊN KẾT VÀ TÁI CẤU TRÚC KINH DOANH – GÓC NHÌN CHỦ ĐỘNG

BUSINESS LINKAGE AND REENGENEERING – THE PROACTIVE APPROACH

GS.TS Trương Bá Thanh

Đại học Đà Nẵng

Kính thưa quí vị đại biểu tham dự Hội thảo!

Thay mặt Ban Tổ chức hội thảo, chúng tôi nhiệt liệt chào đón các nhà khoa học, quí doanh nghiệp tham dự Hội thảo Khoa học về Quản trị và Kinh doanh 2014 (COMB 2014)

Kính thưa quí vị!

Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn trong việc định hình lại chiến lược và cơ cấu kinh doanh nhằm thích ứng với những biến đổi của môi trường Các biến động của các chính sách kinh tế vĩ mô những năm vừa qua, sự sút giảm của dòng vốn đầu tư trong nước và quốc tế, áp lực cạnh tranh gia tăng từ quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào thị trường khu vực cũng như các biến động chính trị - xã hội trong khu vực thời gian qua đang đặt ra cho các doanh nghiệp yêu cầu đánh giá lại mô hình kinh doanh hiện tại và tìm kiếm phương thức hợp tác và cạnh tranh mới Không chỉ các tập đoàn nhà nước đang phải đối mặt với việc tái cấu trúc và tổ chức lại hoạt động theo hướng tinh gọn và hiệu quả, các doanh nghiệp nhỏ

và vừa cũng phải tích cực đổi mới cách thức kinh doanh và hoàn thiện hệ thống quản trị, đặc biệt là tìm kiếm các mô hình liên kết, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh trong điều kiện mới Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc kinh doanh này vẫn còn gặp khá nhiều các cản trở và thách thức đến từ nhiều phía, năng lực của doanh nghiệp, điều kiện môi trường và cơ chế chính sách, đặc biệt là tinh thần chủ động và quyết tâm thay đổi của các nhà quản trị cấp cao Trong tình hình này, các nghiên cứu đánh giá tình hình kinh doanh và các khuynh hướng thay đổi của thị trường, các ý tưởng áp dụng các mô hình kinh doanh mới, các công nghệ quản trị hiệu quả cũng như các bài học kinh nghiệm sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam

Với sứ mệnh kết nối nền khoa học quản trị tiên tiến của thế giới với thực tiễn

kinh doanh năng động tại Việt Nam và hưởng ứng tinh thần ―Năm Doanh nghiệp Đà

Nẵng 2014‖ Tiếp nối sự thành công và kế thừa các hiệu ứng tích cực từ hai hội thảo

COMB 2012 và COMB 2013, Trường đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng và Hội doanh nhân trẻ thành phố Đà Nẵng đồng tổ chức Hội thảo về Khoa học Quản trị lần 3

(COMB 2014) vào ngày 27 tháng 09 năm 2014 với chủ đề “Liên kết và tái cấu trúc

kinh doanh – Góc nhìn chủ động” Mục tiêu của hội thảo là nhằm tạo ra một môi

trường trao đổi học thuật và chia sẻ kinh nghiệm giữa các nhà khoa học, các doanh nhân và các nhà quản lý chính sách về các cơ hội và thách thức trong đổi mới kinh doanh, chủ động thay đổi nhằm thích ứng với các biến động của môi trường kinh tế - chính trị - xã hội của Việt Nam trong những năm tới

Trang 10

Trọng tâm của hội thảo COMB 2014 tập trung vào sự chuyển đổi mô hình kinh doanh và quản trị của các doanh nghiệp từ việc tái cấu trúc thị trường và nguồn cung ứng đến việc tái tổ chức các hoạt động bên trong doanh nghiệp và định vị thị trường Ngoài ra, hội thảo lần này cũng hướng sự quan tâm của cộng đồng vào các mô hình liên kết kinh doanh, phát triển nguồn nhân lực như là một giải pháp tiềm năng cho các vấn đề hiện tại của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tại Việt Nam, khoa học Quản trị là lĩnh vực khá non trẻ so với thế giới, tiếp cận tiến bộ của khoa học Quản trị vào thực tiễn Kinh doanh là con đường thúc đẩy nền kinh tế phát triển hội nhập quốc tế Hội thảo khoa học về Quản trị và Kinh doanh là dịp để các nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách cùng nhau thảo luận về những vấn đề, những xu hướng và thức thách đặt ra trong thực tiễn kinh doanh, bao gồm:

(1) Khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong những năm qua đã tác động đến tốc độ tăng trưởng, doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trường, nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Cùng với xu hướng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và gia nhập hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TTP) đòi hỏi các doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ, gia tăng năng lực quản lý trong môi trường hội nhập quốc tế (2) Sự liên kết và chiến lược hợp tác trong chuỗi cung ứng, liên kết doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trên cơ sở hợp tác và cạnh tranh nhằm khai thác năng lực và sáng tạo giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu

(3) Những thách thức môi trường kinh doanh và xu hướng liên kết đòi hỏi doanh nghiệp chủ động tiếp cận thị trường, nguồn vốn, thay đổi công nghệ và cách thức quản lý theo hướng hội nhập quốc tế Tiếp cận chủ động mở rộng phạm vi thay đổi về vai trò của nhân viên, các hiệp hội, nhà quản lý nhằm chủ động với những thời

cơ và thách thức của môi trường kinh doanh

(4) Nguồn nhân lực đóng vai trò trọng tâm trong các quá trình thay đổi và liên kết kinh doanh Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi nâng cao năng lực quản lý của doanh nghiệp, phát triển kỹ năng của nhân viên, thúc đẩy đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp

Hội thảo đã thu hút sự tham gia của hơn 200 học giả, các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp đến từ hơn 20 trường đại học, viện nghiên cứu trong nước và quốc tế Các bài viết được chia thành 5 lĩnh vực khác nhau, bao gồm:

- Quản trị chiến lược,

- Quản trị chuỗi cung ứng,

- Quản trị Marketing,

- Quản trị tài chính,

- Quản trị nguồn nhân lực,

Để tổ chức thành công hội thảo, Ban tổ chức đã nhận được 63 bài viết tham gia Trong số đó, 46 bài viết được Ban biên tập đánh giá và lựa chọn đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học Trong khuôn khổ hội thảo lần này, Ban tổ chức tập trung thảo luận

Trang 11

các vấn đề liên quan đến liên kết doanh nghiệp, vai trò của các hiệp hội trong hoạt động doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ban tổ chức xin chân thành cảm ơn sự tham gia nhiệt tình đầy trách nhiệm của các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cho sự phát triển của cộng đồng kinh doanh tại Việt Nam Với số lượng lớn người tham gia, chúng tôi tin hy vọng hội thảo là một sự kiện lớn cho cộng đồng các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trao đổi những ý tưởng mới, cách thức giải quyết và kinh nghiệm thực tiễn với cộng đồng doanh nghiệp ở trong và ngoài nước

Nhân dịp này, chúng tôi xin cảm ơn đơn vị đồng tổ chức Hiệp hội doanh nhân trẻ thành phố Đà Nẵng, các nhà tài trợ, cơ quan thông tin báo chí đã đưa tin về hội thảo, các đơn vị phối hợp là: Trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, Trường đại học kinh tế TP HCM, Trường đại học thương mại, Trường đại học kinh tế - Đại học Huế, Trường đại học Nha Trang, Viện nghiên cứu và phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng đã tích cực tham gia chuẩn bị nội dung và vận động viết bài cho Hội thảo

Ban tổ chức cũng xin gửi đến tất cả quí vị đại biểu tham dự Hội thảo, những người tham gia viết bài cho hội thảo lời cảm ơn chân thành nhất Chúc các đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Chúc cho hội thảo thành công tốt đẹp!

Trang 12

CHIẾN LƢỢC KINH DOANH

Trang 13

LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP NỘI ĐỊA KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

LINKAGES BETWEEN FDI COMPANIES AND DOMESTIC FIRMS - LESSONS

FROM THAILAND FOR VIETNAM

ThS Hà Thị Cẩm Vân, ThS Lê Mai Trang

Khoa Kinh Tế-Luật – Trường Đại Học Thương Mại

Từ khóa: FDI; công ty đa quốc gia; hợp tác

ABSTRACT

During globalization process, Multinational companies (MNC) holds a pivotal role in accelerating the growth of Small and Medium Enterprises (SME) There is a large distance between product quality and FDI technology innovation within local companies FDI holds potential source of knowledge and technology, yet creates many obstacles discouraging newcomers to the field Thus, strengthening the relationship between domestic firms and multinational corporations is a right directions for Vietnamese firms The article aims to present results from a research of FDI collaboration in Thailand and its application to Vietnam

Keywords: FDI; Multinational companies; collaboration

1 Cơ Sở Lý Thuyết Của Việc Liên Kết Giữa Doanh Nghiệp Fdi Và Doanh Nghiệp Nội Địa

Quá trình toàn cầu hóa mạng lưới sản xuất đang xảy ra rất nhanh và rộng khắp trong những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng nhanh về thương mại và đầu tư nước ngoài Trong quá trình này các doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nội địa Các quốc gia đang phát triển muốn gia tăng giá trị nội tại, tăng nội địa hóa cần tăng cường liên kết với các tập đoàn đa quốc gia Việc các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các FDI thể hiện rõ nét nhất ở hai khía cạnh Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương: chuỗi giá trị toàn cầu cho phép sản xuất hàng trung gian và hàng tiêu dùng cuối cùng có thể được thuê ngoài, do đó dẫn tới sự gia tăng thương mại thông qua hoạt động xuất nhập khẩu và sự gia tăng nhanh chóng lượng đầu vào trung gian trao đổi giữa các nước Thứ hai, sản xuất ngày càng dựa vào đầu vào của nước ngoài, do kết quả của việc ngày càng gia tăng quan hệ thương mại toàn cầu giữa các nước, tỷ lệ giá trị sản xuất được tạo ra bởi một nước nào đó có xu hướng ngày càng giảm xuống.Về cơ bản, có năm hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa:

Liên kết ngược với nhà cung cấp Phần lớn các doanh nghiệp FDI là các tập đoàn

MNC (công ty đa quốc gia) cần có các sản phẩm nguyên liệu đầu vào chất lượng cao và được cung ứng đúng lúc Các MNC không thể sản xuất tất cả các nguyên phụ liệu và thiết bị đầu

Trang 14

vào, họ cần các nhà cung ứng bên ngoài hiệu quả Thuê ngoài là xu hướng ngày càng phổ biến với quy mô ngày càng gia tăng

Liên kết xuôi với khách hàng Các tập đoàn đa quốc gia có thể phát triển các mối liên

kết xuôi với khách hàng Mối liên kết quan trọng nhất là kết nối với mạng lưới phân phối Các tập đoàn đa quốc gia chính là khách hàng và mở ra thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trong nước Đặc biệt, các MNC thuê hệ thống phân phối các thương hiệu nổi tiếng thường tập trung đầu tư cho mạng lưới marketing như các đại lý bán xe, trạm xăng dầu, chuỗi cửa hàng Một dạng liên kết xuôi chiều khác chính là liên kết với các khách hàng công nghiệp Rất nhiều các nhà sản xuất máy móc thiết bị hoặc hàng hóa trung gian (công nghiệp

hỗ trợ) cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là khách hàng của họ, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển

Liên kết với đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh là động lực cơ bản cho sự đổi mới và học

hỏi về công nghệ Các tập đoàn đa quốc gia thâm nhập vào thị trường các nước đang phát triển làm phát sinh cạnh tranh, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp điạ phương cải tiến nhanh hơn Các doanh nghiệp FDI có thể thiết lập tiêu chuẩn mới cho ngành và hình thành cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong ngành Mặt khác, nếu các doanh nghiệp cạnh tranh địa phương chậm trễ so với các tiêu chuẩn của các tập đoàn MNC họ sẽ bị loại khỏi ngành

Liên kết với đối tác công nghệ Một số MNC thành lập các dự án liên doanh với các

đối tác SME bản xứ Các dự án này có thể là các liên kết công bằng hoặc không công bằng bao gồm cả doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên minh chiến lược Một số quốc gia yêu cầu các MNC thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa địa phương vào các đối tác liên kết hoặc ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp địa phương Trong trường hợp khác liên kết với đối tác công nghệ trên nguyên tắc tự nguyện, vì

cả hai bên xác định hỗ trợ và chia sẻ lợi ích từ liên kết

Các tác động lan tỏa khác Các MNC đôi khi chuyển giao công nghệ, tri thức cho các

doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, mà không phải là nhà cung cấp trực tiếp cho họ Hai tác

động gián tiếp (lan tỏa) quan trọng là: i) hiệu quả phô trương xuất hiện khi MNC giới thiệu

cách thức thực hiện một công việc, điều này trưng bày cách thức cho đổi mới sáng tạo Bằng cách là học hỏi và sao chép các chiến lược của MNC các doanh nghiệp địa phương có thể bắt chước được các sản phẩm và kỹ năng quản lý của MNC, phát triển các cách thức mới về phối

hợp các bộ phận trong doanh nghiệp hay tiếp cận các thị trường phi truyền thống; ii) Tác động lan tỏa về nguồn vốn con người xảy ra khi các MNC đào tạo lao động cho nhu cầu của họ Vì

các MNC có máy móc thiết bị, hệ thống sản xuất hiện đại, kỹ năng quản lý tiến tiến cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, họ có nhu cầu cao về lực lượng lao động và đào tạo nhiều hơn Một số MNC chính là ―cơ sở đào tạo ảo‖ để hình thành các kỹ năng cho lao động địa phương

2 Liên Kết Giữa Fdi Và Doanh Nghiệp Nội Địa Ở Thái Lan

2.1 Thu hút FDI ở Thái Lan

Xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là động lực cho tăng trưởng chính của Thái Lan, nhất là ngành công nghiệp Tỷ trọng ngành công nghiệp chế tạo trong GDP đã tăng

từ từ 26% năm 1987 lên 34,8 % trong năm 2006.Thái Lan hấp dẫn đối với FDI nhất là do mức lương thấp, sự sẵn có của lực lượng lao động có tay nghề cao FDI của Thái Lan tập trung vào lĩnh vực có hàm lượng vốn tương đối như ô tô, điện và điện tử, máy móc, thiêt bị

Trang 15

Trong giai đoạn 1987 – 2010, Thái Lan vượt lên các nước láng giềng trong khu vực trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các khoản đầu tư nước ngoài Đây được xem là nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng tại nước này (Hình 1)

Hình 1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Lan

Phần lớn FDI tại Thái Lan tập trung vào các ngành sản xuất, đặc biệt là sản xuất và lắp ráp các loại sản phẩm cao cấp thay vì tập trung vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động với chi phí thấp hay cấp thấp vốn rất phổ biến ở Trung Quốc hoặc ở ở một số nước lân cận khác Trong lĩnh vực sản xuất, phân ngành máy móc và thiết bị vận tải thu hút phần lớn lượng FDI và chiếm tới 59,4% trong tổng FDI năm 2012 tại nước này Sau máy móc và thiết

bị vận tải, ngành thiết bị điện và điện tử lần lượt chiếm tỷ lệ 34,6% và 13,8% trong tổng FDI năm 2012

Các nước đầu tư vào Thái Lan phần lớn là từ các nước công nghiệp phát triển và NICs Trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Thái Lan bởi chi phí lao động thấp và kết cấu cơ sở hạ tầng công cộng tốt Diễn đàn kinh tế thế giới (2011) xếp hạng Thái Lan thứ 46 trong số các nước có cơ sở hạ tầng công cộng tốt nhất Vai trò của các doanh nghiệp đa quốc gia (MNC) ngày càng đóng vai trò quan trọng Năng suất và khả năng công nghệ của các công

ty nước ngoài vượt xa những công ty địa phương.Do vậy, hoạt động có công nghệ phức tạp chủ yếu được thực hiện bởi các công ty nước ngoài Họ có nguồn tri thức và công nghệ, một

số trong đó có thể được sao chép hoặc chuyển giao cho các nhà cung cấp trong nước, qua đó nâng cao các tiêu chuẩn và năng suất của nhiều doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ Sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp đa quốc gia sản xuất Thái Lan cũng là cơ hội

để đánh giá lại mối liên kết MNC - SME và tác động đến sự phát triển củadoanh nghiệp nhỏ

và vừa Các SMEs ở Thái Lan tạo ra khoảng 34 % của GDP của ngành công nghiệp và 67 % lực lượng lao động sản xuất Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ Thái Lan, cũng như ở các nước đang phát triển khác chưa được hiện đại hóa Nhận thức được những thay đổi nhanh chóng trong toàn cầu hóa và cạnh tranh khốc liệt hơn từ các nước chi phí lao động thấp hơn, tầm nhìn của chính phủ Thái Lan là tạo ra các SME năng động và dựa trên tri thức Hoạt động để tăng cường liên kết kinh doanh và mạng lưới sản xuất, cũng như xây dựng năng lực, hiện đang được trải khai rất tích cực

2.2 Liên kết MNC và các doanh nghiệp nội địa ở Thái Lan

Trong các ngành công nghiệp ngành ô tô, dệt may Thái Lan đã thiết lập được mạng lưới kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp đa quốc và các hoạt động của chính phủ có liên quan Ngành công nghiệp ô tô Thái Lan là rất phù hợp vì nó đã bị áp lực phải tăng cường liên kết với các doanh nghiệp đa quốc gia, là cụm ngành công nghiệp lớn nhất sản xuất bộ phận và linh kiện cho sản xuất ô tô Nhật Bản trong ASEAN Trong khi ngành ô tô là trường hợp điển hình chuỗi giá trị theo nhà sản xuất (nhà sản xuất đóng vai trò chủ đạo), ngành may mặc là một ngành công nghiệp lý tưởng cho việc phát triển chuỗi giá trị

do người mua kiểm soát Nhiều bằng chứng từ các nghiên cứu cho thấy rằng mối liên kết và

Trang 16

lan tỏa giữa các doanh nghiệp đa quốc gia và các nhà cung cấp địa phương trong ô tô và ngành công nghiệp phần mềm, dệt may đã được cải thiện đáng kể so với trước đây Mạng lưới giữa các cấp thấp hơn các nhà cung cấp địa phương trở nên quan trọng hơn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu hiện nay Trong ngành công nghiệp quần áo, hợp đồng phụ với doanh nghiệp đa quốc gia tương tự như giúp doanh nghiệp trong nước tiếp cận tốt hơn với công nghệ, thông tin tiếp thị, và di chuyển lên bậc thang chất lượng cao hơn Ngược lại với các mối liên kết theo chiều dọc và kết nối mạng, liên kết theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp nhỏ thấp tầng được tìm thấy là yếu kém trong cả ngành công nghiệp Các nghiên cứu cho thấy, trong ngắn hạn, mạng lưới và hợp đồng phụ với các doanh nghiệp lớn (MNC) có thể là con đường ngắn nhất để tăng cường khả năng cạnh tranh SME Trên bức tranh toàn cảnh, thương mại tự do và đầu tư, cũng như sự phát triển nhanh chóng của thông tin và công nghệ truyền thông (ICT) đã làm thay đổi môi trường cạnh tranh toàn cầu, trong đó doanh nghiệp đa quốc gia hoạt động Thầu phụ hiện nay bao gồm các hoạt động chế biến có giá trị cao và sản xuất, công nghệ phức tạp hơn Những thay đổi này đã mở rộng khả năng và con đường cho sự tham gia của SME Liên kết với các doanh nghiệp đa quốc có thể là cách thức ngắn nhất cho doanh nghiệp nhỏ để vượt qua các rào cản và khó khăn Lợi ích hợp đồng phụ cho các SME bao gồm nâng cao kỹ năng, tiêu chuẩn và công suất được cải thiện, tiếp cận với hỗ trợ kỹ thuật cho chất lượng sản phẩm và nâng cấp, hỗ trợ quản lý, hỗ trợ tài chính, cung cấp lớn, đơn đặt hàng ổn định Ngoài ra, liên kết với các doanh nghiệp đa quốc và các doanh nghiệp lớn có thể

là một tài sản có giá trị của công nghệ hiện đại cũng như tiếp cận thị trường nước ngoài, tiếp thị và thông tin kênh phân phối Sự hiện diện gia tăng của doanh nghiệp đa quốc gia và tự do hóa thương mại không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích doanh nghiệp nhỏ Các doanh nghiệp đa quốc hoặc các chi nhánh của nó có thể ra cạnh tranh với các công ty địa phương và lấn át đầu tư Họ không nhất thiết phải chọn nhà cung cấp địa phương để cung cấp cho họ với các sản phẩm và dịch vụ Các chi nhánh nước ngoài có thể thuê ngoài từ cung ứng toàn cầu của riêng mình Dây chuyền hay những nhà sản xuất nơi khác, chứ không phải là các nhà cung ứng trong nước SME cũng đang phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt hơn quốc tế Trong nhiều lĩnh vực, cạnh tranh đã khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ thất bại trong kinh doanh Nói chung, các SME không được chuẩn bị tốt cho các điều kiện thị trường mới và cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong các thị trường xuất khẩu Do đó, chỉ có một vài trong số họ có thể được hưởng lợi từ toàn cầu hóa

2.3 Chính sách liên kết giữa doanh nghiệp đa quốc (FDI) và SME ở Thái Lan:

Các chính sách và biện pháp của chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường các mối liên kết và tác động lan tỏa Chính sách để hạn chế FDI và áp đặt nội dung địa phương, cấp phép công nghệ, vốn chủ sở hữu yêu cầu được coi là phản tác dụng, như là trường hợp của ngành công nghiệp ô tô Thái Lan Tuy nhiên, chỉ đơn giản là tự do hóa chính sách đầu tư và cung cấp các ưu đãi để thu hút FDI là không đủ để phát triển mạng sản xuất và liên kết với các doanh nghiệp đa quốc Để nâng cao lợi ích của mối liên kết và lan tỏa giữa các doanh nghiệp đa quốc và doanh nghiệp nhỏ địa phương, chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy mối liên kết với doanh nghiệp đa quốc là rất cần thiết

Tại Thái Lan, cải thiện năng lực hoạt động của các SME trong sản xuất hoặc SME là một phần của chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ Hai đơn vị chính quyền chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy liên kết kinh doanh và thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ là Văn phòng Hỗ trợ phát triển công nghiệp (BSID ) thuộc Bộ Công nghiệp và Ủy ban đầu

tư (BOI)

Bắt đầu từ năm 1994, Văn phòng Hỗ trợ phát triển công nghiệp (BSID ) thuộc Bộ Công nghiệp đã được hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ Nhật Bản để thúc đẩy các ngành công nghiệp

Trang 17

hỗ trợ ở Thái Lan Các ngành công nghiệp hỗ trợ bao gồm một loạt các hoạt động sản xuất cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho ngành công nghiệp khác Thông thường, nhiều công ty trong ngành công nghiệp hỗ trợ có kích thước nhỏ và có hình thức thầu phụ với người mua, người chủ yếu là các công ty lớn hoặc doanh nghiệp đa quốc gia

Hoạt động chính của BSID tập trung vào: i) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các ngành công nghiệp hỗ trợ;ii) thiết kế và phát triển sản phẩm nguyên mẫu, chẳng hạn như điện

tử rời để xử lý nhiệt thép, và iii) thúc đẩy các hệ thống thầu phụ, chẳng hạn như tổ chức người mua hàng (Buyer‘s Village) Trong việc thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ, BSID tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp phụ tùng ô tô và các ngành công nghiệp sản xuất các bộ phận cho các thiết bị và máy móc điện và điện tử, đặc biệt là khuôn, mẫu và các sản phẩm đúc Để phát triển ngành công nghiệp khuôn mẫu, với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản, BSID đã tổ chức một "Dự án Phát triển Công nghệ Công cụ và Khuôn", mà tìm cách cung cấp hỗ trợ về dữ liệu, tiếp thị, công nghệ, xúc tiến đầu tư, và phối hợp Một dự án nghiên cứu BSID là "Sản xuất khuôn mẫu cho ngành nhựa‖ Gần đây, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản đồng ý cung cấp thiết bị để sản xuất khuôn nhựa cho đào tạo và các dịch vụ của các chuyên gia Nhật Bản đến BSID Khu vực tư nhân, vẫn chưa thấy hiệu quả của chương trình BSID, đặc biệt là những người liên quan đến các dịch vụ hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, Ban Đầu tư (BOI) là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý ưu đãi và khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực ưu tiên BOI Phát triển Liên kết Công nghiệp (BUILD) là một dịch vụ định hướng thị trường bắt đầu vào năm 1992 Đơn vị này được tạo ra để khuyến khích các công ty lớn mua nguồn phụ tùng địa phương và các thành phần, cũng như để giúp các nhà cung cấp địa phương nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và năng suất Mối liên kết giữa bộ phận các nhà cung cấp địa phương và các công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia, cả ở Thái Lan

và các nước khác được triển khai Các đề án BUILD cung cấp cho các nhà đầu tư không có ưu đãi về thuế ưu đãi, nhưng chủ yếu là hướng dịch vụ Trong giai đoạn đầu của việc thực hiện chương trình, BOI tập hợp thông tin về các ngành công nghiệp hỗ trợ hiện tại ở Thái Lan Sau

đó phân tích đầu vào cần thiết để bắt đầu xây dựng nhà máy sản xuất ở Thái Lan, và giúp thiết lập các giao dịch giữa các bên liên quan trong quá trình này Một trong những hoạt động thành công của BUILD là nhà cung cấp chương trình Gặp gỡ khách hàng (VMC) Chương trình VMC đã được tạo ra để kích thích thầu phụ nội địa đối với các bộ phận và linh kiện Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, BUILD tổ chức các cuộc thảo luận và tour thăm quan nhà máy sản xuất cho các nhà cung cấp và lắp ráp có đăng ký với BUILD, làm đầu mối cho các liên kết kinh tế về sau Trong ngành công nghiệp ô tô, các nhà lắp ráp tham gia chương trình vào chương trình này là là General Motors (Thái Lan), Toyota Motor (Thái Lan), Auto Alliance (Thái Lan), và Mitsubishi Motor (Thái Lan) Trong ngành công nghiệp điện và điện tử bao gồm Fujitsu (Thái Lan) và Delta Electronics (Thái Lan) Số lượng nhà cung cấp tham gia trong mỗi cuộc tham quan khác nhau Số lượng lớn nhất cho đến nay là

91, tại cuộc thăm quan General Motors (Thái Lan) trong tháng Giêng năm 1998 Từ năm

1999, các nhà cung cấp địa phương đã tham gia vào chương trình này đã tổ chức một "Câu lạc bộ xúc tiến thầu phụ" (SPC) Các thành viên của nó bao gồm khoảng 40 nhà cung cấp đã đáng ký với BUILD, chủ yếu là các nhà cung cấp cấp 2 và 3 cho ngành công nghiệp điện và điện tử và ngành công nghiệp ô tô Năm 2003, câu lạc bộ này đã trở thành Hiệp hội xúc tiến thầu phụ Thái Lan Hiện nay, Hiệp hội có khoảng 250 thành viên từ bốn ngành công nghiệp: các bộ phận kim loại (đúc, dập và ép), nhựa, polymer và các sản phẩm cao su, bộ phận điện và điện tử, và đóng gói, hậu cần

Ngoài ra, BUILD chịu trách nhiệm cho việc phát triển và phổ biến cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ ASEAN Cơ sở dữ liệu này sẽ giúp thúc đẩy mối liên kết giữa các nước thành viên ASEAN và các thị trường toàn cầu Năm 2007, số lượng các công ty đăng ký trong ASID là

Trang 18

20.198 doanh nghiệp Trong số các công ty này có 13.534 công ty là nhà cung cấp ở Thái Lan ASID phân loại các công ty thành năm ngành công nghiệp chính là ô tô, điện và điện tử, khuôn và mẫu, hóa dầu và nhựa Các ngành công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan có khoảng 1.419 công ty cung cấp cho ngành công nghiệp ô tô, 1393 công ty cho các ngành công nghiệp điện và điện tử, 2141 cho ngành công nghiệp hóa dầu, 616 cung cấp sản phẩm khuôn và mẫu, và 7965 công ty trong các ngành công nghiệp khác

Một biện pháp khác để thúc đẩy thành công các mối liên kết kinh doanh giữa nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng trong khu vực và trên toàn thế giới và các nhà cung cấp địa phương

là tổ chức triển lãm lần đầu Nhà thầu phụ, gọi là SUBCON Thái Lan Trong năm 2007, triển lãm tạo ra khoảng 1.000 giao dịch kinh doanh trị giá 1.200 triệu Bạt Kể từ đó đã có một kế hoạch tổ chức SUBCON Thái Lan mỗi năm BUILD cũng khuyến khích các nhà cung cấp địa phương quảng bá sản phẩm của họ ở nước ngoài bằng cách cung cấp hỗ trợ tài chính

Từ các hoạt động này, BUILD đã đạt được một danh tiếng tốt và được xem như là một

tổ chức có hiệu quả của cả hai khu vực tư nhân và công cộng Nó đóng một vai trò quan trọng như một trung gian, điều phối và cung cấp thông tin cho các mối liên kết phi chính thức giữa các doanh nghiệp Cho dù đã thành công, nhưng tác động của các chương trình BUILD vẫn còn hạn chế vì kích thước nhỏ của các đơn vị hoạt động và ngân sách hạn chế

Một số doanh nghiệp nhỏ đã quyết định thành lập Câu lạc bộ xúc tiến thầu phụ (SPC) với sự hỗ trợ ban đầu của BUILD Sáng kiến khu vực tư nhân này tạo ra mạng lưới các SME Thái Lan trong các ngành công nghiệp điện tử, nhựa, kim loại và polymer để tăng cường khả năng của mình để phục vụ nhu cầu của các MNC Hoạt động trong câu lạc bộ; là cơ hội để các doanh nghiệp chia sẻ thông tin, huy động nguồn lực, và cải tiến tiếp thị và phân phối

Cần lưu ý rằng các chương trình xúc tiến liên kết, như trong trường hợp của Thái Lan,

đã nêu bật vai trò của nhiều cơ quan tạo điều kiện nâng cấp tiềm năng của các nhà cung cấp địa phương hoặc các ngành công nghiệp hỗ trợ Để tạo ra một chương trình phối hợp, một số

tổ chức trung gian phải được giải quyết Ở Thái Lan, Văn phòng Xúc tiến SME (OSMEP) tổng hợp các chức năng này và đã phối hợp tất cả các bên liên quan trong việc thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

3 Kinh Nghiệm Cho Việt Nam

3.1 Thực trạng liên kết FDI với doanh nghiệp nội địa ở Việt Nam

Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khu vực và trên thế giới trong những năm gần đây Số vốn FDI đăng ký và thực hiện trong nhiều năm trở lại đây tăng lên mạnh mẽ, đặc biệt là giai đoạn 2006-2009

Bảng 1 Tổng số vốn FDI vào VN giai đoạn 2000-2013

Đơn vị tính: Triệu USD

Trang 19

Nguồn: Tổng cục Thống kê, www.gso.gov.vn

Trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ chỗ chỉ chiếm gần 6% tổng FDI vào khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1990-2000, đến giai đoạn 2005-2010, Việt Nam đã chiếm trên 10,29% tổng FDI vào khu vực Giai đoạn trước khi gia nhập WTO, FDI vào Việt Nam theo một xu hướng tăng rõ rệt, tuy nhiên ở mực độ vừa phải Giai đoạn từ 2001 đến

2006, tổng số vốn FDI đăng ký tăng từ 3.1 tỷ USD đến 12 tỷ USD, tăng lên gấp 4 lần trong 5 năm, vốn thực hiện cũng tăng tương ứng từ 2.4 tỷ đến 4.1 tỷ USD trong 5 năm này Giai đoạn sau khi gia nhập WTO, do những cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh tại Việt Nam được mở rộng và triển vọng tốt của nền kinh tế cũng như tâm lý quá lạc quan của các nhà đầu tư trong

và ngoài nước, số vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng ở các mức kỷ lục Năm 2008, tổng số vốn FDI đăng ký đạt mức kỷ lục là hơn 71 tỷ USD, tuy nhiên số vốn thực hiện chỉ đạt khoảng 11.5 tỷ, mặc dù đây cũng là con số kỷ lục trong nhiều năm qua, nhưng chỉ chiếm trên 15% tổng số vốn đăng ký, điều đó cho thấy về tính chưa ổn định của môi trường đầu tư tại Việt Nam

Trong những năm sau đó, FDI đăng ký vào Việt Nam giảm mạnh, đặc biệt từ năm 2008 đến năm 2009, vốn FDI đăng ký giảm từ 71 tỷ USD xuống còn trên 23 tỷ và xu hướng giảm này còn tiếp tục đến những năm sau đó, tương ứng là 19.8 tỷ năm 2010 và 15.5 tỷ năm 2011

Sự suy giảm đáng kể này phần lớn là do tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu làm cho các nước chủ đầu tư gặp khó khăn và cần cân nhắc các quyết định đầu tư của mình Thêm vào đó, dưới tác động của khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam cũng rơi vào suy thoái

và làm giảm đi tính hấp dẫn của môi trường đầu tư từ đó việc thu hút FDI trở nên khó khăn hơn Năm 2013, tình hình có vẻ khả quan hơn từ những triển vọng tăng trưởng trở lại của sản xuất trong nước và dòng vốn FDI tăng nhẹ từ 10,4 tỷ USD năm 2012 lên 11,5 tỷ năm 2013 cho thấy dấn hiệu khả quan của sản xuất nội địa nói chung

Liên kết giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp nội địa ở

Việt Nam

Mặc dù thu hút FDI vào Việt Nam và những đóng góp của khu vực này cho tăng trưởng kinh tế đất nước được coi như một điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây, nhưng việc liên kết giữa doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nội địa lại được xem như một vấn đề chưa được khai thác một cách xứng đáng Sự kém phát triển của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ đã làm cho mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nội địa trở nên mờ nhạt Các doanh nghiệp nội không những không tận dụng được những lợi thế mà FDI mang lại mà ngày càng tụt hậu xa hơn so với các doanh nghiệp FDI không chỉ trên thương trường quốc tế mà ngay cả ở thị trường trong nước

Theo điều tra của Tổ chức thúc đẩy thương mại Nhật Bản (JETRO), tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam rất thấp Năm 2012, tỷ lệ này là 27.9%, năm

2013 đã tăng lên 32.2% nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình chung và tỷ lệ này của các nước trong khu vực

Trang 20

Bảng 2 Tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam và các nước trong khu vực năm

Nguồn: JETRO Việt Nam

Như vậy, tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam thấp hơn mức trung bình chung của các nước trong khu vực 15.6%, thấp hơn tỷ lệ này ở Trung Quốc là 28.6%, thấp hơn Thái Lan là 20.7%, thấp hơn Indonesia là 11.1% Điều này được lý giải bởi nguyên nhân xuất phát từ sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ của Việt Nam, một trong những hạn chế của môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài cần phải được cải thiện trong thời gian tới để có thể hấp dẫn các nhà đầu tư tiếp tục đầu tư vào Việt Nam

Tỷ lệ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu cho các doanh FDI lớn ở việt Nam ở mức thấp, chỉ mới chiếm khoảng 30%, 70% linh phụ kiện còn lại là các doanh nghiệp FDI phải nhập khẩu từ nước ngoài

Bảng 3 Tỷ lệ nhà cung cấp linh phụ kiện của một số doanh nghiệp FDI ở Việt Nam (%)

Nguồn:JETRO Việt Nam và tổng hợp của tác giả

Các nhà cung cấp linh phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô đầu tư nhỏ và hệ thống máy móc lạc hậu nên khó có thể đáp ứng được yêu cầu về độ chính xác và chất lượng cao mà các doanh nghiệp FDI yêu cầu Đây cũng chính là lý do mà tính liên kết của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn lỏng lẻo.Hiện nay, tại Việt Nam có hơn 50 doanh nghiệp lắp ráp ô tô (gồm cả doanh nghiệp trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài), trình độ sàn sàn như nhau, giá trị gia tăng thu được chủ yếu thông qua khâu sơn, hàn, lắp ráp… Trong khi đó, số doanh nghiệp trong nước sản xuất phụ tùng, linh kiện phụ trợ mới có khoảng 60 đơn vị Bình quân mỗi doanh nghiệp lắp ráp ô tô chưa đến 2 nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho mình Hơn 90% linh kiện, phụ tùng ô tô lắp ráp hiện nay vẫn do các công ty mẹ hoặc từ TNCs nước ngoài cung cấp Thực trạng phát triển thiếu tính ổn định, bền vững của ngành công nghiệp ô tô hiện nay một phần quan trọng là do công nghiệp phụ trợ chưa phát triển mạnh

Ngành công nghiệp điện tử cũng không sáng sủa gì hơn Trong số vài trăm doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có khoảng ¼ số đơn vị tham gia sản xuất phụ tùng, linh kiện, phần lớn trong số này là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sản xuất phục vụ xuất khẩu là chủ yếu, tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm mới chỉ đạt 20%

Ở Việt Nam cho đến nay sản phẩm công nghiệp phụ trợ chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, phần lớn cung cấp những sản phẩm có chật lượng kém và giá thành cao nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ khu vực kinh tế nhà nước Một bộ phận khác, phần lớn là những sản phẩm công nghiệp phụ trợ cấp thấp, do các hộ kinh doanh cá thể sản xuất cũng gặp khó khăn về vốn, công nghệ Kết quả điều tra của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) đầu năm 2006 cho thấy, ngay cả những địa bàn tập trung các doanh nghiệp

Trang 21

FDI của Nhật Bản với các dự án lớn của TNCs hàng đầu như Toyota, Honda, Suzuki, Canon, Fujitsu… do tình hình hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp nội địa, các doanh nghiệp FDI tuy muốn tăng tỷ lệ nội địa hóa để giảm giá thành sản phẩm nhưng rất khó tìm được nguồn cung cấp công nghiệp phụ trợ đáng tin cậy

Hầu hết các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn duy trì phong cách làm ăn ―tự cung tự cấp‖ và có xu hướng khép kín trong sản xuất Theo ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh

tế, các doanh nghiệp Việt Nam có thể ―một mình một ngựa‖ được là bởi vì còn ―dư địa hoang sơ‖ Song khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không còn yếu tố đó mà

sẽ phải xếp hàng trong một cuộc chơi toàn cầu với những trật tự riêng của nó

Công nghiệp phụ trợ của Việt Nam yếu vì xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Khi tiến hành khảo sát các doanh nghiệp điện tử trong cả nước phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam của Hiệp Hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam đầu năm 2006, kết quả cho thấy vô cùng ảm đạm Công ty Fujitsu Việt Nam – một doanh nghiệp FDI lớn có kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên dưới nửa tỷ USD phải nhập khẩu 100% linh kiện phụ tùng và nguyên vật liệu từ nước ngoài; Công ty Panasonic Việt Nam, Công ty Sanyo Việt Nam chỉ mua được thùng cactong, xốp chèn từ các doanh nghiệp Việt Nam Công ty Canon, mặc dù đã đầu tư gần 300 triệu USD xây dựng các nhà máy sản xuất linh kiện Việt Nam ở Hà Nội, Bắc Ninh cũng không tìm được một nhà cung cấp linh kiện Việt Nam, hơn 30 nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng khác cho Canon là các doanh nghiệp FDI Đích thân công ty Canon đã cử cán bộ đi khảo sát hơn 20 doanh nghiệp sản xuất ốc vít trong nước, nhưng không thể tìm được loại ốc vít đạt yêu cầu Từ trường hợp công ty Honda hoạt động ở tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa tăng khá nhanh, từ 10% đến 60% trong năm năm (1988 – 2002) Kết quả này trước hết bắt nguồn từ kế hoạch

và dự báo về khả năng đẩy mạnh sản xuất của Honda ở Việt Nam Tuy nhiên, trong việc gia tăng tỷ lệ nội hóa của Honda ở Việt Nam, vai trò của công nghiệp phụ trợ trong nước là hết sức mờ nhạt Phần lớn các bộ phận, linh kiện và nhiều sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác đều do Honda tự sản xuất trong nội bộ nhà máy hoặc mua từ các doanh nghiệp FDI khác Honda đã khảo sát hàng trăm doanh nghiệp trong nước sản xuất công nghiệp phụ trợ trong ngành xe máy, nhưng cho đến nay cũng chỉ mới chọn ra được 13 công ty có khả năng cung cấp công nghiệp phụ trợ đủ tiêu chuẩn về chất lượng

Hơn 10 năm qua, kể từ khi các tên tuổi hàng đầu trong ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản có mặt trong các liên doanh với các đối tác Việt Nam, tỷ lệ nội hóa của các liên doanh này vẫn là đề tài đầy tranh cãi Nếu tính tổng thể cả ngành, Việt Nam hiện có trên 200 doanh nghiệp tham gia sản xuất, lắp ráp, sửa chữa và chế tạo phụ tùng ô tô, trong đó có 90

cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô và chế tạo phụ tùng, song vẫn chưa có nhà máy nào đầu tư vào chế tạo các bộ phận quan trọng của ô tô như: động cơ, hộp số, hệ thống chuyển động Nếu

so với Thái Lan, với 2.000 cơ sở chế tạo phụ tùng thì số lượng các nhà sản xuất phụ tùng, linh kiện ở Việt Nam hiện quá ít Trong nhiều năm qua, công nghiệp ô tô trong nước chủ yếu được phản ánh qua hoạt động của 11 liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài Nhưng các doanh nghiệp này mới chỉ dừng lại ở việc lắp ráp ô tô dạng CKD là chính, trình độ công nghệ sản xuất, lắp ráp gần giống nhau, tỷ lệ trong nước đạt thấp, chủ yếu là giá trị sơn, hàn, lắp ráp Hơn 90% giá trị các bộ linh kiện, phụ tùng lắp ráp vào xe được cung cấp từ các công ty mẹ hoặc từ các công ty liên doanh của họ ở các nước trong khu vực Trong số các liên doanh này, đến nay mới chỉ có Toyota Việt Nam là nỗ lực trong việc nâng cao tỷ lệ nội hóa thông qua những nỗ lực kêu gọi các ―vệ tinh‖ cùng phát triển công nghiệp phụ trợ Đây cũng là doanh nghiệp ô tô duy nhất trong cả nước hiện có đủ 4 công đoạn cơ bản mà nhà sản xuất ô tô phải có là dập, hàn, sơn, lắp ráp Cam kết nội địa hóa 30 – 40% sau hơn 10 năm hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam cho đến nay vẫn chưa

Trang 22

thể đạt được, trong khi giá thành sản phẩm lại quá cao mà nguyên nhân cơ bản là sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ

Sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp lắp ráp Như đã biết, mỗi chiếc xe bất kỳ đều cần khoảng 20.000 đến 30.000 chi tiết với hàng nghìn linh kiện, trong khi đó số doanh nghiệp sản xuất linh kiện còn quá ít, chưa

kể các doanh nghiệp đó chỉ sản xuất được một số loại sản phẩm như săm, lốp, dây điện…

Từ đó, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp phải phụ thuộc vào nguồn linh kiện từ nước ngoài

Về cơ bản, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp phụ trợ như nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, về trình độ nhân công cho những sản phẩm tinh xảo và đặc biệt là đang có hàng trăm các doanh nghiệp hoạt động trong ngành cơ khí – chế tạo máy, đó là chưa kể đến lực lượng hùng hậu các xưởng, cơ sở kim khí, làng nghề truyền thống trên khắp cả nước

Tương tự đối với ngành điện tử, trường hợp của Công ty Fujitsu khi hơn 6 năm trước đây, doanh nghiệp đã đi khắp cả 64 tỉnh, thành phố Việt Nam chỉ để tìm một chi tiết rất nhỏ

là chiếc ốc vít - nhưng kết quả cuối cùng là con số không Sự thật hiển nhiên là sản xuất chiếc ốc vít không hề khó và có tới cả trăm cơ sở sản xuất Vấn đề là ở chỗ, chiếc ốc vít phải đạt tiêu chuẩn, không chỉ về mẫu mã, mà cả chất lượng cũng phải đồng đều trăm cái như một

Khi gia nhập WTO, ngành công nghiệp ô tô, xe máy, công nghiệp điện, điện tử Việt Nam đang gặp khó khăn lớn Công nghiệp phụ trợ mặc dù được coi là nền tảng cấu thành môi trường thu hút đầu tư của TNCs Nhật Bản thì hiện vẫn đang ở vạch xuất phát Các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp lại phân tán, chia rẽ theo các hướng khác nhau Hơn nữa, khoảng cách về tiêu chuẩn chất lượng giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài là quá lớn Nhu cầu về các sản phẩm nhựa có độ tinh xảo cao như các loại bánh răng, trục, thanh gạt hay thậm chí là vỏ máy là rất lớn Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI cũng đối mặt không ít khó khăn ngay cả thị trường trong nước có tới gần 200 doanh nghiệp ép nhựa với trình độ công nghệ của phần lớn các doanh nghiệp này chỉ dừng lại ở mức sản xuất các sản phẩm tiêu dùng thông thường

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng liên kết lỏng lẻo giữa các doanh nghiệp FDI

và các doanh nghiệp nội địa, nhưng về cơ bản, có thể quy về hai nhóm nguyên nhân là nguyên nhân từ phía chính phủ và nguyên nhân từ phía doanh nghiệp

Về phía chính phủ, việc hoạch định cơ chế, chính sách ở Việt Nam, mới chỉ thuộc phạm vi của Chính phủ, ít có sự tham gia của các của các nhà tài trợ, các chuyên gia, các nhà khoa học Các định chế trung gian để hỗ trợ các doanh nghiệp trong phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ còn thiếu, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ tài chính Các quy định về quản lý hành chính còn rườm rà, đang là một trong những trở ngại thu hút đầu tư

Chúng ta chú trọng nhiều đến việc giảm bớt thủ tục để thuận lợi cho nhà đầu tư, mà chưa chú ý đến khâu hậu kiểm xem họ làm gì, làm như thế nào, đúng với cam kết không Điều này đã dẫn đến có những doanh nghiệp FDI cam kết đầu tư, được cấp hàng trăm héc-ta đất, nhưng trên thực tế lượng vốn chuyển vào đầu tư chẳng được bao nhiêu hoặc có nhà đầu

tư nước ngoài đã giả danh vào Việt Nam đầu tư, rồi vay nợ làm ăn thua lỗ, bỏ nhà máy, bỏ dự

Trang 23

khi tham gia vào công nghiệp hỗ trợ chưa tốt, thiếu thốn và chi phí cao, điều này sẽ làm chi phí sản xuất tăng lên và nhiều doanh nghiệp không dám đầu tư

Số lượng, thiết bị máy công nghiệpcòn hạn chế, công nghệ cũ, lạc hậu; trình độ tự động hóa thấp… nên sản phẩm của các ngành hỗ trợ chất lượng kém, giá thành cao,chủ yếu tiêu thụ trong nội bộ các DNNN, còncác sản phẩm chất lượng cao phần lớn do các công ty nước ngoài đảm nhiệm Các doanh nghiệp trong nước không đủ niềm tin và ý thức tích lũy kỹ năng, như yêu cầu tính năng, chất lượng, giá thành, thời gian giao hàng, dịch vụ,… Việc thiếu nguồn nhân lực công nghệ cao một phần do xã hội chưa quan tâm đúng mức đối với các ngành CNHT, một phần do chất lượng đào tạo hiện nay còn thấp, sự chậm trễ trong chuyển giao công nghệ và bản thân đội ngũ lao động còn thiếu nhiệt tình, ngại học hỏi, tiếp thu kiến thức mới

Các kênh thông tin giữa các doanh nghiệp FDI/nhà lắp ráp; các công ty nội địa, các tập đoàn lớn bên ngoài đặc biệt là các tập đoàn của Nhật Bản còn thiếu Chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia về lĩnh vực này Chính nguyên nhân này khiến các nhà sản xuất gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đơn vị cung cấp linh kiện, dịch vụ hỗ trợ và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm

Tính hợp tác - liên kết giữa các doanh nghiệp hỗ trợ với các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp, giữa nhà lắp ráp với các nhà sản xuất hỗ trợ, giữa các nhà sản xuất hỗ trợ với nhau còn yếu Đặc biệt, là khối doanh nghiệp trong nước và khối doanh nghiệp FDI Sự kém năng động, nhạy bén của các nhà cung cấp Việt Nam đã cản trở ―xây dựng quan hệ‖ trong kinh doanh

3.2 Kinh nghiệm rút ra từ bài học của Thái Lan

Thứ nhất, các chính sách liên kết cần được hình thành dựa vào các trụ cột cơ bản dưới đây: một là, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút FDI- Tập đoàn đa quốc gia Hai là, Cần có chiến lược thu hút FDI một cách bài bản và năng động Ba là, cần đưa ra các chính sách liên kết cụ thể phù hợp với từng quốc gia và từng ngành Bốn là, nâng cao khả năng hấp thu của các doanh nghiệp SME, các nhà cung cấp nội địa Bốn lĩnh vực chính sách quan trọng hỗ trợ lẫn nhau trong một khuôn khổ nhằm đáp ứng đầy đủ lợi ích chung của các công ty đa quốc gia, doanh nghiệp địa phương và củng cố mục tiêu phát triển trong nước

Thứ hai, xây dựng mạng lưới liên kết các doanh nghiệp.Để thúc đẩy phát triển các mối liên kết MNC với các doanh nghiệp địa phương cần thiết lập một mạng lưới liên kết bao gồm

cả các tổ chức công trực thuộc chính phủ hoặc các Bộ như BUILD, BOI, VSID…cũng như các tổ chức tư nhân của các doanh nghiệp nhỏ và vừa như SPC và các tổ chức hiệp hội Thứ ba, nâng cao năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa Để làm được điều này Chính phủ và các tổ chức hỗ trự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cần phải xây dựng được các chương trình đào tạo, tư vấn, cung cấp thông tin cho các nhà cung cấp địa phương Các hỗ trợ chủa chính phủ như hỗ trợ phát triển công nghệ, hỗ trợ tài chính, đào tạo nguồn nhân lực là hết sức cần thiết Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần liên kết với nhau nhằm chia sẻ kinh nghiệm và huy động nguồn lực

Thứ tư, xây dựng cơ sở dự liệu về các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà cung cấp địa

phương Xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà cung cấp địa

phương có vai trò quan trọng để kết nối với các MNC Cơ sở dữ liệu này cần được cập nhật thường xuyên để các tập đoàn đa quốc gia dễ dàng tìm kiếm các thông tin về các nhà cung cấp, từ đó có các biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp này tham gia vào các khóa đào tạo cho các nhà cung cấp để họ có thể thâm nhập vào mạng lưới sản xuất toàn cầu

Trang 24

Thứ năm, phát triển các cụm ngành công nghiệp Phát triển cụm ngành công nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu trong Chính sách hỗ trợ SMEs và hỗ trợ phát triển các liên kết theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang theo ngành, cũng như liên kết các doanh nghiệp với các Viện nghiên cứu, các trường đại học Thái Lan đã rất thành công trong phát triển cụm ngành công nghiệp ô tô và phụ tùng ô tô Việc áp dụng chính sách phát triển cụm ngành công nghiệp các các nước công nghiệp phát triển, các nước NICs và các nước đang phát triển tăng trưởng nhanh như Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Malaysia đã nâng cấp và phát triển nền tảng công nghiệp của họ một cách nhanh chóng, đặc biết là phát triển công nghiệp hỗ trợ, cho phép các nước này huy động các nguồn lực, tăng cường các mối liên kết mới về tổ chức lãnh thổ để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Thứ sáu, xây dựng và triển khai thành công các chương trình thúc đẩy liên kết MNC với các doanh nghiệp địa phương và kết nối kinh doanh hay thầu phụ Thái Lan đã rất thành công trong triển khai xây dựng chương trình OTOP, các chương trình gặp gỡ khách hàng Thứ bảy, phát triển thị trường nội địa kết hợp xuất khẩu Chính phủ Thái Lan, Malaysia luôn chú trọng tới các chính sách khuyến khích phát triển thị trường trong nước vừa đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước ASEAN và toàn cầu Đặc biệt là các chính sách gắn kết giữa công nghiệp với thương mại

Thứ tám, khuyến khích các doanh nghiệp (cả FDI và doanh nghiệp nội địa) mua hàng trong nước bằng các biện pháp như giảm thuế cho máy móc và nguyên liệu thô và thiết lập các kênh trao đổi thông tin giữa các nhà lắp ráp nước ngoài với các nhà cung cấp trong nước

để giảm khoảng cách về thông tin và hiểu biết lẫn nhau

Kinh nghiệm về phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Thái Lan như một gợi ý tốt cho Việt Nam vì hai nước có độ tương đồng nhất định về trình độ phát triển kinh tế Sự thành công của Thái Lan trong việc chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ để thu hút mới và giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài sẽ là kinh nghiệm mà nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam đáng học tập Việc hoạch định các chính sách và bước đi cụ thể để phát triển công nghiệp hỗ trợ là một tiền đề quan trọng để thu hút mới đồng thời giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài nhằm tạo độ liên kết lâu dài trong sản xuất kinh doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài

và các doanh nghiệp trong nước Đây là việc làm vô cùng quan trọng và có ý nghĩa để thúc đẩy trình độ sản xuất trong nước, tạo đà cho tăng trưởng bền vững của Việt Nam trong dài hạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hà Thị Hương Lan (2014), Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ

[2] Ngọc Quỳnh (2007), Công nghiệp phụ trợ hướng thu hút đầu tư quan trọng, Báo Hà Nội mới (11/4/2007), tr.4

[3] Nguyễn Ngọc Sơn, Trần Thị Bích Ngọc (2014), Liên kết với doanh nghiệp nội địa: Từ lý luận và thực tiễn ở một số nước ASEAN, Kỷ yếu hội thảo

[4] Trần Văn Thọ (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam, NXB CTQG Hà Nội, Tr.178

[5] JETRO, The 21th comparatitive survey of Investment-related cost in 31 cities and regions in Asia and Oceania

Trang 25

THÖC ĐẨY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ THAM GIA HOẠT ĐỘNG

TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT NAM

BOOSTING SMES PARTICIPATION IN SUPPORTING INDUSTRY ACTIVITIES

IN VIETNAM

TS Huỳnh Thanh Điền

Tổng công ty 28 – Bộ Quốc phòng; Giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh

thanhdien82@yahoo.com

TÓM TẮT

Mục tiêu của bài viết nhằm khám phá những trở ngại thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ(SME) tham gia hoạt động ngành công nghiệp hỗ trợ (SI) của Việt Nam Trên cơ sở khái quát mô hình về điều kiện thu hút SME vào lĩnh vực SI trên thế giới, tác giả phân tích cho điều kiện Việt Nam để chỉ ra những trở ngại Kết quả cho thấy tồn tại ba trở ngại cơ bản cho quá trình tham gia SME hoạt động trong lĩnh vực

SI bao gồm: nhu cầu SI trong nước chưa đủ hấp dẫn; rào cản gia nhập ngành SI của các SME lớn; chính sách trợ giúp SME chưa phát huy hiệu ứng Từ đó, các chính sách thúc đẩy SME tham gia vào lĩnh vực SI theo hướng tháo gỡ những trở ngại nêu trên

Từ khoá: Doanh nghiệp vừa và nhỏ, SME, công nghiệp hỗ trợ, phát triển SME

ABSTRACT

This article examines the obstacles when attracting Small and Medium Enterprise (SME) participating in Supporting Industry (SI) activities in Vietnam Author analysis conditions in Vietnam based on models in conditions used to attract SME in SI over the world The results suggest that there are three basic problems, including: the need for SI is not enough attracting; entering barriers to SI is considerably high; supporting policy for SME has not functioned Therefore, this article will develop some solutions for this situation

Key words: Small and Medium Enterprise, SME, Supporting Industry, develop SME

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, trước hết tác giả tổng kết các điều kiện tiền đề thu hút SME tham gia hoạt động trong lĩnh vực SI từ kinh nghiệm của các nước có SI phát triển Trên cơ sở đó, xem xét các điều kiện này đối với hoạt động của các SME trong các lĩnh vực

SI ở Việt Nam để chỉ ra những trợ ngại và nguyên nhân của quá trình tham gia SI đối với các SME Từ đó, gợi ý chính sách thúc đẩy SME tham gia hoạt động trong lĩnh vực SI theo hướng tháo gỡ những trở ngại nêu trên nhằm góp phần phát triển triển SI để đóng góp tích chực vào quá trình công nghiệp hoá

2 Mô hình điều kiện thu hút SME tham gia trong lĩnh vực SI

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, quá trình công nghiệp hoá luôn trọng tâm vào các ngành công nghiệp mũi nhọn (KI) Quá trình phát triển các KI ngày xuất hiện hai nhóm hoạt động là nhóm hoạt động lõi và nhóm hoạt động hỗ trợ của ngành Thông thường, các doanh nghiệp lớn thường đảm nhận các công đoạn hoạt động cốt lõi với giá trị gia tăng cao, các SME sẽ đảm nhận công đoạn phụ trợ Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, những năm

1940 khi ngành cơ khí phát triển mạnh, các doanh nghiệp cơ khí cần chuyên môn hóa hơn

Trang 26

trong sản xuất sản phẩm hoàn thiện và tối thiểu hóa chi phí nên có nhu cầu đặt hàng linh kiện

từ các doanh nghiệp khác, từ đó tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tham gia sản xuất linh kiện cho ngành này, lúc đó SI cho ngành cơ khí ra đời

(Ministry of Economy, Trade and Industry, 2003a) Để thúc đẩy các SME hoạt động trong SI, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ và định hướng hoạt động của SMEs

Tương tự như Nhật Bản, các quốc gia mới có SI phát triển như Thái Lan, Malaysia khởi đầu SI gắn với sự khởi đầu từ các ngành công nghiệp mà khu vực FDI tham gia

(Ministry of Economy, Trade and Industry, 2013b) Các doanh nghiệp FDI tạo ra động lực cho sự phát triển SI liên quan đến lĩnh vực FDI đầu tư và Chính phủ kịp thời xây dựng chính sách hỗ trợ để chúng tiếp tục tồn tại và phát triển (Nguyễn Anh Trung, 2014)

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay cấu nền kinh tế của các quốc gia chịu sự chi phối mạnh bởi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngành kinh tế KI của quốc gia không chỉ được tham gia bởi doanh nghiệp trong nước mà còn bởi các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thậm chí đối với một số nước đang phát triển thì giá trị đóng góp của khu vực FDI trong ngành KI còn lớn hơn khu vực trong nước Vì lẽ đó mà nhu cầu đối với các sản phẩm hỗ trợ cũng mang tính chất toàn cầu chứ không thu hẹp trong phạm vi của mỗi quốc gia (Christosphe & các cộng sự, 2011) Hay nói cách khác, nhu cầu SI của một quốc gia không chỉ dành riêng cho các doanh nghiệp trong nước mà còn các doanh nghiệp nước ngoài cung ứng thông qua nhập khẩu Điều này tạo ra rất nhiều thách thức đối với sự thu hút của SME trong nước tham gia cung ứng SI cho các doanh nghiệp hoạt động trong ―lĩnh vực lõi‖

Từ những lập luận trên cho thấy điều kiện thu hút SME tham gia SI cung ứng cho các ngành công nghiệp mũi nhọn phụ thuộc vào nhu cầu của các doanh nghiệp lớn hoạt động trong ―công đoạn lõi‖ của các ngành đó Ngoài ra, việc SME có tham gia hoạt đông SI hay không còn phụ thuộc vào điều kiện để vượt qua các rào cản gia nhập ngành, điều này còn phụ thuộc vào vai trò điều tiết của Chính phủ Như vậy, một quốc gia có thể gặp phải 3 rào cản thu hút SME tham gia SI: (b1) nhu cầu SI của các doanh nghiệp hoạt động trong công đoạn lõi không hướng đến nguồn cung ứng trong nước; (b2) các SME không vượt qua được rào cản gia nhập ngành SI; (b3) các chính sách thúc đẩy chưa tạo được hiệu ứng Mô hình điều kiện tham gia của SME vào lĩnh vực SI và các rào cản được tổng kết như Hình 1

Hình 1: Các rào cản tham gia SI của SME

Nguồn: Khái quát từ các lập luận của tác giả bài viết

3 Những trở ngại tham gia SI của các SME Việt Nam

3.1 Trở ngại về nhu cầu SI không hướng đến nguồn cung ứng trong nước

Hình 1 cho thấy 10 ngành công nghiệp có giá trị sản xuất lớn nhất Việt Nam (bài viết gọi đây là ngành công nghiệp mũi nhọn) cũng là những ngành công nghiệp lớn trên thế giới

(Porter & các cộng sự, 2010) Các ngành này được thực hiện chủ yếu bởi các doanh nghiệp FDI Các FDI đến Việt Nam chủ yếu là sản xuất các khâu trung gian rồi bán cho các doanh nghiệp lắp ráp hoàn thiện ở các quốc gia khác (Ohno, 2007), Việt Nam vẫn chưa thu hút được

Công đoạn lõi của các ngành

công nghiệp mũi nhọn

(Sự tham gia của doanh

Trang 27

các công đoạn hoạt động có giá trị gia tăng cao, nên chưa tạo động lực về cầu cho SI trong nước

Do các KI ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI nên nhu cầu đầu vào từ SI như nguồn nguyên liệu, phụ liệu, thiết bị… chủ yếu được cung cấp bởi các đối tác chiến lược của các doanh nghiệp FDI từ nước ngoài Hình 3 cho thấy các mặt hàng chiếm

tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, cũng chiếm tỷ trọng lớn trong nhập khẩu chủ yếu

Hình 1: 10 ngành công nghiệp chế tạo có tỷ trọng lớn nhất Việt Nam năm 2012

Nguồn: Tổng cục Thống kế (2013a)

Do các KI ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI nên nhu cầu đầu vào từ SI như nguồn nguyên liệu, phụ liệu, thiết bị… chủ yếu được cung cấp bởi các đối tác chiến lược của các doanh nghiệp FDI từ nước ngoài Hình 3 cho thấy các mặt hàng chiếm

tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, cũng chiếm tỷ trọng lớn trong nhập khẩu chủ yếu

Các SME trong nước thường không tiếp cận cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực PI (Mori, 2005) Có hai nguyên nhân chính của tồn tại này: (1) chất lượng sản phẩm của SME không đảm bảo; (2) các FDI phần lớn đã có các công ty liên kết trong cùng tập đoàn cung ứng đầu vào nên giữa họ đã có cam kết cung ứng sản phẩm từ trước, và cam kết này được sự lãnh đạo thống nhất của chủ tịch tập đoàn trên toàn thế giới

Do vậy, mặc dù nhu cầu SI cao nhưng chưa tạo động lực cho các doanh nghiệp trong nước tham gia, nhất là các SME của Việt Nam

Hình 3: Cơ cấu trị giá xuất - nhập khẩu hàng hoá năm 2012

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2013c, 2013d)

Trang 28

3.2 Trở ngại về gia nhập ngành SI của SME

Như phân tích trên, các KI của Việt Nam được thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI với đầu vào sản xuất được đáp ứng chủ yếu bởi các SI thế giới, nên không tạo được động lực thu hút SI cho Việt Nam Bảng 1 cho thấy, năm 2000 tỷ trọng của SI chiếm 4,37% trong giá trị sản xuất hàng công nghiệp, đến năm 2012 tỷ trọng này là 7,32% Như vậy, trong 12 năm, tỷ trọng SI tăng lên khoảng 2 lần, nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp rất thấp

Bảng 1: Tỷ trọng giá trị SI trên tổng giá trị công nghiệp Việt Nam

Trong đó: đóng của ngành Công nghiệp phụ trợ 4,37% 6,45% 7,42%

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước 5,54% 5,61% 4,60%

Nguồn: Tổng cục Thống kế (2013a)

Sợ dĩ, SI Việt Nam tăng trưởng chậm là do tồn tại nhiều rào cản gia nhập ngành đối với nhiều doanh nghiêp trong và ngoài nước Rào cản lớn nhất là đầu ra của các doanh nghiệp mới tham gia SI rất khó thuyết phục khách hàng bởi khi mới gia nhập ngành chi phí trung bình cao, giá bán cáo, chất lượng sản phẩm thường không đạt (do công nhân, quản lý chưa có kinh nghiêm) nên khó cạnh tranh Muốn tạo dựng thương hiệu và uy tín thì cần phải bán giá thấp hơn hoặc tối đa là bằng với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp không đủ chi phí để bù

lỗ Mặt khác, việc thuyết phục khách hàng đặt lần đầu rất khó bởi các doanh nghiệp PI khi quyết định khởi sự thường họ đã có trước mạng lưới các nhà cung ứng, nên không dễ dàng từ

bỏ nhà cung cấp chiến lược để thiết lập mạng lưới quan hệ với đối tác mới (như cá doanh nghiệp SI Việt Nam) trong khi niềm tin không chắc chắn (Huỳnh Thanh Điền, 2014a)

Do gặp phải rào cản gia nhập ngành SI trong nước, nên sản phẩm SI Việt Nam rất hạn chế trong việc tiêu thụ ra thị trường thế giới Bảng 2 cho thấy giá trị xuất khẩu của SI trong nước rất hạn chế, trong giai đoạn 2000 – 2012, tỷ trọng xuất khẩu của các sản phẩm công nghiệp phụ trợ vẫn không tăng về tỷ trọng, chỉ chiếm 7,59% trong suốt 12 năm qua

Bảng 2: Tỷ trọng hàng công nghiệp phụ trợ trong giá trị xuất khẩu

Hàng điện tử, máy tính và linh kiện 5,45% 4,21% 4,93% Sản phẩm từ plastic 0,66% 1,49% 1,16% Dây điện và cáp điện 0,89% 1,61% 1,50%

Xe đạp và phụ tùng 0,46% 0,14% 0,00%

Nguồn: Tổng cục Thống kế (2013c)

Hơn nữa, việc thực hiện xuất khẩu SI phần lớn được thực hiện bởi FDI Các doanh nghiệp FDI này thường là thành viên của các doanh nghiệp PI toàn cầu, họ đến Việt Nam hoạt động nhằm mục đích tối thiểu hóa chi phí cho chuỗi hoạt động của tập đoàn toàn cầu Sản phẩm SI của doanh nghiệp FDI chủ yếu là xuất khẩu cho các đơn vị thành viên trong cùng tập đoàn (Huỳnh Thanh Điền, 2014a)

Trang 29

3.3 Các chính sách thúc đẩy SME tham gia SI chưa tạo được hiệu ứng

Trong những năm gần đây Chính phủ rất quan tâm đến các chính sách thúc SME trên nhiều phương diện như trợ giúp tài chính, đổi mới công nghệ, trình độ kỹ thuật, tiếp cận thị trường, thông tin và được tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công (Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/06/2014 về việc trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ) Tuy nhiên, đến nay các chính sách chưa mang lại hiệu ứng tích cực, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa thoát khỏi ―vòng luẩn quẩn‖ của năng lực cạnh tranh kém

(Huỳnh Thanh Điền, 2014c) Nguyên nhân cơ bản nhất là chính sách chưa tác động đúng trọng tâm của hai trở ngại quan trọng là tiếp cận thị trường và rào cản gia nhập ngành

Mặc dù Nghị định 56/2009/NĐ-CP có đề cập đến việc trợ giúp thị trường thông qua các biện pháp xúc tiến thương mại và trợ giúp tài chính, nhưng thiếu biện pháp triển khai đến từng doanh nghiệp Các SME khó tiếp cận được với các ưu đãi do quy trình thực hiện tiếp cận quá phức tạp và các vấn đề đạo đức của người thực thi chính sách gây ra nhiều nghị ngại cho SME trong tiếp cận chính sách (Huỳnh Thanh Điền, 2014b)

4 Kết luận và gợi ý chính sách

4.1 Kết luận

Các KI của Việt Nam chủ yếu tham gia khâu trung gian, chưa thu hút được công đoạn hoàn thiện với giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị hoạt động của KI thế giới Hơn nữa, KI Việt Nam được thực hiện chủ yếu bởi các doanh nghiệp FDI với nhu cầu sử dụng SI từ nhập khẩu nên không tạo động lực về cầu thúc đẩy các SME trong nước phát triển Mặt khác, việc SME tham gia SI trong nước gặp phải rào cản gia nhập ngành do chi phí trung bình cao và khó khăn trong việc thuyết phục KI trong nước và nước ngoài tiêu thụ sản phẩm Trong khi

đó, chính sách thúc đẩy SME tham gia SI của chính phủ chưa hấp dẫn SME tiệp cận Các trở ngại thu hút SME tham gia SI được tổng kết như Hình 4

Hình 4: Các trở ngại cho việc SME tham gia hoạt động trong lĩnh vự SI của Việt Nam

Nguồn: Tổng kết từ kết quả nghiên cứu của tác giả.

4.2 Gợi ý chính sách

Để thúc đẩy SME của Việt Nam tham gia hoạt động trong lĩnh vực SI, Chính phủ cũng như doanh nghiệp cần tập trung vào các chính sách tháo gỡ trở ngại về nhu cầu SI không hướng đến nguồn cung trong nước, rào cản gia nhập ngành do chi phí trung bình cao, và các hạn chế trong việc tạo hiệu ứng thực thi chính sách trợ giúp SME Các gợi ý chính sách cụ thể như sau:

Thứ nhất, tập trung vào các giải pháp khuyến khích FDI sử dụng SI trong nước thay cho nhập khẩu Muốn thực hiện được chính sách này, trước hết Chính phủ quy hoạch không gian và danh mục ngành KI và SI tương thích nhau để thu hút nhằm thu hút các SME tham

gia hoạt động bên cạnh các doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực KI Các chính sách hỗ

Các trở ngại đối với sự tham gia của SME:

-(b1) nhu cầu SI không hướng đến nguồn cung ứng trong nước

-(b2) các SME không vượt qua được rào cản gia nhập ngành SI

-(b3) các chính sách thúc đẩy chưa tạo được hiệu ứng do công tác thực thi

Ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước (Sự tham gia của SME)

Công đoạn lõi của các ngành

công nghiệp mũi nhọn

(Sự tham gia của doanh

nghiệp lớn)

Trang 30

trợ kèm theo áp dụng bình đẳng giữa các thành phần kinh tê tham gia để không vi phạm điều khoản quốc tế trong hội nhập Bên cạnh đó, khuyến khích và/hoặc bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực KI sử dụng đầu vào SI trong nước để hỗ trợ cho các SME mới gia nhập ngành

Thứ hai, ở Việt Nam hiện nay cũng đang xuất hiện làn sóng di chuyển các cơ sở sản

xuất từ các quốc gia phát triển trong một số ngành thâm dụng lao đông, nhất là các doanh nghiệp từ Nhật Bản Nếu các SME của Việt Nam thực hiện chiến lược đổi mới công nghệ thông qua liên kết với doanh nghiệp các nước phát triển trong vai trò phụ trợ, từng bước tiếp cận, làm chủ công nghệ Đó có thể là một hướng đi mới khả thi giúp SME thoát khỏi vòng luẩn quẩn ―năng lực cạnh tranh kém‖

Thứ ba, giúp SME vượt qua rào cản gia nhập ngành bằng biện pháp hạn chế chi phí đầu

vào như hỗ trợ chi phí thuê mặt bằng, nhiên liệu, và chuẩn bị các điều kiện về kết cấu hạ tầng, thông tin liên lạc theo hướng trọng tâm vào công tác tổ chức thực thi các nội dung của Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/06/2014 về việc trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ Quan trọng nhất là xác định cụ thể hoá chương trình, dự án khuyến khích thu hút SME tham gia trong lĩnh vực SI và kiểm soát hành vi đạo đức của đội ngũ thực thi chính sách

TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt:

[1] Nguyễn Anh Trung (2014), Kinh nghiệm của một số quốc gia đang phát triển về phát

trợ.http://www.ncseif.gov.vn/sites/vie/Pages/kinhnghiemcuamotsoquoc-nd-16522.html,

(Truy cập ngày 25/02/2014)

[2] Huỳnh Thanh Điền (2014a), ―Tháo gỡ rào cản trong quá phát triển công nghiệp hỗ trợ

Việt Nam‖ Kỷ yếu Hội thảo: Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Trường đại học Kinh

tế TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 30/07/2014, Trang 24-32 NXB Kinh tế TP.Hồ Chí Minh

[3] Huỳnh Thanh Điền (2014b), ―Đổi mới thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam‖

Kỷ yếu Hội thảo: Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội trong boi cảnh mới” do Ban

chủ nhiệm đề tài KX.01/11-15 phối hợp với Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 11/08/2014, Trang 85-98, NXB Kinh tế TP.Hồ Chí Minh

[4] Huỳnh Thanh Điền (2014c), ―6 bước đổi mới công nghệ cho SME‖, Báo doanh nhân sài gòn, http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/08/1082991/6-buoc-de-doi-moi-cong-nghe-cho-sme/ (truy cập ngày 14/08/2014)

[5] Nguyễn Trọng Hoài & Huỳnh Thanh Điền (2012), ―Chính sách quy hoach và thúc đẩy

phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam‖, Tạp chí Phát triển Kinh tế, Số 263,

trang 2-10

[6] Tổng cục Thống kê (2013a), ―Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=391&idmid=3&ItemID=14409 (truy cập ngày 10/03/2013)

[7] Tổng cục Thống kê (2013b), ―Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=14769 (truy cập ngày

Trang 31

10/03/2013)

[8] Tổng cục Thống kê (2013c), ―Cơ cấu trị giá xuất khẩu hàng hoá theo bảng phân loại tiêu chuẩn ngoại thương, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=393&idmid= 3&ItemID=14550 (truy cập ngày 10/03/2013)

[9] Tổng cục Thống kê (2013d), ―Cơ cấu trị giá nhập khẩu hàng hoá theo bảng phân loại tiêu chuẩn ngoại thương, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=393&idmid= 3&ItemID=14545 (truy cập ngày 10/03/2013)

[10] Porter, M.E, & Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2010), Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia của Việt Nam, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế

Trung ương, Hà Nội

Tiếng Anh:

[11] Christophe, M., Mena, C., Khan, O., Yurt, O., (2011), "Approaches to managing global

sourcing risk", Supply Chain Management: An International Journal, Vol 16 Iss: 2,

pp.67 – 81

[12] Ministry of Economy, Trade and Industry (2003a), The Role of Small and Medium Supporting Industries in Japan and ThaiLand

[13] www.japan.tsukuba.ac.jp/081126Nargiza.pdf, (Truy cập ngày 25/02/2014)

[14] Ministry of Economy, Trade and Industry (2013b), Japan’s Policy on Small and Medium Enterprises (SMEs) and Micro Enterprises http://www.chusho.meti.go.jp/sme_english/outline/04/20131007.pdf, (Truy cập ngày 20/02/2014)

[15] Mori, J., (2005), Development of Supporting Industries for Vietnam’s Industrialization: Increasing Positive Vertical Externalities Through Collaboratve Training, Master of

Arts in Law and Diplomacy Thesis, The Fletcher School

[16] Ohno, K., (2007), ―Building Supporting Industries in Vietnam‖, Vietnam Development

Forum (VDF), Vol 1.

Trang 32

PHÁT HUY TÍNH LIÊN KẾT VÀ DỠ BỎ RÀO CẢN NHẰM PHÁT TRIỂN

KINH TẾ VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG

PROMOTING LINKS AND REMOVING BARRIERS TO DEVELOP CENTRAL

Hệ thống hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế, yếu k m chậm được nâng cấp, đầu tư mở rộng Nguồn lực tài chính và nguồn vốn đầu tư phát triển của v ng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội, xóa đói giảm nghèo và phòng chống thiên tai của vùng Lực lượng lao động trong vùng khá dồi dào, giá thành lao động rẻ, nhưng lại hạn chế về tay nghề, trình độ đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển Do đó, các tỉnh, thành phố trong vùng cần xích lại gần nhau hơn, liên kết, gắn bó

và phối hợp chặt chẽ hơn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của vùng Duyên hải miền Trung

Từ khóa: Vùng Duyên hải miền Trung, liên kết vùng, dỡ bỏ rào cản

ABSTRACT

Central Coast region is facing with challenges and difficulties Low starting point of economic – social and educational standardards space; disparity in the level of economic, intellectualisation, development opportunities among regions and among ethnic groups are quite large The similarity in natural conditions, industrial development potentials, marine economy and tourism services should lead to fierce competition for attracting investment policies, causing obstacles for the general interests of region

as well as for each province Transport infrastructure is limited with slow upgrading and lack of expansion investment Financial resources and developmental capital investment have not met the requirements of economic and social development, poverty reduction and natural disaster prevention in the region Workforce in the region is abundant at low labor costs, but is with limited skills, their education level did not meet the requirements of the development Therefore, the provinces and cities in the region need to tighten up more to coordinate more closely in order to promote the synergy of the Central Coast Region

Key Words: Central Coast, link, remove the obstacles

1 Tổng quan về vùng Duyên hải miền Trung

1.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội:

Vùng duyên hải miền Trung gồm 5 tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) và 4 tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận), với diện

tích tự nhiên là 49.409,7 km 2, chiếm 14,93% diện tích cả nước Lãnh thổ của Vùng nằm ven

biển, trải dài với 1.430 km bờ biển, hẹp theo chiều ngang, chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng

Địa hình của Vùng tương đối đa dạng với nhiều đồng bằng nhỏ hẹp ven biển, bị chia cắt bởi các dãy núi và nhiều con sông lớn

Dân số trung bình theo thống kê năm 2012 là 10,09 triệu người, chiếm 11,36% dân số

cả nước, mật độ bình quân là 204,4 người/km2 Phần lớn dân cư phân bố trải rộng theo các tuyến đường quốc lộ, nhất là quốc lộ 1A và vùng đồng bằng ven biển Tỷ lệ hộ nghèo của các địa phương trong Vùng còn khá cao so với mức bình quân cả nước (11,1%) Cụ thể: Quảng

Trang 33

Nam - 17,93%, Quảng Ngãi - 17,64%, Phú Yên - 16,69%; Bình Định - 15,2% (số liệu năm 2012) (http://duyenhaimientrung.vn/, 2013)

Tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2012, tính theo giá hiện hành, của Vùng là

310.213,4 tỷ, chiếm 9,56% so với GDP của cả nước Hầu hết các tỉnh đều có tốc độ tăng

trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2009 - 2012, cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước (5,96%) Tuy nhiên, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn chỉ chiếm 13,47%

và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn chiếm 3,89% so với cả nước

Về giáo dục đào tạo, nhìn chung, toàn vùng có hệ thống đào tạo tương đối hoàn chỉnh, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực Mỗi địa phương đều gồm nhiều trường đại học (cả Vùng có 30 trường đại học và tương đương), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở dạy nghề, nổi bật nhất là 2 đại học trọng điểm vùng là Đại học Đà Nẵng và Đại học Huế

Về y tế, 9 tỉnh có 132 bệnh viện và 68 phòng khám đa khoa khu vực do địa phương quản lý (cả nước có 963 bệnh viện và 621 phòng khám đa khoa khu vực), với 6.750 bác sĩ và 32.258 giường bệnh; tỷ lệ giường bệnh trên 1 vạn dân là 31,94 cao hơn một chút so với bình quân cả nước (30,99/vạn dân)

Toàn vùng có 6 sân bay (trong đó có 4 cảng hàng không quốc tế), 13 cảng biển trong đó

có 7 cảng biển loại I, 6 khu kinh tế ven biển (cả nước có 15 khu kinh tế ven biển), 1 khu công nghệ cao (cả nước có 3 khu công nghệ cao), 14 tuyến đường quốc lộ, đường sắt Bắc - Nam chạy qua, phân bổ đều khắp ở các địa phương, nối liền các đô thị, các khu kinh tế, khu công

nghiệp trong Vùng

1.2 Tiềm năng và thế mạnh của Vùng

Là “mặt tiền” của nước ta nhìn ra Biển Đông, nên có ưu thế rất quan trọng về kinh tế

biển Nhìn chung, các địa phương có nguồn tài nguyên khá đa dạng và phong phú với nhiều tiềm năng nổi trội về biển, đảo, vịnh nước sâu, đất, rừng, di sản văn hóa lịch sử… cho phép phát triển kinh tế tổng hợp với các ngành chủ lực như: du lịch, công nghiệp đóng tàu và dịch

vụ hàng hải, khai thác và chế biến thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá

Phát triển ngành khai thác (nuôi trồng, chế biến) thủy sản và chế biến, xuất khẩu thủy sản; có đội ngũ ngư dân có truyền thống đánh bắt hải sản đông đảo

Toàn Vùng đã có 6 khu kinh tế, 54 khu công nghiệp tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực có quy mô lớn như lọc hóa dầu, năng lượng, lắp ráp ô tô, sửa chữa và đóng mới tàu biển, chế biến nông lâm thủy sản, hóa chất, vật liệu xây dựng, khai khoáng, cơ khí, điện, điện tử, điện lạnh, công nghiệp thông tin, dệt may, da giày… với các sản phẩm chủ lực

là hóa dầu, thủy điện, ô tô, hải sản, dệt may, da giày, cao su…

Đặc biệt, trên địa bàn tập trung đến 4 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận

là Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế), Phố cổ Hội

An và Khu di tích Mỹ Sơn (tỉnh Quảng Nam); có nhiều vũng, vịnh, bãi tắm đẹp tầm cỡ quốc

tế và các khu bảo tồn thiên nhiên… là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch

Một chuỗi đô thị ven biển đang hình thành như: Chân Mây - Lăng Cô, Đà Nẵng, Hội

An, Vạn Tường, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Thiết là cơ sở quan trọng để thiết lập

và mở rộng các liên kết kinh tế giữa các địa phương trong Vùng Các địa phương đã xây dựng một số đoạn tuyến đường du lịch ven biển và dự kiến đến năm 2015 sẽ hoàn thành cung đường ven biển dài hơn 500km này (Vietrade, 2013c)

1.3 Các nhược điểm

Xuất phát điểm nền kinh tế của các địa phương thấp, tích lũy đầu tư nhỏ, hiệu quả đầu

tư chưa cao Tiềm năng, thế mạnh khá tương đồng (biển, du lịch, cảng biển, sân bay, khu kinh

tế, nguồn nhân lực dồi dào…); các ngành kinh tế chủ lực tại các khu kinh tế, khu công nghiệp

Trang 34

của các địa phương có sự trùng lắp nên địa phương nào cũng bị phân tán nguồn lực đầu tư (cả nhà nước lẫn tư nhân)

Các địa phương có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2012 còn ở mức thấp hoặc trung bình, cụ thể: Phú Yên (52/63), Bình Thuận (47/63), Thừa Thiên Huế (30/63), Quảng Ngãi (27/63), Khánh Hòa (24/63), Ninh Thuận (18/63)…

Hạ tầng kinh tế, xã hội còn thiếu, yếu, chưa đồng bộ Chưa có hệ thống giao thông đường bộ hiện đại, nhất là các tuyến đường cao tốc đáp ứng yêu cầu phát triển Ngoại trừ các

đô thị lớn trong Vùng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn khá thấp so với mặt bằng chung cả nước, nhất là chỉ tiêu GDP bình quân trên đầu người, tỷ lệ đô thị hóa, các chỉ tiêu an sinh xã hội Quy mô thị trường nhỏ, khả năng thanh toán của người dân thấp

Doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh thấp Phần lớn các doanh nghiệp mới tham gia vào một số công đoạn của mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, chưa có nhiều sản phẩm chủ lực có thương hiệu tầm cỡ quốc gia và quốc tế

Lao động trong nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng khá cao; lao động chưa qua đào tạo còn lớn; tỷ lệ lao động lành nghề, đáp ứng cao yêu cầu doanh nghiệp thấp; thiếu hụt nguồn lao động chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao

Đã xuất hiện những xung đột giữa lợi ích địa phương và lợi ích toàn Vùng do các tỉnh đều ưu tiên tập trung phát triển cảng biển, sân bay, khu kinh tế Phần lớn các địa phương đều

có tư duy phát triển dàn trải dựa trên tiềm năng, thế mạnh của mình Hơn nữa, các ngành kinh

tế chủ lực của các tỉnh có cơ cấu ngành, sản phẩm khá trùng lắp, thiếu các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ (Lược V.Đ., 2014)

2 Nội dung hợp tác, liên kết, phát triển

Để định vị đúng định hướng tư duy và chiến lược phát triển cho vùng Duyên hải miền Trung, trước hết, cần bắt đầu từ những điều sơ đẳng, quen thuộc nhất: địa lý, tài nguyên, lợi thế trong tính khác biệt

Địa lý: Khác với các Vùng khác, trừ Tây Nguyên, Miền Trung được ―thiết kế‖ theo

kiểu ―nối liền một dải‖, theo chiều dọc Bắc – Nam và đều hướng ra biển Đông, bao gồm Bắc

Trung bộ, với 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên

Huế; và Duyên hải Nam Trung bộ với 8 tỉnh – thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng

Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận

Nhưng trong quá trình phát triển, một cách tự nhiên, tự thân miền Trung lại nảy ra những cách phân tuyến mới Đó là ―Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung‖ gồm 5 tỉnh, kéo từ Thừa Thiên Huế đến Bình Định.Thừa Thiên Huế là vùng ―giao thoa‖ của Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung bộ

Gần đây, còn tự nhiên hơn, hình thành một khối liên kết phát triển khác, trên cơ sở tự nguyện của các địa phương - Vùng Duyên hải phía Nam, 9 tỉnh– thành phố, bao gồm 5 tỉnh thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung và 4 tỉnh duyên hải phía Nam gồm Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận

Cần lưu ý đến sự ―giao thoa‖ trong các liên kết phát triển miền Trung Sự giao thoa - liên kết đó có gốc rễ bắt nguồn từ tính chất ―liền khúc ruột‖ của miền Trung, nhờ đó, có thể

mở rộng sự liên kết ra hai đầu bằng cách kết nối -kết nạp thêm một cách rất tự nhiên bất cứ địa phương nào gần kề vào tuyến liên kết vùng cục bộ của Duyên hải miền Trung

Tính đặc sắc trong khả năng liên kết phát triển này gắn với địa hình và các đặc điểm phát triển tương đồng – khác biệt rất đặc sắc của các địa phương miền Trung: tính chất trải dài liên tục,mỗi tỉnh kết nối hai đầu với tỉnh khác theo hướng Bắc – Nam trên một dải đất hẹp, có cấu trúc địa lý và tài nguyên gần như giống hệt nhau

Trang 35

Địa thế, địa hình: ―chạy dọc biển và quay mặt ra biển, tựa lưng vào núi, ở giữa là một dải đất hẹp, phần lớn là cát‖ – đó là địa thế cơ bản của tất cả các tỉnh miền Trung Rõ nhất là các tỉnh Duyên hải miền Trung.Điểm đặc biệt của các tỉnh này là dải đất có chiều ngang rất hẹp, đến mức, có thể nhận diện Duyên hải miền Trung theo cách trước mặt là biển, sau lưng

là núi, là đại ngàn Tây Nguyên, không có điều kiện đất đai – đồng bằng để phát triển nông nghiệp truyền thống như ở Bắc Bộ và Nam bộ (trồng lúa), nhiều tỉnh còn thiếu không gian phát triển công nghiệp cổ điển, thậm chí, thiếu cả không gian phát triển hậu cần cảng biển, mặc dù tỉnh nào cũng có cảng biển tốt

Nhưng với địa thế đó, các tỉnh Duyên hải miền Trung lại có thể dễ dàng kết nối trực tiếp với các tỉnh Tây Nguyên để tạo thành sự liên kết độc đáo ―biển xanh‖ với ―đại ngàn‖ Tiềm năng và lợi thế: nhiều bãi biển đẹp, thuộc loại đẹp nhất thế giới làm cho Duyên hải miền Trung có một lợi thế - tiềm năng tuyệt đối

Bãi biển và biển đẹp sát liền đại ngàn Tây Nguyên nhân đôi lợi thế của Duyên hải miền Trung

Các di sản văn hóa thế giới của miền Trung ken dày với Cố đô Huế, Đô thị cổ Hội An, Tháp Mỹ Sơn, Bảo tàng văn hóa Chăm, đất võ Tây Sơn, Lễ hội Văn hóa Chăm Ninh Thuận, v.v.tạo thành chuỗi - con đường di sản văn hóa đặc sắc cũng là một lợi thế tuyệt đối của Vùng Lợi thế ―điểm nhấn‖ này kết hợp với đặc sắc văn hóa đa dân tộc của các tỉnh tạo thành một tổ hợp lợi thế văn hóa độc đáo độc nhất vô nhị của Duyên hải miền Trung Đan xen với

di sản văn hóa là các di sản thiên nhiên – tài nguyên du lịch tự nhiên hiếm có: các bãi biển đẹp hạng nhất thế giới Mở lên Đại ngàn Tây Nguyên, nối Mũi Né của Bình Thuận với Bình Châu của Bà Rịa - Vũng Tàu của Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam, còn về phía Bắc, nối tuyến Du lịch Di sản miền Trung với Vùng Thành cổ Quảng Trị và hệ thống hang động Phong Nha – Kẻ Bàng – Sơn Đoòng của Quảng Bình, chúng ta sẽ thấy Vùng Duyên Hải miền Trung có cơ sở tiềm tàng đặc biệt để tạo dựng một chân dung phát triển với một định hướng phát triển đặc thù, khác biệt căn bản về cơ cấu so với bất cứ Vùng nào trong cả nước, với đẳng cấp cao và mang đậm bản sắc Vùng (Vietrade, 2013d)

―Mặt tiền‖ Miền Trung có nhiều cảng biển đẹp và tốt, chứa đựng tiềm năng mở cửa - giao thương – kết nối toàn cầu, một lợi thế phát triển to lớn trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Xin lưu ý một điều mà hầu như ai cũng biết: Cảng biển đẹp, bãi biển đẹp là điều kiện nền tảng để hình thành các đô thị biển có đẳng cấp Đây là một loại ―mỏ vàng vô tận‖ riêng có của vùng Duyên hải miền Trung

Thời tiết, khí hậu của Vùng, tuy không phải ở tất cả các tỉnh đều thuận lợi, song cơ bản

là thích hợp để phát triển du lịch đẳng cấp cao Các tỉnh phía Nam có thời tiết khí hậu gần như quanh năm thuận lợi cho hoạt động du lịch biển

2.1 Mục tiêu liên kết

- Khai thác và phát huy các tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương và toàn Vùng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và phát triển bền vững Phát triển mạnh các ngành công nghiệp và dịch vụ, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển các ngành công nghiệp

có hàm lượng kỹ thuật cao, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, có tầm cỡ khu vực và quốc tế; ưu tiên phát triển kinh tế biển (hạ tầng cảng biển, dịch vụ hàng hải, phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ, chế biến và xuất khẩu thủy hải sản), góp phần tạo việc làm, nâng cao mức sống và trình độ dân trí cho các tầng lớp dân cư

- Trong những năm trước mắt, ưu tiên tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu, có tính khả thi cao như: phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ liên tỉnh; hạ tầng và sản phẩm

du lịch; kinh tế biển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kinh tế biển; phát triển mạnh ngành

Trang 36

khai thác và chế biến thủy sản, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng nhân lực phục vụ phát triển du lịch; phân công, chuyên môn hóa sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại, đầu tư… nhằm tạo lập không gian kinh tế thống nhất toàn Vùng để cùng phát triển, tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (Vietrade, 2013b)

2.2 Tình hình triển khai hợp tác phát triển vùng duyên hải miền Trung

2.2.1 Nh ng kết quả đạt được:

Tiếp theo việc thành lập và ký kết biên bản Liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung, qua hơn 03 năm thực hiện, Ban Điều phối Vùng và Nhóm Tư vấn Hợp tác phát triển Vùng đã tổ chức nhiều hoạt động thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp lớn trong Vùng, đặc biệt là sự ủng hộ của các đồng chí Lãnh đạo cấp cao ở Trung ương như các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội, các đồng chí Lãnh đạo các Bộ, Ngành Trung ương… bao gồm một số kết quả chính như sau:

(1) Bước đầu tạo được những thay đổi trong cả nhận thức và hành động về việc hợp tác phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung từ lãnh đạo chủ chốt của các tỉnh/thành phố, các sở ban ngành, tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và người dân

(2) Được dư luận đánh giá cao về hợp tác phát triển Vùng, nhất là từ các Cơ quan, ban ngành Trung ương, các tổ chức, các doanh nghiệp trong và ngoài nước Một số khu du lịch, nghỉ dưỡng có quy mô lớn, đẳng cấp quốc tế tại các địa phương trong Vùng đã đi vào hoạt động, đặc biệt Khu nghỉ dưỡng cao cấp quốc tế InterContinental Danang đã được chọn làm nơi tổ chức các Hội nghị, Hội thảo với sự tham dự của lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các nước (các chính trị gia), các tổ chức quốc tế, các tỷ phú, các nhà đầu tư, kinh doanh, tài chính quốc tế Thông qua đó đã tạo ra sức lan tỏa tới các địa phương trong Vùng và là dịp quảng bá được hình ảnh các địa phươnng trong Vùng đối với các nhà đầu tư, khách du lịch nước ngoài (3) Phối hợp tổ chức thành công 02 Tọa đàm, 05 Hội thảo khoa học và 02 Hội nghị Trong đó, Hội nghị xúc tiến đầu tư vùng duyên hải miền Trung (vào 2 ngày 21 và 22/3/2013) tại thành phố Đà Nẵng đã đón tiếp trên 630 đại biểu trong và ngoài nước, trong đó có 200 đại biểu quốc tế và 16 đoàn doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác nhau Đặc biệt, Hội nghị đã chứng kiến lễ trao giấy chứng nhận đầu tư cho 09 dự án với tổng số vốn là 3.504 tỷ đồng và

30 triệu USD; lễ ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư với tổng giá trị 30,822 tỷ USD và lễ

ký kết cấp tín dụng của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho một số

dự án trong Vùng với tổng giá trị 3.922 tỷ đồng và 34 triệu USD

(4) Đã triển khai nghiên cứu gồm 03 đề án, cụ thể:

Đề án hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu vùng duyên hải miền Trung (giai đoạn 1)

và cập nhật trên Cổng thông tin điện tử Vùng với tên miền duyenhaimientrung.vn);

Triển khai nghiên cứu thí điểm Đề án "Xây dựng Khu Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí tại Khu Kinh tế mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam‖, dự kiến hoàn thành vào tháng 08/2014

Triển khai nghiên cứu Đề án ‖Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế thành trung tâm văn hóa đặc sắc gắn với phát triển du lịch, dự kiến hoàn thành vào tháng 09/2014

(5) Tổ chức huy động đội ngũ các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực tham gia vào các hoạt động liên kết phát triển Vùng Cho đến nay

đã có hơn 150 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý tham gia vào các hoạt động khoa học (hội thảo và nghiên cứu)

Trang 37

- Thứ hai, do tiềm năng lợi thế của các địa phương trong Vùng đều khá tương đồng

(biển, du lịch, cảng biển, sân bay, KKT, KCN…) nên đã xuất hiện những xung đột lợi ích địa phương và lợi ích toàn Vùng do các tỉnh đều ưu tiên tập trung phát triển cảng biển, sân bay, KKT, KCN; Các ngành kinh tế chủ lực tại các KKT, KCN của các địa phương có sự trùng lắp nên nguồn lực đầu tư đều bị phân tán (phủ C.t.t.đ.t.C., 2014)

-Thứ ba, hạ tầng kinh tế, xã hội còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ đặc biệt là hệ thống

đường giao thông liên tỉnh, liên Vùng Còn thiếu hệ thống giao thông đường bộ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của các địa phương trong Vùng như các tuyến đường cao tốc, các đường bay nội vùng, quốc tế…

-Thứ tư, nguồn vốn đầu tư mới chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu phát triển, nhất là yêu cầu

phát triển kết cấu hạ tầng Thiếu các cơ chế, chinh sách khuyến khích huy động các nguồn vốn đầu tư và liên kết kinh tế

-Thứ năm, các địa phương đều còn tư duy phát triển dàn trải dựa trên tiềm năng thế

mạnh của địa phương mình về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch, nguồn nhân lực dồi dào, lao động rẻ…

-Thứ sáu, chưa hình thành sản phẩm chủ lực, thương hiệu sản phẩm đặc trưng của vùng

duyên hải miền Trung, ngoại trừ một số điểm du lịch có thương hiệu nhưng chưa có tác dụng lan tỏa

-Thứ bảy, Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo

hoặc có tay nghề thấp còn lớn; lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao (Vietrade, 2013a)

3 Cơ chế liên kết, hợp tác phát triển vùng

Cho đến nay, quan điểm liên kết phát triển miền Trung trong thế hội nhập với Thế giới

đã không còn là điều mới mẻ Thậm chí, ở một cấp độ nào đó, quan điểm này đã được khẳng định thành xu hướng tất yếu Tuy mới chủ yếu dừng lại ở định hướng chung và một số thành tích cụ thể, chưa lớn đến mức xoay chuyển hẳn tư duy phát triển vùng của miền Trung cũng như của các vùng khác, song đây là kết quả của một quá trình liên kết phát triển tự nguyện kéo dài và trải qua không ít khó khăn Những kết quả đạt được của công cuộc này mang tính tích cực rõ ràng, đủ để chứng minh tính không thể đảo ngược được của cách tiếp cận, xu thế

và định hướng chiến lược mà Vùng Duyên hải miền Trung đã và đang lựa chọn (Lược V.Đ., 2014)

Bài viết này không điểm lại cụ thể, chi tiết các kết quả đó mà chỉ nhận diện một số xu hướng phát triển trong môi trường liên kết Vùng và hội nhập quốc tế đang diễn ra và đang được khảo nghiệm ở Vùng này

3.1 Xu hướng thứ nhất: liên kết phát triển du lịch – dịch vụ đẳng cấp cao là trục phát triển chủ đạo và xuyên suốt của Vùng

Có mấy điểm cần được nhấn mạnh qua việc khẳng định và nhất quán thực hiện xu hướng này:

+ Khẳng định rõ miền Trung phát triển theo lợi thế riêng có của mình, không tiến hành

―CNH, HĐH‖ theo công thức giáo điều và mơ hồ ―tỉnh công nghiệp có cơ cấu công nghiệp –

Trang 38

dịch vụ - nông nghiệp‖ chung chung; không ―đi theo‖ công thức phát triển của Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ và Nam Bộ - là hai vùng phần nào ―đi trước‖, dễ được coi là hình mẫu về

―cơ cấu và bước đi‖

Lợi thế đó của miền Trung được nhận diện trong tương quan thị trường - mở cửa - hội nhập (du lịch là sản phẩm tốt nhất của Vùng đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới) và gắn với thời đại (du lịch đẳng cấp trong mọi loại hình và phân khúc)

+ Sự lựa chọn trục phát triển như vậy được lãnh đạo của tất cả các tỉnh trong Vùng đồng thuận, trên cơ sở đạt được sự đánh giá thống nhất rằng:

-lợi thế phát triển nổi bật nhất của đa số các tỉnh là tài nguyên du lịch;

-lợi thế về tài nguyên du lịch không thể phát huy một cách đơn độc, rời rạc ở cấp

độ tỉnh (quy mô từng tỉnh quá bé, trình độ xuất phát thấp và các nguồn lực yếu; khả năng ―tự kết nối‖ từng tỉnh khó do địa hình, do điều kiện hạ tầng giao thông);

-liên kết phát triển Vùng cho phép phát huy tốt nhất, bền vững nhất lợi thế phát triển du lịch của từng tỉnh;

Đến nay, du lịch vùng Duyên hải miền Trung đã có những bước tiến khá mạnh theo hướng tạo lập thương hiệu và đẳng cấp Huế, Đà Nẵng, Hội An, Quy Nhơn, Phú Yên, Nha Trang, Mũi Né đang dựng chân dung và tạo sức hấp dẫn du lịch đẳng cấp cao của mình Tuy

sự liên kết du lịch thực tế giữa các tỉnh theo nghĩa là sản phẩm của một quá trình chủ động Vùng chưa được nhiều, song ẩn phía sau các thành quả du lịch địa phương đều có bóng dáng

và sức thúc đẩy ngày càng mạnh của xu thế liên kết Vùng, thông qua các cuộc Hội thảo, qua hoạt động của Ban Chỉ đạo Liên kết Phát triển Vùng, hoạt động tư vấn của Nhóm Tư vấn Phát triển Vùng

Tính đúng đắn của cách thức tổ chức hoạt động liên kết phát triển này hiện đang thúc đẩy mở ra các tuyến liên kết du lịch Vùng mới Đó là liên kết phát triển du lịch Duyên hải miền Trung và Đại ngàn Tây Nguyên; là kết nối Con đường Di sản miền Trung với Vùng Du lịch Quảng Trị - Quảng Bình có tiềm năng cực kỳ lớn (Di sản Lịch sử Chiến tranh tại Quảng Trị và Di sản Thiên nhiên (hang động) Thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng – Sơn Đoòng của Quảng Bình)

3.2 Xu hướng thứ hai là đưa miền Trung vươn lên trở thành trung tâm phát triển công nghiệp – cảng biển mạnh

Một điểm rất cần lưu ý trong tư duy phát triển miền Trung là việc lựa chọn Du lịch làm trục phát triển chính không dẫn tới chỗ coi nhẹ các lựa chọn phát triển công nghiệp của từng địa phương Miền Trung đang vươn lên thành một trung tâm phát triển công nghiệp – cảng biển mạnh Điển hình là Quảng Nam với Khu Kinh tế mở Chu Lai, Quảng Ngãi với Khu Kinh

tế Dung Quất, Bình Định với Khu Kinh tế Nhơn Hội và Đà Nẵng với định hướng phát triển công nghiệp công nghệ cao Bên cạnh đó là gần 40 Khu Công nghiệp và được tổ chức theo kiểu ―bách hóa tổng hợp‖ (không theo kiểu ―chuỗi – industrial cluster‖ hay KCN chuyên sâu), với đẳng cấp công nghệ nhìn chung là rất thấp (Dương T.B., 2014)

Các Khu Kinh tế của miền Trung có mức độ thành công rất khác nhau và, có lẽ cũng giống như đa số các Khu Kinh tế khác trong cả nước, chưa chứng minh sự thành công của mình với sức thuyết phục cao

Tuy nhiên, điều muốn được nhấn mạnh ở đây là: sự lựa chọn phát triển công nghiệp, trong tư duy phát triển Vùng của các lãnh đạo Tỉnh, đều cố gắng bảo đảm nguyên tắc; tận dụng lợi thế (với miền Trung luôn luôn là lợi thế cảng); không gây xung đột với sự phát triển

Trang 39

Du lịch; và tuân thủ nguyên tắc hướng tới đẳng cấp cao (của du lịch và của công nghiệp) Nhưng sự phụ thuộc vào lợi ích ngắn hạn và khuynh hướng xung đột là khó tránh khỏi Quảng Ngãi là tỉnh điển hình theo nghĩa trong vùng, đây là tỉnh có tương đối ít tài nguyên du lịch nổi bật (tính đến thời điểm hiện nay); vì thế, lựa chọn định hướng trở thành tỉnh mạnh về công nghiệp – cảng biển với Khu Kinh tế Dung Quất, dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Trung ương,đã được Tỉnh ―quyết liệt‖ triển khai và đạt được những thành công bước đầu Hiện nay Tỉnh đang được mở rộng và nâng cấp mạnh mẽ Khu Kinh tế này

Sự lựa chọn cơ cấu ―khác biệt‖ của Quảng Ngãi (so với các tỉnh khác trong Vùng) cũng

là sự lựa chọn dựa trên thế mạnh riêng có của tỉnh, trên thực tế không (chưa) gây xung đột với

xu hướng phát triển chuỗi du lịch vùng Vì thế, Ban Điều phối Liên kết Phát triển Vùng và Nhóm Tư vấn phát triển Vùng ủng hộ mạnh mẽ sự lựa chọn đó của Tỉnh

Các tỉnh khác trong Vùng, bên cạnh thúc đẩy phát triển du lịch như là hướng ưu tiên, cũng không quên phát triển công nghiệp, coi đây là một giải pháp chủ yếu thúc đẩy công cuộc CNH, HĐH địa phương mình Đó là Phú Yên với Khu Kinh tế - cảng biển Vũng Rô; Khánh Hòa với Khu Kinh tế - cảng biển Vân Phong, Bình Định với Khu Kinh tế - cảng biển Nhơn Hội, Quảng Nam với Khu Kinh tế mở Chu Lai, Thừa Thiên Huế với Khu Kinh tế - cảng biển Chân Mây – Lăng Cô Tất cả những lựa chọn đó đều dựa trên thế mạnh địa phương (cũng là thế mạnh chung của Vùng)- thế mạnh cảng biển - để phát triển công nghiệp

3.3 Xu hướng thứ ba là phải đảm bảo tính nhất quán với định hướng cơ cấu – ngành

Về nguyên tắc, sự lựa chọn phát triển dựa trên lợi thế so sánh cảng biển lớn là đúng đắn Nhưng sựlựa chọn đó vẫn chứa đựng khả năng xung đột dài hạn với chiến lược phát triển

Du lịch đẳng cấp cao Cho nên, vấn đề còn lại của Vùng và của các tỉnh trong nỗ lực thúc đẩy phát triển công nghiệp là: phải nhất quán với định hướng cơ cấu ngành – công nghiệp theo định hướng công nghệ cao, thực hiện sự giám sát nghiêm ngặt việc thực thi quy hoạch để quá trình phát triển Khu Kinh tế - Cảng biển không xung đột với quá trình phát triển du lịch và

làm tổn hại đến định hướng phát triển chung của cả Vùng, đặc biệt là định hướng phát triển

đô thị - biển đẳng cấp cao (hiện đại và có bản sắc) Phát triển đô thị - biển đẳng cấp cao, không nghi ngờ gì, là một xu thế phát triển dựa trên lợi thế chiến lược tuyệt đối của các tỉnh Duyên hải miền Trung

Tuy nhiên, định hướng này chỉ thành công với hai điều kiện

Một là lãnh đạo các tỉnh phải vượt qua được áp lực và lợi ích cục bộ ngắn hạn (thu ngân sách và tạo việc làm chất lượng thấp)

Hai là phải có những chế tài cấp Vùng đủ mạnh và đủ hiệu lực để bảo đảm sự tuân thủ lợi ích chiến lược của Vùng Điều kiện thứ hai chỉ có được với sự can thiệp của Trung ương theo cách đặt ra chế tài Vùng hoặc thiết lập thể chế điều hành cấp Vùng đủ quyền lực và dựa trên các khuyến khích lợi ích thực tiễn phù hợp

Cả hai điểm này, ít hay nhiều, so với trạng thái thực tế hiện nay, đều là thách thức hiện thực và không dễ vượt qua đặt ra cho nỗ lực liên kết phát triển Vùng Duyên hải miền Trung Thực tiễn miền Trung cho thấy hoàn toàn có thể vượt qua được thách thức này Trên thực tế, một số địa phương trong Vùng đã xác lập được tầm nhìn xa đúng đắn, nhờ đó, nhận diện chính xác lợi ích căn bản dài hạn để có những lựa chọn đúng Điển hình nhất là Khánh Hòa, đã từ chối cảng biển – thương mại, chọn phát triển cảng - du lịch đẳng cấp cao trên cơ sở định hướng phát triển Nha Trang thành Đô thị - biển – du lịch đẳng cấp cao

Cách đây mấy năm, Đà Nẵng cũng đã từ chối các dự án đầu tư tiêu tốn năng lượng và gây ô nhiễm, trong đó có cả dự án tỷ đô, để giữ vững định hướng phát triển du lịch – dịch vụ đẳng cấp của mình Hiện nay, Đà Nẵng vẫn ―kiên cường trụ vững ‖ với cách phát triển này

Trang 40

Tuy vậy, thách thức vẫn còn rất lớn cho tất cả các tỉnh trong Vùng

3.4 Xu hướng thứ tư là phát triển ngành nông nghiệp từ lợi thế khai thác tài nguyên biển

Miền Trung xác định rõ là không phải là vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp truyền thống Thiếu đất, không có đất màu mỡ để làm nông nghiệp là điểm bất hạnh lịch sử của miền Trung Nhưng điểm bất lợi đó hiện nay lại giúp cho miền Trung thoát khỏi nỗi lo phải thoát khỏi một phương thức phát triển không thể giúp người dân thoát nghèo và làm giàu

Thay vào đó, miền Trung chọn biển, và khác nhiều tỉnh có biển ở vùng khác, miền Trung chọn biển khơi, chọn đại dương làm lối thoát hiện đại cho mình

Sự lựa chọn đó, rõ ràng là đúng đắn về mặt thời đại; đồng thời, phù hợp với sứ mệnh lịch sử Tổ quốc giao Việc phát triển câu cá ngừ đại dương bằng công nghệ cao, với sự hỗ trợ của Nhật Bản, theo định hướng hội nhập quốc tế, là một cách diễn đạt tuyệt vời (xin nhấn mạnh: chỉ là một cách diễn đạt) cho sự đúng đắn và phù hợp đó

Khai thác biển – đại dương của Duyên hải miền Trung, dù chỉ là khai thác với tư cách

là ―ngành nông nghiệp‖ (chưa phải khai thác thác tài nguyên biển theo lối công nghiệp), cần những năng lực mới và phương thức hoạt động mới Điều này, miền Trung đang rất thiếu Thử nhìn từ góc độ đơn giản nhất: số lượng tàu thuyền đủ lực vươn khơi và bám biển dài ngày, các cơ sở hậu cần biển đủ mạnh để hỗ trợ ngư dân bám biển để đạt hiệu quả khai thác cao, để tăng sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo, cho đến nay cũng chỉ mới xuất hiện trong ý tưởng hay cao hơn, những đề xuất len cấp trên (Nam T.Đ., 2014)

Theo nghĩa đó, cách tiếp cận ―cá ngừ đại dương – công nghệ nghệ và thị trường Nhật Bản‖ của Bình Định là cách tiếp cận mang tính đột phá tư duy cần được áp dụng một cách triệt để và sáng tạo Nó càng cần được sự ủng hộ quyết liệt và mang tính thực tiễn từ các cấp trên – cấp Vùng và cấp Trung ương

4 Kiến nghị

4.1 Đối với Trung ương

(1) Cần xem Vùng duyên hải miền Trung là địa bàn trọng điểm để thực hiện chiến lược kinh tế biển của nước ta Trong đó tập trung vào 3 nhóm ngành kinh tế chính : ngư nghiệp (đánh bắt và chế biến hải sản); du lịch biển đảo (gắn với du lịch văn hoá, lịch sử) và khu kinh

tế ven biển (gắn với ưu thế về càng biển) Đưa các nội dung trên thành những chương trình quốc gia để phát triển với lộ trình cụ thể từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Điều chỉnh lại Quy hoạch tổng thể toàn Vùng; phân bố hợp lý lực lượng sản xuất nhằn tránh phân tán nguồn lực

(2) Liên kết phát triển Vùng duyên hải miền Trung với Tây nguyên, trước hết có thể thực hiện trong lĩnh vực du lịch Hình thành 3 cụm liên kết để có sự đầu tư hạ tầng giao thông đờng bộ Nhóm phía Bắc gồm các tỉnh Thừa thiên - Huế; Đà nẵng, Quàng Nam, Quảng ngãi với Kontum; Nhóm các tỉnh Bình định; Phú yên với Gia lai và Nhóm các tỉnh phía Nam Khánh hoà; Ninh thuận; Bình thuận liên kết với Đắk lăk; Đặk nông; Lâm đồng

(3) Cần ưu tiên bố trí các nguồn vốn đầu tư và chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai một

số công trình hạ tầng giao thông đường bộ trọng điểm trong Vùng, đặc biệt là hoàn chỉnh việc định tuyến đối với tuyền đường cao tốc xuyên Vùng, từ tỉnh Thừa Thiên Huế đến tỉnh Bình Thuận; đường ven biển; xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá; phát triển mạnh đội ngũ tàu thuyền hiện đại đánh bắt xa bờ và mua gôm bảo quản hải sản trên biển.Tập trung xây dựng một vài đô thị với nền kinh tế đủ mạnh là trung tâm của toàn Vùng (có thể chọn Đà Nẵng ở

Ngày đăng: 11/11/2021, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Cachon, G. and M. Lariviere. "Contracting to Assure Supply: How to Share Demand Forecasts in a Supply Chain." Management Science (2001): 629-646 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contracting to Assure Supply: How to Share Demand Forecasts in a Supply Chain
Tác giả: Cachon, G. and M. Lariviere. "Contracting to Assure Supply: How to Share Demand Forecasts in a Supply Chain." Management Science
Năm: 2001
[2] Czaijowski, Joyce M. "Leading successful interinstitutional collaborations using the collaboration success measurement model." 2007. Upper Iowa University Document Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leading successful interinstitutional collaborations using the collaboration success measurement model
[4] Holmstrom, J., et al. "Collaborative Supply Chain configurations: The implications for supplier performance in production and inventory control." 8th International Symposium of Logistics.Seville, Spain, 2003. 455-464 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Collaborative Supply Chain configurations: The implications for supplier performance in production and inventory control
[6] Karkkainen, M. "Increasing efficiency in the supply chain for short shelf life goods using RFID tagging'." International Journal of Retail & Distribution Management (2003): 529-536 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Increasing efficiency in the supply chain for short shelf life goods using RFID tagging'
Tác giả: Karkkainen, M. "Increasing efficiency in the supply chain for short shelf life goods using RFID tagging'." International Journal of Retail & Distribution Management
Năm: 2003
[8] Mattessich, P. W. and B. R. Monsey. Collaboration: What makes it work. St. Paul, MN: Amherst H. Wilder Foundation, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Collaboration: What makes it work
[9] Raghunathan, S. "Information Sharing in a Supply Chain: A note on its Value when Demand is Nonstationary." Management Science (2001): 605-610 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Sharing in a Supply Chain: A note on its Value when Demand is Nonstationary
Tác giả: Raghunathan, S. "Information Sharing in a Supply Chain: A note on its Value when Demand is Nonstationary." Management Science
Năm: 2001
[10] Thomson, Ann Marie, James L. Perry and Theodore K. Miller. "Conceptualizing and Measuring Collaboration." Journal of Public Administration Research and Theory (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Conceptualizing and Measuring Collaboration
[3] Disney, S.M. and D.R. Towill. "Bullwhip Reduction in Supply Chains: The Impact of VMI.&#34 Khác
[5] Holweg, Matthias, et al. "Supply Chain Collaboration: Making Sense of the Stategy Continuum.&#34 Khác
[7] Liker, J. and Y. -C. Wu. "Japanese Automakers, U.S. Suppliers and Supply-Chain Superiority.&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm