Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN NGỌC THU
RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐÊ PHƯƠNG TRÌNH VÀ HỆ PHƯƠNG TRÌNH VÔ TI
Ngành: Lý luận và Phương pháp giảng dạy bộ môn Toán
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Trinh
THÁI NGUYÊN, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Rèn luyện một số kĩ năng tự học cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học chủ đề phương trình
và hệ phương trình vô tỉ”dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Trinh là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tôi, các kết quả nghiên cứu được trong luận văn này làtrung thực và chưa được công bố ở bất cứ công trình nào khác
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn Nguyễn Ngọc Thu
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầầ̀y cô trường Đạihọc Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, những người đã truyềầ̀n đạt cho chúng tôinhững kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốố́t thời gian chúng tôi học tậptại trường
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô khoa Toán và đặcbiệt là TS Đỗ Thị Trinh, người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi vớinhững chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu vàhoàn thành luận văn
Trang 3Xin gửi tới Ban Giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viên trường THPT TúĐoạn tỉnh Lạng Sơn lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡtác giả thu thập số liệu cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quantới đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những người bạn, những người anh emnhững người đã cùng gắn bó, cùng học tập và giúp đỡ tôi trong những năm quacũng như trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, chúng tôi cảm ơn gia đình, những người thân đã cho chúngtôi những điều kiện tốt nhất để học tập trong suốt hai năm vừa qua
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng bản luận văn này cũng không tránh khỏinhững thiếu sót cần góp ý, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và độc giả, để luậnvăn này hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thu MỤC LỤC
Trang 4TS Tiến sĩ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI là thời đại của nền “kinh tế tri thức” Công nghệ thông tin, khoahọc kĩ thuật không ngừng phát triển đã và đang dẫn đến sự bùng nổ thông tin.Ngày nay mạng internet đang là nơi để mỗi người tự cập nhật thông tin cho mình.Thế giới đang vận hành và thay đổi từng giây Để nắm bắt được thông tin khôngcòn cách nào khác là mỗi chúng ta phải đọc và phải học từng ngày, từng giờ
Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [17].
Để đáp ứng được mục tiêu chương trình giáo dục cấp THPT không còncách nào khác là học sinh phải tự học, tự tìm tòi và khám phá những nguồnthông tin mới bổ ích cho mình Bản thân mỗi học sinh và nhà trường phải tiếnhành một cuộc cách mạng trong học tập.Trước tiên và trên hết là cuộc cáchmạng về phương pháp dạy và học Phương pháp dạy - học môn Toán cũngkhông nằm ngoài mục tiêu đó Làm sao để học sinh quan tâm -thích và học tốtmôn Toán đang là nỗi băn khoăn, trăn trở của các nhà phương pháp
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Nghĩa là từchỗ quan tâm đến học sinh học được cái gì, đến chỗ quan tâm đến học sinh vậndụng được cái gì qua việc học
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thể, hình
Trang 6thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Theo tinh thần đó,
các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường trung học cần được tiếp cậntheo hướng đổi mới nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những năng lựcchung chủ yếu: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, nănglực thẩm mỹ, năng lực giao tiếp, năng lực tính toán, năng lực công nghệ thôngtin và truyền thông (ICT), trong đó năng lực tự học được đặt lên hàng đầu thểhiện tầm quan trọng của việc tự học, tự nghiên cứu của học sinh trong thời đạihiện nay
Qua quá trình nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) hiệnhành, tôi nhận thấy trong các môn học nói chung và môn Toán nói riêng, việcthiết kế và tổ chức dạy học chưa thật sự chú trọng đến năng lực của từng cánhân người học Phương pháp dạy học truyền thống vẫn tập trung chủ yếu vàonội dung, nhằm truyền thụ kiến thức và việc thực hành các kĩ năng đó, ít coitrọng khả năng đạt được, hay nói cách khách là chưa thật sự chú trọng đến nănglực cần thiết để họ có thể thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống
Do đó cần có rất những đề tài nghiên cứu về thiết kế và tổ chức dạy học theohướng phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông
“Phương trình và hệ phương trình vô tỉ” là một mạch kiến thức có cả
trong chương trình hiện hành và cả trong chương trình GDPT mới.Đây là mộttrong các chủ đề toán giàu tiềm năng cung cấp cho HS những hiểu biết về mốiliên hệ giữa toán học và các lĩnh vực khoa học khác trong cuộc sống Tuy
nhiên, trong thực tế, nội dung “Phương trình và hệ phương trình vô tỉ” luôn
được đánh giá là nội dung khó trong chương trình Toán phổ thông khi làm bàitập học sinh lại không đạt kết quả cao, các em thường áp dụng rất máy móc,
Trang 7nếu gặp bài toán lạ là không biết cách xử lí mà đôi khi bằng ngôn ngữ GV khó
có thể diễn đạt để HS hiểu cặn kẽ vấn đề Vì vậy kết quả học tập của các emchưa cao
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu:
Dạy học chủ đề: “Rèn luyện một số kĩ năng tự học cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học chủ đề phương trình và hệ phương trình vô tỉỉ̉”.
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học chủ đề “Phương trình và hệ phương trình vô tỉ” theohướng rèn luyện một số kĩ năng tự học cho học sinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 10 trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và triển khai các biện pháp sư phạm hợp lí về rèn luyệnmột số kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học chủ đề phương trình và hệphương trình vô tỉỉ̉ thì sẽ nâng cao kết quả học tập, góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục và đào tạo cho học sinh ở trường phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về: Tự học, kỹ năng, kỹ năng tự học, các yếu
tố tác động đến việc hình thành và phát triển đến việc tự học của HS
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa hiện hành, sách GV và các tàiliệu tham khảo có liên quan đến dạy học chủ đề “Phương trình và hệ phươngtrình vô tỉ”
- Điều tra và phân tích thực trạng về tự học môn Toán ở một số trường
Trang 8THPT và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng tự học của học sinh trunghọc phổ thông
- Đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinhtrung học phổ thông trong dạy học chủ đề Phương trình và hệ phương trình vô tỉ
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để bước đầu kiểm nghiệm tính khả thicủa một số biện pháp được đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu có nội dung phục vụ cho đề tài
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách tham khảo môn Toán THPTtrong và ngoài nước
6.2 Quan sát, điều tra
Quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi, thực nghiệm sư phạm, tổngkết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia
Làm sáng tỏ thêm cơ sở khoa học về dạy học theo hướng rèn luyện một
số kĩ năng tự học cho HS trong quá trình dạy học một chủ đề cụ thể trong mônToán ở THPT
Đề xuất được một số biện pháp dạy học theo hướng rèn luyện một số kĩnăng tự học cho HS đối với nội dung “Phương trình và hệ phương trình vô tỉ”,góp phần tích cực hóa HS trong việc học tập nội dung đó
7.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn
- Nâng cao hiệu quả dạy và học Toán ở trường THPT
- Kết quả luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho GV và HStrong quá trình giảng dạy và học tập ở trường THPT
Trang 98 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Danh mục chữ viết tắt” và “Danhmục tài liệu tham khảo”, nội dung chính của luận văn được trình bày trong bachương, gồm có:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp rèn luyện một số kĩ năng tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học chủ đề phương trình và hệ phương trình vô tỉ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 101.1.1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới
Khi đặt vấn đề “Tự học như thế nào”, nhà tâm lý học N.A Rubakin đãquan niệm: Tự tìm lấố́y kiến thức-có nghĩa là tự học Tự học là quá trình lĩnh hộitri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằngcách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các
mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn trithức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể [24]
Bolhuis (1996) và Garrison (1997) cho rằng tự học là xem người học, làngười chủ có trách nhiệm và tự quản lí quá trình học của mình Tự học tích hợpviệc tự quản lí với tự kiểm soát, đó là quá trình mà người học tự theo dõi, đánhgiá và điều chỉnh nhận thức của mình (dẫn theo [18])
Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” của tác giả Cark Rogers - mộtnhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ đã giải đáp cho học sinh câu hỏi
“học cái gì và học như thế nào”? Câu hỏi “dạy cái gì và dạy như thế nào” cũngđược giải đáp [5]
Năm 2008, Adam Khoo chứng minh được khả năng trí tuệ tiềm ẩn và sựsáng tạo của con người vượt xa hơn những gì chúng ta và thường được nghe tới [1]
Như vậy, có thể thấy tự học là một quá trình người học so sánh đối chiếugiữa lí thuyết và thực hành, giữa sách vở và thực tế cuộc sống, từ đó tự đưa ralời giải đáp - xem như quá trình rút ra tri thức riêng cho bản thân một cách sángtạo Trong quá trình tự học con người không hoàn toàn phụ thuộc vào hiện thực
Trang 11cuộc sống mà hướng tới cải tạo cuộc sống tốt đẹp hơn.
1.1.1.2 Quan điểm về tự học ở Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề tự học cũng được quan tâm từ rất sớm Chủ tịch HồChí Minh là tấm gương sáng về tự học Người luôn coi thư viện là trường họclớn của mình Người cho rằng: “Tự học là học một cách tự động” và mỗi người
“phải biết tự động HT” Theo Người: “Tự động HT tức là tự học một cách hoàntoàn, tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tựmình chủ động vạch ra kế hoạch HT cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện
kế hoạch một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểỉ̉mtra đánh giá việc học của mình [15]
Theo từ điển Giáo dục học: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnhhội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành ” [30]
Cố thủtướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuấố́t sắc của Chủtịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sự nghiệpgiáo dục của Người trong lí luận và thực tiễn Ông chỉ rõ: “phương pháp giáodục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyền thụ và tiếp thukiến thức mà còn là con đường để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu chứkhông phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nóilại” [4]
Nguyễn Kỳ [19] cho rằng: “Tự học là tự đặt mình vào tình huống học,vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đềđặt ra cho mình, nhận biết vấn đề, thu thập, xử lí thông tin, tái hiện kiến thức
cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lí tình huống, thực nghiệm cácgiải pháp, kết quả, kiến thức mới mình đã tự lực tìm ra, tự học thuộc quá trình
cá nhân hóa việc học”
Theo GS Nguyễn Văn Đạo đã có một vài suy nghĩ chung về vấn đề tựhọc: “Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người Số thời gian dành cho
Trang 12việc học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít, chỉ chiếm khoảng 1/4 của mộtđời người Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sángtạo Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò đặc biệtquan trọng Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đihọc là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này”(dẫn theo [16]).
GS TS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học - là tự mình động não, suynghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và
có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực,khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòngsay mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếmlĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữucủa mình” [16]
Nhìn chung các tác giả đều quan niệm rằng, tự học là học với sự độc lập
và tích cực, tự giác ở mức độ cao Tự học là quá trình mà trong đó chủ thểngười học tự biến đổi mình, tự biến đổi các giá trị của mình, tự làm phong phúgiá trị của mình bằng các thao tác tư duy và ý chí, nghị lực và sự say mê HTcủa cá nhân
Tổng hợp từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi hiểu về tự
học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập
tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
Như vậy, tự học không có nghĩa chỉ là việc học ngoài giờ lên lớp, mà tựhọc được hiểu là quá trình chủ động, tự giác của người học nhằm nắm bắt cáctri thức, kĩ năng, kĩ xảo dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ nhất định của GV Bởi vậy,học cần phải được diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạtđộng dạy của thầy Mối quan hệ này có thể diễn ra một cách trực tiếp hoặc giántiếp tùy vào mức độ tự lực và trình độ của người học Điều này cũng có nghĩa
Trang 13là kết quả tự học của người học không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực củangười học, mà còn phụ thuộc vào khả năng, kinh nghiệm tổ chức, hướng dẫnviệc học của người thầy Nó cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ,ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt độngdạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu về học tập của học sinh, phản ánhtính tự giác và nỗ lực của học sinh, phản ánh năng lực tổ hoàn cảnh nhất địnhvới những nội dung học tập nhất định Tự học là con đường tạo ra tri thức bềnvững cho mỗi con người trong quá trình học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời.
Chính vì vậy, muốn nâng cao chất lượng học tập của học sinh chúng tacần phải quan tâm đúng mức đến việc bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độnghiệp vụ của người giáo viên đồng thời phải đặc biệt chú ý đến vị trí trungtâm của học sinh trong hoạt động tập thể để làm sao khai thác triệt để nhữngtiềm năng vốn có trong người học, phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo, chủđộng trong quá trình lĩnh hội tri thức nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, đápứng nhu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động tự học
Từ các quan điểm về tự học, cho chúng ta thấy tự học là quá trình tự điềukhiển, tự chiếm lĩnh tri thức (quá trình thu nhận, chế biến, xử lý, bảo quản vàtruyền đạt thông tin làm gia tăng sự hiểu biết của cá nhân) để học kỹ, nhớ lâu,hiểu sâu, vận dụng tốt Do đó, hoạt động tự học xét về mặt cấu trúc bao gồmcác đặc trưng sau [16]:
- Động cơ: Là nhu cầu hứng thú thu hút học sinh vào quá trình học tậptích cực và duy trì tính tích cực đó trong quá trình họọ̣c tập, làm cho học sinhthấy được ý nghĩa của việc học tập
- Định hướng: Là mục đích của học sinh để xác định và ý thức được hoạtđộng nhận thức của mình, nó trả lời câu hỏi: Học để làm gì?
- Nội dung, phương pháp: Là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chủ đạocần chiếm lĩnh và các cách thức chiếm lĩnh chúng, nó trả lời cho câu hỏi: Học
Trang 14Ham mu n ố Áp ủ Tích luỹ Hành đ ng ộ M c tiêu ụ
cái gì? Họọ̣c như thế nào?
- Năng lực học tập: Là những khả năng tập trung chú ý, năng lực trí tuệ
và năng lực thực hành vốn có để phát huy trong quá trình tự học
- Năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá: Là khả năng tự đánh giá kết quả tựhọc của mình, làm cơ sở cho những hoạt động tiếp theo
1.1.3 Vai trò của tự học trong quá trình dạy học
Từ quan niệm về tự học nói trên, chúng tôi nhận thấy: HĐ tự học xuấtphát từ chính nhu cầu ham muốn nhận thức của người học; trải qua quá trình ấp
ủ trong mình những dự định, dựa vào những phương tiện nhận thức để tích luỹkinh nghiệm, tri thức và người học hành động để đạt kết quả nhận thức (mụctiêu tự học) Có thể biểu diễn quá trình tự học theo sơ đồ sau:
Trong quá trình tự học, người học luôn phải vượt qua những khó khăn,thử thách; sử dụng ý chí, nghị lực và khả năng của bản thân để vượt qua nhữngkhó khăn, chướng ngại trong quá trình HT nhằm đạt được mục tiêu HT đề ra;nhờ vậy đây là con đường hình thành nhân cách con người với những đức tínhquý báu như nhẫn nại, kiên trì, bền bỉ, lòng ham hiểỉ̉u biết
Mặt khác, nhờ HĐ tự học, HS khắc phục được một phần mâu thuẫn về sự
vô hạn của học vấn với giới hạn của trường học Như thế, tự học là một phươngthức đào tạo góp phần bổ sung vốn kiến thức cho con người Thông qua quátrình tự học người học dần dần điều chỉnh và nâng cao nhịp độ học tập từ đógóp phần hình thành và phát triển năng lực làm việc, khả năng vượt khó nhờvậy khai thác được những khả năng tiềm ẩn của mỗi con người
Quá trình chiếm lĩnh tri thức bằng con đường tự học luôn luôn phải sửdụng đến những kiến thức đã có của mình để làm cơ sở để khám phá, chiếm
Trang 15lĩnh những tri thức mới, từ đó hình thành kĩ năng vận dụng và óc sáng tạo chongười học
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, giáo viên luôn giữ một vai trò quantrọng đặc biệt không thể thiếu được, đó là người tổ chức, điều khiển, hướngdẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh Nhưng thực tế cho thấy, dù giáoviên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấynhưng học sinh không dành thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không
có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch,cũng như có phương pháp học tập hợp lý, không tự giác trong học tập thì việchọc tập không đạt kết quả cao được
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trírất quan trọng trong quá trình học tập của học sinh Tự học là yếu tố quyết địnhchất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
1.1.4 Các mức độ tự học
Nói đến quá trình tự học là nói đến vai trò quan trọng của người học, tuynhiên bên cạnh đó cũng vẫn có vai trò của người thầy Căn cứ vào mức độ độclập của việc học, có thể chia tự học thành các mức độ khác nhau Cụ thể là [16],[33], [34]:
- Tự học hoàn toàn (không có GV): Thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực
tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổngkiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kếtquả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bàihay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của
HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra,đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GVgiảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi,
Trang 16không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HScũng không đánh giá được kết quả học tập của mình.
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung,cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thìchỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo cácphần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặpkhó khăn và không biết hỏi ai
- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của
GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn
sử dụng SGK như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vìthiếu sự hướng dẫn về phương pháp học
1.1.5 Một số hình thức của tự học
Tham khảo từ các tài liệu cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau khiphân chia các hình thức tự học, tuy nhiên nếu căn cứ vào sự tác động của GVthì có thể chia thành ba hình thức cơ bản sau:
- Tự học trên lớp: HĐ tự học của người học diễn ra dưới sự điều khiểntrực tiếp của GV và phương tiện kỹ thuật ở trên lớp, ở hình thức này người họcphải phát huy các phẩm chất và NL của mình như: khả năng chú ý, óc phântích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để tiếp thu, lĩnh hội tri thức, kỹnăng kỹ xảo mà người dạy định hướng
- Tự học ngoài giờ lên lớp: HĐ tự học của người học diễn ra dưới sự điềukhiển gián tiếp của GV, lúc này người học phải tự mình sắp xếp kế hoạch, sửdụng các điều kiện vật chất nhất là huy động NL của bản thân để ôn tập củng
cố, đào sâu, mở rộng hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ do giáo viêngiao cho, đồng thời lĩnh hội tri thức mới
- Tự học không có sự điều khiển trực tiếp hay gián tiếp của GV: Ngườihọc tự tìm kiếố́m tri thức để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình bằng cách tự
Trang 17tìm tài liệu, tự rút kinh nghiệm, tự phê bình, tự tìm PP, tự sắp xếp thời gian Tức
là, HS có thể tự mình tìm tòi những tài liệu, những bài giảng, những phầnmềm, hỗ trợ cho việc học toán
Ví dụ 1.1: Để biết được số nghiệm của PT: -x2- 8x +12 = x2- 4x + 6 HS
có thể dùng phần mềm Geogebra để vẽ đồ thị của hai hàm số: y = -x2- 8x +12
và y = x2- 4x + 6 trên cùng một hệ trục tọa độ Số nghiệm của PT chính là sốgiao điểm của đồ thị hai hàm số trên
Trong các hình thức tự học trên thì hình thức thứ ba ở mức độ cao nhất,khó khăn nhất, khắc nghiệt nhất Tuy nhiên trong HĐ tự học thì hình thức nào,mức độ nào cũng có tầm quan trọng riêng Vấn đề là cần nắm được và rènluyện cho người học các hình thức tự học Đối với HS THPT, thường HĐ tựhọc gắn liền với sự hướng dẫn của thầy HĐ này diễn ra ở hình thức thứ nhất vàhình thức thứ hai là: Tự học trên lớp và tự học ngoài giờ trên lớp
1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học
Qua tổng hợp nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng tôi thấy rằng cónhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh.Cần phải điều khiển,phối hợp những yếu tố ấy trong quá trình tổ chức tự học mới đạt được chấtlượng và hiệu quả mong muốn.Theo chúng tôi, sau đây là những yếu tố chínhgây ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh:
- Bản thân học sinh phải chú ý đến động lực học tập, tố chất, năng khiếubẩm sinh, trình độ lý luận và trải nghiệm thực tiễn, kỹ năng tự học, phẩm chất,
ý chí, cảm xúc
- Giáo viên, cha mẹ, bạn bè và xã hội Giáo viên ảnh hưởng trực tiếp vàquan trọng đến quá trình tự học qua nội dung, phương pháp, phương tiện vàhình thức tổ chức dạy học Ngoài ra, thái độ và mối quan hệ, học sinh sẽ có ảnhhưởng nhiều đến chất lượng dạy học nói chung cũng như chất lượng tự học.Cha mẹ, anh em trong gia đình, họ hàng là nguồn động viên tinh thần quý giá
và liên tục, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá chặt chẽ và nghiêm khắc,
Trang 18là nguồn cung cấp tài chính và phương tiện cho học sinh Bạn bè, nhất là cácnhóm nhỏ có tác động rất quan trọng trong việc trao đổi, tranh luận, giúp đỡnhau trong học tập nhằm vượt qua những khó khăn, làm nảy nở các tư tưởng,khoa học mới, phát triển lòng yêu khoa học và củng cố niềm tin ở bản thân vàcộng đồng
Ngoài ra, các điều kiện vật chất và tinh thần như: sách vở, thời gian, tàichính, môi trường đạo đức lành mạnh của gia đình, nhà trường và xã hội cũng
là những yếu tố rất quan trọng tác động đến việc tự học của học sinh
Tất cả những yếu tố trên cần được xem xét dưới một dạng tổng thể khigiải quyết vấn đề tự học và phải phát hiện kịp thời những lỗ hổng, những điểmyếu để bổ sung, khắc phục nhằm tạo ra một sự phát triển hài hòa cân đối Đồngthời phải tìm được điểm chính yếu nhằm tạo ra động lực để thúc đẩy quá trình
tự học
1.2 Kĩ năng tự học toán của học sinh ở trung học phổ thông
1.2.1 Kĩ năng
Từ trước đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng và đưa
ra các khái niệm khác nhau Trong các công trình của các tác giả khác nhaukhông có sự trùng hợp hoàn toàn về nội hàm của khái niệm Tùy theo cách tiếpcận mà các tác giả nhấn mạnh vào khía cạnh này hay khía cạnh khác Tuynhiên, trên cơ sở xem xét và nghiên cứu các công trình đó chúng tôi thấy nổibật lên hai cách tiếp cận sau:
- Cách tiếp cận thứ nhất: Các tác giả tiếp cận kỹ năng dưới góc độ về mặt
kỹ thuật, thao tác của hành động của con người trong quá trình hoạt động.Nghiên cứu theo khuynh hướng này có các tác giả như: V A Cruchexki,I.U.Babanxki, A.G.Côvaliôp, V.X.Ruđin, T.A.Ilina, Trần Trọng Thuỷ đềuthống nhất quan điểm: Kỹ năng là hệ thống các thao tác, thủ thuật thực hiệnhành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắmvững Theo V A Cruchexki thì quan niệm "Kỹ năng là các phương thức thực
Trang 19hiện hoạt động - những cái mà con người đã nắm vững" Ông cho rằng người
có kỹ năng là người nắm vững phương thức hành động trong một tình huốngnhất định mà không cần đến kết quả của hành động [7-tr78] Còn A.G
Côvaliôp trong cuốn "Tâm lý học cá nhân" cũng cho rằng: " Kỹ năng là phương
thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động"
Ở đây ông không đề cập đến kết quả của hành động mà ông xem kỹ năng chỉ làmột yếu tố và không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa đến kết quả của hànhđộng Theo ông kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố và yếu tốquan trọng hơn cả đó chính là năng lực của con người [9-tr11]
Ở trong nước, khi bàn về khái niệm kỹ năng, các tác giả Trần TrọngThuỷ, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt cũng quan niệm rằng: Kỹ năng là mặt kỹthuật của hành động, là hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, phương thức vậndụng tri thức vào hoạt động thực hành nhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra phùhợp với điều kiện cho trước Con người nắm được cách thức hành động - tức kỹthuật hành động là có kỹ năng [26], [36-tr2]
- Cách tiếp cận thứ hai: Các tác giả lại tiếp cận kỹ năng dưới góc độ
nghiêng về năng lực hành động của con người Vì theo quan niệm này thì kỹnăng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và cả tính sángtạo Điều quan trọng là kỹ năng luôn gắn với mục đích của hành động Theocách tiếp cận này có các tác giả như: N.Đ.Lêvitôv, X.L.Kixêgôv, K.K.Platônôv,M.A.Đaniiop, T.S.Nazarova, A.V.Pêtrôvxki, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm TấtDong, Hà Thị Đức Theo N.Đ.Lêvitôv quan niệm, kỹ năng là sự thực hiện cókết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp bằng cách lựa chọn và
áp dụng những cách thức đúng đắn có điều kiện của nó Một người có kỹ năngnào đó phải nắm được và vận dụng được cách thức hành động, đảm bảo chohành động có kết quả Vì vậy, kỹ năng không chỉ là nắm được lý thuyết về cáchthức hành động mà còn bao hàm cả khả năng vận dụng nó vào thực tiễn [24-tr3] K.K.Platônôv cho rằng "Cơ sở tâm lý của kỹ năng là sự thông hiểu mối
Trang 20liên hệ giữa mục đích, các điều kiện và phương thức hành động" [28-tr77] CònA.V.Pêtrôvxki quan niệm "kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kỹ xảo đã có để lựachọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặtra” [29-tr75] Đối với G.G Gôbulev lại đặc biệt chú ý tới mặt kết quả hànhđộng của kỹ năng, ông đã nhấn mạnh: Kỹ năng là năng lực của con người thựchiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiệnkhác nhau Trong kỹ năng bao hàm cả tri thức và kỹ xảo, chúng là cơ sở của sựhình thành kỹ năng Ở Việt Nam, cùng với quan niệm trên tác giả Vũ Dũngtrong cuốn từ điển Tâm lý học đã định nghĩa:"Kỹ năng là năng lực vận dụng cókết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thựchiện những nhiệm vụ tương ứng" [11-tr132].
Một số tác giả khác cũng đưa ra những khái niệm tương tự: "Kỹ năng lànăng lực của con người biết vận dụng các thao tác của một hành động theođúng qui trình" [38-tr157]; "Kỹ năng với tư cách là khả năng thực hiện mộthoạt động nào đó dựa trên những tri thức và kỹ xảo và được hoàn thiện lêncùng với chúng" [39-tr70]
Thực chất, hai cách tiếp cận này về cơ bản là giống nhau, chúng khôngphải hoàn toàn khác nhau, mà chúng chỉ là sự mở rộng hay thu hẹp nội hàmcủa khái niệm kỹ năng Vấn đề cốt lõi của khái niệm kỹ năng đó chính là khảnăng thực hiện một hành động của con người Trong quá trình nghiên cứu, cũngnhư dựa trên tính chất và mức độ phức tạp người ta phân chia kỹ năng thànhhai loại: Kỹ năng nguyên sinh (bậc thấp) và kỹ năng thứ sinh (bậc cao)
Kỹ năng nguyên sinh là những kỹ năng được hình thành lần đầuqua các hành động đơn giản và có thể tập luyện để trở thành hành động tựđộng hóa - tức là kỹ xảo Kỹ năng thứ sinh là những kỹ năng có cơ cấu phứctạp, được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo Tuy nhiên cách phânchia này chỉ mang tính chất tương đối và ở con người, cấu trúc của hành độngkhông nhiều nhưng hành động thì rất phong phú, đặc biệt là hành động trí óc
Trang 21Một số tác giả khác, cũng chia kỹ năng thành hai bậc, đó là: Kỹ năng bậc
1 và kỹ xảo Tức là nhờ chúng, con người có điều kiện tập trung vào việc tìm racách thức hành động đúng trong những điều kiện mới, hoàn cảnh mới để đạt tớimục đích mà hoàn toàn không bận tâm đến các thao tác nữa Trong kỹ năng bậc
2, yếu tố linh hoạt, yếu tố sáng tạo là cơ bản, đó là cơ sở cho mọi hoạt động đạtđược hiệu quả cao Khi nói về kỹ năng hoạt động người ta thường nói về kỹnăng bậc 2 bởi vì kỹ năng bậc 1 không đảm bảo cho nhiều hoạt động đạt tớithành công [35] Trong hoạt động dạy học và giáo dục,
Mục tiêu là phải giúp cho học sinh nắm được kỹ năng bậc 2 trong từnghoạt động cụ thể của chương trình đề ra
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp nhận những quan niệm về kỹ năng, chúng tôi
quan niệm rằng: Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả hệ thống các thao tác của một hành động hay một hoạt động nào đó dựa trên cơ sở vận dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với mục đích và điều kiện cụ thể
1.2.2 Những kĩ năng cần có của học sinh khi tự học
Tác giả Nguyễn Thị Thu Ba chia hoạt động tự học bao gồm các nhóm kỹnăng cơ bản sau [2]:
+ Kỹ năng định hướng: Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thànhcông người học cần thiết lập cơ sở định hướng của hành động Để có được cơsởđịnh hướng, người học phải trả lời được các câu hỏi: Học nhằm mục đích gì?Thái độ học tập ra sao? Học như thế nào?
Trang 22+ Kỹ năng lập kế hoạch học tập: Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người họcxác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người họcphải xây dựng được kế hoạch học tập.Trên cơ sở bộ khung đã được thiết lập đó,người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng Trong quátrình lập kế hoạch người học phải chú ý một số điểm sau:
- Người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó có thể là kế hoạchngắn hạn, dài hạn, thậm chí cho từng môn học, từng phần cụ thể Kế hoạch phảiđược tạo lập rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể saocho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình
- Khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định được cái
gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức chonó
+ Kỹ năng thực hiện kế hoạch: Muốn thực hiện thành công kế hoạchmình đã tạo lập, người học cần có một số kỹ năng sau:
- Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiềunguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghegiảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, làm thí nghiệm [2]
- Xử lí thông tin: quá trình này có thể được tiến hành thông qua các kỹnăng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh
- Vận dụng tri thức, thông tin: thể hiện qua việc vận dụng thông tin trithức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảoluận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch
- Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thôngtin tri thức thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận là côngviệc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức
+ Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm: Khi người học tự đánhgiá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá được năng lực họctập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được
để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có kĩ năng tự kiểm tra, đánh
Trang 23giá, học sinh cần: Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác địnhcác yêu cầu của câu hỏi, dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tậptrình bày câu trả lời trước nhóm, trước lớp để tìm kiếm lỗi sai từ đó khắc phục;
Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè; Làm bài tậpcủa thầy cô giao hoặc các bài tự bản thân tìm kiếm sau đó tự mình kiểm tra kếtquả để rút kinh nghiệm…
Để rèn luyện được kĩ năng tự học cho HS của GV cần lưu ý một số vấn
đề sau:
- GV cần tạo cho HS niềm say mê môn học GV có thể dùng tiết dạy để
giới thiệu về môn học, về những giá trị của môn học trong thực tiễn bằngnhững ví dụ minh họa cụ thể nhằm kích thích, tạo động cơ học tập ở các em
- GV cần hướng dẫn cho HS cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu.
Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học hoặc tiết đầu tiên của mỗi phầnnội dung hoặc chương hay chuyên đề, GV nên giới thiệu sơ lược về chươngtrình, nội dung và phương pháp học một cách khái quát nhất để HS hiểu và từ
đó HS xây dựng cho mình một kế hoạch học tập phù hợp với NL và hoàn cảnhcủa mình
- GV hướng dẫn cho HS cách tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên quan đến môn học GV cần cho HS thấy được lượng thông tin trong SGK làhạn chế vì
vậy các em muốn hiểu sâu và đầy đủ thì phảỉ̉i tham khảo thêm các tài liệu kháchoặc truy cập thông tin trên internet GV cũng có thể giới thiệu địa chỉ một sốtrang web chuyên ngành, hoặc các trang diễn đàn trao đổi kinh nghiệm học tập
để HS tham khảo thêm
- GV nên hướng dẫn cho HS cách ghi chép và nghe giảng vì đây là
những kỹ năng học tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trìnhhọc tập của HS GV nên khuyến khích HS ghi chép theo ý hiểu của mình Sơđồ hóa thông tin thu được, gạch chân, đánh dấu cụm từ quan trọng Chỗ nàochưa hiểu hoặc chưa rõ cần đánh dấu, chỗ nào cótrong tài liệu thì chúthích địa
Trang 24chỉ để tự tìm hiểỉ̉u sau.
- GV cần giao nhiệm cụ thể cho HS hoặc nhóm HS ở tiết học tiếp theo.
Để phát huy tối đa năng lực tự học và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian tựhọc Vì các em chưa quen nên GV giao nhiệm vụ cụ thể, nếu cần thìphải hướngdẫn các bước thao tác khai thác thông tin, địa chỉ cần tìm hiểu Cónhư vậy HSmới có thể hoàn thành được nhiệm vụ tự học ở nhàcủa mình Khi có sự chuẩn
bị trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có hiệu quả hơn rất nhiều
GV nên hướng dẫn tự đánh giá mức độ tự học của mình Để HS có thể tựđánh giá thì GV nên giới thiệu các nấc thang nhận thức của S.Bloom Theocách phân chia trong thang nhận thức của Bloom, HS có thể học cách phântích, tổng hợp, vận dụng tri thức vào từng tình huống thực tiễn, học cách nhậnxét, đánh giá, so sánh đối chiếu các kiến thức khác [2]
Tự học có kế hoạch, nề nếp sẽ tạo nên thói quen sống và phong cách làmviệc của từng cá nhân, tự học giúp con người định hướng trong thời đại thôngtin bùng nổ Có kĩ năng tự học sẽ giúp cho con người có khả năng hoàn thiệnmình trong cả cuộc đời
1.2.3 Kĩ năng tự học toán của học sinh ở trung học phổ thông
Tham khảo quan niệm của một số tác giả, cũng từ quan niệm về tự học
và kĩ năng ở trên, chúng tôi hiểu: KN tự họclà các phương thức hành động được thực hiện tự giác dựa trên những tri thức học tập, khả năng bản thân và những điều kiện cá nhân để hoàn thành tốt những mục đích, nhiệm vụ nhất định trong sự hướng dẫn trực tiếp, gián tiếp của GV, thậm chí không có sự hướng dẫn của GV Với quan niệm trên, KN tự học có thể đạt được thông qua
giáo dục, thông qua trải nghiệm công việc và đào tạo nghề hoặc có thể là kếtquả của khả năng qua nhiều năm học tập, công tác và làm việc Ngoài ra, KN tựhọc là một hệ thống, bao hàm trong nó những KN chung cho hoạt động học tậpđược phân chia cấp độ từ thấp đến cao
Từ đó, chúng tôi xác định khái niệm: Kĩ năngtự học toán là các phương thức hành động mà người học tự thực hiện một cách tích cực, chủ động, linh
Trang 25hoạt thực hiện các hoạt động của người học khi tham gia vào việc học Toán (như KN tự thiết kế, tổ chức kế hoạch hoạt động Toán học, KN tự thực hiện các hoạt động Toán học, KN tự kiểm tra, tự điều khiển hoạt động Toán học) nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ học tập Toán dưới sự hướng dẫn trực tiếp, gián tiếp của GV, thậm chí không có sự hướng dẫn của GV
Qua việc nghiên cứu và tham khảo các công trình nghiên cứu của nhiềutác giả chúng tôi thấy rằng khái niệm kĩ năng THT dành cho HS THPT cũng cóđiểm giống kĩ năng THT nói chung Cụ thể là:
- KN tự đánh giá kết quả tự học Toán;
- KN chuyển tải lời giải bài toán sang ngôn ngữ toán học;
- KN vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán;
Đây cũng chính là những kỹ năng cần thiết làm cơ sở giúp chúng tôi đềxuất các biện pháp rèn luyện cho HS thông qua chủ đề phương trình và hệphương trình vô tỉ” ở chương 2
1.3 Sơ lược về chủ đề Phương trình và hệ phương trình vô tỉ trong chương trình Toán ở trường THPT
Ở bậc Trung học cơ sở: HS đã biết đến khái niệm căn thức và một sốphương trình chứa căn thức ở dạng đơn giản
Trong chương trình toán THPT, mà cụ thể là phần môn Đại số 10, các emhọc sinh đã được tiếp cận với phương trình chứa ẩn dưới dấu căn và được tiếp
Trang 26cận với một vài cách giải thông thường đối với những bài toán cơ bản đơn giản.Tuy nhiên trong thực tế các bài toán giải phương trình chứa ẩn dưới dấu căn rấtphong phú và đa dạng và đặc biệt là trong các đề thi Đại học - Cao đẳng -Trung học chuyên nghiệp, các em sẽ gặp một lớp các bài toán về phương trình
và hệ phương trình vô tỉ mà chỉ có số ít các em biết phương pháp giải nhưngtrình bày còn lủng củng chưa được gọn gàng, sáng sủa thậm chí còn mắc một
số sai lầm không đáng có trong khi trình bày Tại sao lại như vậy?
Lý do chính ở đây là: Trong chương trình SGK Đại số lớp 10 hiện hànhđược trình bày ở phần đầu chương III (Giữa học kỳ I) rất là ít và hạn hẹp chỉ cómột tiết lý thuyết sách giáo khoa, giới thiệu sơ lược 1 ví dụ và đưa ra cách giảikhá rườm rà khó hiểu và dễ mắc sai lầm, phần bài tập đưa ra sau bài học cũngrất hạn chế Mặt khác do số tiết phân phối chương trình cho phần này quá ít nêntrong quá trình giảng dạy, các giáo viên không thể đưa ra đưa ra được nhiều bàitập cho nhiều dạng để hình thành kỹ năng giải cho học sinh Nhưng trong thực
tế, để biến đổi và giải chính xác phương trình chứa ẩn dưới dấu căn đòi hỏi họcsinh phải nắm vững nhiều kiến thức, phải có tư duy ở mức độ cao và phải cónăng lực biến đổi toán học nhanh nhẹn thuần thục
Ở bậc Trung học phổ thông: Lớp 10, HS được học các phương trình và
hệ phương trình chứa căn cơ bản (chẳng hạn: ; ) vàcác phương trình và hệ phương trình chứa căn quy về phương trình bậc hai Vớikiến thức lớp 10, học sinh chỉ được học và biết cách giải được phương trình và
hệ phương trình chứa căn bằng các phương pháp: Biến đổi tương đương, đặt ẩnphụ, đánh giá, điều kiện cần và đủ Đến lớp 11 và 12, với công cụ lượng giác,hình họọ̣c, đạo hàm trong phần ứng dụng của hàm số, học sinh được biết đến cácphương pháp khác để giải phương trình và hệ phương trình chứa căn thức: Biết
sử dụng tính liên tục của hàm số, sử dụng tính đơn điệu của hàm số, sử dụngđịnh lý Lagrange và định lý Rolle làm cho các phương pháp giải phương trình
và hệ phương trình vô tỉ phong phú hơn
Trang 271.4 Quy trình rèn luyện một số kĩ năng tự học cho HS THPT trong dạy học chủ
đề “phương trình và hệ phương trình vô tỉ”
Một người học tích cực là người dành toàn tâm toàn ý cho việc học tập,càng tích cực bao nhiêu thì chất lượng học tập càng tăng bấy nhiêu Vì vậy,người học phải là người chủ động trong quá trình học; giáo viên chỉ đóng vaitrò hướng dẫn, khuyến khích và hỗ trợ
Vì vậy, rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh cần thực hiện theo quytrình như sau:
*Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong bài học tự học.
Vấn đề cần giải quyết có thể là một trong các loại sau:
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới
- Vấn đề kiểm nghiệm, ứng dụng kiến thức
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng, kiểm nghiệm và ứng dụng kiến thức mới
Tùy nội dung kiến thức; năng lực của học sinh, có thể xác định một trongcác mức độ sau:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thựchiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giákết quả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyếtvấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viênkhi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinhphát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và
Trang 28lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề Giáoviên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mìnhhoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tựđánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc
* Bước 2: Xây dựng nội dung chủ đề tự học
Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phương pháp tự học để dự kiến cácnhiệm vụ học tập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt động học của họcsinh, từ đó xác định các nội dung cần thiết để cấu thành chủ đề tự học
* Bước 3: Xác định mục tiêu tự học
Xác định kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và cáchoạt động tự học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy họctích cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho họcsinh trong chuyên đề sẽ xây dựng
* Bước 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vậndụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra,đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong việc tự học
1.5 Thực trạng dạy học tự học, dạy học các bài toán thuộc chủ đề
“phương trình và hệ phương trình vô tỉ” của HS ở trường THPT Tú Đoạn tỉnh Lạng Sơn
Tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với 09 giáo viên và 100 họcsinh khối 10-11 (Xem phần Phụ lục)
1.5.1 Mục đích khảo sát
Trang 29- Tìm hiểu và đánh giá việc dạy - học tự học cho HS ở trường THPT TúĐoạn tỉnh Lạng Sơn nhằm đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chấtlượng học tập môn Toán.
- Tìm hiểu về cách thức thiết kế và tổ chức DH của GV khi DH chủ đềPhương trình và hệ phương trình vô tỉ
- Tìm hiểu về dạy học theo hướng rèn một số kĩ năng tự học của HSthông qua việc học chủ đề Phương trình và hệ phương trình vô tỉ
- Phân tích tình hình thực tiễn, làm cơ sở để xây dựng các phương ánthiết kế DH chủ đề Phương trình và hệ phương trình vô tỉ
Câu hỏi 1 Thầy (cô) thường tiến hành dạy học sinh tự học theo cách nào dưới
đây và hiệu quả của từng cách như thế nào?
(Đánh dấu x vào ô tương ứng mà thầy (cô) cho là phù hợp, mỗi dòng đánh một dấu vào mục mức độ sử dụng và một dấu vào mục hiệu quả sử dụng).
Cách sử dụng
Mức độ sử dụng Hiệu quả sử dụng Thườn
g xuyên
Đôi khi Ít khi Cao
Bình thường Thấp
GV tạo hứng thú
cho HS trong mỗi
tiết dạy để tạo
động lực cho HS
Trang 30Câu hỏi 2 Theo thầy (cô), dạy học tự học có những khó khăn gì?
(Đánh dấu x vào ô tương ứng mà thầy (cô) cho là phù hợp, mỗi dòng đánh một dấu)
vân
Không đồng ý Tổng
Khó kiểm soát việc tự học của học
sinh
Khó hướng dẫn cho học sinh giải
quyết vấn đề
Chưa có kinh nghiệm dạy học tự học
Câu hỏi 3 Khi dạy học chủ đề Phương trình vô tỉ, thầy (cô) vận dụng chủ yếu
phương pháp dạy học nào?
(Đánh dấu X vào ô vuông đứng sau lựa chọn)
a) Thuyết trình b) Vấn đáp, gợi mở c) Phương pháp khác
Câu hỏi 4 Theo thầy (cô), nếu dạy học chủ đề “Phương trình và hệ phương
trình vô tỉ” theo hướng rèn kĩ năng tự học cho HS thì hiệu quả như thế nào?4.1 HS hiểu bài
4.2 HS học tập tích cực, chủ động
Trang 31Câu hỏi 5 Mức độ quan tâm của thầy (cô) đối với DH theo hướng rèn kĩ năng
tự học cho HS trong dạy học chủ đề “Phương trình và hệ phương trình vô tỉ”?
a) Rất quan tâm b) Ít quan tâm.c) Không quan tâm
Câu hỏi 6 Dự định của thầy (cô) trong vận dụng DH theo hướng rèn kĩ năng tự
học cho HS trong DH chủ đề “ phương trình và hệ phương trình vô tỉ”?
a) Sẽ vận dụng b) Chưa nghĩ đến c) Không vận dụng
1.5.3.2 Đối với HS
Câu hỏi 1: Em đã tự học như thế nào?
(Đánh dấu x vào ô tương ứng mà em cho là phù hợp, mỗi dòng đánh một dấu)
g xuyên Đôi khi Ít khi
Tự đọc bài mới trước khi đến lớp
Tự tìm hiểu sách tham khảo sau bài học trên
lớp
Học theo tài liệu hướng dẫn của giáo viên
Câu hỏi 2 Theo em, tự học có những khó khăn gì?
(Đánh dấu x vào ô tương ứng mà em cho là phù hợp, mỗi dòng đánh một dấu)
1 Chưa có phương pháp học hiệu quả
2 Không đủ tài liệu
3 Chưa có biện pháp kiểm tra, đánh
giá
Trang 324 Chưa có tài liệu
Câu hỏi 3 Sau khi học xong chủ đề Phương trình vô tỉ, em đồng ý với ý kiến nào
nhất trong những ý kiếố́n dưới đây: (Đánh dấu X vào ô vuông đứng sau lựa chọn)
- Mới và khó hiểu
- Hiểu được những kiến thức cơ bản nhưng các bài tập nâng cao còn gặp khó khăn
- Dễ hiểu và dễ vận dụng
1.5.4 Kết quả khảo sát
1.5.4.1 Kết quả khảo sát đối với GV
- Kết quả của câu hỏi số 1 (Phiếu số 1):
Bảng 1.1 Bảng thống kê mức độ và hiệu quả sử dụng các cách DH tự học
Cách sử dụng
Mức độ sử dụng Hiệu quả sử dụng Thường
xuyên
Đôi khi Ít khi Cao
Bình thường Thấp
GV tạo hứng thú cho HS trong
mỗi tiết dạy để tạo động lực
- Kết quả của câu hỏi số 2 (Phiếu 1):
Bảng 1.2 Bảng thống kê các khó khăn khi dạy học tự học
ý
Phân vân
Không đồng ý Tổng
Khó hướng dẫn cho HS giải quyết vấn đề 10 3 7 20
Trang 33- Kết quả của câu hỏi số 4 (Phiếu 1):
Đối với câu hỏi này, ý kiến của các GV thể hiện qua bảng sau:
Rất tốt Tốt Chưa tốt
4.2 HS học tập tích cực, chủ động 25% 75%
4.4 Khả năng vận dụng kiến thức của HS 50% 50%
Kết quả của câu hỏi số 5 (Phiếu 1):
83% các GV đều chọn a), chỉ có 17% chọn b)
Có thể thấy các GV hầu hết rất quan tâm đến phương pháp DH này dùcác thầy, cô chưa thực sự được tiếp cận một cách sâu sắc
- Kết quả của câu hỏi số 6 (Phiếu 1):
Có đến 91,2% các GV cho biết là họ sẽ vận dụng DH theo hướng rèn kĩnăng tự học cho HS trong DH chủ đề “phương trình và hệ phương trình vô tỉ”,
và sẽ áp dụng trong các chủ đề khác của bộ môn Toán
Qua các bảng số liệu 1.1 và 1.2 trên, chúng tôi thấy mức có đến 38/80(47,5%) số lượt giáo viên chọn phương án thường xuyên sử dụng các biện phápnâng cao năng lực tự học cho học sinh (tạo hứng thú, hướng dẫn học sinh lập
kế hoạch, sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo hoặc đánh giá kết quả họctập của mình) Tuy nhiên vẫn còn 18/80 (22,5%) số lượt giáo viên ít khi quantâm đến việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh đặc biệt có đến 10/80(12,5%) số lượt giáo viên rất ít khi hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học Có38/100 (38%) lượt giáo viên chọn thường xuyên sử dụng các cách dạy tự học
Về các khó khăn trong quá trình dạọ̣y học tự học, hầu hết các thầy cô đều chorằng có khó khăn về mặt kiểm soát việc tự học của học sinh và hướng dẫn chohọc sinh giải quyết vấn đề Các khó khăn khác cũng phần nhiều do các thầy côchưa có kinh nghiệm hay được tập huấn về cách dạy học này
Trang 34Theo chúng tôi, dạy học tự học của các thầy cô bộ môn Toán trong nhàtrường đã được áp dụng, tuy nhiên về mức độ sử dụng còn chưa cao do còn gặpmột số khó khăn, trở ngại Đặc biệt là khó khăn về mặt thời gian do quy địnhcủa chương trình dạy học đặt ra
1.5.4.2 Kết quả khảo sát đối với HS
Kết quả của câu hỏi số 1 và số 2 (Phiếu số 2):
Bảng 1.3 Bảng thống kê mức độ tự học của học sinh
xuyên
Đôi khi
Ít khi
Tổn g
Tự học bài mới trong SGK trước khi đến
3 Chưa có các biện pháp kiểm tra, đánh giá 56 70.00%
Từ kết quả của bảng 1.3 và 1.4 chúng tôi thấy nhiều học sinh đôi khi hoặcrất ít khi đọc bài mới trước khi lên lớp (77,50%) Qua trao đổi, tôi thấy các em
có chung câu trả lời là “khó, với lại hôm sau đã được cô dạy rồi nên chúng emkhông cần thiết phải đọc!” Đa phần các em học theo tài liệu hoặc hướng dẫn củagiáo viên (56,25%) Đã có nhiều em tự học thêm sách tham khảo (31,25%).Ngoài ra chúng tôi thấy nhiều học sinh chưa có kế hoạch học tập khoa học(42,50%) hoặc chưa có các biện pháp kiểm tra, đánh giá (70,00%)
1.5.5 Thực trạng dạy tự học chủ đề Phương trình và hệ phương trình vô tỉ ở trường THPT
Qua việc trao đổi trực tiếp với các em học sinh, dự giờ thăm lớp qua các
Trang 35năm học, chúng tôi nhận thấy việc dạy học chủ đề Phương trình và hệ phươngtrình vô tỉ vẫn được các giáo viên dạy học theo phương pháp dạy học truyềnthống, có ít các thầy cô giáo dạy học theo phương pháp dạy học tích cực Ngoài
ra, việc hướng dẫn học sinh tự học chủ đề này cũng mới dừng lại ở việc giaobài tập về nhà, hướng dẫn về nhà để một số học sinh yếu biết cách làm Cònviệc hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập hay chia nhóm để học sinh làmviệc tích cực hơn thì hầu hết các giáo viên chưa thực hiện được Hơn nữa, hầuhết giáo viên chỉ chú trọng giao bài tập về nhà để học sinh tự học nhưng ít chú
ý đến việc tổ chức cho học sinh tự học ngay bài trên lớp để tạo thói quen tựhọc Đặc biệt là giáo viên thường tập trung truyền thụ cho hết kiến thức bàihọc, mà chưa thực sự chú ý hình thành và phát triển năng lực tự học suốt quátrình học Còn mỗi giờ luyện, việc tập dạy học toán hiện nay còn mang nặngtính luyện thi mà chưa chú ý đến việc dạy học sinh cách học, cách tư duy, cáchphát hiện và giải quyết vấn đề
Đối với các em học sinh ở trường THPT Tú Đoạn nhiều em cho rằngviệc tự học là để đối phó với các kì thi, kiểm tra của thầy, chưa thấy được tựhọc có vai trò quan trọng trong việc ghi nhớ, tái hiện, nắm kiến thức có hệthống Việc tự học toán chủ yếu là dành cho việc học bài cũ và làm bài về nhà,
cố gắng hoàn thành hết bài tập giáo viên giao (bằng mọi cách có thể) và họcthuộc trong vở ghi mà chưa chú trọng vào việc tự học kiến thức mới Việc tựhọc trên lớp diễn ra hạn chế, nhiều học sinh đến lớp chỉ nghe, ghi chép thụđộng mà không tự mình suy nghĩ để tiếp nhận kiến thức mới Khi ở trên lớp thìgiáo viên chỉ quen thuộc với cách kiểm tra bài cũ đầu giờ sao cho đủ điểmmiệng, việc kiểm tra định kỳ chỉ là thực hiện theo phân phối chương trình,trước khi kiểm tra sẽ giới hạn cho học sinh một phần kiến thức Học sinh đượccung cấp nhiều dạng bài tập khác nhau, sau đó luyện tập nên kĩ năng phân tích,tổng hợp cũng chưa được chú ý và phát triển, học sinh chỉ có cách học thuộc lờigiải đó Khi gặp những bài tập không nằm trong dạng đã học thì học sinh loay
Trang 36hoay không biết hướng giải quyết như thế nào Học sinh bị lệ thuộc vào giáoviên, chỉ biết giải quyết các dạng bài mà giáo viên giao cho, không biết hệthốngkiến thức đã học theo quan điểm của riêng mình Với cách dạy như vậy đã hạnchế tư duy độc lập và khả năng làm việc nhóm của học sinh, làm cho học sinhmáy móc, không sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức và phát triển kỹ năng.Vậy có thể thấy rằng, tuy giáo viên và học sinh cũng đã thấy được tầm quantrọng vấn đề tự học nhưng do nhiều nguyên nhân mà chất lượng của tự học cònchưa cao Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần nhận thức rõ hơn và cócác biện pháp định hướng, điều khiển, kiểm tra thường xuyên tự học của họcsinh; đồng thời phải tác động tích cực đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc tựhọc làm tăng cường ý thức của học sinh trong vấn đề tự học
1.6 Tiểu kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã hệ thống hóa các quan điểm của một số nhànghiên cứu về tự học, kĩ năng tự học, dạy học tự học Đồng thời luận văn cũng
đã làm rõ các mối quan hệ giữa các khái niệm trên Từ đóthấy được các hoạtđộng tự học được tổ chức đa dạng, phong phú sẽ càng lôi cuốn từng đối tượng
HS nhận thức được năng lực bản thân để phát huy theo hướng tích cực hơn
Bên cạnh đó, luận văn đã điều tra, phân tích và đánh giá được tình trạngdạy học tự học, phân tích chương trình sách giáo khoa, thực trạng dạy học chủ
đề Phương trình và Hệ phương trình vô tỉ ở trường THPT Tú Đoạn
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày ở trên, chúngtôi thấy rằng: Việc tự học của học sinh là một hình thức học mà ở đó phát huycao nhất vai trò chủ thể tích cực độc lập nhận thức của học sinh Do vậy, muốn
có một kết quả học tập cao đòi hỏi học sinh cần phải có một quá trình phát triểnnăng lực tự học, trong đó người giáo viên phải là người biết tác động, biết giáodục, biết tổ chức và có các biện pháp nhằm hình thành ở học sinh những nănglực tự học, từ đó có thể phát triển và phát triển năng lực tự học tốt hơn
Từ những kết quả lí luận và thực tiễn như trên, chính là cơ sở nhằm mục
Trang 37đích cho việc nghiên cứu các biện pháp sẽ được trình bày trong chương 2.
Chương 2 BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐÊ PHƯƠNG TRÌNH VÀ
HỆ PHƯƠNG TRÌNH VÔ TI
2.1 Một số căn cứ xây dựng và thực hiện các biện pháp
2.1.1 Căn cứ vào cơ sở lý luận
Cơ sở lí luận để căn cứ xây dựng và thực hiện các biện pháp đã đượctrình bày trong chương 1 Có thể nói rằng đây là căn cứ chủ yếu, xuyên suốtquá trình xây dựng và thực hiện các biện pháp
2.1.2 Căn cứ vào mục tiêu của chương trình
Mục tiêu của chủ đề Phương trình và hệ phương trình vô tỉ là trang bịcho học sinh nhận biết và giải được một số phương trình và hệ phương trình vô
tỉ Trong chương trình, sách giáo khoa ở trường phổ thông chỉ nêu phương trình
ở dạng cơ bản như và trình bày cách giải bằng phương pháp biếnđổi hệ quả, trước khi giải PT và hệ PT vô tỉ cần đặt điều kiện Nhưng chúng ta
để ý rằng đây chỉ là điều kiện cần để thực hiện được phép biến đổi cho nêntrong quá trình giải học sinh dễ mắc sai lầm khi lấy nghiệm và loại bỏ nghiệmngoại lai vì nhầm tưởng điều kiện là điều kiện cần và đủ để biến đổitương đương phương trình Tuy nhiên khi gặp bài toán giải phương trình vô tỉ,
có nhiều bài toán đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kết hợp nhiều kiến thức,
kĩ năng phân tích biến đổi để đưa phương trình từ dạng phức tạp về dạng đơngiản Còn phương pháp đặt ẩn phụ được giới thiệu thông qua các ví dụ minhhoạ, không được trình bày tường minh
2.1.3 Căn cứ vào điều kiện thực tiễn
Trang 38Điều kiện thực tiễn giảng dạy ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnhLạng Sơn, đặc biệt ở đây đề cập đến điều kiện tại đơn vị chúng tôi dự kiến thựcnghiệm sư phạm đó là trường THPT Tú Đoạn, tỉnh Lạng Sơn
Bất cứ một biện pháp nào cũng phải tính đến yếu tố khả thi Các biệnpháp chúng tôi dự kiến xây dựng cũng không ngoại lệ Tính khả thi thể hiện ởchỗ trong điều kiện của nhà trường, điều kiện của xã hội và đặc biệt là sự pháttriển của công nghệ thông tin có thể triển khai các biện pháp này một cách hiệuquả Tính khả thi còn thể hiện không những áp dụng hiệu quả cho đơn vị thựcnghiệm mà còn có thể nhân rộng cho các trường THPT trong cả nước
2.2 Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học chủ đề phương trình và hệ phương trình vô tỉ
2.2.1 Biện pháp 1: Gợi động cơ, tạo hứng thú kích thích nhu cầu tự học và niềm say mê môn học của học sinh
a) Mục đích của biện pháp
Hứng thú đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập và làm việc.Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh họctập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo Do đó,
để HS thấy được sự cần thiết của việc tự học và biến nó thành nhu cầu, động cơnội tại của bản thân thì cần giúp cho HS có được sự nhận thức nhất định về tựhọc và cần tạo hứng thú học tập cho HS
b) Cơ sở khoa học của biện pháp
Động cơ và hứng thú học tập của HS là một trong những yếu tố quantrọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả học tập Khơi gợi hứng thú học tập
để trên cơ sở đó người học có ý thức tốt về nhu cầu tự học của mình Như vậyxây dựng một động cơ học tập đúng đắn, một hệ thống nội dung học tập chitiết, chặt chẽ là một việc làm rất cần thiết Khi có động cơ học tập tốt tạo chongười học niềm say mê, tự giác học tập
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có
Trang 39ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trìnhhoạt động Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởinội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú Nếu HS có hứng thúnhận thức đúng đắn, đầy đủ về ý nghĩa của việc học và có niềm say mê hứngthú trong học tập thì nó sẽ là động lực giúp các em có thể giảm bớt căng thẳng,tạo cảm giác thoải mái trong quá trình khám phá lĩnh hội tri thức mới, góp phầnnâng cao hiệu quả học tập của bản thân
Khi bàn về vai trò của hứng thú, Jean - Marc Denomme và MadeleinRoy cho rằng: Các hành động dạy và hành động học không chỉ nằm trong mộtcấu trúc nhận thức mà còn là một cấu trúc cảm xúc, đó là sự xuất hiện hứngthú Sự xúc cảm đi trước nhận thức và mở cửa cho nhận thức bằng cách tạo nên
sự hứng thú, bộ não phải được đặt trong tình trạng ham muốn hiểu biết, cũnggiống như một sự khỏi động là không thể thiếu được đối với một vận động viêntrước khi thực hiện một bài tập Một HS mà người dạy đã làm cho anh ta cảmthấy lợi ích của môn Toán trong cuộc sống hàng ngày thì anh ta sẽ biểu lộ hứngthú đối với môn này bởi vì trung tâm khứu não của anh ta đã tìm thấy cái lợi
Việc truyền cảm hứng cho học sinh xuất phát từ ba luận điểm cơ bản:Một là hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn thiệnkiến thức và tự rèn luyện kỹ năng Hai là nhiệm vụ khó khăn và quan trọngnhất của giáo viên là làm sao cho học sinh thích học Ba là dạy học phải làmcho học sinh cảm thấy biết thêm kiến thức của mỗi bài học ở mỗi môn học là
có thêm những những điều bổ ích, lý thú từ một góc nhìn cuộc sống
Như vậy, nếu quan niệm giáo viên truyền thụ kiến thức, học sinh tiếpnhận tri thức thì giáo viên dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyềnđược cảm hứng cho học sinh, chưa làm cho học sinh thấy cái hay, cái thú vị, giátrị chân thực mà tri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả HS chỉ tựgiác, tích cực học tập khi họ thấy hứng thú Hứng thú không có điều bổ ích, lý
Trang 40thú từ một góc nhìn cuộc sống, tính tự thân, không phải là thiên bẩm Hứng thúkhông tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng
có thể bị mất đi Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môitrường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên Giáoviên là người có vai trò quyếố́t định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡnghứng thú học tập cho học sinh
Quá trình dạy học xét theo quan điểm hệ thống đó là một chỉnh thể cócấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác định, có chức năngriêng, tuy nhiên chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Các thành tố đó là:
Mục tiêu dạy học; giáo viên và học sinh; chương trình và nội dung dạy học; phương tiện và thiết bị dạy học; môi trường dạy học Với các thành tố đó, có
nhiều cách thức để tạo hứng thú học tập cho học sinh và chúng thuộc nhữngphương diện khác nhau của quá trình dạy học
Trong hoạt động DH, GV chính là người có nhiệm vụ tổ chức, điều khiển
HĐ học tập tạo ra hứng thú học tập ở các em và giúp các em có động cơ họctập đúng đắn Để thực hiện được điều này, người GV cần phải nâng cao nhậnthức của HS về ý nghĩa của HĐ học tập nói chung và HĐ tự học nói riêng
c) Cách thực hiện biện pháp
Thứ nhất, thông qua các HĐ giáo dục GV cần làm cho HS thấy rõ được ýnghĩa, lợi ích thiết thực của việc học tập, trước hết là đối với bản thân HS sau làđối với gia đình và xã hội Cụ thể, trong các giờ sinh hoạt ngoại khóa GV cóthể tổ chức cho HS thảo luận, trao đổi về vai trò, ý nghĩa của HĐ học tập, HĐ
tự học, ý nghĩa của môn học GV nên khuyến khích để HS bày tỏ quan điểm,suy nghĩ của mình GV điều chỉnh, bổ sung để định hướng quá trình suy nghĩcủa HS được đúng đắn
Bên cạnh việc giúp HS thấy được ý nghĩa của HĐ học tập thì GV cần