Cuốn sách là một tài liệu hữu ích trong quá trình nghiên cứu đề tài, góp phần cung cấp cái nhìn tổng quan, đầy đủ diện mạo các dân tộc thiểu số Việt Nam; trên nền kiến thức chung ấy thấy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
(Khảo sát trên báo Lai Châu thường kỳ, báo Lai Châu cuối tuần,
báo Lai Châu dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao năm 2019)
Chuyên ngành: Quản lý Báo chí - Truyền thông
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG THỊ KIÊN
HÀ NỘI - 2021
Trang 3Luận văn đã được hiệu chỉnh theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2021
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Trương Thị Kiên Các tài liệu được sử dụng trong công trình đều có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định trong công trình đều do cá nhân tôi nghiên cứu và tư duy dựa trên những tư liệu xác thực
Hà Nội, tháng năm 2021
Học viên
ĐẶNG THU HIẾU
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn thạc sĩ với đề tài “Quản lý thông tin về văn
hóa các dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu”, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới các thầy, cô của Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết ở bậc đào tạo sau đại học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS,TS Trương Thị Kiên - người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên Báo Lai Châu đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Học viên
Đặng Thu Hiếu
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Thống kê tổng số lượng tin, bài, ảnh và số lượng tin, bài, ảnh có nội dung
về văn hóa dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu 70
Bảng 2.2 Tỷ lệ tin, bài có nội dung về văn hóa dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu 70
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tỷ lệ nội dung các tin, bài về văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu 58
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ tin, bài có nội dung về văn hóa dân tộc thiểu số so với tổng số lượng tin, bài trên báo in Lai Châu năm 2019 72
Biểu đồ 2.3 Số lượng tin, bài có nội dung về văn hóa dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu năm 2019 73
Hình ảnh 2.1 Ấn phẩm báo Lai Châu thường kỳ 39
Hình ảnh 2.2 Ấn phẩm báo Lai Châu cuối tuần 39
Hình ảnh 2.3 Ấn phẩm báo Lai Châu dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao 40
Hình 2.4 Hình ảnh “Kế hoạch tuyên truyền trên các số báo ra tháng 8/2019” của Báo Lai Châu 46
Hình 2.5 Hình ảnh “Kế hoạch ra số báo chuyên đề chào mừng kỷ niệm 110 năm thành lập tỉnh, 70 năm thành lập Đảng bộ tỉnh và 15 chia tách, thành lập tỉnh Lai Châu” của Báo Lai Châu 47
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ chủ thể quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số tại Báo Lai Châu 43
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO IN 17
1.1 Một số khái niệm công cụ 17
1.2 Định hướng của Đảng, Nhà nước đối với công tác quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo chí 24
1.3 Chủ thể, khách thể, nội dung, phương thức quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in 28
1.4 Tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO IN LAI CHÂU 37
2.1 Sơ lược về các ấn phẩm Báo Lai Châu và đối tượng công chúng tiếp nhận 37
2.2 Khảo sát thực trạng quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số 42
2.3 Đánh giá thành công, hạn chế và nguyên nhân 76
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO IN LAI CHÂU 86
3.1 Những vấn đề đặt ra 86
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số 88
3.3 Khuyến nghị nâng cao chất lượng quản lý thông tin về văn hóa các đân tộc thiểu số 92
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 103
TÓM TẮT LUẬN VĂN 116
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia Đảng ta khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội
Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm, có nhiều chủ trương và chế độ, chính sách để bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số
Đến lượt mình, báo chí truyền thông cũng thấy rõ được vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác truyền thông về văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số Vai trò của truyền thông về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in, đặc biệt là báo in các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh giáp biên giới, là hết sức quan trọng Nếu truyền thông tốt về văn hoá các dân tộc thiểu số, sẽ góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, thay đổi và loại bỏ dần các hủ tục lạc hậu; đồng thời, có thể tạo nên thái độ tôn trọng và cách ứng xử bình đẳng đối với các dân tộc thiểu số Ngược lại, những thông điệp tiêu cực, lâu ngày, có thể gây tâm lý coi thường và dẫn tới cách đối xử bất công, thậm chí có thể gây mặc cảm tự ti trong chính người dân tộc thiếu
số, làm họ mất đi cơ hội phát triển bình đẳng và đóng góp tích cực cho xã hội Hơn nữa, truyền thông tốt về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo chí không chỉ góp phần quảng bá các giá trị văn hoá các dân tộc mà còn giúp cho chính
bà con hiểu, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc như tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống, các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, kiến trúc, công cụ sản xuất, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn hóa, nghệ thuật; hướng dẫn, cổ vũ, động viên đồng bào sống
Trang 9và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; khơi dậy quyết tâm, thúc đẩy đồng bào các dân tộc tự giác vươn lên thoát nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho bà con
Lai Châu là mảnh đất chung sống của 20 dân tộc với trên 84% là dân tộc thiểu số, nên có thể khẳng định việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số đối với đời sống đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và nhân dân các dân tộc tỉnh Lai châu nói chung vô cùng quan trọng Báo Lai Châu đóng vai trò quan trọng, góp phần làm nên những kết quả của truyền thông trong việc đem lại những giá trị bền vững cho đồng bào DTTS Hiện nay, các ấn phẩm báo in Lai Châu có nhiều tin, bài, chuyên mục viết về văn hóa dân tộc thiểu số địa phương với chất lượng ngày càng tốt hơn nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra như sự đơn điệu, thiếu sâu sắc về nội dung, chưa phản ánh đồng
bộ các khía cạnh giá trị văn hóa của địa phương, ít đề xuất đóng góp về cơ chế, chính sách để bảo tồn, phát huy văn hóa các DTTS, chưa mạnh dạn nói lên tiếng nói phản biện để thay đổi những định hướng, chính sách chưa phù hợp; thiếu tính đa dạng, phong phú về thể loại tác phẩm, thiếu sức sáng tạo và đổi mới, lặp lại về thủ pháp thể hiện, kết cấu các tác phẩm Đặc biệt, qua thống kê khái quát về tần suất và vị trí đăng tải các bài viết về văn hóa các dân tộc thiểu số trên các ấn phẩm Báo in Lai Châu năm 2019 phần nào cho thấy sự khiêm tốn của mảng đề tài này, chưa thực sự góp phần mạnh mẽ trong việc phục dựng, bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc, củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch liên tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam
Điều đó cho thấy, công tác quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng ấn phẩm, hướng tới phục vụ công chúng một cách hiệu quả Báo in Lai Châu nói riêng
và báo chí Lai Châu nói chung cần quan tâm, nâng cao hơn nữa chất lượng
Trang 10thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số để phù hợp với những biến đổi của nền báo chí truyền thông, những thách thức và yêu cầu mới trong quản lý báo chí truyền thông trong bối cảnh phát triển xã hội thông tin ở Việt Nam hiện nay Vì
vậy, tác giả đã quyết định triển khai nghiên cứu đề tài: "Quản lý thông tin về
văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu (Khảo sát trên báo Lai Châu thường kỳ, báo Lai Châu cuối tuần, báo Lai Châu dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao, năm 2019)" cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Nhóm tài liệu về văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số
Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số:
- Cuốn Văn hóa Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm (NXB văn học, 2003)
của GS Trần Quốc Vượng, qua 75 công trình nghiên cứu của mình, đã cung cấp những kiến thức, tư liệu và kinh nghiệm để xây dựng ngành Văn hóa học còn đang ở giai đoạn ban đầu ở Việt Nam Những công trình nghiên cứu của tác giả được tập hợp trong cuốn sách được bố cục theo 6 chủ đề chính từ khái niệm – công cụ; không gian/thời gian văn hóa, con người văn hóa đến các
thành tố văn hóa… Có thể khẳng định, cuốn sách Văn hóa Việt Nam - tìm tòi
và suy ngẫm là một trong những công trình mang tính tổng hợp, “tập đại
thành” đối với những người làm công tác nghiên cứu văn hóa Mỗi chương sách thực sự là một khám phá chứa đựng những ý tưởng khoa học mới, độc đáo và sâu sắc giúp gợi mở những hướng nghiên cứu mang tính liên ngành, đa ngành, xuyên ngành cho văn hóa học hiện nay nói chung và cho các nhà nghiên cứu văn hóa khi tiếp cận nghiên cứu văn hóa Việt Nam xưa – nay cả
về nội dung lẫn phương pháp tiếp cận
- Tác giả Nguyễn Duy Đăng trong cuốn Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam (NXB Văn hóa dân tộc, 2004), đã giới thiệu những nét khái
quát nhất về văn hóa 53 dân tộc thiểu số Việt Nam xếp theo 8 nhóm ngôn ngữ
Trang 11(Việt - Mường, Môn - Khơ mer, Tày - Thái, Mông - Dao, Ka - đai, Mã Lai -
Đa đảo, Hán và Miến - Tạng) về các mặt dân số, địa bàn cư trú, văn hóa sản xuất, văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, theo cách không chỉ mô tả mà còn phân tích ý nghĩa văn hóa của hiện tượng văn hóa được giới thiệu Cuốn sách cũng dành riêng phần kết luận để làm rõ nội dung văn hóa Việt Nam thống nhất trong sự đa dạng của nhiều dân tộc; đồng thời phân tích truyền thống và hiện đại, truyền thống và hội nhập trong việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Cuốn sách là một tài liệu hữu ích trong quá trình nghiên cứu đề tài, góp phần cung cấp cái nhìn tổng quan, đầy đủ diện mạo các dân tộc thiểu số Việt Nam; trên nền kiến thức chung ấy thấy được những nét riêng trong văn hóa của dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc nói chung và các dân tộc thiểu số tại Lai Châu nói riêng; cũng qua đó, tác giả có thêm căn cứ để xác các nội dung thông tin trong văn hóa các dân tộc thiểu số trong đề tài nghiên cứu
- Cuốn Văn hóa một số vùng miền ở Việt Nam (NXB Thời đại và Tạp
chí Văn hóa nghệ thuật, 2013) tập hợp 67 bài viết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý về lĩnh vực văn hóa, chia ra làm 3 nội dung chính về văn hóa 3 vùng miền: Vùng Tây Bắc, vùng Trung bộ và vùng Nam bộ đã khái lược những nét văn hóa rất đặc sắc của các dân tộc Việt Nam Trong đó, vùng Tây Bắc, qua 25 bài viết được tập hợp đã giới thiệu một cách tổng thể về văn hóa các dân tộc tại Tây Bắc, trong đó có những bài đi sâu về âm nhạc dân gian, văn hóa ẩm thực, văn hóa ứng xử Tây Bắc; văn hóa dân tộc Thái, Mông, Dao; một số lễ hội tiêu biểu;
- Trần Văn Bính trong cuốn Văn hóa Việt Nam trên đường đổi mới - Thời cơ và thách thức (NXB Quân đội nhân dân, 2015), đã hệ thống hóa các
vấn đề về văn hóa theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khái quát chủ trương, định hướng của Đảng ta trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam từ đề cương văn hóa năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa Cuốn sách cũng đề cập sâu đến
Trang 12những biến động về văn hóa và xã hội Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế thế giới; văn hóa trong quá trình đô thị hóa; những biến động về các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số trong nền văn hóa thị trường; văn hóa các dân tộc thiểu số trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả có nhiều hơn kiến thức lý luận và thực tiễn liên quan đến văn hóa Việt Nam và văn hóa các dân tộc thiểu số nhờ nội dung từ cuốn sách này
- Cuốn Hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam (2018) do PGS.TS
Từ Thị Loan tuyển chọn đã tập hợp một số bài viết về hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam của những nhà nghiên cứu văn hóa, quản lý văn hóa, quản lý giáo dục của các viện nghiên cứu, trường đại học các cơ quan, tổ chức trong cả nước, xoay quanh 4 chủ đề: Văn hóa - Con người - Gia đình - Thế hệ trẻ Xuất phát từ các góc nhìn và cách tiếp cập khác nhau, các bài viết cung cấp những ý kiến, quan điểm phong phú, đa chiều, thậm chí trái ngược về các vấn đề liên quan Trong đó, có một số bài viết, theo quan điểm cá nhân của tác giả luận văn là rất đặc sắc, bao quát, cung cấp nhiều kiến thức bổ ích như
bài: Hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (TS Nguyễn Ngọc Thiện - PGS.TS Từ Thị Loan); Vai trò của Nhà nước và hệ thống chính trị trong xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Hội nhập quốc tế (PGS.TS Hoàng Chí Bảo); Nhận thức và định hướng của Đảng về xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam (PGS.TS Nguyễn Hữu Thức); Những thách thức trong kiến tạo hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay (TS Nguyễn Huy Phòng); Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc với việc xây dựng đạo đức cách mạng hiện nay (PGS.TS Nguyễn Duy Bắc); Từ đó, tác giả luận văn được
cung cấp thêm những giá trị lý luận và thực tiễn sinh động về hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam - kiến thức nền tảng quan trọng trong nghiên cứu đề tài
Trang 13- Cuốn Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia sự
thật, 2018), tập 4, quyển 2 do Vương Xuân Tình chủ biên đã trình bày tình hình nghiên cứu của mỗi dân tộc, đi sâu nghiên cứu hoạt động kinh tế, đời sống xã hội, đời sống văn hóa và những biến đổi của nhóm ngôn ngữ Mông - Dao (gồm dân tộc Mông, Dao, Pà Thẻn) và Tạng - Miến (gồm dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống, Si La) - các dân tộc sinh sống chủ yếu tại vùng Tây Bắc và đa số đều là các dân tộc có tại tỉnh Lai Châu trong bối cảnh mới, cuốn sách có sự liên kết và có chung một khung phân tích nhất định về các dân tộc góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề tộc người ở nước ta trong khoảng gần 30 năm trở lại đây và tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách dân tộc của Việt Nam trong giai đoạn tới, trong đó có những nội dung về lĩnh vực tuyên truyền, quảng bá, báo chí, xuất bản
- Đỗ Hạ Long (2013), trong Luận văn thạc sĩ Quản lý văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã hệ thống
hóa, cung cấp cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn hóa (trong đó có quản lý các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản); làm rõ những khái niệm cơ bản có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như "quản lý", "quản lý nhà nước về văn hóa", trong đó, luận văn đã chỉ rõ những yếu tố cơ bản của hoạt động quản lý: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ sở của hoạt động quản lý, mục tiêu quản lý, và các lĩnh vực văn hóa cần được quản lý theo luật định Đồng thời cũng làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thị xã Lai Châu, đề xuất phương hướng, giải pháp, đưa ra khuyến nghị cho các cơ quan chức năng trong thời gian tới Qua đó, giúp tác giả luận văn
có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề quản lý thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên Báo Lai Châu
2.2 Nhóm tài liệu về Báo Lai Châu
- Báo Lai Châu (2010), Quy chế làm việc của Báo Lai Châu, trong đó
quy định về trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Ban Biên tập, các phòng, mối quan hệ công tác, chế độ thông tin báo cáo, cách thức giải quyết
Trang 14công việc của Báo Lai Châu, giúp tác giả luận văn hiểu về quy trình quản lý của tòa soạn Báo Lai Châu, trên cơ sở đó làm rõ nội dung quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số trên các tờ báo in của Báo Lai Châu Trong đó, tại mục I Phân công trách nhiệm đã chỉ rõ trách nhiệm của từng cá nhân có trách nhiệm lãnh đạo, quản lý trong đội ngũ của tòa soạn
- Bài "Báo Lai Châu - Những bước tiến vượt bậc" của tác giả Nguyễn
Cảnh Phượng đăng trên Báo Lai Châu điện tử, ngày 19/06/2015 đã khái lược
lịch sử hình thành, cung cấp cái nhìn tổng thể về những mốc son quan trọng, thành tựu cơ bản và định hướng phát triển của Báo Lai Châu trong giai đoạn tiếp theo
- Bài báo "Báo chí Lai Châu 15 năm xây dựng và phát triển" của tác giả
Trường Giang đăng trên Báo Lai Châu điện tử, ngày 20/06/2019 đã đánh giá
chung sự hình thành, xây dựng và phát triển của các cơ quan báo chí Lai Châu, trong đó đề cập đến khá rõ về sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền Lai Châu đối với Báo Lai Châu; giới thiệu khái lược sự phát triển và những sản
phẩm hiện nay của Tòa soạn: "Báo Lai Châu thường kỳ tăng từ 1 kỳ/tuần năm
2004 lên 5 kỳ/tuần năm 2018 (trong đó có 01 kỳ báo cuối tuần), với số lượng phát hành tăng từ gần 1000 tờ/số năm 2004 lên trên 2.700 tờ/số năm 2018; báo dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao tăng từ 1 kỳ/tháng lên 3 kỳ/tháng, hai loại báo này được phát hành rộng rãi đến tận thôn bản; cùng với Báo Lai Châu điện tử chính thức đi vào hoạt động từ tháng 01/2011"
- Bài báo "Báo Lai Châu trên đường hội nhập và phát triển" của tác giả
K.Phượng đăng trên Báo Lai Châu điện tử, ngày 17/6/2016 đã khái quát quá
trình 12 năm xây dựng và phát triển của Báo Lai Châu trong tình hình mới, nhằm tăng cường thêm dung lượng, chuyển tải thông tin nhanh, chính xác, kịp thời đến bạn đọc, giới thiệu, quảng bá hình ảnh con người, thiên nhiên, văn hóa Lai Châu, những tiềm năng, lợi thế phát triển của tỉnh Bài báo đề cập đến
lộ trình và những nỗ lực cố gắng của Tòa soạn trong việc tăng kỳ xuất bản
Trang 15báo và cải tiến, thay đổi về nội dung, hình thức các ấn phẩm; việc phát hành báo đến các đối tượng; việc xây dựng đội ngũ cán bộ, phóng viên của Tòa soạn Đây là những thông tin quan trọng, cần thiết liên quan trực tiếp, cho tác giả luận văn cái nhìn so sánh, đánh giá khi thực hiện khảo sát các nội dung liên quan đến Tòa soạn Báo Lai Châu
2.3 Nhóm những tài liệu về quản lý báo chí và quản lý thông tin trên báo chí
- “Cơ sở lý luận báo chí”, (1999) của tập thể tác giả Tạ Ngọc Tấn (chủ
biên), Trịnh Đình Thắng, Đinh Thế Huynh, Lê Mạnh Bỉnh Nội dung cuốn sách gồm 7 chương, trình bày những quan niệm chung về báo chí; tính giai cấp của báo chí; tự do báo chí; các chức năng của báo chí; luật pháp, nguyên tắc hoạt động và lao động sáng tạo trong báo chí
- Lê Thanh Bình trong cuốn Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản
(NXB Chính trị quốc gia, 2004), đề cập đến các vấn đề lý luận chung về báo chí - xuất bản, nêu thực trạng tình hình báo chí - xuất bản ở Việt Nam và thế giới những năm 1980 đến đầu thế kỷ XXI, từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí - xuất bản Cuốn sách đã chỉ rõ những hạn chế, thách thức đặt ra đối với báo chí hiện nay từ mặt nội dung báo chí đến vấn đề quy hoạch báo chí, đầu tư nhà nước đối với báo chí, công tác quản lý cán bộ hoạt động báo chí và công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động báo chí Trên cơ sở thực trạng, tác giả cuốn sách đã nêu ra một số giải pháp chung cho hoạt động báo chí - xuất bản, trong
đó có các giải pháp liên quan sâu đến nội dung nghiên cứu của đề tài
- Hoàng Quốc Bảo trong sách tham khảo Lãnh đạo và quản lý hoạt động chí tại Việt Nam (NXB Chính trị - Hành chính, 2010), đã đánh giá thực
trạng công tác lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí tại Việt Nam Cuốn sách không chỉ cung cấp cho người đọc tri thức về lãnh đạo, quản lý báo chí mà còn góp phần quan trọng vào việc hình thành năng lực tham mưu, lãnh đạo,
Trang 16chỉ đạo của Đảng và năng lực của việc tham gia vào tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí của người cán bộ văn hóa - tư tưởng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Do đó, góp phần trang bị thêm cho tác giả luận văn những kiến thức cần thiết trong quá trình nghiên cứu, đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng quản lý thông tin nói chung và quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng ở Báo Lai Châu; từ đó, xem xét đưa ra những khuyến nghị phù hợp
- Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí (NXB Thông tin
và truyền thông, 2018) đã cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, đặc điểm, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí, về các chức năng và nguyên tắc cơ bản; về chủ thể hoạt động báo chí; vấn đề tự do báo chí
- Nguyễn Đức Lợi (chủ biên) Lưu Văn An (đồng chủ biên) trong cuốn
sách Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý (NXB Lý luận chính
trị, 2017) đã đưa ra một số vấn đề lý luận về thông tin báo chí và công tác lãnh đạo, quản lý Qua đó, tác giả luận văn đã kế thừa hệ thống lý luận, khái niệm về quản lý và các yếu tố cấu thành của công tác quản lý như: mục đích, chủ thể, khách thể, nội dung, phương thức…
- Trương Thị Kiên trong cuốn sách chuyên khảo Lao động nhà báo và Quản trị tòa soạn báo chí (NXB Lý luận chính trị, 2016) đã giới thiệu những
đặc thù trong lao động của nhà báo Trong chuyên khảo này, tác giả đã gắn những vấn đề lý thuyết lao động nhà báo với hoạt động thực tiễn tại các tòa soạn, đồng thời từ thực tiễn để khái quát thành nhận định lý thuyết mang tính
khoa học Phần 2 của cuốn sách: "Quản trị tòa soạn báo chí" đã chỉ rõ những
nội dung cơ bản trong quản trị toà soạn báo chí, chu trình quản trị toà soạn, các nội dung trong chu trình quản trị, những kỹ năng cần có trong quản trị tòa soạn của tổng biên tập nói riêng, ban biên tập cơ quan báo chí nói chung
- Đỗ Thị Thu Hằng (chủ biên) trong cuốn Báo chí truyền thông - Những điểm nhìn từ thực tiễn tập 4, (NXB Lao động 2019), tập hợp 51 bài
Trang 17viết của 40 tác giả là những nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo các cơ quan báo chí truyền thông và các cơ sở đào tạo báo chí đã tham góp những góc nhìn mang tính lý luận, giàu tính học thuật về tính đa dạng, phong phú, sự vận động nhiều chiều với nhiều định dạng của thực tiễn báo chí truyền thông hiện đại; khẳng định sự cần thiết phải tập trung nghiên cứu, phát triển lý luận báo chí truyền thông, luận cứ khoa học phục vụ cho nghiên cứu, tư vấn chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về báo chí truyền thông trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay Trong đó, bài viết của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng về "Công tác quản lý báo chí truyền thông trong bối cảnh phát triển
xã hội thông tin ở Việt Nam hiện nay" đã làm rõ sự biến đổi của nền báo chí truyền thông, những thách thức và yêu cầu mới trong quản lý báo chí truyền thông trong bối cảnh phát triển xã hội thông tin ở Việt Nam hiện nay Bài viết cũng đưa ra những giải pháp và kiến nghị có tính tổng thể, hướng tới quản lý truyền thông hiện quả Đây là những nội dung rất thiết thực, cung cấp những kiến thức chung mang tính nền tảng cho tác giả luận văn trong quá trình nghiên cứu, giúp tác giả đặt và nhận định được vấn đề nghiên cứu riêng trên nền bối cảnh chung hiện tại
- Trần Anh Tú (2019), trong Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý
báo chí - truyền thông Quản lý nội dung tại tòa soạn báo mạng điện tử Việt Nam trong bối cảnh phát triển mạng xã hội hiện nay đã hệ thống hóa, làm rõ
các khái niệm công cụ có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả như khái niệm "quản lý", "quản lý nội dung tại tòa soạn", "cơ sở chính trị, pháp lý của vấn đề quản lý nội dung"
- Phạm Quốc Thắng (2019), trong Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản
lý báo chí - truyền thông Quản lý nội dung thông tin về lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên bản tin thời sự của Đài truyền hình Việt Nam đã hệ thống hóa, làm
rõ các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả như khái niệm "quản lý", "quản lý nội dung thông tin về lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Trang 18trên báo chí" Đồng thời gợi mở về kết cấu, hướng đi, các nội dung cần triển khai cho đề tài
- Nguyễn Sắc Thắm (2019), trong luận văn thạc sĩ chính trị học Đổi mới nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động báo chí tại thành phố Hà Nội hiện nay đã hệ thống hóa, làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề
tài, nhất là khái niệm về “quản lý”
- Tạ Quang Dũng (2019), trong luận văn thạc sĩ báo chí học Vấn đề quản lý phóng viên thường trú trong nước của báo Nhân dân hiện nay đã hệ
thống hóa, làm rõ một số khái niệm công cụ có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả như khái niệm "quản lý"
2.4 Nhóm tài liệu báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số và quản lý thông tin báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số
- Nguyễn Xuân An (2011), trong luận văn thạc sĩ báo chí học Thông tin
về dân tộc miền núi trên VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam đã phân tích thực
trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình về vùng DTTS và miền núi Qua luận văn này, tác giả đã được cung cấp thêm góc nhìn về đồng bào DTTS
- Hoàng Anh Đức (2013), trong luận văn thạc sĩ báo chí học Báo chí Nam Định với việc giữ gìn và quảng bá các giá trị văn hóa địa phương đã hệ
thống hóa, làm rõ các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả như khái niệm "văn hóa", "giá trị văn hóa", "giữ gìn và quảng bá các giá trị văn hóa" Đồng thời gợi mở về kết cấu, hướng đi, các nội dung cần triển khai cho đề tài
- Đàm Tuấn Duy (2018), trong luận văn thạc sĩ báo chí học Vấn đề tổ chức ảnh báo chí về đề tài đồng bào dân tộc thiểu số trên báo in hiện nay đã
hệ thống hóa, cung cấp khái niệm "dân tộc thiểu số" – khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả Đồng thời làm rõ thêm về việc tổ chức ảnh báo chí về đề tài đồng bào DTTS – một phương diện, nội dung quan trọng trong thông tin về văn hóa DTTS số trên báo chí
Trang 19- Nguyễn Thị Kim Ngân (2018), trong luận văn thạc sĩ báo chí học Báo chí Thái Nguyên với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu
số vùng Đông Bắc Việt Nam đã hệ thống hóa, làm rõ các khái niệm cơ bản có
liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả như khái niệm "văn hóa", "dân tộc thiểu số"; đề cập rõ các nội dung về văn hóa dân tộc thiểu số được phản ánh trên báo chí
Như vậy, qua việc khảo cứu các tài liệu liên quan về văn hoá, văn hóa dân tộc thiểu số, tài liệu về báo Lai Châu, tài liệu quản lý báo chí và quản lý
thông tin trên báo chí, tài liệu báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số và quản lý thông tin báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số…, có thể kết luận, các tài liệu về văn hoá rất đa dạng, phong phú Một số tài liệu về báo chí Lai Châu cũng giúp tác giả hiểu thêm về cơ chế hoạt động, quy trình tác nghiệp, tôn chỉ mục đích tờ báo Một số tài liệu về quản lý báo chí và quản lý thông tin trên báo chí giúp tác giả có thêm cơ sở đánh giá được những hạn chế, thách thức đặt ra đối với báo chí hiện nay từ mặt nội dung báo chí đến vấn đề quy hoạch báo chí, đầu tư nhà nước đối với báo chí, công tác quản lý cán bộ hoạt động báo chí và công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động báo chí, từ đó có các giải pháp
liên quan sâu đến nội dung nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, nhóm tài liệu
báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số và quản lý thông tin báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số gắn với báo in Lai Châu chưa có Vì vậy, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết về quản lý thông tin báo chí về văn hoá dân tộc thiểu số, tác giả khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên các ấn phẩm báo in Lai Châu, từ đó, nêu giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý thông tin về văn hoá dân tộc thiểu số trên các ấn phẩm báo in Lai Châu hiện nay
Trang 203.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo chí
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu, cụ thể, trên các ấn phẩm: báo Lai Châu thường kỳ, báo Lai Châu cuối tuần, báo Lai Châu dành cho đồng bào dân tộc vùng cao từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019, tìm ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân
- Trên cơ sở thành công, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra, luận văn nêu giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát trên 3 ấn phẩm của báo in Lai
Châu: Báo Lai Châu thường kỳ, báo Lai Châu cuối tuần và báo Lai Châu dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao để làm sáng tỏ các hoạt động quản
lý thông tin ở tòa soạn Báo Lai Châu Lý do, 3 ấn phẩm báo in này tập trung nhiều bài viết về văn hóa phù hợp với điều kiện tiếp nhận của bà con dân tộc thiểu số
Quản lý thông tin về văn hóa các DTTS trên báo in có 2 cấp độ, cấp độ vĩ
mô (sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước đối với lĩnh vực báo chí, tại các tỉnh là Sở Thông tin truyền thông), cấp độ vi mô (Tòa soạn) Nhưng do nghiên cứu, khảo sát trực tiếp trên 3 ấn phẩm của báo in Lai Châu nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về cấp độ quản lý vi mô, tức là việc quản lý của Tòa soạn
Trang 215.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả tiếp cận các giáo trình, tài
liệu để đúc kết ra những vấn đề cơ bản về lý luận cũng như thực tiễn có liên quan đến công tác quản lý thông tin báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Áp dụng trong thống kê
số lượng tác phẩm, phân tích chất lượng nội dung thông tin, hình thức thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên các ấn phẩm báo in Lai Châu, từ đó tổng hợp thành các đánh giá, nhận định làm rõ nội dung, phương thức quản lý thông tin của Tòa soạn trong thời gian khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu 10 người, gồm: Lãnh
đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lai Châu (2 người); Ban biên tập Báo Lai Châu (3 người); lãnh đạo phòng chuyên môn và phóng viên của Toà soạn báo Lai Châu (2 người) và công chúng (3 người) để có thêm cơ sở thực tiễn từ quan điểm, góc nhìn của người trong cuộc, những người trực tiếp tham gia vào công tác quản lý, xuất bản báo in Lai Châu và độc giả để đánh giá sâu hơn
về thực trạng quản lý nội dung thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên báo
in Lai Châu
6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Đây là đề tài đầu tiên hệ thống hoá và xây dựng khung lý thuyết về
Trang 22quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in, bao gồm: hệ thống khái niệm, chủ thể quản lý thông tin về văn hoá dân tộc thiểu số, nội dung, phương thức quản lý, những yêu cầu đối với quản lý thông tin về văn hoá dân tộc thiểu số trên báo in nói chung, trên báo in Lai Châu nói riêng…
- Đây cũng là đề tài đầu tiên khảo sát, phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu hiện nay, chỉ ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đang đặt ra đối với việc quản lý thông tin về văn hoá dân tộc thiểu số trên báo
in Lai Châu Từ đó, đưa ra được những khuyến nghị, giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này của Tòa soạn Báo Lai Châu trong thời gian tới, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng Báo Lai Châu
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm dày dặn, phong phú thêm kiến thức lý thuyết về quản lý thông tin văn hóa dân tộc thiểu số trên báo in nói chung, trên báo in Lai Châu nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp kết quả khảo sát, đánh giá, giải pháp cụ thể để các nhà lãnh đạo, quản lý Báo Lai Châu nói riêng và các nhà quản lý nhà nước về báo chí Lai Châu nói chung có chủ trương, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số trên các sản phẩm báo chí Lai Châu
- Luận văn là tài liệu tham khảo cần thiết đối với hoạt động nghiệp vụ của các phóng viên, biên tập viên trong việc thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in; đồng thời, cũng là tài liệu tham khảo phục vụ công tác quản lý, bồi dưỡng đối với cán bộ làm công tác thông tin tuyên truyền về văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân tộc thiểu số
Trang 23- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu báo chí, sinh viên, học viên báo chí quan tâm đến vấn đề quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số
8 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thông tin văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in
Chương 2: Thực trạng quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu
Chương 3 Những vấn đề đặt ra, giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in Lai Châu
Trang 24có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số giữa dân tộc thiểu số và dân tộc đa
số trong một quốc gia đa dân tộc
Vận dụng quan điểm trên và điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng, Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định quan điểm nhất quán: Việt Nam
là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, trong đó dân tộc Việt (Kinh) chiếm khoảng 86% dân số được coi là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại lại chiếm khoảng 14% được quan niệm là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Như vậy, khái niệm “Dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc
Ở Việt Nam, khái niệm dân tộc thiểu số (DTTS) được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật, cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công
tác dân tộc đưa ra khái niệm tại Khoản 2, Điều 4: “Dân tộc thiểu số là những
dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Trong mối tương quan đó, khái niệm
“Dân tộc đa số” được hiểu là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia Mặc dù hiện nay đã có quy định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số” nhưng cách gọi “dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác về nội dung
Trang 251.1.2 Văn hoá
“Văn hóa” là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, hiện nay có tới hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Trong luận văn này, tác giả xin nêu ra một vài định nghĩa để từ đó trình bày quan điểm của mình về văn hóa và tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa trong đời sống xã hội, hình thành một khung lý thuyết để giải quyết vấn đề liên quan trong đề tài nghiên cứu
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2000), “Văn hóa” là một danh từ, có 5 cách hiểu cơ bản: (1)
Là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử; (2)
là đời sống tinh thần của con người; (3) là tri thức khoa học, trình độ học vấn; (4) là lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh; (5) là nền văn hóa một thời cổ xưa được xác định nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung
Trong cuộc sống hằng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận, tức chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt, văn hóa để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất, không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất
Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được hiểu là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua bao thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [34, tr.5]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
Trang 26cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” [36, tr.458] Theo quan niệm của Người, văn hóa chính là biểu hiện của sự hiểu biết, tài năng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, tâm hồn, v.v của con người và của mỗi cộng đồng dân tộc trong mối quan hệ với xã hội và tự nhiên Đó là cách tiếp cận không chỉ coi văn hóa đơn thuần là đời sống tinh thần của con người - xã hội mà từ trong bản chất của mình: văn hóa chính là linh hồn của một xã hội, là sức mạnh trường tồn của một dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại
Mặc dù “văn hóa” là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú, phức tạp và có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, nhưng chung quy lại, văn hóa vẫn có 4 đặc trưng cơ bản nhất, đó là: Tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử Trên cơ sở các đặc trưng cơ bản này, Trong
cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm định
nghĩa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Cách định nghĩa này bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, đồng thời cho phép nhận diện được một hiện tượng văn hóa và phân biệt nó với các hiện tượng khác không phải là văn hóa – từ các hiện tượng phi giá trị, các giá
tự nhiên thiên tạo cho đến những giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử
Qua nghiên cứu, tìm hiểu từ lý thuyết đến thực tiễn, với khuôn khổ đề tài, tác giả đưa ra quan niệm làm cơ sở triển khai nội dung nghiên cứu của
mình như sau: Văn hóa là sản phẩm của xã hội loài người, nó kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hình thành
và phát triển của loài người Văn hóa thể hiện trình độ và song hành với sự phát triển của loài người và của mỗi quốc gia, dân tộc, là giá trị nền tảng của
Trang 27xã hội – giá trị mà mọi thời đại con người luôn giữ gìn, quảng bá và phát triển nó
1.1.3 Văn hóa dân tộc thiểu số
Trong luận văn này, từ khái niệm “văn hóa” và “dân tộc thiểu số”, tác
giả luận văn rút ra cách hiểu: Văn hóa dân tộc thiểu số là những giá trị vật chất và tinh thần được tích tụ, gìn giữ trong toàn bộ quá trình phát triển, mang tính đặc trưng trường tồn cùng mỗi dân tộc thiểu số, một mặt phản ánh sinh động đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng dân tộc đó, đồng thời cũng
là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết giữa dân tộc này và dân tộc khác; văn hóa các dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam
Trong luận văn này, văn hóa được biểu hiện qua các khía cạnh cụ thể, cũng là chủ đề phản ánh của báo chí là: Lễ hội, phong tục tập quán, trang phục, ẩm thực, kiến trúc, dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc, trò chơi dân gian, nghề truyền thống,
1.1.4 Thông tin
Có rất nhiều cách hiểu về thông tin bởi thông tin không thể sờ mó, cầm nắm trực quan được, người ta chỉ bắt gặp thông tin trong quá trình hoạt động, thông qua các tác động trừu trượng của nó
Theo Từ điển Oxford English Dictionary, “Thông tin là điều mà người
ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức” Một số từ điển khác thì đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức – Thông tin là điều mà người ta biết, hoặc thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người,… Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông”, Philipe Breton và Serge Proulx cho rằng thuật ngữ thông tin có thể hiểu theo hai hướng nghĩa: Thứ nhất, thông tin là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng; thứ hai, thông tin là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng [40, tr.18]
Trang 28Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh
Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh… hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người,
Trong lĩnh vực viễn thông, thông tin là toàn bộ hoạt động nhằm mục đích vận chuyển, đảm bảo tính chính xác của các thông điệp Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, thông tin hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng
Trong lĩnh vực báo chí, thông tin được dùng để nói đến chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả câu chuyện, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của thực tại Những vấn đề liên quan đến con người luôn là nguồn cảm hứng chính trong các hoạt động thông tin của nhà báo Với họ, thông tin là mục tiêu
để họ sáng tạo không ngừng
Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí” do PGS TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên
nêu: “Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo” [49; tr 23]
Trên cơ sở những khái niệm chung về thông tin, trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Dững đã nêu những đặc điểm cơ bản của
thông tin báo chí đó là: Thông tin báo chí có tính thời sự, tính công khai, tính mục đích, tính định kỳ đều đặn, tính phong phú đa dạng, nhiều chiều, tính dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo và tính tương tác Tất cả là những đặc điểm của thông tin báo chí mà những loại thông tin khác không thể có được [16, tr.66-67]
Như vậy, cùng sử dụng thuật ngữ thông tin, nhưng khái niệm thông tin
mà các nhà báo sử dụng hoàn toàn khác với những khái niệm thông tin mà các
Trang 29nhà kỹ thuật viễn thông xử lý hoặc thông tin mà các nhà tin học chế tạo Để
có cái nhìn phù hợp với định hướng, trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến cách hiểu thuật ngữ thông tin trong báo chí Trong hoạt động báo chí, khi tìm hiểu về khái niệm thông tin cần đặt nó trong mối liên hệ trực tiếp với vấn đề hiệu quả, tức là ảnh hưởng trực tiếp của thông tin đối với công chúng, hướng dẫn nhận thức và giáo dục đạo đức cho họ để họ có hành động đúng đắn Vì
vậy, có thể hiểu, thông tin là việc chuyển tải thông báo, kiến thức đến nhiều người thông qua các phương tiện kỹ thuật, các loại hình chuyển tải khác nhau nhằm tác động đến những hành vi của công chúng trong xã hội, định hướng
dư luận xã hội, thực hiện chức năng giám sát, quản lý để góp phần hoàn thiện, phát triển xã hội
1.1.5.Quản lý và quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số
1.1.5.1 Quản lý
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” Theo ông thì người quản
lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc
Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý” (1999, NXB Thống kê), tác giả Đặng Quốc Bảo định nghĩa: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”
Theo cuốn Luật hành chính Việt Nam (2017, NXB Đại học Quốc gia),
quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật
Trang 30Theo Harol Koontz – chuyên gia trong ngành quản trị, quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiểu, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác [19, tr.48]
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý) Từ đó, tác giả luận văn đồng tình với định nghĩa đã được PGS.TS
Trương Thị Kiên đưa ra: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập
kế hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục đích đề ra [27, tr.154]
1.1.5.2 Quản lý thông tin
Quản lý thông tin là một tiến trình gồm các bước cơ bản: Xây dựng kế hoạch thông tin; tổ chức thực hiện kế hoạch; kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn
đề trong triển khai thực hiện; đánh giá và báo cáo các hoạt động thông tin Tất
cả các quá trình này đều cần thiết để đáp ứng nhu cầu của những người có vai trò hoặc chức năng của tổ chức phụ thuộc vào thông tin Những khái niệm chung này cho phép thông tin được trình bày cho khán giả hoặc nhóm người một cách chính xác Sau khi các cá nhân có thể đưa thông tin đó vào sử dụng,
nó sẽ thu được nhiều giá trị hơn
Từ các khái niệm đã nêu và quy trình xuất bản sản phẩm báo in, tác giả
sẽ xem xét công tác quản lý thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo
in Lai Châu ở các công đoạn: Xây dựng kế hoạch thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số; tổ chức thực hiện kế hoạch thông tin về văn hóa các dân tộc thiểu số; kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn đề trong triển khai thực hiện; đánh giá và báo cáo các hoạt động thông tin, xây dựng kế hoạch thông tin mới nhằm mục đích huy động và sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có, xuất bản
Trang 31được những ấn phẩm báo chí có chất lượng, trong đó có các tin, bài về văn hóa các DTTS, phục vụ nhu cầu thông tin của công chúng
1.1.6 Quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in
Từ các khái niệm đã nêu trên, tác giả nhận thấy, quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số là sự tác động liên tục, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đối với các thông tin có liên quan đến những giá trị vật chất và tinh thần được tích tụ, gìn giữ trong toàn bộ quá trình lịch sử phát triển, mang tính đặc trưng trường tồn cùng mỗi dân tộc thiểu số
để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản lý xã hội, góp phần bảo tồn, phát huy, thể hiện những giá trị văn hóa bản sắc của các dân tộc thiểu số
Trong phạm vi luận văn, quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu
số trên báo in được nghiên cứu, xem xét đối với cấp độ quản lý vi mô, tức là tất cả hoạt động quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số được thực hiện trong tòa soạn báo in
1.2 Định hướng của Đảng, Nhà nước đối với công tác quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo chí
Văn hóa các dân tộc thiểu số là di sản quý giá, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam Việc giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa mạnh mẽ, nhiều giá trị văn hóa Việt nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng
đã và đang bị xói mòn, bị mất dần Giữ gìn, bồi đắp, phát triển những giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước của mỗi công dân Việt Nam và của cả cộng đồng, đặc biệt là các cơ quan truyền thông đại chúng
Trang 32Đảng đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng để phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông đại chúng trong giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X) của
Đảng nêu rõ: Tạo điều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển, nâng cao chất lượng tư tưởng và văn hóa, vươn lên hiện đại hóa
về mô hình, cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất - kỹ thuật, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, chủ động, khoa học Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” (ban hành kèm theo Quyết định
số 1270/QĐ-TTg, ngày ngày 27 tháng 07 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) xác định rõ trong mục tiêu tổng quát: “Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm phát triển văn hóa dân tộc, góp phần để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia Tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đặc biệt tại các địa bàn trọng điểm: Vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo”
Nhà nước ban hành nhiều chính sách liên quan đến công tác thông tin
về văn hóa các DTTS: Chương trình mục tiêu quốc gia Đưa thông tin về cơ sở
miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2012 – 2015 (ban hành kèm theo Quyết định số 1212/QĐ-TTg, ngày 05/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ) xác định mục tiêu: “Tăng cường nội dung thông tin và truyền
Trang 33thông về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo nhằm đảm bảo 100% xã thuộc Chương trình được cung cấp các dịch vụ thông tin tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cung cấp, giới thiệu các kinh nghiệm, các gương điển hình tiên tiến trong sản xuất, hoạt động xã hội; phổ biến kiến thức về các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong các hoạt động sản xuất; giới thiệu, phổ biến các thông tin về bảo tồn văn hóa phục vụ đồng bào các dân tộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới
và hải đảo”
Tuy nhiên, cần căn cứ vào Điều 4, Luật Báo chí năm 2016 để thấy rõ hơn
nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí:
a) Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;
b) Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo
chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao
dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ
và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
c) Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân;
d) Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội;
đ) Góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam;
e) Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc,
Trang 34tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững
Hiện nay, tuy không có văn bản riêng nào của Đảng, Nhà nước về việc quản lý thông tin văn hóa các DTTS trên báo chí,nhưng Luật Báo chí thể hiện
ý chí của Đảng, Nhà nước trong việc lãnh đạo và quản lý báo chí Như vậy, việc quản lý thông tin về văn hóa các DTTS trên báo chí cũng nằm trong sự chế định, quản lý ở trong Luật Báo chí mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra Theo
đó, hệ thống truyền thông đại chúng giữ vai trò quan trọng trong việc gìn giữ
và phát triển những giá trị văn hóa Việt Nam, trong đó có văn hóa các DTTS Vai trò đó thể hiện rõ trong các định hướng sau:
Một là: Góp phần cùng với Đảng và Nhà nước kiên quyết đấu tranh
chống lại các luận điệu, âm mưu, hành động dùng chiêu bài “văn hóa” để chống phá Đảng, Nhà nước; đấu tranh chống đồng hóa và phá hoại các giá trị văn hóa, đặc biệt giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta Bên cạnh việc góp phần làm phong phú, bồi đắp các giá trị văn hóa Việt, hệ thống các cơ quan truyền thông đại chúng còn tham gia đấu tranh, phê phán mạnh mẽ với các luận điệu, âm mưu và hành động chống phá Đảng, Nhà nước dưới chiêu bài “văn hóa” của cá nhân, tổ chức, nhóm phản động, chống lại sự xâm nhập của các luồng văn hóa độc hại, những giá trị văn hóa phản tiến bộ
Hiện nay, nhiều tổ chức, thế lực phản động lợi dụng sự “nhẹ dạ cả tin” của một bộ phận người dân Việt Nam thông qua chiêu bài “tôn giáo”, “nhân quyền”, “văn hóa” nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, phá hoại các giá trị truyền thống của dân tộc được hun đúc từ ngàn đời nay Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nhiệm
vụ cụ thể đối với lĩnh vực truyền thông đại chúng là “Đấu tranh ngăn chặn, bài trừ các hủ tục, các tiêu cực xã hội…đấu tranh đánh bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa”
Hai là: Tuyền truyền, giáo dục, định hướng về nhận thức và hành động
Trang 35cho mỗi người dân Việt Nam trong việc việc bảo vệ, gìn giữ, phát triển các di sản, các giá trị văn hóa Việt Đảng và Nhà nước đã khẳng định, gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa là nhiệm vụ, là trách nhiệm của mỗi người dân, của cả dân tộc
Ba là: Thường xuyên tuyên truyền và quảng bá, giới thiệu các di sản,
các giá trị văn hóa Việt đến với bạn bè quốc tế
Thứ tư, góp phần xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách và pháp
luật của Đảng, Nhà nước về văn hóa, đồng thời phát hiện những thiếu sót, hạn chế trong các văn bản chính sách, pháp luật về văn hóa
1.3 Chủ thể, khách thể, nội dung, phương thức quản lý thông tin
về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in
Từ những nội dung cơ bản và quan trọng liên quan đến quản lý, quản lý thông tin, quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in đã trình bày ở trên, có thể xác định một số nội hàm quan trọng liên quan đến quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in như sau:
1.3.1 Chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý (vi mô) là Báo Lai Châu Trong luận văn này, tác giả tập trung làm rõ các nội dung về Ban biên tập và đội ngũ trưởng, phó phòng, ban phụ trách mảng văn hoá dân tộc thiểu số của Báo Lai Châu
1.3.2 Khách thể quản lý
Khách thể của quản lý là Thông tin về văn hoá đồng bào các dân tộc thiểu số
1.3.3 Nội dung quản lý
Nội dung quản lý thông tin văn hóa các dân tộc thiểu số trên báo in cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Về mặt nội dung:
+ Đảm bảo thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số đúng định hướng của Đảng, Nhà nước; đảm bảo tính thời sự, tính chính xác, phong phú, đa dạng, hấp dẫn, khách quan chân thật Tập trung thông tin về các nội dung chủ đề sau:
Trang 36Thứ nhất, thông tin về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng,
Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp về văn hóa dân tộc thiểu số
Thứ hai, thông tin, phản ánh về các hoạt động văn hóa, những giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số thông qua các nội dung như: Lễ hội, phong tục tập quán, trang phục truyền thống, các điệu dân ca, dân vũ,
Thứ ba, cổ vũ, biểu dương các điển hình tiên tiến, các mô hình hay,
cách làm sáng tạo, hiệu quả về bảo tồn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số; về lao động, sản xuất; về phòng tránh thiên tai; để khuyến khích, kích thích năng lực sáng tạo, năng lực tự bảo vệ của bà con trong bối cảnh và điều kiện hiện tại để phát huy những giá trị tốt đẹp, xây dựng có cuộc sống ngày một tốt hơn
Thứ tư, phản ánh các nguy cơ mai một giá trị văn hóa các dân tộc thiểu
số; ngăn chặn các hành vi xâm phạm văn hóa các dân tộc
+ Đảm bảo thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số được thực hiện đúng quy trình, kế hoạch, hài hoà với các nội dung thông tin khác trên báo in, tạo thành chỉnh thể tờ báo thống nhất
+ Ngoài ra, báo chí cần tham gia giám sát, phản biện, giúp Nhà nước hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số; khuyến khích nhân dân thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; đồng thời là cầu nối hữu hiệu, phổ biến để các dân tộc anh em, người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế có thể tiếp cận được với văn hóa dân tộc
- Về mặt hình thức, quản lý phải đảm bảo cho hình thức thông tin đáp ứng yêu cầu:
+ Ngôn ngữ, văn phong sử dụng trong các tác phẩm báo chí về văn hóa dân tộc thiểu số phải đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp nhận, phù hợp với mọi đối tượng, tầng lớp, dân tộc trong xã hội
Trang 37+ Thông điệp ngắn gọn
+ Sử dụng nhiều tranh, ảnh minh hoạ sống động, hấp dẫn
Để đảm bảo các yêu cầu về nội dung và hình thức đó, nội dung quản
lý cần thực hiện tốt các công đoạn sau:
1.3.3.1 Xây dựng kế hoạch thông tin
Đây là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong nội dung quản lý, để xây dựng kế hoạch thông tin có chất lượng cần đảm bảo thực hiện các bước sau:
- Bước 1, nghiên cứu thực trạng Làm tốt khâu phân tích, nghiên cứu thực trạng giúp các chủ thể quản lý nhận diện những vấn đề ưu tiên truyền thông, những hành vi mong muốn thay đổi ở đối tượng; đồng thời đánh giá sát thực về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức giúp giảm được những mạo hiểm do thiếu khả năng về nguồn lực và ngăn ngừa, hạn chế những điều chỉnh tốn kém trong quá trình thực hiện kế hoạch nhờ đó có thể đưa ra các quyết định quan trọng cho việc lập kế hoạch
- Bước 2, nghiên cứu đối tượng độc giả Đđây là bước giúp xác định, phân loại các nhóm đối tượng chính của truyền thông và những đặc điểm của đối tượng có liên quan đến quá trình thực hiện kế hoạch Kết quả phân tích về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng là cơ sở để xác định mục tiêu, thiết kế thông điệp và lựa chọn kênh truyền thông Bước này đóng vai trò vừa
là một nghiên cứu khởi điểm, vừa là một nghiên cứu cần thiết cho việc đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch Tuy nhiên, đối với các tờ báo địa phương, bước nghiên cứu đối tượng độc giả ít khi được tổ chức thực hiện
- Bước 3, xác định mục tiêu truyền thông Mục tiêu truyền thông là những dự định, mong muốn mà đối tượng sẽ có thể thay đổi (có thể đạt được) sau khi được truyền thông, nói cách khác, mục tiêu truyền thông là những hành vi mong đợi ở đối tượng sau khi được can thiệp truyền thông Trên cơ sở mục tiêu, người lập kế hoạch xác định nội dung, phương pháp, phương tiện truyền thông, nói cách khác xác định rõ nội dung truyền thông, các hoạt động truyền thông nhằm đạt mục tiêu đề ra
Trang 38- Bước 4, xây dựng quy trình truyền thông Đây chính là bước xây dựng quy trình tổ chức sản xuất Đối với một tờ báo tỉnh, bước này thường gồm các nội dung: Lên kế hoạch chủ đề, trong đó xác định chủ đề số báo, chủ
đề các chuyên trang, chuyên mục, số lượng tin/bài; ê kíp thực hiện (nhân sự trực lãnh đạo Ban Biên tập, trực lãnh đạo Ban Thư ký); thời hạn tổ chức sản xuất (nhận bài, biên tập, trình bày, đọc bông, duyệt, )
1.3.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch thông tin
Căn cứ vào kế hoạch đã xây dựng để phân công triển khai thực hiện cụ thể đối với từng nhiệm vụ, trong đó cần phát huy tốt vai trò quản lý và tổ chức thực hiện của từng cấp, từng phòng, ban, bộ phận cụ thể:
- Ban Thư ký toà soạn: Lên kế hoạch chủ đề và kế hoạch tổ chức
chuyên trang, chuyên mục; họp các phòng, ban chuyên môn phân công nhân lực thực hiện kế hoạch chủ đề
- Trưởng/phó các phòng, ban chuyên môn: Phân công phóng viên viết
bài theo chủ đề; theo dõi, giám sát, xử lý tình huống đột xuất; khai thác, cung cấp thông tin cho Ban Thư ký, Ban Biên tập
- Phóng viên khai thác thông tin, tư liệu phục vụ công tác sáng tạo tác
phẩm; sáng tạo (viết) tác phẩm
- Trưởng/phó Ban Thư ký: Biên tập, kiểm tra thông tin lần 1 các tác
phẩm sau khi được biên tập; phối hợp với họa sĩ để thiết kế, trình bày
- Trưởng/phó Ban Thư ký: Biên tập lần 2 cả về nội dung và hình thức
trình bày sản phẩm
- Phó Tổng biên tập/Tổng biên tập: Phê duyệt kết cấu nội dung ấn
phẩm, trong đó có nội dung về thông tin văn hóa các dân tộc thiểu số; duyệt lần cuối trước khi in ấn, phát hành sản phẩm
- Các bộ phận, cá nhân liên quan tiếp nhận, xử lý thông tin phản hồi từ độc giả
1.3.3.3 Giám sát, đánh giá
Đánh giá và giám sát đều là những công cụ quản lý quan trọng Chúng có
Trang 39chung nhiệm vụ là thu thập thông tin về tình hình thực hiện và kết quả thực hiện
kế hoạch, giúp cho người quản lý có những quyết định đúng đắn, kịp thời
Hoạt động giám sát được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch Trong quá trình giám sát, người quản lý cần tập
trung giám sát các nội dung: Tiến độ thực hiện kế hoạch trong thực tế (so với
dự kiến trong kế hoạch nhanh, chậm hay đúng tiến độ); điều kiện thực hiện kế hoạch (điều kiện tài chính, nhân lực, trang thiết bị kỹ thuật có đảm bảo thực hiện kế hoạch đúng tiến độ không); kết quả các hoạt động (có khả năng đạt được mục tiêu đã được xác định từ trước trong kế hoạch hay không)
Đánh giá là một hoạt động định kỳ của quản lý, được tiến hành ở một
số điểm mốc quan trọng của quá trình thực hiện kế hoạch Việc đánh giá nhằm so sánh kết quả đạt được so với mục tiêu mà kế hoạch đặt ra và xác định tính hợp lý, kết quả, hiệu quả của kế hoạch truyền thông
1.3.3.4 Xây dựng kế hoạch thông tin mới
Kế hoạch thông tin mới thường giải quyết ở tầm cao hơn những mục tiêu truyền thông hoặc mở rộng mục tiêu của kế hoạch sang lĩnh vực khác, đối tượng khác Ở các tờ báo địa phương, việc lập kế hoạch thông tin được tiến hành theo định kỳ ngắn hạn, thường là hằng tháng Sau khi hoàn thành kế hoạch thông tin tháng trước cần chủ động xây dựng kế hoạch thông tin của tháng tới để duy trì các công việc phải thực hiện tiếp theo
1.3.4 Phương thức quản lý
Có nhiều phương thức quản lý:
- Quản lý bằng Luật, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; bằng quyết định, nội quy, quy chế của cơ quan Lãnh đạo tòa soạn căn cứ vào Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Báo chí để lãnh đạo, quản lý hoạt động của cán bộ, phóng viên dưới quyền để các nhà báo thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, đảm bảo thông tin về văn hóa dân tộc thiểu số đúng định hướng của Đảng, Nhà nước
- Quản lý bằng việc phân công công việc cụ thể bằng kế hoạch hay
Trang 40thông qua các cuộc họp, hội ý hoặc chỉ đạo trực tiếp đối với cấp dưới và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc
- Quản lý bằng tài chính (thông qua chế độ nhuận bút, chế độ thù lao),
chế độ khen thưởng, xử phạt đối với cán bộ, phóng viên, nhân viên
- Quản lý bằng thuyết phục, cảm hóa dựa trên phạm trù đạo đức và nền
tảng tri thức văn hóa Đối với phương thức quản lý này cần bám sát, tuân thủ nghiêm túc 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam Đây cũng chính là căn cứ để Tổng Biên tập đánh giá phẩm chất của cấp dưới Các trường hợp vi phạm Luật Báo chí, đạo đức nghề nghiệp cần được sớm phát hiện và nhắc nhở, chỉ dẫn, định hướng, điều chỉnh ngay
1.4 Tiêu chí đánh giá chất lƣợng quản lý thông tin về văn hoá các dân tộc thiểu số trên báo in
về văn hóa các dân tộc thiểu số Đồng thời, có năng lực quản lý, điều hành giỏi, có trình độ, năng lực chuyên môn cao để quyết định chiến lược thông tin, định hướng chủ đề, nội dung, hình thức từng số báo và duyệt lần cuối đối với sản phẩm báo chí
- Trưởng/phó phòng, ban cơ quan báo in phụ trách mảng văn hoá dân tộc thiểu số; trưởng, phó ban thư ký tòa soạn, trưởng trang về văn hóa các DTTS: Phải có bản lĩnh chính trị vững vàng; có khả năng quản lý; có trình độ, năng lực chuyên môn, giỏi, có nghề, có khả năng biên tập tốt, có sự am hiểu
về văn hóa các dân tộc thiểu số để có thể phụ trách được chuyên trang,