Các tác phẩm mang thông điệp về trẻ em được in ấn, đăng tải trên các ấn phẩm của Báo Phú Thọ: Phú Thọ hàng ngày, Phú Thọ cuối tuần, Phú Thọ miền núi và Báo Phú Thọ điện tử qua các hình t
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ HẠNH THÚY
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM
TRÊN BÁO PHÚ THỌ
(Khảo sát dữ liệu năm 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ HẠNH THÚY
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM
TRÊN BÁO PHÚ THỌ
(Khảo sát dữ liệu năm 2019)
Chuyên ngành: Quản lý Báo chí - Truyền thông
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày… tháng……năm 202
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố trong
và ngoài nước Các số liệu, kết quả công bố trong luận văn là chính xác và trung thực Các tham khảo, trích dẫn đều rõ nguồn dẫn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh Thúy
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã dày công đào tạo em trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Ban biên tập Báo Phú Thọ, đồng nghiệp, bạn
bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tác giả luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh Thúy
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM TRÊN BÁO CHÍ 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.2 Cơ sở chính trị, đạo đức và pháp lý của công tác quản lý thông điệp về trẻ em 24
1.3 Lý thuyết về thông điệp về trẻ em và quản lý thông điệp về trẻ em 36
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM TRÊN BÁO PHÚ THỌ 47
2.1 Khái quát về các đối tượng khảo sát 47
2.2 Thực trạng về chủ thể và đối tượng quản lý 64
2.3 Thực trạng về nội dung và hình thức quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ 68
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TỐI ƯU HÓA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM TRÊN BÁO PHÚ THỌ 82
3.1 Đánh giá chung về thành công của Báo Phú Thọ trong công tác quản lý thông điệp về trẻ em – Bài học kinh nghiệm 82
3.2 Một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ 88
3.3 Một số giải pháp tối ưu hóa công tác quản lý thông điệp về trẻ em trên báo Phú Thọ 95
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
TÓM TẮT LUẬN VĂN 110
Trang 7em, viết một bài báo về trẻ em, đặt các câu hỏi phỏng vấn, các nhà báo phải chú ý rất nhiều khía cạnh, đặc biệt là sự tôn trọng nhân phẩm và quyền của trẻ em
Trong thời gian quan, có những cơ quan báo chí, những nhà báo, tác giả đã làm tốt những yêu cầu trên Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số nhà báo đưa tin về các vấn đề mà trẻ em là nạn nhân đã gây không ít phẫn
nộ cho gia đình, người thân của trẻ em và nghiêm trọng hơn là làm ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như sức khỏe tâm sinh lý của các em Qua góc
độ tiếp cận, cách truyền tải thông điệp về nội dung hay hình thức khiến cho quyền của trẻ em không những không được bảo vệ mà thậm chí còn bị xâm hại Điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết đối với phóng viên về trách nhiệm và đạo đức trong truyền tải thông tin về trẻ em tới công chúng
Báo Phú Thọ là cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Phú Thọ, tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh Với định hướng và nhiệm vụ là phản ánh một cách kịp thời, chính xác những sự kiện mang tính thời sự, nổi bật trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội không chỉ của tỉnh Phú Thọ mà còn trên phạm vi cả nước và quốc tế Trong
Trang 8đó, bao gồm cả nội dung về trẻ em và quyền trẻ em Khi lấy trẻ em làm trung tâm, nhà báo có thể tiếp cận vấn đề có liên quan đến trẻ em thuộc các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội Qua đó, cung cấp cho các em kiến thức về quyền trẻ em, kỹ năng tự bảo vệ mình khỏi các nguy cơ bị xâm hại, bạo lực và tai nạn thương tích Các tác phẩm mang thông điệp về trẻ em được in ấn, đăng tải trên các ấn phẩm của Báo Phú Thọ: Phú Thọ hàng ngày, Phú Thọ cuối tuần, Phú Thọ miền núi và Báo Phú Thọ điện tử qua các hình thức như: phóng sự: đề cập đến những vấn đề nóng về bảo vệ, chăm sóc trẻ em (xâm hại tình dục trẻ em, bạo lực với trẻ em, mua bán trẻ
em, tai nạn thương tích trẻ em ); bài phản ánh: giới thiệu về một địa chỉ cần giúp đỡ hoặc các hoạt động từ thiện, hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em của các cá nhân, tổ chức, đơn vị nào đó; bài viết của các em thiếu nhi về gia đình, nhà trường, quê hương
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ vẫn còn nhiều hạn chế Trong đó phải kể đến những vấn
đề nổi cộm như việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong bài đã hợp lý chưa, có làm ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày của các em hay không? Nội dung bài viết có vi phạm đạo đức nghề nghiệp báo chí? Có vi phạm quyền riêng tư của trẻ em? Có làm trẻ em và gia đình của trẻ tổn thương? Tất cả những vấn đề này phần nào đó do nguyên nhân đến từ hiệu quả của công tác quản lý thông điệp về trẻ em còn chưa cao
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý thông điệp về trẻ em
trên Báo Phú Thọ (khảo sát dữ liệu năm 2019)” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý báo chí truyền thông
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ
em như:
Trang 9- Giáo trình báo chí dành cho các đối tượng chuyên biệt của PGS, TS
Đỗ Thị Thu Hằng-PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh đồng chủ biên Đây là một tài liệu tham khảo cho các nhà báo/ nhà truyền thông vận dụng trong thực tiễn hoạt động sáng tạo phục vụ các nhóm đối tượng chuyên biệt trong đó
có trẻ em từ đó nghiên cứu sâu hơn và hoàn thiện kiến thức và kỹ năng về lĩnh vực này
- Tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng trong cuốn “Truyền
thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (2012), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật
Cuốn sách hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm và phân tích các lý luận về truyền thông, truyền thông đại chúng, thông điệp truyền thông…
- Cuốn “Biên tập Báo chí” (2016) của TS Nguyễn Quang Hòa, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội Tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy trình quản lý nội dung thông điệp tác phẩm báo chí của các biên tập viên
- Vũ Ngọc Bình (1998), giới thiệu Công ước Liên Hợp Quốc về
Quyền trẻ em,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Trong cuốn: “Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003) Tác giả Helena Thorfinn (Thuỵ Điển) đã đặt ra vấn đề đạo đức nghề nghiệp và mối quan hệ giữa trẻ em với truyền thông Theo tác giả, ở Tây bán cầu, thời gian trung bình một trẻ em dành cho các phương tiện truyền thông còn nhiều hơn thời gian ở bên cha
mẹ Truyền thông vừa là người bạn thân thiết nhất nhưng đồng thời cũng là
kẻ thù lạnh lùng nhất của các em
- Cuốn sách: “Nhà Báo với trẻ em kiến thức và kỹ năng” của TS Nguyễn Ngọc Oanh Cuốn sách này là công trình nghiên cứu của tác giả về những thách thức đặt ra đối với người làm báo về trẻ em Đó chính là những kiến thức và kỹ năng báo chí về trẻ em Đã có không ít những thiếu sót đáng tiếc khi nhà báo viết về trẻ em, khi đưa hình ảnh trẻ em trên
Trang 10truyền hình Đôi khi, chính từ sự non kém về nghề nghiệp, sự thiếu hiểu biết, thiếu thận trọng khi thông tin về trẻ em đã làm tổn hại đến quyền lợi, danh dự và nhân phẩm của trẻ em Bên cạnh đó, có nhiều trẻ em đã tích cực tham gia viết báo, làm các chương trình phát thanh, truyền hình Các em thực hiện quyền trẻ em khi được nói lên tiếng nói của mình thông qua các sản phẩm báo chí Công trình đã xây dựng được khung lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ em, nhận diện những nhân tố có tính chất điều kiện ảnh hướng đến quá trình hình thành, phát triển các kỹ năng tác nghiệp, khảo sát thực tế kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, tìm ra cơ sở khoa học từ thực tiễn nhằm góp phần tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí với trẻ em ở Việt Nam
- Cuốn sách “Báo chí với trẻ em” của tác giả Nguyễn Văn Dững, Nxb Lao động Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực trạng kỹ năng tác nghiệp của nhà báo về đề tài trẻ em, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách
cơ bản, hệ thống và chuyên sâu, thiết lập hệ thống khái niệm, khung lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ em cũng như các yếu tố tác động đến quá trình hình thành kỹ năng làm báo cho trẻ em; đưa ra cơ sở khoa học và thực tiễn của kỹ năng tiếp cận, giải quyết đề tài trẻ em dựa trên quyền (chứ không chỉ dựa trên nhu cầu) Công trình xem xét trẻ em không chỉ là đối tượng phản ánh, đối tượng hưởng thụ các sản phẩm, mà còn là đối tượng tham gia sáng tạo sản phẩm báo chí; xác định trẻ em là nhóm công chúng đặc thù đồng thời là chủ thể sáng tạo các sản phẩm báo chí
- “Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em” của tác giả Nguyễn Văn Dững, Nxb Lao động là tài liệu hướng dẫn kỹ năng tiếp cận và giải quyết
đề tài trẻ em dựa trên quyền và bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em; giúp các nhà báo hoàn thiện, nâng cao kỹ năng tác nghiệp báo chí, góp phần tích cực, hiệu quả vào việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí đối với nhóm công chúng trẻ em ở nước ta hiện nay Đó là xây dựng các kỹ
Trang 11năng báo chí trẻ em trên sơ sở hệ thống tri thức nền, tri thức nghề nghiệp báo chí và tri thức về trẻ em
Ngoài những cuốn sách, nhiều tác giả cũng lựa chọn vấn đề quản
lý thông điệp, quản lý thông điệp báo chí nói chung và quản lý thông điệp báo chí về những lĩnh vực cụ thể nói riêng Có thể kể đến như: Nguyễn Thị Thu Hương (2018) với “Quản lý thông điệp truyền thông về Bảo hiểm xã hội trên báo mạng điện tử Việt Nam” (Khảo sát báo Nhandan.com.vn; Laodong.com và baobaohiemxahoi.vn, trong năm 2017); Phạm Thị Ngọc Anh (2018) với “Quản lý thông điệp về nghệ thuật sân khấu dân tộc trên tạp chí ở Việt Nam hiện nay” (khảo sát trên tạp chí Nghệ thuật Biểu diễn, tạp chí Sân khấu và tạp chí Văn hiến Việt Nam); Vũ Thế Huy (2020) với “Quản lý thông điệp quảng bá về vịnh Hạ Long trên báo chí tỉnh Quảng Ninh”…
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu thực trạng quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ Từ đó, đề xuất các giải pháp tối ưu hóa công tác quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Hệ thống các vấn đề lý luận chung về quản lý thông điệp về trẻ em trên báo chí; các định hướng, chủ trương của Đảng, Nhà nước và các quy định của pháp luật về quản lý các nội dung về trẻ em trên báo chí
- Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế trong công tác quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ
- Đề xuất các giải pháp tối ưu hóa công tác quản lý các nội dung liên quan đến trẻ em trên Báo Phú Thọ
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chủ thể, khách thể, nội dung quản lý và phương thức quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý thông điệp
về trẻ em trên các ấn phẩm báo chí của Báo Phú Thọ bao gồm: Báo Phú Thọ hàng ngày, Báo Phú Thọ cuối tuần, Báo Phú Thọ miền núi và Báo Phú Thọ điện tử
- Về thời gian: trong năm 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn tiếp cận cơ sở nghiên cứu liên ngành: báo chí truyền thông, khoa học quản lý, văn hóa học, luật học Bên cạnh đó, luận văn còn dựa trên cơ sở quan điểm, tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tỉnh Phú Thọ; hệ thống lý luận về quản lý báo chí – truyền thông
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: với phương pháp này, tác giả có thể nắm được cơ sở lý luận, thực tiễn tổng hợp các tư liệu để phân tích thực trạng quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ năm 2019
- Phương pháp thống kê, phân tích: phương pháp này được sử dụng để
xử lý và phân tích số liệu, phân tích các nội dung được đưa vào khảo sát, đánh giá cả về nội dung và hình thức của các thông điệp Từ đó, đưa ra những kết quả cụ thể về thực trạng quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ những khái niệm cơ bản và các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý thông điệp về trẻ em Đồng thời, cung cấp những giải pháp có tính khả thi để tối ưu hóa công tác quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp các số liệu liên quan đến thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ trong năm 2019 giúp cho các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản và cơ quản quản lý trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có cơ sở đánh giá đúng và đầy đủ về việc tuyên truyền các nội dung về trẻ em và quyền trẻ em
Luận văn là cơ sở cho các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá về tình hình thực tế công tác tuyên truyền về trẻ em và quyền trẻ
em, từ đó đặt ra những phương hướng để công tác này hiệu quả hơn nữa trong tương lai
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn có kết
cấu 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý thông điệp về
Trang 14Nếu phân tích về mặt từ ngữ, quản lý là từ gốc Hán, được ghép từ hai
từ đơn bao gồm: “quản” và “lý” “Quản” nghĩa là đứng ra gánh, vác, đứng đầu nhận chủ lĩnh một việc nào đó Còn “lý” nghĩa là sửa sang, chỉnh trị,
lo liệu sao cho chỉnh tề, ngay ngắn.[28] Khi ghép hai từ đơn này lại, theo nghĩa Hán việt, ta có “quản lý” nghĩa là đứng ra gánh, vác để coi sóc, giữ gìn và lo liệu sao cho sự vật, đối tượng đươc quản lý duy trì một trật tự vốn
có của nó nhưng đồng thời cũng có những sự thay đổi, điều chỉnh thích hợp
để đưa đối tượng được quản lý thêm phát triển
Ngoài ra, còn khá nhiều cách tiếp cận và khái niệm về quản lý được đưa ra Chẳng hạn, trong Giáo trình Khoa học quản lý – Tập 1 của Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” Hoặc, trong Tập bài giảng môn Khoa học quản lý của Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng lại cho rằng:
“Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung”
Nhìn chung, những khái niệm trên dù có những khác biệt nhất định
do có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều hướng đến quản lý như một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý theo những kế hoạch, hoạt động nhất định để đạt được mục đích nào đó
Trang 15Những tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý đều là những tác động cố ý, có chủ đích và nhằm những mục tiêu cụ thể
Như vậy, có thể rút ra khái niệm: quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản
lý theo những mục tiêu đã định
Từ khái niệm trên, về bản chất, quản lý được hình thành từ các yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý và nguồn lực để quản lý
Về chủ thể, chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, là nhân tố đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý Chủ thể này có thể là một cá nhân hoặc tổ chức, với các đặc điểm như: là chủ thể được giao những những quyền lực nhất định, phải có những năng lực và phẩm chất nhất định
và có lợi ích xác định Trước hết, để có thể tác động và thay đổi được đối tượng quản lý, thì bản thân chủ thể quản lý phải có những quyền năng nhất định được trao bởi những chủ thể có thẩm quyền Chẳng hạn, đối với quản
lý hành chính nhà nước, thì chủ thể quản lý phải là các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Dựa trên những quyền lực được trao, chủ thể quản lý sẽ thực hiện những nhiệm vụ, hoạt động cụ thể để tác động lên đối tượng quản lý một cách phù hợp Để có thể tác động lên đối tượng quản lý nhằm duy trì trật tự vốn có cũng như đưa đối tượng quản lý phát triển theo chiều hướng tích cực, chủ thể quản lý phải sở hữu những năng lực và phẩm chất cần thiết để có thể đưa ra định hướng chính xác và thích hợp với từng đối tượng quản lý, trong từng hoàn cảnh và môi trường nhất định Ngoài ra, bên cạnh nghĩa vụ của chủ thể quản lý thì những chủ thể này cũng sẽ có được những lợi ích xác định từ công tác quản lý
Về đối tượng quản lý, đây là những con người, sự vật, tổ chức… tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý Chính những đối tượng này cũng
Trang 16có thể tham gia ở mức độ nhất định vào việc tạo lập các tác động quản lý Điều này có nghĩa là, tác động quản lý không chỉ được quyết định và thực hiện bởi chủ thể quản lý mà còn phụ thuộc vào sự tiếp nhận của đối tượng quản lý Nếu những chính sách quản lý chưa phù hợp sẽ dẫn đến ảnh hưởng xấu lên đối tượng quản lý Từ đó, chủ thể quản lý phải cân nhắc để thay đổi chính sách, mục tiêu, hành động cho phù hợp hơn Ngược lại, nếu chính sách thích hợp với đối tượng quản lý thì đối tượng quản lý sẽ cho thấy sự phát triển tích cực Như vậy, đối tượng quản lý không chỉ tiếp nhận tác động quản lý theo một chiều bị động mà cũng tác động trở lại chủ thể quản
lý để thay đổi tác động quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà quản lý có thể được chia thành các dạng khác nhau như: quản lý tự nhiên, quản lý con người, quản lý xã hội…
Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Chủ thể quản lý dựa vào mục đích và các yếu tố khác để vạch ra phương hướng cũng như thực hiện các tác động quản lý lên đối tượng quản lý sao cho kết quả là đạt được mục đích đã đề ra ban đầu
Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó có thể bị tác động bởi nhiều nhân tố khác nhau như: nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, con người
Kinh tế là lĩnh vực chứa đựng nội dung rộng lớn, phong phú và có nhiều cách tiếp cận, quan niệm khác nhau Dưới góc độ tổng quát, kinh tế được hiểu là toàn bộ hoạt động sản xuất vật chất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng của con người Sự tác động của nhân tố kinh tế đối với các hệ thống quản lý được thể hiện ở chỗ đó là sự tác động của các nhân tố trong lực lượng sản xuất tạo nên sự trao đổi trong kinh tế Những nhân tố đó bao gồm con người và tư liệu sản xuất Nhân tố con người được thể hiện thông qua kinh nghiệm, kỹ năng và trình độ của nó Nhân tố tư liệu sản xuất được
Trang 17biểu hiện thông qua tính chất và trình độ của công cụ, phương tiện và đặc biệt là vai trò của khoa học công nghệ Sự tác động của nhân tố kinh tế còn được biểu hiện qua sự tác động của các nhân tố trong quan hệ sản xuất Đó
là quan hệ giữa con người với con người đối với tư liệu sản xuất; quan hệ giữa con người với con người trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ trong lĩnh vực phân phối sản phẩm
Chính trị có thể được hiểu là các lĩnh vực hoạt động và mối quan hệ giữa con người với con người trong những các vấn đề về quyền lực, nhà nước, quan hệ giữa các quốc gia và giữa các dân tộc với nhau nhằm bảo vệ lợi ích của các tầng lớp, giai cấp, các dân tộc trong xã hội trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền Nhân tố chính trị bao gồm các nội dung: quan điểm, đường lối, chính sách của nhà cầm quyền, hệ thống các quy phạm pháp luật và các thể chế chính trị
Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của nhà cầm quyền là sự biểu hiện tập trung và phản ánh lợi ích kinh tế, địa vị thống trị về kinh tế của giai cấp cầm quyền, có vai trò quan trọng trong việc định hướng cho sự phát triển chung của xã hội, phần nào quyết định đến sự thay đổi mục tiêu của công tác quản lý và phương thức quản lý
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước, thể hiện
ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích duy trì trật tự và ổn định xã hội Hệ thống pháp luật nói chung điều chỉnh tất cả các lĩnh vực trong xã hội, tạo ra một khuôn khổ để các chủ thể quản lý dựa vào đó vạch ra những mục tiêu, phương hướng và thực hiện những hoạt động quản lý trong phạm vi pháp luật cho phép Chính vì thế,
hệ thống pháp luật có đặc tính như thế nào cũng sẽ phần nào ảnh hưởng đến công tác quản lý
Trang 18Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị, là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc, là cơ sở chính trị - xã hội quy định tính chất, nội dung của chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền
Nhân tố chính trị tác động lên các hệ thống quản lý với những mức
độ tác động khác nhau tùy theo những hệ thống quản lý cụ thể Nhân tố chính trị tác động lên quản lý theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực
Về mặt tích cực, nếu quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của nhà nước bám sát và phản ánh đúng thực tế đời sống, sự phát sinh, thay đổi không ngừng của các quan hệ xã hội cũng như kịp thời cải thiện những điểm hạn chế thì nhân tố chính trị sẽ giúp cho công tác quản lý vận hành một cách thuận lợi Ngược lại, nếu hệ thống chính trị, quy định pháp luật chỉ nằm trên mặt giấy, xa rời thực tế đời sống xã hội thì sẽ cản trở hoạt động quản lý
Nhân tố văn hóa - xã hội cũng có tác động theo hai hướng lên công tác quản lý Nhân tố văn hoá bao gồm các nội dung như: trình độ dân trí, giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt… Nhân tố xã hội gồm: cơ cấu dân cư, các tầng lớp xã hội, phương thức sinh hoạt của xã hội Tuỳ thuộc vào tính chất của các nhân tố văn hoá
- xã hội mà đây có thể là điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn đối với việc quản lý
Ngoài những yếu tố trên, công tác quản lý còn bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác, trong đó đặc biệt có yếu tố con người Mọi sự biến đổi
và phát triển của xã hội đều được tạo ra thông qua hoạt động của con người Các cơ quan, các viên chức lãnh đạo quản lý cần phải giải quyết một cách đúng đắn, có cơ sở khoa học và thực lực các mối quan hệ xã hội giữa người và người trong mọi lĩnh vực hoạt động quản lý Cùng với đó, phải
Trang 19nắm bắt và tận dụng một cách có hiệu quả tiềm lực con người để phát huy vai trò của công tác quản lý một cách tối ưu Đối với chủ thể quản lý là cá nhân, là một con người, cần phải có phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và năng lực, biết tổ chức và điều hành công việc, có khả năng đoàn kết, gương mẫu, nói đi đôi với làm, được quần chúng tín nhiệm, giúp cho công tác quản lý có hiệu quả
1.1.2 Thông điệp
Thông điệp là thông tin cần truyền đi đã được mã hoá dưới dạng ngôn ngữ nào đó như: hội hoạ, điêu khắc, lời văn, thi ca, nhạc điệu, ánh sáng, biểu tượng (hội hoạ, âm nhạc, văn học nghệ thuật) Phải tuỳ theo đối tượng nhận tin, phương tiện truyền thông mà lựa chọn ngôn ngữ phù hợp Trong sách Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản, tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng cho rằng: “Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kĩ thuật được mã hóa theo một hệ thống kí hiệu nào đó Hệ thống này được cả hai bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã [9, tr.13] Hiểu cụ thể hơn thì thông điệp chính là tập hợp những thông tin được thể hiện qua các hình ảnh, âm thanh, chữ viết,… mà các nhà quản trị truyền thông muốn truyền tải cũng như lưu lại trong tâm trí của các đối tượng mà
họ hướng đến
Qua định nghĩa của tác giả có thể hiểu: Thông điệp là một hệ thống
ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể được trao đổi từ nguồn phát đối đối tượng tiếp nhận Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác được cả hai bên phát và bên nhận cùng chấp nhận, đều hiểu được và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã
Trong khuôn khổ bài luận văn này, tác giả nhìn nhận khái niệm thông điệp một cách khái quát như sau: “Thông điệp là thông tin cần truyền
Trang 20đi đã được mã hoá dưới dạng ngôn ngữ nào đó như; lời văn, hình ảnh, ảnh tới người nhận”
Thông điệp truyền thông có thể được phân loại theo mục đích:
+ Mục đích chính trị xã hội: tuyên truyền để thay đổi hành vi của
công chúng Chẳng hạn như "Bầu cử là trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân" hay "Mỗi gia đình 2 con, gia đình hạnh phúc"
+ Mục đích thương mại: định vị được một cái tên/nơi (sản phẩm/
dịch vụ/ thương hiệu) trong tâm trí của khách hàng"
Thông điệp truyền thông được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả nội dung và hình thức dành cho một hoặc một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông
Thông điệp báo chí là nó được cấu thành từ các sự kiện và vấn đề thời sự đã và đang diễn ra Theo tác giả Đỗ Thị Thu Hằng trong Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2012) [44] chia ra thông điệp truyền thông có 4 loại như sau:
• Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới
• Thông điệp cụ thể (có thể gọi là thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông
• Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thấy bằng trực quan
• Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoá, cảm nhận tinh tế và thậm chí sự liên tưởng với những vấn đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã và đang đặt ra
Căn cứ những nghiên cứu trên, quan điểm của tác giả nhìn nhận: thông điệp báo chí là những nội dung thông tin mà báo chí muốn truyền tải đến công chúng nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất của mục tiêu truyền thông đặt ra thông qua những các sản phẩm báo chí
Trang 211.1.3 Báo chí
Khoản 1 Điều 3 Luật báo chí 2016 định nghĩa:
“Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống
xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.”
Báo chí là môt bộ phận của truyền thông đại chúng, là bộ phận chiếm
vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Báo chí theo nghĩa rộng là khái niệm chung bao gồm những loại hình khác nhau như: báo in (hay còn gọi là báo viết), báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình), thông tấn, báo ảnh và báo điện tử (hay còn gọi là báo mạng) Báo chí theo nghĩa hẹp, là bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng nhanh nhất, hiệu quả nhất
và có tính phổ biến đại chúng nhất, có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống, phản ánh mọi sự việc, hiện tượng diễn ra trong thực tế cuộc sống Đối tượng mà báo chí hướng đến rất đa dạng và phức tạp, tùy thuộc vào mục đích hoạt động của loại hình báo chí và cơ quan báo chí cụ thể Thông tin mà báo chí đưa đề cập đến mọi mặt của đời sống mang tính xác thực cao, trong đó đặc biệt chú ý đến những cái mới mang tính thời sự và phản ánh những cái mới đó dưới một góc nhìn thể hiện lập trường của tác giả Đặc trưng cơ bản của thông tin báo chí được thể hiện ở ba điểm cơ bản nhất: tính xác thực, tiêu biểu, tính thời sự và tính định hướng trực tiếp
Báo chí có chức năng, vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống
xã hội Đó là các chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng khai sáng - giải trí, chức năng tổ chức - quản lý, giám sát và phản biện xã hội, chức năng kinh tế - dịch vụ
Trang 22Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguồn của báo chí Báo chí ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và xã hội Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì nhu cầu thông tin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú Quá trình đáp ứng nhu cầu này làm cho báo chí phát triển nhanh chóng
Chức năng tư tưởng là chức năng xuyên suốt, thể hiện tính mục đích của báo chí Với chức năng này, theo quan điểm của Đảng ta, báo chí là công cụ, phương tiện quan trọng dùng để truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, giáo dục lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm cho hệ tư tưởng - lý luận này trở thành chủ đạo, chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần, tư tưởng của đông đảo nhân dân Báo chí là lực lượng xung kích, đi đầu trong công tác tư tưởng của Đảng
Chức năng giải trí được thể hiện qua việc báo chí không chỉ là kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, mà còn
là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững Văn hóa là hiện tượng xã hội đặc biệt Báo chí là kênh quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, giáo dục, giao lưu, truyền tải, tiếp biến văn hóa có hiệu quả nhất Giải trí là nhu cầu liên tục tăng cao trong bối cảnh điều kiện sống của người dân ngày càng được cải thiện, họ có thời gian rảnh rỗi ngoài thời gian làm việc
để nghỉ ngơi, thư giãn, cân bằng trạng thái tâm lý để tiếp tục làm việc Các loại hình báo chí và truyền thông đại chúng ngày nay xuất hiện thêm nhiều phương thức giải trí thú vị và hữu ích, lồng ghép giải trí và chia sẻ thông tin, kiến thức, tiếp cận được với đa dạng đối tượng người đọc, người xem
Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội của báo chí thể hiện
ở chỗ, báo chí duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi
Trang 23Giám sát có thể được hiểu là theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động được thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong điều kiện có thể, theo mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã đề ra Giám sát xã hội của báo chí là quá trình báo chí bằng mọi phương thức huy động sức lực, trí tuệ và cảm xúc của đông đảo nhân dân với tinh thần trách nhiêm chính trị cao nhất trong việc theo dõi, kiểm tra quá trình thưc hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, bảo đảm đạt được mục đích cao nhất trong điều kiện có thể Giám sát xã hội của báo chí bao gốm các bình diện khác nhau, như theo dõi, kiểm tra phát hiện những nơi làm đúng, làm tốt để biểu dương và nhân rộng; theo dõi và kiểm tra để phát hiện những nơi làm trệch, làm sai để uốn nắn và đấu tranh, bảo đảm cho đường lối, chính sách chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước được thực thi đúng trong thực tế Theo chiều ngược lại, những kết quả và hạn chế trong quá trình thực thi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng sẽ được phản ánh lại qua báo chí Từ đó, các nhà cầm quyền sẽ có cơ sở để có những thay đổi theo chiều hướng phù hợp
và thiết thực hơn
Chức năng kinh tế – dịch vụ là chức năng này xuất phát từ đòi hỏi khách quan của họat động báo chí trong nền kinh tế thị trường Báo chí hoạt động không chỉ nhằm phục vụ cho việc tiếp cận thông tin, phản ánh đời sống của người đọc, người xem, người nghe mà còn hoạt động với mục đích sinh lời Lợi ích đến từ lượng phát hành một tờ báo in, lượng người truy cập vào một bài viết trên báo điện tử hay lượng người xem báo hình… Đặc biệt, hiện nay các hình thức quảng cáo trên báo chí ngày càng trở nên phổ biến, mang lại lợi ích không nhỏ cho cả người quảng cáo và báo chí Những nguồn lợi này được sử dụng để chi trả cho sức lao động của người làm báo, cho các chi phí cần thiết để thực hiện công việc và các chi phí
Trang 24phát sinh khác Có thể nói, trong bối cảnh kinh tế thị trường, một đơn vị sản xuất các loại hình báo chí không thể không có kinh tế để tồn tại và phát triển, mang đến những tác phẩm báo chí có chất lượng tốt hơn
Từ những chức năng trên, trong đó chủ yếu là chức năng thông tin, đòi hỏi ngôn ngữ báo chí phải có những điểm khác với ngôn ngữ được sử dụng trong đời sống xã hội hoặc trong những lĩnh vực chuyên môn khác Với vai trò cung cấp thông tin, báo chí giúp cho người đọc, người nghe nắm bắt được những thông tin chính xác, mới mẻ, đa dạng, liên quan mật thiết đến những vấn đề của cuộc sống mà công chúng đang quan tâm Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải có sức hút, sự lôi cuốn khán giả từ việc lựa chọn từ ngữ đến cách tổ chức nội dung sao cho dễ hiểu, ngắn gọn nhất có thể Nhiều tờ báo có những quy định cứng về số câu, số chữ trong từng loại bài như tin ngắn, phóng sự, ký,…
Bên cạnh đó, ngôn ngữ báo chí phải chính xác và chuẩn mực Báo chí ngày nay có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, không chỉ cung cấp thông tin một chiều mà còn là nơi để công chúng chia sẻ, trao đổi thông tin theo nhiều chiều Những thông tin trên báo chí được sử dụng làm nguồn tham khảo, trích dẫn khi bàn luận về những vấn đề cụ thể Do đó, ngôn ngữ báo chí phải chính xác và có sự chuẩn mực về cách dùng từ, đặt câu, không mắc những lỗi về sử dụng từ vựng, lỗi chính tả gây khó khăn trong việc đọc hiểu văn bản hoặc thậm chí là hiểu nhầm ý của người viết
Thêm vào đó, ngôn ngữ báo chí cũng phải mang tính thời sự và hấp dẫn
để thu hút người đọc, người xem, đáp ứng được khả năng cạnh tranh trên thị trường, nâng cao vị thế và uy tín của cơ quan sản xuất các tác phẩm báo chí
Các loại hình báo chí được phân thành các loại như: báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử…
Báo in là loại báo sử dụng hình ảnh, chữ viết thông qua phương thức
in ấn trên các chất liệu giấy để phát hành đến tay bạn đọc Căn cứ vào tiêu
Trang 25chí thời gian phát hành và tính chất nội dung thông tin, có thể chia báo in thành các loại như sau: nhật báo (báo hàng ngày), báo thưa kỳ (phát hành vào những thời gian nhất định), tuần báo (xuất bản định kỳ một tuần một lần), tạp chí… Báo in là loại báo được phổ biến nhất ở mọi quốc gia với số lượng lớn và là loại hình báo chí truyền thông nếu so với báo điện tử đang ngày càng trở nên phổ biến trong thời đại hiện nay
Báo nói là một loại hình báo chí, trong đó nội dung thông tin được chuyển tải qua âm thanh, không có hình ảnh hay chữ viết Đa phần tại các quốc gia sẽ có những đài phát thanh chính thống của Nhà nước, mà ở Việt Nam là Đài tiếng nói Việt Nam
Báo hình là loại hình báo chí chuyển tải nội dung bằng hình ảnh động và âm thanh Nguyên nghĩa của nó là vô tuyến truyền hình, bắt nguồn
từ hai từ tele có nghĩa là ở xa và vision có nghĩa là thấy được, tức là thấy được ở xa Đài truyền hình Việt Nam là đài truyền hình trung ương còn đài truyền hình ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là đài truyền hình địa phương Truyền hình là một cuộc cách mạng lớn của truyền thông đại chúng trên toàn thế giới, cho thấy sức sáng tạo vô hạn của con người Với loại hình báo chí này, khán giả được thỏa mãn phần nhìn và phần nghe, cùng với đó họ được theo dõi một chương trình, tiết mục cùng lúc với nhiều người ở những địa điểm cách xa nhau
Báo điện tử được cho là bước phát triển tất yếu trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay So với báo in, báo nói và báo hình, báo điện tử có
ưu thế là có thể nghe và xem bất cứ lúc nào người đọc muốn, không phụ thuộc và phải chờ đến đến kỳ, đến giờ phát hành, phát sóng
Trang 26luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn Việt Nam là một trong những nước tham gia ký Công ước đầu tiên (vào ngày 28/02/1990), chúng ta đã nội luật hóa quy định này với quy định tại Điều 1 Luật trẻ em 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi.”
Ở mọi quốc gia, trẻ em đều là đối tượng được cả xã hội quan tâm, chăm sóc một cách đặc biệt, bởi các em vẫn còn chưa phát triển đầy đủ, toàn diện cả về thể chất và tinh thần, bởi các em là thế hệ tương lai của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại Chính vì vậy, việc tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sự phát triển một cách toàn diện về nhân cách, về lối sống, về nhận thức cho trẻ em chính là việc bảo đảm cho trẻ em có được các quyền
- Trẻ em có quyền xác lập, thể hiện ý kiến riêng của mình và quyền
đó phải được tôn trọng
- Dành những lợi ích đẹp nhất cho trẻ em
- Những điều khoản trong Luật Quốc gia hoặc quốc tế có lợi hơn đối với trẻ em so với những điều khoản trong Công ước sẽ được áp dụng
Các điều của Công ước chia quyền trẻ em làm 4 nhóm quyền:
Các quyền sống còn: quyền cơ bản nhất của con người, bao gồm quyền được sống và được chăm sóc sức khỏe và y tế ở mức cao nhất có thể
có được Các quyền này cần phải được thực hiện ngay không chậm trễ vì trẻ rất dễ bị tổn thương
Các quyền được bảo vệ: bao gồm việc bảo vệ trẻ em thoát khỏi mọi
sự phân biệt đối xử, lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và
bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp,
Trang 27khủng hoảng, bảo vệ trẻ em không có gia đình cũng như bảo vệ trẻ em trong các tình huống đặc biệt
Các quyền phát triển: bao gồm mọi hình thức giáo dục và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ em
Các quyền tham gia: bao gồm quyền của trẻ được bày tỏ quan điểm của mình trong mọi vấn đề liên quan đến bản thân, quyền được lắng nghe
và được kết giao hội họp, quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội
Tại Việt Nam, Luật trẻ em 2016 đã cụ thể hoá các nhóm quyền của trẻ em trong Công ước thành những quyền cụ thể được quy định từ Điều 12 đến Điều 36, gồm một số quyền sau:
- Quyền sống;
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch;
- Quyền được chăm sóc sức khỏe;
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng;
- Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu;
- Quyền vui chơi, giải trí;
- Quyền bí mật đời sống riêng tư…
Quyền trẻ em là những đặc quyền riêng, cụ thể của trẻ em được quy định trong pháp luật, là những quyền mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện của các em
Chính vì tầm quan trọng của việc trẻ em được hưởng các quyền riêng
có, bảo vệ quyền trẻ em là điều vô cùng cần thiết Bảo vệ quyền trẻ em có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, nhưng biện pháp bảo vệ bằng pháp luật là biện pháp có hiệu quả nhất Việc này được thực hiện thông qua một hệ thống các biện pháp, cách thức, cơ chế hoạt động được pháp luật
Trang 28quy định nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em được thực hiện, đồng thời bảo đảm có hiệu quả việc phòng ngừa, can thiệp, giải quyết tình trạng trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt
1.1.5 Thông điệp về trẻ em trên báo chí
Thông điệp trẻ em trên báo chí là việc các phương tiện truyền thông sản xuất có nội dung về trẻ em, có liên quan đến trẻ em Không chỉ nội dung, thông điệp về trẻ em trên báo chí còn bao gồm cách dùng từ ngữ, sử dụng hình ảnh của trẻ em trong các sản phẩm báo chí đó Do phạm vi của luận văn là nghiên cứu về quản lý thông điệp về trẻ em trên Báo Phú Thọ nên việc phân tích thông điệp trẻ em trên báo chí ở phần này chỉ giới hạn trên loại hình báo in và báo điện tử
Trẻ em thường xuất hiện trong các tác phẩm báo chí với tư cách là đối tượng được phản ánh Các em là nhân chứng, thậm chí là nhân vật trong những vụ việc, vấn đề liên quan đến trẻ em Các tác phẩm thường là các tin tức, các bài phản ánh về những vấn đề đang gây bức xúc với những chủ đề được chú ý như trẻ em bị xâm hại, trẻ em khuyết tật, có hoàn cảnh khó khăn…
Khi đưa tin về những vấn đề liên quan đến trẻ em, cần bám sát và tuân thủ các phương châm, nguyên tắc sau: các tổ chức truyền thông cần phải coi mọi vi phạm các quyền của trẻ em, các vấn đề có liên quan đến sự
an toàn, tính riêng tư, an ninh, giáo dục, sức khỏe, phúc lợi xã hội của trẻ
em và phê phán các hình thức bóc lột đối với trẻ em là những vấn đề quan trọng, cần được phản ánh trên báo chí nhằm đảm bảo lợi ích xã hội cơ bản của trẻ em.[34]
Bằng việc phản ánh các tin tức, sự kiện liên quan đến trẻ em, báo chí
đã thể hiện các quyền cơ bản của trẻ em và góp phần vào công tác bảo vệ quyền trẻ em Những thông điệp về trẻ em trên báo chí hướng tới các lợi
Trang 29ích cơ bản của trẻ em để tác động đến các cá nhân, tổ chức, đoàn thể xã hội đảm bảo thực hiện đúng các quyền của trẻ em
Thông điệp về trẻ em trên báo chí có thể gồm các nhóm chủ đề sau:
Nhóm các vấn đề điển hình tiên tiến: Điển hình tiên tiến bao gồm
các nhà mở, nhà tình thương, các trường học đặc biệt, các nhà hảo tâm; các UBBV&CSTE các cấp (huyện, tỉnh, thành phố), các tổ chức đoàn thể xã hội khác Đây là những điển hình tiên tiến trong công tác chăm sóc, bảo vệ
và giấo dục trẻ em Báo chí tiếp cận nhóm đối tượng này và mô tả những hoạt động của nó qua đó, nêu lên những kinh nghiệm, bài học, cách thức tốt nhất trong việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em cũng do đó trẻ em tin tưởng hơn vaò bản thân và sự quan tâm, chăm sóc của xã hội
Nhóm đề tài mô hình mới, nhân tố mới: Báo chí phát hiện và biểu
dương những mô hình độc đáo, những nhân tố mới trong công tác giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em Một thầy giáo đã về hưu mở lớp học tình thương cho trẻ em nghèo, một nhóm sinh viên tình nguyện mở các lớp dạy văn hoá cho trẻ em đường phố đều là những hình ảnh đẹp cần được đưa lên trang báo Cái hay của nhóm đề tài này là giới thiệu được tới đông đảo bạn đọc là trẻ em và những người quan tâm, từ đó cổ vũ và nhân rộng
Nhóm vấn đề trẻ em hoàn cảnh đặc biệt: Tình trạng trẻ em lang
thang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động, trẻ em bị lạm dụng tình dục, trẻ thất học, trẻ vi phạm pháp luật, trẻ bị tật nguyền, suy dinh dưỡng, trẻ bị nhiễm HIV/AIDS là những vấn đề mẫn cảm, gây nhức nhối trong xã hội Báo chí viết về đề tài này phải phản ánh được thực trạng cũng như hướng tới những giải pháp tích cực nhằm góp tiếng nói chung vận động từng cá nhân, từng gia đình, các cơ quan chức năng và nhiều tổ chức xã hội khác cùng tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề trên
Nhóm đề tài về phương pháp giáo dục trẻ em trong nhà trường, gia đình và xã hội: Báo chí cùng với nhà trường, gia đình và các tổ chức xã
Trang 30hội cung cấp kiến thức và các kỹ năng cuộc sống cho trẻ em, giúp trẻ em và mọi công dân trong xã hội có ý thức về quyền trẻ em
Đồng thời, báo chí còn làm nhiệm vụ tư vấn, cung cấp những thông tin, bài học và phương pháp giáo dục trẻ trong gia dình, nhà trường vv Ngoài ra, còn có quan niệm chia các đề tài thành 2 nhóm chính là: Nhóm các bài viết nặng về phát hiện và ca ngợi nhằm nhân rộng các yếu tố tích cực trong trẻ em và phong trào bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong cộng đồng; Nhóm phê phán cái thiếu, cái tiêu cực, những thói hư tật xấu của trẻ em và công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em
Việc chọn đề tài, phát hiện vấn đề và thể hiện thành tác phẩm báo chí dành cho trẻ em với đề tài thích hợp tuỳ thuộc vào mục tiêu tác động và đối tượng cụ thể của từng sản phẩm báo chí, từng thời điểm tuyên truyền
cụ thể; tuỳ thuộc vào tài năng và tâm huyết của người viết báo
1.2 Cơ sở chính trị, đạo đức và pháp lý của công tác quản lý thông điệp về trẻ em
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước liên quan đến vấn đề trẻ em
Trẻ em có quyền được phát triển đầy đủ và toàn diện trong môi trường gia đình và xã hội Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trẻ em cũng là con người, chính vì thế, các em có đầy đủ các quyền được sống, quyền được hưởng tự do, hạnh phúc và được cả xã hội quan tâm, bảo vệ, thực hiện các quyền đó
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn có các chủ trương, đường lối lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động Quan điểm của Đảng về trẻ em được thể hiện là luôn luôn quán triệt cả về tình cảm, đạo lý, truyền thống của dân tộc, đồng thời gắn thêm trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội đối với trẻ em Trong nhiều văn bản của Đảng đã khẳng định vị trí, vai trò của trẻ em Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là tương lai của dân tộc ta Ngoài ra, trẻ em còn là nguồn nhân lực, là người
Trang 31chủ tương lai của nước nhà Chủ trương của Đảng luôn nhấn mạnh vai trò
trách nhiệm của gia đình, nhà nước, xã hội đối với trẻ em Gia đình phải
dành cho trẻ em tình cảm yêu thương, đùm bọc Gia đình phải thực hiện đầy
đủ và đáp ứng những chính sách của Nhà nước đối với trẻ em như: tiêm chủng mở rộng, làm giấy khai sinh…; phòng ngừa cho trẻ em không rơi vào các tệ nạn xã hội, bị ngược đãi và bị bóc lột… Trách nhiệm của các cấp cơ
sở là đáp ứng nhu cầu vật chất cho trẻ em như sân chơi, trường học, trạm xá, huy động sự hỗ trợ của cộng đồng cho trẻ em và phải thực hiện đầy đủ các chính sách của nhà nước đối với trẻ em Trách nhiệm của địa phương, của quốc gia là phải coi chương trình, mục tiêu vì trẻ em là một bộ phận của chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội Trong quy hoạch phát triển phải chú ý đến cơ sở hạ tầng, vật chất cho trẻ em
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em trong sự nghiệp phát triển đất nước Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em là bộ phận của sự nghiệp cách mạng, thể hiện ở tính ưu việt hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em là một khoa học và cũng là một nghiệ thuật Đồng thời nó còn là nghiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tộc về bảo vệ và chăm sóc trẻ
em Đây là chiến lược tòan cầu của con người nên nhất thiết phải cần có sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Mục đích của việc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em là việc đáp ứng những nhu cầu sống còn và phát triển của trẻ em, đào tạo ra những công dân tốt và phát triển toàn diện Đồng thời, đào tạo ra những lớp người cách mạng
có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu nước có tinh thần dân tộc cách mạng, có trách nhiệm với gia đình với xã hội và đặc biệt phải có kỷ cương, lành mạnh theo đúng pháp luật Các biện pháp thực hiện bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ
em cũng được đề ra một cách thiết thực Để tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy và chính quyền, đặc biệt là các cấp cơ sở Đảng, Bộ Chính trị đã ban
Trang 32hành Chỉ thị số 55 ngày 28/6/2000 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, Chỉ thị số
20 ngày 05/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới
Pháp luật là công cụ để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trong xã hội Việc tuân thủ và thực thi các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em cũng chính là thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác bảo vệ trẻ em trong thực tiễn cuộc sống
Hiện nay, Việt Nam có rất nhiều văn bản pháp luật có nội dung liên quan đến bảo vệ và chăm sóc cho trẻ em trên mọi phương diện Trước hết, sự công nhận các quyền cơ bản của con người, trong đó có trẻ em, trong Hiến pháp 2013 là cơ sở pháp lý vững chắc cho các quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật chuyên ngành Cùng với việc Việt Nam đã gia nhập CRC từ rất sớm, Quốc hội đã ban hành Luật Trẻ em 2016 gồm 7 Chương và 106 Điều, trong đó quy định 25 quyền dành cho trẻ em Bên cạnh Hiến pháp 2013 và Luật Trẻ em 2016, còn có nhiều văn bản pháp luật khác cũng chứa đựng những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp về quyền trẻ em ở nhiều lĩnh vực
Quyền sống là quyền cơ bản của con người nói chung và trẻ em nói riêng Theo quy định tại Điều 19 Hiến pháp 2013 thì: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” và Điều 12 Luật Trẻ em 2016 “Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển” Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch”, điều này có nghĩa là mọi trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều
có quyền có quốc tịch và được sống, được hưởng đầy đủ các quyền như mọi người khác cùng quốc tịch Theo quy định, quốc tịch của trẻ em chủ
Trang 33yếu phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ Cụ thể, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Luật Quốc tịch năm 2008 nêu rõ những trường hợp trẻ em được xác định là
có quốc tịch Việt Nam
Về lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, Điều 14 Luật Trẻ em 2016 quy định
“Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh” và Điều 84 Luật Trẻ em 2016 cũng quy định rất rõ vai trò, trách nhiệm của Bộ Y tế trong việc bảo đảm trẻ em được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng và công bằng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Ngoài Luật trẻ em, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 xác định trẻ em dưới 6 tuổi được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh là một nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (Điều 3); và chính sách của Nhà nước cần quan tâm dành ngân sách cho việc chăm sóc sức khỏe đối với trẻ em (Điều 4) Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với vấn để bảo đảm chăm sóc sức khỏe của trẻ em
Bên cạnh gia đình, cơ sở giáo dục cũng có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em Theo Điều 21 Luật Giáo dục năm 2005: “Cơ sở giáo dục mầm non thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi” Thực tế cho thấy, nhà trường có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của trẻ em cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
em Bởi vì, phần lớn thời gian của trẻ trong độ tuổi này được chăm sóc ở các
cơ sở giáo dục Ngoài ra, Điều 16 Luật Trẻ em 2016 quy định: “Trẻ em có quyền và bình đẳng về cơ hội được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện
và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân” Nhà nước trao quyền học tập cho trẻ em và bảo đảm mọi trẻ em được bình đẳng trước các cơ hội hưởng quyền học tập dù hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau
Điều 17 Luật Trẻ em 2016 quy định về quyền vui chơi, giải trí của trẻ em như sau: “Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ
Trang 34hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi”
Đặc biệt, trẻ em cần được bảo vệ khỏi những tổn thương cả về thể xác
và tinh thần Các em dễ bị rơi vào những nguy cơ có thể gây nguy hại trực tiếp đến quyền sống của mình như bị bỏ rơi, bị xâm hại, bị lợi dụng sức lao động… mà các em không thể tự cứu mình được Do vậy các em cần đến sự giúp đỡ của người thân và cả cộng đồng để giảm bớt các hậu quả gây tổn thương và giúp trẻ em phục hồi tâm, sinh lý, tái hoà nhập vào cộng động và phát triển bình thường Luật Trẻ em 2016 có quy định về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em Theo đó, trẻ em được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần,
bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng Nghiêm cấm lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ
em, bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ Khi trẻ bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như trình trạng rối loạn, thiếu hụt, mất thăng bằng nghiêm trọng do những yếu tố bên ngoài tác động có ảnh hưởng xấu đến
sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ em
Quyền trẻ em được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam là sự hiện thực hóa và cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền trẻ em Bảo vệ quyền trẻ em chính là thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Để công tác này đạt được hiệu quả cao, cần liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế quốc gia để đáp ứng những nhu cầu của sự nghiệp bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em; đẩy mạnh phong trào toàn xã hội
Trang 35bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em và răng cường công tác truyền thông vận động xã hội để nâng cao nhận và phổ cập kiến thức khoa học về bảo vệ chăm sóc trẻ em
Bên cạnh đó, phải hoàn thiện hệ thống theo dõi, kiểm tra giám sát công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em; tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em; đẩy mạnh phong trào toàn xã hội bảo vệ chăm sóc trẻ em, và công tác này phải được thực hiện một cách khoa học, đồng
bộ Đặc biệt, càng là cán bộ, đảng viên càng phải gương mẫu trong giáo dục con em mình
Sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và hệ trọng Nó đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước,
sự nỗ lực và kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội Trong bài “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng trên báo Nhân Dân ngày 1/6/1969, Chủ tịch Hồ Chí minh đã viết:
“Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”
1.2.2 Pháp luật và đạo đức nhà báo với trẻ em
“Đạo đức nghề nghiệp là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội,
là một loại đạo đức đã được thực tiễn hóa Lương tâm nghề nghiệp là sự tự phán xét, tự ý thức về trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp Nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và lương tâm nghề nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau Đánh mất ý thức về nghĩa vụ đạo đức là đánh mất ý thức về bản thân mình, làm mất ý nghĩa làm người cũng như giá trị động lực của lao động”[47], thiết nghĩ đây là điều mà mỗi người làm báo cần quan tâm, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, làm hình thành nên nhân cách nghề nghiệp của mỗi người, hướng ngòi bút tới những giá trị nhân văn, hữu ích cho xã hội, cho con người và vì con người Khi viết và chuẩn bị cho đăng một bài báo, nhà
Trang 36báo phải chú ý đến mối quan hệ đạo đức với nhân vật trong tác phẩm của mình Nhân vật trong tác phẩm báo chí là nhân vật có thật, vì vậy nhà báo phải cân nhắc kỹ lưỡng xem nên đưa thông tin gì và không nên đưa thông tin gì để không gây hại cho nhân vật Nhà báo phải tự đặt ra các câu hỏi như: Viết như thế này có ảnh hưởng gì đến cuộc sống, lợi ích, nhân phẩm của nhân vật không? Đưa bức ảnh này, chi tiết này, tính cách này có gây hại gì cho nhân vật không? Nếu công bố mối quan hệ này có làm phức tạp cuộc sống hàng ngày của nhân vật không? Công chúng liệu có hiểu đúng
về nhân vật của mình không?
Đối với một nhà báo, nhân vật dù là người trưởng thành đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng tin và cho phép đăng nhưng với ý thức cao về nghề nghiệp, anh ta vẫn luôn phải cân nhắc mức độ thiệt, hơn có thể xảy ra với nhân vật của mình Bởi trong nhiều trường hợp, chỉ có nhà báo mới nhận biết hết được những nguy hại đó Điều này lại càng quan trọng hơn đối với những người không có đủ khả năng nhận biết hết sự phức tạp của vấn đề, đặc biệt là trẻ em Trong các bản quy ước đạo đức báo chí trên thế giới đều đưa ra các yêu cầu cụ thể cho nhà báo khi viết về trẻ em Ví dụ: Vi phạm quyền riêng tư của trẻ em là vi phạm đạo đức báo chí - điều thứ 6 trong quy định về đạo đức báo chí viết về trẻ em do UNICEF đã ghi rất rõ những nguyên tắc như này.[29]
Công ước quốc tế về Quyền trẻ em quy định: “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn” Trong khi, hầu hết các bản quy tắc đạo đức báo chí (Anh, Zimbabwe, Bồ Đào Nha, Macedonia, Montenegro ) đều quy định trẻ em/
vị thành niên là trẻ dưới 16 tuổi, thì cũng có nước quy định dưới 13 tuổi, dưới 14 tuổi, dưới 15 tuổi, dưới 18 tuổi (Sri Lanca, Việt Nam, Bulgaria, Manta), hoặc dưới 20 tuổi (Hàn Quốc)[15]; có nước còn quy định thêm là
“chưa kết hôn” (Indonesia) “Có sự khác biệt này là do việc xác định độ
Trang 37tuổi của trẻ em ở mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào những điều kiện thực tiễn
cụ thể ở từng quốc gia Đó là những điều kiện về yếu tố nhân chủng học hay những chỉ số phát triển trí tuệ, tâm sinh lý, thể lực và trí lực; những điều kiện văn hóa hay khả năng hiểu biết, nhận thức cũng như khả năng điều chỉnh hành vi dựa trên sự hiểu biết; những quan niệm và truyền thống
về đạo đức và pháp lý của dân tộc; và hơn hết là điều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia”
Đa số bản quy ước đạo đức báo chí trên thế giới (như Hungary, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Campuchia, Sri Lanka, Anh, Ba Lan, Catalonia, Cộng hòa Síp (Cyprus), Bosnia và Herzegovina, Botswana, Đức, Czech, Việt Nam…) yêu cầu nhà báo phải đặc biệt tôn trọng quyền của trẻ em/vị thành niên dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức và Công ước quốc tế về quyền trẻ em
và cho rằng việc xâm phạm quyền của trẻ em/vị thành niên là hành vi vi phạm đạo đức nghiêm trọng trong nghề báo
Quy tắc đạo đức của truyền thông Bulgaria yêu cầu nhà báo: “Không được lợi dụng sự trong sáng và lòng tin của trẻ” Các bản quy ước đạo đức báo chí cũng quy định, khi xử lý các vấn đề liên quan đến trẻ em/vị thành niên, các nhà báo phải cực kỳ cẩn thận và có trách nhiệm bảo vệ nhân quyền của trẻ em/vị thành niên bao gồm việc tránh đăng tải danh tính, hình ảnh, các chi tiết có thể xác định được danh tính, cũng như tránh làm ảnh hưởng xấu đến sự trưởng thành của họ
Đặc biệt, tránh tiết lộ và công bố danh tính của trẻ em/vị thành niên (cho dù là nạn nhân, nhân chứng hay bị buộc tội) có liên quan đến các hành
vi phạm tội, ngay cả khi pháp luật cho phép Trong bất kỳ bản tin nào về trẻ em liên quan đến tội phạm tình dục, nhà báo phải chú ý để không có nội dung nào trong bản tin nói về mối quan hệ giữa bị cáo và trẻ Đặc biệt, bản quy ước đạo đức báo chí của Anh, Síp (Cyprus) quy định, báo chí không được sử dụng thuật ngữ “loạn luân” đối với trường hợp là trẻ em, nếu vi
Trang 38phạm điều này sẽ bị cáo buộc như là một hành vi phạm tội nghiêm trọng đối với trẻ em hoặc tương đương
Nhà báo không được phỏng vấn hoặc chụp ảnh trẻ em/vị thành niên
về các vấn đề liên quan đến lợi ích riêng của em đó hoặc em khác, trừ khi
có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ Trong thời gian trẻ đang ở trường học thì không được tiếp cận hoặc chụp hình Nếu muốn tiếp cận thì phải được sự cho phép của bố mẹ hoặc đại diện pháp lý của trẻ hoặc giáo viên chủ nhiệm và người quản lý trường học đó đồng ý “Nếu chưa được sự đồng ý khi thu thập thông tin thì khi công bố (phát sóng) phải được sự chấp thuận bằng văn bản” (Hungary) Cho dù đó là lời nói của trẻ nhưng nếu không được sự cho phép của bố mẹ (hoặc người giám hộ theo pháp luật của trẻ) đồng ý thì nhà báo cũng không được công bố thông tin (Ba Lan) Khi phỏng vấn và chụp ảnh những trẻ em trong tình trạng khó khăn hoặc tàn tật, cần có sự đồng cảm và quan tâm đặc biệt Nhà báo phải chịu trách nhiệm đạo đức đối với hành vi xâm phạm này dù đã được đại diện pháp lý của trẻ (cha mẹ hoặc người bảo hộ) đồng ý Nhà báo không được phép sử dụng sự nổi tiếng, tai tiếng hay địa vị của cha mẹ hoặc người giám hộ để biện minh cho việc công bố những chi tiết về cuộc sống riêng tư của trẻ Trong trường hợp vi phạm, nhà báo phải chứng minh được việc bỏ qua lợi ích cấp thiết của trẻ là vì lợi ích của công chúng (Anh)
Về đạo đức người làm báo, Điều 15 (Quyền và nghĩa vụ của nhà báo) Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã đưa ra các tiêu chí cụ thể, Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017) hoàn chỉnh nội dung này tại khoản 3 Điều 25 (Quyền và nghĩa vụ của nhà báo) khẳng định nhà báo phải:
a Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân;
Trang 39b Bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, tuyên truyền và bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm;
c Không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật;
d Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
đ Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình và về những hành vi vi phạm pháp luật;
e Tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo” Các nội dung kể trên cũng là các vấn đề được Hội Nhà báo Việt Nam hết sức quan tâm, đã thể hiện qua việc ban hành Quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam, trong đó Điều 3 khẳng định mỗi người làm báo Việt Nam cần phải luôn “Hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật”
Xem xét trong tính hệ thống và mối liên quan chặt chẽ, sẽ thấy: nếu Điều 16 (Hội Nhà báo Việt Nam) Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999
có nội dung ngắn gọn: “Hội Nhà báo Việt Nam có quyền và nghĩa vụ tham gia xây dựng và góp phần thực hiện chính sách thông tin - báo chí; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà báo” thì khoản 2 Điều 8 (Hội Nhà báo Việt Nam), Luật Báo chí năm 2016 quy định rất cụ thể: “Hội Nhà báo Việt Nam có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên;
b Ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo;
Trang 40c Tham gia ý kiến xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển báo chí, văn bản quy phạm pháp luật về báo chí;
d Tham gia thẩm định sản phẩm báo chí khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
đ Bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và nghiệp vụ báo chí cho hội viên;
e Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước tuyên truyền, phổ biến pháp luật về báo chí;
g Tham gia giám sát việc tuân theo pháp luật về báo chí; thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật;
h Tổ chức giải báo chí để tôn vinh những tác giả, nhóm tác giả có tác phẩm báo chí chất lượng cao, có hiệu quả xã hội tích cực”
Như vậy, có thể thấy, với điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Báo chí năm
2016, thì việc Hội Nhà báo Việt Nam: “Ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo” là yêu cầu luật pháp, bắt buộc với mọi người làm báo, không phân biệt người có Thẻ Nhà báo hay không có Thẻ Nhà báo Đây là điều hết sức cần thiết, nhất là khi tình trạng thiếu đạo đức nghề nghiệp của một số người làm báo, mà nổi lên trong đó
là việc khai thác thông tin sai sự thật trên mạng xã hội, không kiểm chứng
để đăng tải, bình luận trên báo chí và gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến uy tín báo chí
Hiện nay, hình ảnh và thông tin về trẻ em xuất hiện ngày càng nhiều, đậm đặc và vô cùng phong phú trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng của Việt Nam Điều đó, một mặt chứng tỏ báo chí, xã hội ngày càng quan tâm đến trẻ em Nhiều nhà báo, cơ quan báo chí đã chung tay cùng
xã hội làm tốt việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã khơi dậy và tập hợp nhiều nguồn lực cho công tác từ thiện, giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt để vượt lên số phận, vươn lên, hòa nhập cùng cộng đồng (như các chương trình tặng học bổng, tặng áo, đồ dùng học tập…) Nhưng mặt