Lớp Hai học sinh tiểu học bắt đầu làm quen với phân môn Tập làm văn. Các em được làm quen với đoạn văn và được rèn kĩ năng viết đoạn văn. Trong khi giảng dạy qua bài làm của học sinh, tôi nhận thấy các em viết đoạn văn còn lúng túng, chưa đạt yêu cầu. Các em thường viết bị lặp mẫu câu, dùng sai từ, sắp xếp câu chưa hợp lí, viết câu không rõ ý, viết không đúng yêu cầu đề bài.
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến cơ sở huyện
Tên sáng kiến : “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP HAI”.
1- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Tiểu học.
2- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 5/10/2020 3- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Trong chương trình Tiểu học, môn tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe để giúp các em học tập
và giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày Thông qua việc học tiếng Việt, góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành phẩm chất và năng lực của học sinh
Tập làm văn là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học Phân môn Tập làm văn giúp học sinh tạo lập, hình thành ngôn ngữ nói, viết Phân môn Tập làm văn có vai trò, vị trí quan trọng trong việc hình thành, xây dựng các phân môn khác Nhờ quá trình vận dụng các kĩ năng để tạo lập, hình thành văn bản trong dạy học Tập làm văn, tiếng Việt trở thành một công cụ sinh động trong quá trình học tập và giao tiếp của học sinh tiểu học Nhiệm vụ cơ bản của phân môn Tập làm văn là giúp học sinh tạo được ra ngôn bản nói và viết theo các phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản – một năng lực được tổng hợp từ các kĩ năng bộ phận như: dạng nói, viết bằng câu, đoạn, bài
Lớp Hai học sinh tiểu học bắt đầu làm quen với phân môn Tập làm văn Các em được làm quen với đoạn văn và được rèn kĩ năng viết đoạn văn Trong khi giảng dạy qua bài làm của học sinh, tôi nhận thấy các em viết đoạn văn còn lúng túng, chưa đạt yêu cầu Các em thường viết bị lặp mẫu câu, dùng sai từ, sắp xếp câu chưa hợp lí, viết câu không rõ ý, viết không đúng yêu cầu đề bài
Bản thân là một giáo viên giảng dạy lớp 2, tôi có nhiều trăn trở không biết làm thế nào để giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn Vì vậy tôi luôn suy
Trang 2nghĩ và cố gắng tìm cách nâng cao chất lượng bài văn của học sinh lớp mình.
Đây là lí do tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn lớp hai”.
3.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
Năm học 2020 – 2021 tôi được Ban giám hiệu nhà trường tin tưởng phân công chủ nhiệm lớp 2/5 Số liệu tổ chức của lớp tôi quản lý như sau:
- Tổng số học sinh: 32 học sinh
- Học sinh nữ: 15 em
a Ưu điểm:
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu và các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường trong các hoạt động giáo dục
- Các em học sinh rất ngoan, biết vâng lời thầy cô giáo, tỉ lệ đi học chuyên cần tương đối cao Chất lượng học tập của lớp tương đối đồng đều
- Các em học sinh trong lớp cũng khá mạnh dạn trong các hoạt động chung, hội thi của nhà trường và Liên đội tổ chức
- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình.Thường xuyên liên lạc trao đổi tình hình học tập của các em với giáo viên chủ nhiệm
b Nhược điểm:
Các em học xong lớp Một mới biết đọc viết chưa hiểu hết ý nghĩa câu từ Khả năng đặt câu còn chậm Cách diễn đạt trước mọi người còn rất hạn chế Chưa viết được đoạn văn ngắn vì chưa biết đặt câu, chưa biết dùng dấu câu hợp
lý Có nhiều bài văn viết không có dấu chấm Lặp từ còn nhiều, câu lủng củng không có nghĩa
Qua thực tế bài làm của học sinh tôi thấy chất lượng bài viết của học sinh chưa cao, một số em có chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, chọn lọc để viết ra những câu văn nhưng chưa có nhiều sáng tạo Còn lại phần lớn bài làm của các em có bố cục chưa cân đối, mang tính liệt kê các chi tiết, bộ phận một cách đơn giản Trình tự chưa hợp lí, chọn lọc chi tiết chưa tiêu biểu, đặc sắc, thiếu từ ngữ, học sinh thiếu sự tưởng tượng, ít cảm xúc về đối tượng, cách diễn đạt chưa mạch lạc Nhiều học sinh khi làm bài văn cảm thấy khó, thấy bí, thấy không biết viết gì, nói gì, một số em thường ngại làm văn hoặc chỉ làm cho xong mà không cần biết bài viết của mình đúng hay sai, thiếu hay đủ
Học sinh còn luyện tập quá ít, các kĩ năng chưa hình thành nhưng vẫn cứ phải sử dụng vào viết văn Vì thế gây ra nhiều loại lỗi không đáng có
Trang 3Qua khảo sát chất lượng đầu năm đối với phân môn Tập làm văn, kết quả
cụ thể như sau:
Thời
điểm
TSHS ( Nắm vững được
kiến thức – biết vận dụng – hoàn thành tốt bài văn)
( Nắm được kiến thức – biết vận dụng – hoàn thành bài văn)
( Nắm kiến thức chưa vững - vận dụng lung túng – bài làm lủng củng, sai nhiều chỗ )
3.2 Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết:
a) Giải pháp cũ: Giáo viên phụ thuộc nhiều vào sách giáo viên, không
mạnh dạn thay đổi, điều chỉnh, nghiên cứu, tìm tòi, đổi mới sáng tạo bởi sợ sai,
sợ lệch hướng,… Vì thế, các giáo viên cho rằng: "Dạy theo sách hướng dẫn là tốt nhất” Bởi vậy khi học phân môn Tập làm văn khiến các em học một cách máy móc, ít sáng tạo Học sinh thụ động tiếp thu kiến thức một chiều, chưa phát huy tính tư duy sáng tạo của người học
b) Giải pháp mới:
Khi dạy phân môn Tập làm văn người giáo viên chú ý coi trọng quan điểm dạy học “phát huy năng lực, phẩm chất của học sinh”
Rèn luyện cho học sinh tính tích cực, ham học hỏi, tiếp thu vốn từ trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong các môn học
c) Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ:
Giải pháp mới là: Tạo mọi điều kiện cho học sinh học một cách tích cực,
chủ động, tạo được hứng thú cho các em trong giờ học Học sinh được thực hiện học theo hướng tương tác nhiều chiều: Giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh
Định hướng cho các em tiếp thu kiến thức bằng cách trao đổi với nhóm học tập trong lớp, trong trường, và ở nhà cùng với gia đình
Trang 4So với giải pháp cũ trước đây là:
Giáo viên làm việc nhiều, người học thụ động tiếp thu kiến thức một chiều Học sinh chưa tự giác thực hiện việc đọc bài sau mỗi bài học một cách tích cực, chưa hứng thú tìm tòi, khám phá cái mới lạ ngoài bài học trong sách giáo khoa Thực hành ít khiến các em dễ nhàm chán, chậm tiếp thu
3.3 Các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng giải pháp:
Giáo viên phải có kiến thức vững vàng, có kĩ năng sư phạm, không ngừng trao dồi chuyên môn, tâm huyết với nghề, tận tình với học sinh Được sự giúp
đỡ, tạo điều kiện của nhà trường và sự quan tâm của phụ huynh
Cơ sở vật chất phòng học tốt, có đầy đủ đồ dùng học tập cần thiết, trang thiết bị dạy học như: máy tính, ti vi, các tài liệu tham khảo,….Và sử dụng một cách hiệu quả
3.4 Các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp:
Biện pháp 1 Phân loại học sinh theo từng năng lực khác nhau để có những phương pháp phù hợp tác động đến các em.
Mục tiêu: Nắm được năng lực của các em để có biện pháp phù hợp Nội dung:
Ngay từ khi nhận lớp tôi tiến hành điều tra, phân loại, nắm chắc từng đối tượng học sinh: học sinh hoàn thành tốt, hoàn thành và chưa hoàn thành Việc nắm chắc được đối tượng học sinh giúp tôi đề ra được kế hoạch, biện pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh và dạy đúng theo trình độ của từng em + Đối với nhóm học sinh hoàn thành tốt: Giáo viên có thể phát triển năng lực cảm thụ văn học của các em bằng cách: yêu cầu học sinh đặt câu đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh, tạo được sắc thái riêng của đối tượng viết đoạn văn ngắn
Ví dụ: Bài: “Viết một đoạn văn từ 3-5 câu kể về một người thân của em.”
Với các em năng khiếu thì tôi sẽ yêu cầu viết 4-5 câu Yêu cầu bài viết hay, sinh động, có sáng tạo Yêu cầu cao giúp học sinh nỗ lực tư duy để đạt được khi
đó các em sẽ phát triển tư duy
+ Đối với nhóm học sinh chỉ hoàn thành đúng theo yêu cầu: Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt được câu đúng, thể hiện được ý cần nói
Ví dụ: Cũng bài: “Viết một đoạn văn từ 3-5 câu kể về một người thân của
em.”
Trang 5Với nhóm học sinh hoàn thành tôi sẽ yêu cầu các em viết từ 3-5 câu Yêu cầu bài viết rõ ràng Biết cách đặt câu, đầy đủ nội dung theo yêu cầu đề Kể được một người thân
+ Đối với học sinh chưa hoàn thành: Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt được câu đúng, thể hiện được ý cần nói Với trường hợp học sinh sử dụng từ ngữ địa phương để viết thành câu văn thì giáo viên hướng dẫn học sinh đi đến ngôn ngữ chuẩn Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu, gợi ý những từ ngữ miêu tả để giúp học sinh hình thành dần khả năng diễn đạt với mức độ tăng dần: ban đầu học sinh làm theo mẫu có sẵn, sau đó dựa vào mẫu đó để làm một bài văn tương tự
Ví dụ: Học sinh chưa hoàn thành tôi chỉ yêu cầu viết (3 đến 4 câu) theo yêu
cầu của tiết Tập làm văn Hướng dẫn các em tìm ý, đặt câu Có như vậy các em mới thấy lượng kiến thức và công việc vừa sức với mình, tạo hứng thú học tập
và tập thói quen tự học Từ đó kĩ năng viết văn của các em sẽ ngày càng tiến bộ
Biện pháp 2: Sử dụng linh hoạt phương pháp, hình thức dạy học.
Mục tiêu : Giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Nội dung:
Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học như đồ dùng trực quan, thảo luận nhóm, phiếu bài tập, để học sinh được làm việc nhiều hơn
Cách tiến hành:
a, Một số hình thức dạy học phát huy tính tích cực cho học sinh.
Ví dụ 1:
Bài: Tự giới thiệu Câu và bài ( tr 12) – SGK Tiếng Việt 2 ( tập 1)
Bài tập 3: Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1, 2 câu để tạo thành một câu chuyện.
Đối với bài tập này để phát huy được tính tích cực và phát huy tính sáng tạo của học sinh thì tôi sẽ cho các em thảo luận nhóm 4 Các em cùng quan sát tranh và mỗi bạn sẽ nói một câu về bức tranh đó Học sinh có thể cùng nghe và sửa câu cho nhau sao cho câu hoàn chỉnh mà trong khi làm việc cá nhân sẽ khó thực hiện được Sau đó, 4 bạn sẽ kể lại câu chuyện, mỗi bạn một tranh cùng nhau kể lại nội dung tranh Thảo luận xong, tôi mời các nhóm lên kể lại nội dung 4 bức tranh để tạo thành một câu chuyện Cả nhóm đứng lần lượt kể nội dung từng bức tranh trước lớp Các nhóm nhận xét bổ sung ý kiến Một điều
Trang 6thấy rõ hơn là các em đã giúp nhau nói được những câu văn hay, câu đủ ý và diễn đạt rõ ý Với cách làm này tôi thấy học sinh làm việc tích cực, sôi nổi hơn
Hình ảnh học sinh lớp tôi thảo luận nhóm.
Tôi nhận thấy tiết học sôi nổi hơn Các em nhút nhát đã tích cực làm việc hơn nhờ sự hỗ trợ của các bạn Câu trả lời của các em cũng hay hơn, đầy đủ ý và câu văn đủ thành phần Đó là điều tôi thấy mừng sau mỗi tiết dạy bởi lẽ các em
có nói tốt thì viết mới tốt được
Tương tự với cách làm như vậy tôi đã áp dụng để dạy các bài như: Bài 1 –
tiết Tập làm văn Kể ngắn theo tranh Luyện tập về thời gian biểu Bài 2 – tiết Tập làm văn Đáp lời chia vui Nghe – trả lời câu hỏi Bài 1 – tiết Tập làm văn Nghe – trả lời câu hỏi, và nhiều bài học khác nữa.
b, Sử dụng hình ảnh trực quan vào tiết dạy.
Với học sinh lớp 2 thì khả năng tưởng tượng còn kém có những bài tôi đã
sử dụng thêm hình ảnh trực quan như hình ảnh, tranh ảnh, video hay vật thật để giúp các em có cảm nhận tốt hơn khi viết văn Tôi tổ chức như sau:
Đầu tiên tôi cũng cho học sinh quan sát tranh Sau đó, tôi hỏi tranh vẽ gì? Học sinh trả lời: Tranh vẽ ông mặt trời, mây, sóng, thuyền buồm, hải âu,… Để học sinh trả lời được đúng câu hỏi: Buổi sáng ở biển như thế nào? Tôi đã cho các em xem một số hình ảnh buổi sáng ở biển về thiên nhiên như: Những giọt sương đọng trên lá hay hình ảnh em bé dang tay đón bình minh trên biển Khi đó học sinh sẽ nghĩ ra từ ngữ mong muốn là: mát mẻ, thoáng đãng Còn sóng biển tôi sẽ cho học sinh xem đoạn phim về sóng biển để nghe tiếng sóng biển, nhìn rõ hình ảnh những con sóng Từ đó học sinh có thêm vốn từ để tả về sóng
Trang 7biển như: Sóng biển nối đuôi nhau xô vào bờ cát, những con sóng tung bọt trắng xóa,… Sau đó, cho học sinh thảo luận nhóm 4 trả lời tất cả 4 câu hỏi bằng cách quan sát tranh kết hợp trải nghiệm đi biển, bằng đoạn phim cô giáo cung cấp thì tôi thấy rằng câu văn của các em hay và phong phú Các em sẽ tích cực nói và trao đổi hơn là nhìn tranh khô cứng để nói câu trả lời
Ví dụ : Bài: Đáp lời chia vui Nghe – trả lời câu hỏi ( tr 90) – SGK Tiếng Việt 2 ( tập 2)
Bài tập 3: “Viết vào vở các câu trả lời cho phần a hoặc phần b (bài tập 2).”
Để học sinh viết tốt bài 3 thì ngay từ bài 2 khi đọc và trả lời câu hỏi về quả măng cụt qua đoạn văn ngắn được cung cấp nhưng học sinh vẫn khó hình dung
được hình dáng quả măng cụt tròn như quả cam, toàn thân tím sẫm hay cuống
có bốn, năm cái tai tròn úp vào quả Vì vậy tôi đã chuẩn bị vật thật là quả măng
cụt để hướng dẫn học sinh Tôi cũng cho học sinh làm việc nhóm 4 và phát cho các nhóm 4 quả măng cụt để các em cùng quan sát và sau đó thưởng thức để cảm nhận luôn được mùi vị của quả măng cụt thì khi viết các em sẽ có sự chân thực bằng chính trải nghiệm nhìn bằng mắt quả măng cụt, sờ và nếm thử những múi măng cụt trắng muốt
Khi học sinh viết sản phẩm tôi nhận được không bị rập khuôn theo mẫu đã
cung cấp ở bài tập 2 Học sinh viết: Khi em ngắt cái cuống và bóp vào giữa quả thì quả măng cụt chia làm hai nửa và lộ ra những múi măng cụt trắng muốt Em
ăn múi măng cụt thấy ngon ngọt và thơm thoang thoảng Đây là những câu văn
xuất phát từ những hiểu biết của học sinh về quả măng cụt và cũng có dựa vào đoạn văn được cung cấp ở bài tập 2 Hình ảnh trực quan đã giúp học sinh có những câu văn sáng tạo hơn, thoát khỏi cái mẫu có sẵn Đó cũng chính là điều tôi đang hướng cho các con trong các tiết Tập làm văn
c, Sử dụng phương pháp trò chơi học tập, đóng vai vào trong các tiết dạy phân môn Tập làm văn
*Phương pháp trò chơi học tập:
Trong thực tế dạy học, các em rất thích thú và năng động khi được chơi trò chơi học tập Trò chơi học tập giúp các em tiếp thu bài nhanh, mạnh dạn hơn Học mà chơi, chơi mà học là hình thức rất phổ biến ở chương trình Tiểu học nhưng đối với phân môn Tập làm văn thì lại ít khi được thầy cô áp dụng Bản thân tôi sẽ áp dụng xuyên suốt trong môn học này
Ví dụ: Trò chơi “ Thi kể về gia đình em”
Trang 8Các em sẽ lần lượt kể về gia đình mình trước lớp bằng hình thức truyền điện Mỗi bạn kể xong sẽ chỉ tay về phía bạn tiếp theo, bạn tiếp theo sẽ đứng dậy
kể trước lớp Cứ tiếp tục như vậy nếu bạn nào không kể được là bạn đó sẽ thua
bị phạt hát một bài về gia đình
Hình ảnh học sinh chơi trò chơi học tập.
*Phương pháp đóng vai:
Phương pháp này rèn luyện những câu nói thường ngày khi các em giao tiếp Để các em có thể nói rõ ràng, rành mạch Tôi cho các em nhập vai bằng cách giao cho các em những tình huống cụ thể
Ngoài ra, tôi chú ý, nhắc nhở thái độ của học sinh khi nói với từng đối tượng là lớn hơn mình, bằng mình hay nhỏ hơn mình thì có những đại từ xưng
hô khác nhau và những cử chỉ thể hiện cũng khác tùy tình huống vui hay buồn Khi nói và viết lưu ý học sinh nên thêm những từ chỉ tình cảm để câu văn thể hiện sự lễ phép, lịch sự như : nhé, nha, ạ …
Ví dụ: Bài “ Chào hỏi, tự giới thiệu.”
Tôi cho học sinh tình huống : “Các em là bạn mới quen vào đầu năm học Hãy chào hỏi và tự giới thiệu về bản thân để làm quen nhau”.
Cho các em thảo luận nhóm 4 Các nhóm đóng vai tự chào hỏi, giới thiệu trong nhóm Sau đó đóng vai trước lớp Các nhóm nhận xét, tuyên dương
Trang 9Các em đóng vai trước lớp.
Sau khi thực hiện những biện pháp này vào tiết dạy tôi thấy học sinh mạnh dạn hơn, nói lưu loát hơn dẫn đến chất lượng viết sẽ tốt hơn Các em mạnh dạn hơn khi phát biều ý kiến, tiếp thu bài nhanh hơn Đặc biệt tạo cho các em hứng thú, yêu thích học phân môn Tập làm văn
d, Sử dụng phiếu điều tra thu thập thông tin.
Đây là bài tập trả lời câu hỏi Thông thường giáo viên sẽ đọc câu hỏi và
học sinh trả lời nhưng với cách làm này học sinh sẽ không thoát khỏi hình thức trả lời câu hỏi thụ động, câu trả lời ngắn gọn, khô khan và không có ý văn hay
mà trong tiết tập làm văn hướng tới Vì vậy, tôi đã giao cho mỗi em một phiếu bài tập trước khi học bài này Các em sẽ về nhà tự thu thập thông tin điền vào phiếu bài tập để phục vụ cho tiết sau Từ phiếu này các em sẽ tự tin hơn trong từng tiết học Tập làm văn Biện pháp này còn giúp các em rèn luyện khả năng tự học của mình
Ví dụ 1: Bài: Kể ngắn về người thân ( nói, viết) ( tr 140) – SGK Tiếng Việt 2 ( tập 2)
Trang 10Bài 1: Hãy kể về một người thân của em ( bố, mẹ, chú hoặc dì, ) theo các câu hỏi gợi ý sau:
a) Bố ( mẹ, chú, dì, ) của em làm nghề gì?
b) Hằng ngày, bố ( mẹ, chú, dì,…) làm những việc gì?
c) Những việc ấy có ích như thế nào?
Bài 2: Hãy viết những điều đã kể ở bài tập một thành một đoạn văn
Nếu dạng bài này mà học sinh không có sự chuẩn bị và tìm hiểu thì các em
sẽ không biết viết như thế nào Vì nhiều em còn chưa biết bố mẹ mình nghề nghiệp chính xác làm gì và công việc đó có ích như thế nào? Chính vì vậy mà tôi đã giao một phiếu bài tập cho học sinh như sau:
Phiếu bài tập
Có phiếu giao việc như vậy cũng chính là cách giúp các em thu thập thông tin về người thân một cách chính xác và đầy đủ để khi viết các em có vốn từ mà viết Vì đã được chuẩn bị kĩ các thông tin nên các em tự tin trao đổi với nhau về người thân mình định viết Không còn sự lúng túng hay cái gãi đầu, gãi tai vì không biết nói gì về nghề nghiệp của người thân của mình
Phiếu giao việc ở những dạng bài như thế này có tác dụng rất tốt đối với tiết dạy của giáo viên vì học sinh chuẩn bị bài kĩ nên tiết dạy không bị trì trệ và tích cực, sôi nổi hơn Biện pháp này rèn luyện cho các em tính tự học rất tốt
Ví dụ 2: Bài 1: Kể ngắn theo câu hỏi ( tr 69) – SGK Tiếng Việt 2 ( tập 1)
Người
thân
của
em tên
là gì?
Năm
nay
người
thân của
em bao
nhiêu
tuổi?
Hình dáng, nước da, trang phục?
Nghề nghiệp của người thân?
Hằng ngày, người đó làm
những việc gì?
Những việc ấy có ích như thế nào?
Tình cảm của em dành cho người thân?
Em sẽ làm gì để
bố mẹ vui?