Tuy nhiên, công tác “ngoại giao kinh tế” trong quá trình hội nhập sâu, toàn diện của đất nước cũng bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần sớm khắc phục như tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các đ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ TRỌNG SƠN
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP NGOẠI GIAO KINH TẾ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ PHIÊN BẢN TIẾNG ANH
(Khảo sát baoquocte.vn, vietnamnews.vn, năm 2019)
Chuyên ngành: Quản lý báo chí truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS, TS PHẠM MINH SƠN
HÀ NỘI - 2020
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày…… tháng 12 năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh (Khảo sát baoquocte.vn, vietnamnews.vn, năm 2019)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Phạm Minh Sơn Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể giảng viên tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung, các giảng viên Viện Báo chí nói riêng đã hết lòng truyền thụ cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp tác giả có một nền tảng kiến thức vững vàng để hoàn thành tốt công việc học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS, TS Phạm Minh Sơn, người đã dành thời gian quý báu của mình để định hướng, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể nghiên cứu đề tài, cũng như hoàn thành đề tài của mình
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các đồng nghiệp, gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện, hỗ trợ nhiệt tình cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày … tháng 12 năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP NGOẠI GIAO KINH TẾ TRÊN BÁO ẠN ĐIỆN TỬ PHIÊN BẢN TIẾNG ANH 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2 Đặc điểm, vai trò và tiêu chí quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh 24
1.3 Cơ sở pháp lý quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔN ĐIỆP NGOẠI GIAO KINH TẾ TRÊN BÁO ẠN ĐIỆN TỬ PHIÊN BẢN TIẾNG ANH HIỆN NAY 48 2.1 Giới thiệu các báo thuộc diện khảo sát 48
2.2 Thực trạng quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh 50
2.3 Nhận xét, đánh giá 73
Chương 3: NHỮNG VẪN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP NGOẠI GIAO KINH TẾ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ PHIÊN BẢN TIẾNG ANH TRONG THỜI GIAN TỚI 78
3.1 Những vấn đề đặt ra 78
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo điện tử phiên bản tiếng Anh trong thời gian tới 85
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 100
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số bài viết có nội dung Thông điệp “Tuyên truyền đường
lối chính sách ngoại giao kinh tế góp phần tạo môi trường thuận lợi để
phát triển kinh tế” trên các báo khảo sát năm 2019 57
Bảng 2.2 Thống kê số bài viết có nội dung Thông điệp “Tuyên truyền, quảng bá hình ảnh quốc gia, tiềm năng kinh tế của đất nước và doanh nghiệp” trên các báo khảo sát năm 2019 60
Bảng 2.3 Thống kê số bài viết có nội dung Thông điệp “Thúc đẩy hợp tác, mở rộng thị trường và giảm tranh chấp thương mại” trên các báo khảo sát năm 2019 (Nguồn: tác giả thống kê) 63
Bảng 2.4 Thống kê số bài viết có nội dung Thông điệp “Vận động người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp xây dựng đất nước” trên các báo khảo sát năm 2019 65
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ phần trăm các nội dung của thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo điện tử Thế giới & Việt Nam phiên bản tiếng Anh khảo sát năm 2019 (Nguồn: tác giả thống kê) 53
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ phần trăm các nội dung của thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo điện tử Việt Nam News khảo sát năm 2019 53
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Quy trình quản lý biên tập và xuất bản tin tức 67
Sơ đồ 2.2: Quy trình biên tập thông tin 68
Sơ đồ 2.3: Quy trình kiểm duyệt thông tin 69
Sơ đồ 2.4: Quy trình xuất bản thông tin 71
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích to lớn, đưa đến những thay đổi về chất trong thế và lực của đất nước An ninh - quốc phòng và ổn định chính trị - xã hội của đất nước được giữ vững Quan hệ đối ngoại không ngừng được củng cố và mở rộng theo phương châm "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế" Trong lĩnh vực kinh tế, với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 7-8%/năm từ năm 1986 đến nay Việt Nam đã vươn lên gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình trên thế giới Những thành tựu trên là kết quả của quá trình phấn đấu không ngừng của các cấp, các ngành và toàn thể dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có những đóng góp thiết thực của công tác “ngoại giao kinh tế” về tạo môi trường quốc tế thuận lợi và khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục
vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước
Hiện nay, kinh tế thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
Xu hướng suy giảm diễn ra từ các nền kinh tế phát triển cho đến các nền kinh
tế mới nổi Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 đã để lại những
hệ lụy nghiêm trọng đe dọa sự phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia; nhiều trung tâm kinh tế lớn rơi vào tình trạng tăng trưởng trì trệ; thương mại
và đầu tư toàn cầu có xu hướng giảm sút trong khi bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng; các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, mất an ninh lương thực và an ninh năng lượng ngày càng gay gắt Những diễn biến không thuận của kinh tế thế giới đã và sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là các hoạt động kinh tế đối ngoại như thương mại, đầu tư, thu hút ODA, xuất khẩu lao động, du lịch… Trong bối cảnh này, ngành Ngoại giao đã nỗ lực đẩy mạnh triển khai công tác “ngoại giao kinh tế” nhằm chung
Trang 8sức với các cấp, các ngành tháo gỡ những khó khăn, thách thức đối với kinh
tế đất nước với một số kết quả thiết thực và cụ thể
“Ngoại giao kinh tế” đã góp phần tạo lợi ích đan xen, làm sâu sắc quan
hệ giữa nước ta với các đối tác, đặc biệt các đối tác chiến lược và có tầm chiến lược; từng bước đưa quan hệ kinh tế nói riêng và quan hệ song phương nói chung với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững Trên bình diện
đa phương, Việt Nam tham gia tích cực, chủ động với nhiều sáng kiến và đóng góp thực chất vào các nội dung hợp tác kinh tế trong khuôn khổ ASEAN, hợp tác tiểu vùng Mê Công, APEC, ASEM, Diễn đàn Kinh tế Thế giới… phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
“Ngoại giao kinh tế” đã thực hiện tốt vai trò hỗ trợ, đồng hành cùng các
Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp triển khai các hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế Ngành Ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với các ngành Công thương, Kế hoạch đầu tư và các ngành, cơ quan liên quan mở
ra nhiều thị trường xuất khẩu cho đất nước, thu hút nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài khác phục vụ phát triển đất nước Công tác vận động chính trị, ngoại giao hỗ trợ tích cực các hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là vận động các nước sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam đem lại nhiều kết quả thiết thực Nhiều Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài
đã làm tốt chức năng phối hợp, hỗ trợ các cơ quan, doanh nghiệp trong nước kịp thời xử lý các tranh chấp kinh tế quốc tế
Nhận thức được vị trí, vai trò của công tác “ngoại giao kinh tế” trong tình hình hiện nay Những năm qua, báo Thế giới & Việt Nam, báo Việt Nam News đã luôn chú trọng, triển khai công tác “ngoại giao kinh tế” khi mở ra nhiều thị trường xuất khẩu cho đất nước, thu hút nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tranh thủ các nguồn lực bên
Trang 9ngoài khác phục vụ phát triển đất nước Công tác vận động chính trị, ngoại giao hỗ trợ tích cực các hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là vận động các nước sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam đem lại nhiều kết quả thiết thực Nhiều Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài đã làm tốt chức năng phối hợp, hỗ trợ các cơ quan, doanh nghiệp trong nước kịp thời
xử lý các tranh chấp kinh tế quốc tế
Tuy nhiên, công tác “ngoại giao kinh tế” trong quá trình hội nhập sâu, toàn diện của đất nước cũng bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần sớm khắc phục như tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các định hướng lớn; tăng cường cung cấp thông tin tham mưu chiến lược về tình hình kinh tế thế giới, về đối tác, thị trường; tăng cường quảng bá hình ảnh đất nước, hỗ trợ xúc tiến kinh tế đối ngoại;…
Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài “Quản lý thông điệp ngoại giao kinh
tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh (Khảo sát baoquocte.vn,
vietnamnews.vn, năm 2019)” nhằm khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng
của công tác quản lý thông điệp“ngoại giao kinh tế” trên báo chí nước ta trong tình hình hiện nay; tìm ra những khó khăn, bất cập để đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thông điệp “ngoại giao kinh
tế” trên báo Thế giới & Việt Nam, báo Việt Nam News trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu quản lý thông tin đối ngoại nói chung, thông điệp ngoại giao kinh tế nói riêng trên báo điện đã được nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học đề cập với những cách tiếp cận khác nhau Theo tìm hiểu của tác giả thì đã có nhiều công trình khoa học về vấn đề này được công bố, sau đây tác giả xin được đưa ra một số công trình tiêu biểu:
- PGS, TS Phạm Minh Sơn, TS Nguyễn Thị Quế (2009), Truyền thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội Cuốn sách làm rõ vai trò của từng loại
Trang 10hình phương tiện truyền thông đại chúng trong việc thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại
- PGS, TS Phạm Minh Sơn (2011), Thông tin đối ngoại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội Tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của thông tin đối ngoại Việt Nam từ cách tiếp cận thông tin đối ngoại như một lĩnh vực hoạt động trong công tác đối ngoại của Đảng và nhà nước, lĩnh vực đào tạo và một dạng thông tin Tác giả cũng làm rõ các phương thức, nội dung thông tin cho các đối tượng cụ thể: Chính phủ, nhân dân các nước trên thế giới, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam, những ưu điểm và hạn chế của truyền thông đại chúng trong thực hiện thông tin đối ngoại, công tác đào tạo cán bộ thông tin đối ngoại trong thời kỳ mới và một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động thông tin đối ngoại trong giai đoạn hiện nay
- PGS, TS Lê Thanh Bình (2012), Báo chí và thông tin đối ngoại, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Cuốn sách cung cấp lý luận chung về lĩnh vực truyền thông đại chúng ở Việt Nam, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực truyền thông đại chúng, công tác đối ngoại và thông tin đối ngoại Ngoài ra, tác giả còn giúp phân biệt các thể loại báo chí; đánh giá vai trò của báo chí đối với thông tin đối ngoại; phân tích thực trạng công tác thông tin đối ngoại, từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thong tin đối ngoại trong tình hình mới
- Nguyễn Thế Kỷ (2012), Công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách làm rõ nội dung, phương thức, sự đổi mới tư duy, phong cách lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước đối với báo chí; chỉ ra những ưu điểm, thành tựu và cả những yếu kéo, khuyết điểm; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý báo chí của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới
Trang 11- PGS, TS Phạm Minh Sơn (2016), Đối ngoại công chúng – mô hình hoạt động của một số nước lớn trên thế giới và đề xuất đối với Việt Nam, Nxb
Lý luận chính trị tập trung nghiên cứu mô hình hoạt động, kinh nghiệm đối ngoại công chúng của các nước lớn, nhất là mô hình hoạt động đối ngoại công chúng của các nước này tại Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp để tăng cường hoạt động đối ngoại công chúng của Việt Nam, giúp thế giới hiểu rõ hơn về Việt Nam, về đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, để chúng ta ngày càng có nhiều bạn bè, đối tác quốc tế hơn Từ đó, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác đối ngoại của đất nước và góp sức vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- TS Lưu Trần Toàn (2019), Tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua báo chí đối ngoại, Nxb Thông tin và Truyền thông Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu lên chủ trương của Đảng ta trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền nói chung, tuyên truyền đối ngoại nói riêng, qua đó, giải thích quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hình ảnh quốc gia đến các tầng lớp nhân dân ở trong nước và nước ngoài, bạn bè quốc tế Trong đó, tuyên truyền hình ảnh quốc gia được thực hiện thông qua nhiều phương thức và phương tiện khác nhau, nhất là báo chí đối ngoại, hướng tới các đối tượng là người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc ở Việt Nam
và công chúng ở các quốc gia trên thế giới, người Việt Nam ở nước ngoài nhằm cung cấp cho họ những thông tin chính thức của Việt Nam để làm cho họ hiểu, đồng tình, ủng hộ sự nghiệp phát triển đất nước
- PGS, TS Phạm Minh Sơn có bài viết “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới” trên Tạp chí Thông tin đối ngoại số ra tháng 6 năm 2013; “Phương châm chính xác, kịp thời, sinh động, phù hợp từng đối tượng trong thông tin, tuyên truyền đối ngoại” trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số ra tháng 9 năm 2012; “Đổi mới
và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hoạt động thông tin đối ngoại đáp
Trang 12ứng yêu cầu của thời kỳ mới” trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông
Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ cũng đã đề cập tới vấn
đề thông tin đối ngoại như:
- Đinh Thị Thanh Bình (2004), Nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại của Thông tấn xã Việt Nam trong thời kỳ hiện nay Luận văn đã khảo sát toàn diện, phân tích sâu sắc về thông tin đối ngoại của Thông tấn xã Việt Nam
- Nguyễn Trung Kiên (2009), Báo chí với vấn đề tuyên truyền hội nhập kinh tế: (Khảo sát báo Thời báo kinh tế VN, báo Đầu tư, báo Công thương, báo Đối ngoại Vietnam Economic News từ tháng 1-2008 đến tháng 6-2009)
- Lê Thị Thu Hà (2014), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác thông tin đối ngoại, những yêu cầu mới về sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực này; đánh giá thực trạng lãnh đạo của Đảng về công tác thông tin đối ngoại trong thời kỳ mới, rút
ra những bài học kinh nghiệm về thành công và chưa thành công từ thực tiễn lãnh đạo; đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác thông tin đối ngoại đến năm 2020
Trang 13- Doãn Thị Thuận (2017), Quản lý báo chí điện tử ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận, bước đầu xây dựng khung lý thuyết cho đề tài, luận án khảo sát, phân tích thực trạng quản
lý báo mạng điện tử, chỉ ra kết quả, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của kết quả, hạn chế, thiếu sót, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý báo mạng điện tử, giúp báo mạng điện tử phát triển đúng hướng, phục vụ tốt nhu cầu công chúng và lợi ích quốc gia
- Lưu Trần Toàn (2019), Tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua báo chí đối ngoại trong giai đoạn hiện nay (Qua khảo sát chuyên mục của kênh VTV4, báo mạng điện tử Vietnam Plus và tạp chí in Vietnam Economic times): Cơ sở lý luận về tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua báo chí đối ngoại; Thực trạng tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua báo chí đối ngoại trong giai đoạn hiện nay; Quan điểm và giải pháp tăng cường tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua báo chí đối ngoại trong giai đoạn hiện nay
Tất cả các công trình khoa học, sách, các bài viết nêu trên đều có giá trị rất
to lớn về lý luận và thực tiễn, tạo tiền đề cho tác giả luận văn kế thừa trong quá trình triển khai thực hiện đề tài Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử
phiên bản tiếng Anh Vì vậy, đề tài “Quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh (Khảo sát baoquocte.vn,
vietnamnews.vn, năm 2019)” có nội dung nghiên cứu mới, độc lập và không
trùng với bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử, khảo sát thực trạng quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý
Trang 14thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực hiện những nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh
- Khảo sát, làm rõ thực trạng quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh của Báo Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News hiện nay, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh hiện nay
4.2 Đối tượng khảo sát
Khảo sát báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh, trong đó tập trung vào chuyên mục Business - Economics (Báo Thế giới & Việt Nam), chuyên mục Economy (Báo Việt Nam News) để thấy được những thông tin chủ yếu về công tác quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế
4.3 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khảo sát chuyên mục Business - Economics (Báo Thế giới & Việt Nam phiên bản tiếng Anh), chuyên mục Economy (Báo Việt Nam News phiên bản tiếng Anh)
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2019
Trang 155 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; Nghị quyết của Đảng uỷ Bộ Ngoại giao, Chỉ thị hướng dẫn của Bộ Ngoại giao, của Bộ Thông tin truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam… về báo chí và quản lý thông điệp
“ngoại giao kinh tế” trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh
- Luận văn vận dụng, kế thừa, phát triển các công trình khoa học của các tác giả đi trước đã nghiên cứu nội dung có liên quan đến luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân tích: Tác giả tiến hành thống kê, phân tích các tác phẩm báo chí liên quan đến lĩnh vực ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh để chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu từ đó khuyến nghị những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong công tác quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiếp cận các giáo trình, tài liệu để đúc kết ra những vấn đề cơ bản liên quan tới lý luận cũng như thực tiễn công tác quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo chí nước ta
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tác giả chuẩn bị các chủ đề, nội dung câu hỏi, thời gian, địa điểm, phương thức, đối tượng trả lời phỏng vấn (một số lãnh đạo của cơ quan quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại, cấp quản lý của báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News, một số chuyên gia liên quan đến quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh)
Trang 16Phương pháp này nhằm thu thập những đánh giá khách quan về thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát bằng bảng hỏi anket đối với lãnh đạo, cán bộ cơ quan báo mạng điện tử nhằm tìm hiểu các nội dung liên quan đến thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và thể hiện, luận văn cũng kết hợp sử dụng một số phương pháp như: Đối chiếu, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu thực tiễn Đồng thời tham khảo một số tài liệu chuyên ngành
để đối chiếu giữa sự áp dụng thực tế và lý thuyết; tìm hiểu các nội dung và kiến thức có liên quan trên Internet về thông điệp ngoại giao kinh tế trong giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề quản lý thông điệp
“ngoại giao kinh tế” trên Báo mạng điện tử nói chung và trên Báo mạng điện
tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News phiên bản tiếng Anh nói riêng trong tình hình hiện nay
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản lý thông điệp “ngoại giao kinh tế” trên báo chí nói chung và trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News nói riêng
6.2 Giá trị thực tiễn
- Luận văn cung cấp kết quả khảo sát, đánh giá, giải pháp cụ thể để các cấp lãnh đạo quản lý có chủ trương, chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thông điệp “ngoại giao kinh tế” trên báo mạng điện tử Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News trong thời gian tới
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu báo chí nói chung, báo chí đối ngoại nói riêng, nhất là đối với báo mạng điện tử Thế giới
Trang 17& Việt Nam, Việt Nam News Đồng thời, luận văn còn là tài liệu tham khảo
phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí trong lĩnh vực đối ngoại
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
3 chương nội dung Cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý thông điệp ngoại giao
kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế
trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh của báo Thế giới & Việt Nam, Việt Nam News hiện nay
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp tăng cường quản lý thông
điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh trong thời gian tới
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP NGOẠI GIAO KINH TẾ TRÊN BÁO ẠN ĐIỆN TỬ PHIÊN BẢN TIẾNG ANH 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Quản lý thông điệp
1.1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của
xã hội Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những
nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất từ cộng sản nguyên thủy đến nền văn minh hiện đại, trong đó quản lý luôn là một thuộc tính tất yếu lịch sử khách quan gắn liền với
xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó Thuộc tính đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội đó là hoạt động lao động tập thể - lao động xã hội của con người Trong quá trình lao động con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý
Như vậy, quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra
Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa
quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh) Trong văn bằng Thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA Master of Business Administration) Ngoài ra trong tiếng Anh còn có một thuật ngữ khác là
Management vừa có nghĩa quản lý, vừa có nghĩa quản trị, nhưng hiện nay
được dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị
Trang 19Trong thực tế, thuật ngữ "quản lý" và "quản trị" vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng
về cơ bản hai từ này đều có bản chất giống nhau Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ "quản lý" gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ "quản trị" được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế)
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trông coi
và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì
ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”
Theo luận điểm của C Mác thì “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” Luận điểm này của C Mác có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con người trong xã hội
Quản lý cũng có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra, là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ:
- Harol Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã
đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” (Những vấn đề cốt yếu của quản lý NXB khoa học - Kỹ thuật, 1993)
Trang 20- Harolk Kootz & Cyryl O'Donell: “Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm”
- Robert Albanese: “Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm
sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức”
- Robert Kreitner: “Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi Trong tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn”
- Mary Parker Follet: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”
- Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” (Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997)
- “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả
và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” (Khoa học quản lý, tập I, Trường ĐH KTQD,
Hà Nội 2001)
Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung
Quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách
Trang 21thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý Tác động có thể liên tục nhiều lần
- Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng
- Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả
- Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật
Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung
1.1.1.2 Khái niệm thông điệp
Trong cuốn Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2012), PGS,
TS Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), TS Đỗ Thị Thu Hằng cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó” [21, tr.13]
Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp
Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho công chúng/ nhóm đối tượng truyền thông trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông
Có thể có nhiều loại thông điệp truyền thông
Trang 22- Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch/ kế hoạch/ chương trình truyền thông hướng tới;
- Thông điệp cụ thể (có thể gọi là thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông Căn cứ thông điệp cụ thể để hoạch định các hoạt động hướng tới hiện thực hóa thông điệp hay mục tiêu cụ thể;
- Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu… loại thông điệp này dễ nhận biết, vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thấy bằng trực quan, bằng văn bản, hình ảnh, clip, files âm thanh, đồ họa…;
- Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, khả năng trừu tượng hóa, cảm nhận tinh tế và thậm chí sự liên tưởng với những quan hệ đang hiện hữu
- Thông điệp là những cụm từ, câu hoàn chỉnh, các dấu hiệu, biểu tượng hay phương tiện truyền tải ý nghĩa nội dung cụ thể từ nhóm người, tổ chức, cộng đồng này đến nhóm người, tổ chức, cộng đồng khác
- Thông điệp là bất kì suy nghĩ, ý tưởng được diễn đạt ngắn gọn rõ ràng hay kín đáo, được thiết kế soạn thảo với hình thức thích hợp để truyền tải đến đối tượng bằng những phương tiện truyền thông khác nhau
- Thông điệp là sự phối hợp và tổng hợp các yếu tố như ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc, âm thanh nhằm truyền đạt ý đồ của chủ thể đến công chúng nhận tin
Dưới góc độ truyền thông marketing, thông điệp cần đáp ứng nhiệm vụ nhà quản trị đặt ra, và được định nghĩa như sau:
Thông điệp truyền thông là biểu hiện của những yếu tố mà nhà quản trị truyền thông muốn lưu lại trong tâm trí của đối tượng nhận tin, là những yếu
tố cần thiết để ảnh hưởng, duy trì hay làm thay đổi nhận thức, cảm xúc và hành vi của đối tượng nhận tin
Trang 231.1.1.3 Khái niệm quản lý thông điệp
Theo tác giả Phạm Ngọc Anh “Quản lý thông điệp truyền thông phải đảm bảo để thông điệp phản ánh một cách chân thật khách quan, phong phú
đa chiều những sự việc, những vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp, sự vật, sự việc; Quản lý thông điệp phải đảm bảo phải thể hiện rõ quan điểm tư tưởng của Đảng trong nhìn nhận, đánh giá các sự kiện, vấn đề một cách cụ những sự kiện, vấn đề phức tạp, có những đánh giá khác nhau; Quản lý thông điệp còn phải đảm bảo phù hợp với tôn chỉ mục đích và đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng" [2, tr 26]
Trong cuốn Một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại (2016), tác giả Phan Văn Kiền, Phan Quốc Hải, Phạm Chiến Thắng, Nguyễn Đình Hậu đề cập “Quản lý thông điệp truyền thông là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh một số bộ phận công chúng nhận thức về một vấn đề cụ thể nào đó trong một sự kiện, hiện tượng" [35, tr.31]
Từ những quan niệm của một số nhà nghiên cứu đi trước, từ các khái niệm quản lý, khái niệm thông điệp mà tác giả đã tóm lược ở trên, tác giả xin đưa ra quan niệm về quản lý thông điệp như sau: “Quản lý thông điệp là quá trình tác động, gây ảnh hưởng một cách hợp quy luật của chủ thể quản lý đến việc thiết kế, xây dựng, phổ biến, truyền tải, đánh giá tác động của thông điệp đến đối tượng nhận tin nhằm gây ảnh hưởng, duy trì hay làm thay đổi nhận thức, cảm xúc và hành vi của đối tượng nhận tin”
1.1.2 Báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh
1.1.2.1 Khái niệm báo mạng điện t
Có thể thấy, mạng Internet cung cấp cho người sử dụng rất nhiều dịch
vụ tiện ích và phong phú Các dịch vụ này càng được phát triển và bổ sung không ngừng như thương mại điện tử, thư điện tử, đào tạo trực tuyến, giao lưu trực tuyến Sự ra đời và phát triển của báo mạng điện tử như một trong
Trang 24các dịch vụ tiện ích đã làm cho mạng Internet ngày càng phát triển Từ đây, mạng Internet đã tạo ra một môi trường báo chí mới với hình thức mới, nội dung mới, độc giả mới, thể loại mới Sự xuất hiện của loại hình báo chí mới này tạo ra nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề tên gọi cũng như cách xác định thế nào là báo mạng điện tử Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách gọi khác nhau về báo mạng điện tử như: Internet Newspaper (báo mạng điện tử), Electric Journal (báo điện tử), Online Newspaper (báo trực tuyến) Ở Việt Nam cũng có nhiều cách gọi khác nhau như: báo mạng điện tử, báo mạng, báo điện tử, báo Internet…
Ở nước ta hiện nay chưa có sự thống nhất về khái niệm cũng như tên gọi của loại hình báo chí này Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 đã đề cập đến loại hình báo chí này với tên gọi là báo điện tử:
“Báo chí nói trong luật này là báo chí Việt Nam bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe, nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính), bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài)
Điều 3, Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật báo chí năm 1999,
số 12/1999, QH10, ngày 12/6/1999 quy định: “Báo điện tử là loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính” Theo đó, các trang thông tin điện
tử chỉ được gọi là báo điện tử khi đã được Bộ Thông tin và Truyền Thông Việt Nam cấp “Giấy phép hoạt động báo điện tử”
Tại Chương 1, Điều 1, Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 cũng đưa ra giải thích về thuật ngữ “Báo điện tử là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính (Internet)”
Trang 25Dựa trên các tài liệu thu thập và phân tích nhiều quan điểm và tiêu chí, Báo mạng điện tử được hiểu là một loại hình báo chí được xây dựng dưới
hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet
Trên cơ sở đó, có thể nói báo điện tử là thuật ngữ dùng để chỉ loại hình báo chí đăng tải thông tin trên mạng Internet và trong luận văn này thống nhất
sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử
Tại Việt Nam, tờ báo mạng điện tử đầu tiên ra đời vào ngày 31/12/1997 của Tạp chí Quê hương (Bộ Ngoại giao) Đối tượng phục vụ chủ yếu của tạp chí là cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cũng như thân nhân của họ ở trong nước và những độc giả quan tâm, tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài Sự kiện có ý nghĩa mở đường này đã đánh dấu quan trọng trọng lịch sử báo chí Việt Nam Từ đây, hệ thống thông tin truyền thông đại chúng ở Việt Nam đã có thêm một loại hình báo chí mới
Trên thế giới, tờ báo mạng điện tử đầu tiên được biết đến trên thế giới
là tờ Chicago Trubune (ra đời năm 1992) Năm 1994, phiên bản điện tử đầu tiên của tạp chí Hotwired chạy những banner quảng cáo đầu tiên, tiếp đến là hàng loạt cơ quan báo chí nổi tiếng ở Mỹ lần lượt cho ra đời phiên bản điện tử như Los Angeles Times, USA Today, New York Newsday… Kể từ đó đến nay, các tờ báo mạng nổi tiếng và các trang thông tin của các cơ quan thông tấn lớn đều cung cấp tin tức chủ yếu bằng tiếng Anh (ngoài ra còn có một số ngôn ngữ khác)
1.1.2.2 Khái niệm báo mạng điện t phi n bản tiếng Anh
Theo tác giả luận văn, báo mạng điện tử tiếng Anh trên thế giới, dựa theo nội dung, quy mô và tầm ảnh hưởng, có thể chia thành hai cấp độ sau:
- Cấp độ quốc tế: Báo mạng điện tử tiếng Anh ở cấp độ quốc tế cung cấp nội dung thông tin về tình hình tại nhiều nước, khu vực khác nhau trên thế giới Công chúng họ hướng tới là công chúng toàn cầu Mặc dù vậy, các trang báo này vẫn dành phần nhiều nội dung để đăng về tình hình chính trị, kinh tế,
Trang 26xã hội tại các nước phương Tây phát triển như Mỹ, châu Âu Ví dụ: BBC Online, CNN Interactive, The Guardian…
- Cấp độ địa phương: Báo mạng điện tử tiếng Anh ở cấp độ địa phương cung cấp nội dung thông tin chủ yếu về tình hình tại một quốc gia, một khu vực địa lý nhỏ (địa phương), phục vụ nhu cầu thông tin của nhóm công chúng người nước ngoài sống tại địa phương hoặc nhóm công chúng ở những nơi khác trên thế giới muốn tìm hiểu thông tin về địa phương đó Ví dụ: China Daily, The Bangkok Post, The Korea Times…
Tại Việt Nam, báo mạng điện tử tiếng Anh chủ yếu thuộc về nhóm cấp
độ địa phương Có thể khái quát khái niệm như sau: Báo mạng điện t tiếng
Anh tại Việt Nam là một nhóm báo chí thuộc loại hình báo mạng điện t ; được thể hiện bằng ngôn ngữ tiếng Anh; có thể xuất hiện ở dạng báo mạng điện t độc lập hoặc chuy n trang tiếng Anh của báo mạng điện t tiếng Việt; được trình bày dưới các dạng thức truy cập được tr n các thiết bị kết nối Internet…
Đối tượng tuyên truyền hình ảnh quốc gia báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh hướng tới là người nước ngoài ở trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam;
và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó trọng tâm là tuyên truyền, chuyển tải thông điệp tới thế giới về hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, an toàn, thân thiện; có nền kinh tế phát triển năng động, hấp dẫn đầu tư và du lịch; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trên thế giới
1.1.3 Khái niệm Ngoại giao kinh tế
“Ngoại giao kinh tế” là một khái niệm được sử dụng với tần suất tương đối cao trong lĩnh vực quan hệ quốc tế ngày nay Ngoại giao kinh tế ra đời cùng với các mối quan hệ kinh tế trong quan hệ quốc tế Các chính sách đối ngoại và đối nội của mỗi quốc gia đều hướng tới mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế đất nước Cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao văn hóa, ngoại
Trang 27giao kinh tế đã và đang trở thành những nhân tố mang tính quyết định và chủ đạo trong “ngoại giao tổng thể” của một quốc gia
Các học giả trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm này:
- Học giả người Pháp Guy Carron de la Carriere quan niệm: “Ngoại giao kinh tế là đạt mục đích kinh tế bằng phương pháp ngoại giao, không phụ thuộc vào việc ngoại giao có sử dụng những đòn bẩy kinh tế để đạt được mục tiêu hay không”
- Học giả người Croatia Dubravko Zirovcic quan niệm: “Ngoại giao kinh tế là một phương tiện của chính sách đối ngoại kinh tế và những chủ thể tham gia thực hiện bao gồm: nhà nước (các nhà ngoại giao, cán bộ, nhân viên chính phủ ) và phi nhà nước (các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, công đoàn ) Phạm vi mà các chủ thể hoạt động rất rộng, bao gồm: nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế quốc tế (thương mại quốc tế, ngoại thương, tài chính ), các tổ chức quốc tế (hệ thống Liên Hợp quốc, các chính phủ và tổ chức phi chính phủ )
- Theo GS Bayne và Woolcock: “Ngoại giao kinh tế là cách mà các quốc gia tiến hành các mối quan hệ kinh tế của họ (vào đầu thế kỷ XXI), cách các quyết định được đưa ra ở cấp quốc gia và (sau đó) thương lượng trên trường quốc tế (với các chủ thể quốc tế khác), và cách thức hai quá trình này tương tác”
- Trong cuốn từ điển về ngoại giao của G R Berridge và Aliab James định nghĩa: “Ngoại giao kinh tế là hoạt động ngoại giao liên quan đến các vấn
đề kinh tế bao gồm công tác của các đoàn ngoại giao cho đến các hội nghị quốc tế (do các tổ chức quốc tế đảm nhận, chẳng hạn như WTO) Đồng thời, hoạt động ngoại giao kinh tế cũng bao hàm việc theo dõi và báo cáo cho chính phủ về tình hình, chính sách kinh tế của nước nhận đại diện nhằm có những biện pháp thích hợp tạo nên sự ảnh hưởng đến kinh tế nước đó Bên cạnh đó,
Trang 28ngoại giao kinh tế cũng liên quan tới việc sử dụng các nguồn tài nguyên kinh
tế, các biện pháp như trừng phạt kinh tế nhằm theo đuổi những mục tiêu cụ thể của chính sách đối ngoại”
Tại Việt Nam, Nghị định của Chính phủ số 08/2003/NĐ-CP ngày 10/02/2003 về hoạt động của Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế định nghĩa ngoại giao kinh tế là hoạt động “nhằm thúc đẩy thương mại, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học công nghệ, du lịch, lao động, dịch vụ, thu ngoại tệ, bảo vệ lợi của nhà nước, quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại.” Chủ thể chính trong hoạt động ngoại giao
là các quốc gia, nhưng trong quan hệ kinh tế quốc tế có hàng loạt các chủ thể
ở cấp độ khác nhau nên điểm đặc biệt của ngoại giao kinh tế là sự đa dạng về mặt chủ thể từ các tổ chức kinh tế, tiền tệ, tài chính quốc tế, các nền kinh tế quốc gia, các công ty xuyên quốc gia, hay tập đoàn quốc tế
Những quan niệm nêu trên về “ngoại giao kinh tế” khiến người ta khó
có thể phân biệt sự khác nhau giữa “ngoại giao kinh tế” và ý nghĩa ngoại giao thông thường Trong quan hệ quốc tế hiện nay, hành vi chính trị và hành vi kinh tế của một quốc gia có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời, có thể tìm thấy mục đích kinh tế đằng sau hành vi chính trị, cũng có thể tìm thấy mục đích chính trị đằng sau hành vi kinh tế Nếu như dùng “ngoại giao kinh tế” để định nghĩa những hành vi chính trị và hành vi kinh tế như trên thì bất
cứ hoạt động ngoại giao nào cũng có thể quy nạp thành “ngoại giao kinh tế”,
từ đó khiến cho “ngoại giao kinh tế” mất đi ý nghĩa thực tế
Nhìn từ lịch sử và tình hình hiện tại của quan hệ quốc tế, rất ít quốc gia, đặc biệt là quốc gia phát triển đề xuất rõ ràng về việc áp dụng thi hành “ngoại giao kinh tế” Do đó, có thể thấy “ngoại giao kinh tế” chỉ một hình thức ngoại giao của một quốc gia, trong một thời kỳ lịch sử đặc thù (thường là trong tình hình khó khăn), dưới tiền đề đảm bảo lợi ích an ninh cơ bản của quốc gia,
Trang 29nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề phát triển kinh tế, coi việc theo đuổi lợi ích kinh tế là phương hướng
Ở giai đoạn hiện nay, dù không công khai về mặt chính sách, quan điểm, nhưng có thể khẳng định hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ đều thực thi chính sách ngoại giao kinh tế với hai hình thức biểu hiện là:
- Các hoạt động ngoại giao được tiến hành để thực hiện mục ti u kinh
tế, tức coi ngoại giao là công cụ để theo đuổi lợi ích về mặt kinh tế;
- Các hoạt động kinh tế được quốc gia tiến hành để thực hiện các mục
ti u chính trị hay quân sự, tức coi kinh tế là công cụ để theo đuổi lợi ích về mặt chính trị, quân sự…
Từ những quan niệm trên có thể thấy, ngoại giao kinh tế ngoài đặc điểm chung với ngoại giao thông thường (cơ sở ngoại giao, mục đích ngoại
giao, chủ thể ngoại giao…) đặc điểm ri ng của nó nằm ở tính kinh tế Ngoại
giao mang nhân tố kinh tế đều có thể coi là ngoại giao kinh tế Hay bản chất của ngoại giao kinh tế là ngoại giao nhằm mục đích kinh tế hoặc ngoại giao
sử dụng công cụ lực lượng kinh tế Hoạt động ngoại giao nếu thiếu đi bản chất trên thì không được coi là ngoại giao kinh tế
Về các hoạt động cụ thể, ngoại giao kinh tế có thể bao gồm những công việc như tuyên truyền và thông tin về nước mình, cung cấp thông tin kinh tế,
hỗ trợ các doanh nghiệp tìm nguồn vốn, bạn hàng, đối tác, thị trường; làm cầu nối cho các cuộc gặp gỡ và đàm phán quốc tế…
1.1.4 Khái niệm thông điệp ngoại giao kinh tế và quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế
Thông điệp ngoại giao kinh tế có thể hiểu là thông điệp của chủ thể ngoại giao (quốc gia, tổ chức kinh tế, tiền tệ, tài chính quốc tế, các công ty xuyên quốc gia, tập đoàn quốc tế…) muốn truyền tải tới đối tượng ngoại giao (quốc gia, tổ chức kinh tế, tiền tệ, tài chính quốc tế, các công ty xuyên quốc gia, tập đoàn quốc tế…) thông qua kênh ngoại giao, truyền thông nhằm mục
Trang 30đích kinh tế Nội dung của các thông điệp ngoại giao kinh tế gồm tuyên truyền thông tin về chủ thể ngoại giao, cung cấp thông tin kinh tế, hỗ trợ các doanh nghiệp tìm nguồn vốn, bạn hàng, đối tác, thị trường; làm cầu nối cho các cuộc gặp gỡ và đàm phán quốc tế
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung vào chủ thể chính của thông điệp ngoại giao kinh tế là Việt Nam Vì vậy, có thể hiểu cụ
thể hơn: “Thông điệp ngoại giao kinh tế của Việt Nam là hoạt động truyền tải
thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch s , văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam tr n lĩnh vực kinh tế đến các đối tượng là các quốc gia, tổ chức kinh tế, tiền tệ quốc tế, các công ty xuy n quốc gia, tập đoàn quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài nhằm tác động, tạo ảnh hưởng và định hướng các đối tượng này phục vụ mục đích phát triển kinh tế đất nước”
Quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế là sự tác động của chủ thể truyền thông đến việc thiết kế, xây dựng, phổ biến, truyền tải, đánh giá tác động của thông điệp ngoại giao kinh tế đến đối tượng (là quốc gia, tổ chức kinh tế, tiền
tệ, tài chính quốc tế, các công ty xuyên quốc gia, tập đoàn quốc tế…) nhằm đạt được mục tiêu đặt ra
1.2 Đặc điểm, vai trò và tiêu chí quản lý thông điệp ngoại giao kinh
tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh
1.2.1 Đặc điểm
1.2.1.1 Đặc điểm về chủ thể quản lý
Căn cứ vào vị trí, chức năng của từng cơ quan báo mạng điện tử mà các chủ thể quản lý có ở các cấp khác nhau Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin truyền thông, Cơ quan chủ quản và Ban biên tập cơ quan báo là chủ thể quản lý các cơ quan báo mạng ở Trung ương Sở Thông tin truyền thông, UBND cấp tỉnh và lãnh đạo cơ quan báo chí là chủ thể quản lý của các trang báo mạng điện tử địa phương, cụ thể:
Trang 31- Điều 7, Luật Báo chí năm 2016 quy định cơ quan quản lý nhà nước về báo chí bao gồm:
“1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí
2 Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí
3 Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí
4 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương”
Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và Internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
UBND và Sở Thông tin - truyền thông tỉnh: Ở cấp tỉnh, trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với báo chí thuộc về UBND các cấp tỉnh theo sự phân cấp của Chính phủ Đây là các cơ quan Nhà nước có sự can thiệp một cách trực tiếp, sâu sắc nhất đối với việc quản lý Nhà nước đối với báo chí thông qua các Sở Thông tin - Truyền thông và các bộ phận trực thuộc Sở TTTT là
cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh) có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về: báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử, phát thanh và truyền hình; cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm (sau đây gọi tắt là thông tin và truyền thông); các dịch vụ công
Trang 32thuộc phạm vi quản lý của Sở; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của UBND cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật
Sở Thông tin - Truyền thông được hình thành trên cơ sở Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BTTTT-BNV ngày 30-6-2008 của Bộ Thông tin - Truyền thông và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Thông tin - Truyền thông trực thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin trực thuộc UBND cấp huyện thay thế cho Thông
tư liên tịch số 02/2004/TTLT-BBCVT-BNV ngày 27-5-2004 của Bộ Bưu chính, Viễn thông và Bộ Nội vụ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Sở Bưu chính, Viễn thông thuộc UBND cấp tỉnh
- Lãnh đạo cơ quan báo chí (Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập, các Ban chức năng thuộc cơ quan báo chí…)
Tại tất cả các cơ quan báo chí, lãnh đạo cao nhất làm việc là Ban Biên tập Được xem là bộ não của tòa soạn, có chức năng lãnh đạo, quản lý tòa soạn, xây dựng kế hoạch phương hướng, nhiệm vụ và chiến lược phát triển của tòa soạn trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Ban Biên tập được thành lập do cơ quan chủ quản và thực hiện nhiệm vụ bàn bạc và giải quyết các vấn
đề liên quan đến xuất bản các tác phẩm báo chí của tòa soạn Tổng biên tập là người đứng đầu cơ quan báo chí, chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước
về công tác tuyên truyền đối nội và đối ngoại nói chung và công tác tổ chức cán bộ, vận hành tòa soạn xuất bản thường xuyên các ấn phẩm đảm bảo chất lượng trong đó có quản lý thông tin trên báo chí nói riêng
Bên cạnh đó, Tổng biên tập chịu trách nhiệm phân công các thành viên trong tòa soạn thực hiện quản lý các phòng, ban chuyên môn; công tác tổ chức, và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, biên tập và kiểm duyệt tin bài hằng ngày, xây dựng các đề án phương hướng đổi mới, phát triển, nâng cao chất lượng các ấn phẩm, chăm lo công tác bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, chính trị, cho đội ngũ cán bộ, phóng viên Các
Trang 33thành viên Ban Biên tập chịu trách nhiệm trước Tổng biên tập về toàn bộ phần việc được phân công và tham gia chỉ đạo hoạt động chuyên môn nghiệp
vụ của phóng viên và công tác biên tập, xuất bản của cơ quan báo chí
1.2.1.2 Khách thể quản lý
Khách thể quản lý có nhiệm vụ quản lý các kế hoạch sản xuất tác phẩm báo chí về ngoại giao kinh tế, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, cách phương thức thể hiện,… của cơ quan báo mạng điện tử Để quản lý các đối tượng này, chủ thể quản lý thông qua con người mà cụ thể ở đây là quản lý đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, cộng tác viên của các cơ quan báo mạng điện tử và các đối tượng tham gia vào hoạt động sản xuất tác phẩm báo mạng điện tử về thông điệp ngoại giao kinh tế
Khách thể quản lý được đề cập đến trong luận văn là tổ chức, cá nhân liên quan đến thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh, công chúng quan tâm đến các tác phẩm về ngoại giao kinh tế Trong đó, công chúng là một bộ phận quan trọng, công chúng có thể tạo nên
dư luận xã hội và biến thông tin thành hành động
Nhằm khai thác và quản lý tốt các tác phẩm báo chí về ngoại giao kinh
tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh, các hoạt động của chủ thể quản
lý hoặc khách thể quản lý bao gồm những yêu cầu cơ bản về nhận thức chính trị, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; khả năng đáp ứng yêu cầu và khả năng tiếp nhận, phân tích thông tin chuyên sâu về công tác ngoại giao kinh tế của Đảng và Nhà nước ta
1.2.1.3 Đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy đối tượng quản lý thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh bao gồm:
- Tổ chức: Tổ chức chính là đối tượng căn bản của quản lý Tổ chức ở phạm vi luận văn đề cập đến chính là các cơ quan báo chí, trong đó chủ thể
Trang 34quản lý là những người làm việc trong tổ chức đó Các cơ quan báo chí tiếp nhận sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý là lãnh đạo cơ quan chủ quản,
cơ quan báo chí về phương hướng, đường hướng, mục tiêu hoạt động…
- Con người: Trực tiếp là cán bộ, phóng viên, biên tập viên… là những người trực tiếp sản xuất ra thông điệp về ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh Những người này chịu sự tiếp nhận trực tiếp từ lãnh đạo cơ quan báo chí (chủ thể quản lý) về kế hoạch làm việc, thái độ làm việc… Để đạt được mục tiêu, lãnh đạo cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí phải biết cách động viên và chỉ đạo cán bộ, nhân viên Hay nói cách khác lãnh đạo cơ quan báo chí phải biết cách làm việc với cán bộ, nhân viên, thông qua
nỗ lực của họ để đạt mục tiêu Các lý thuyết quản lý đều dành nhiều công sức
để giải thích các động cơ bên trong đã thúc đẩy con người làm việc và từ đó
có những biện pháp áp dụng nhằm huy động tối đa năng lực của con người vào sự nghiệp chung
1.2.1.4 Đặc điểm về nội dung quản lý
Quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả nhận thấy, nội dung quản lý thông tin về thông điệp ngoại giao kinh tế trên báo mạng điện tử bao gồm:
- Góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế
Việc có được một môi trường quốc tế thuận lợi là một trong những yếu
tố quan trọng hàng đầu của ngoại giao nói chung và ngoại giao kinh tế nói riêng Để có được một môi trường như vậy cho công cuộc phát triển kinh tế chúng ta phải triển khai nhiều biện pháp, thực hiện nhiều nhiệm vụ đồng bộ tương hỗ lẫn nhau Trong các biện pháp đó, dĩ nhiên không thể không nói đến vai trò của truyền thông đại chúng và của thông tin tuyên truyền đối ngoại Ngày nay, để phát triển một cách bền vững, các quốc gia cần phải tạo ra cho mình một môi trường thuận lợi, cả bên trong và bên ngoài Thuận lợi bên trong là có một xã hội ổn định, một thể chế chính trị vững vàng, một nền kinh
tế mạnh và năng động với nhiều tiềm năng phát triển… Thuận lợi bên ngoài
Trang 35là có nhiều mối quan hệ cả về chính trị và kinh tế, cả đa phương lẫn song phương để tạo ra nhiều thị trường khác nhau và mối quan hệ làm ăn khác nhau trên nguyên tắc bình đẳng, đôi bên cùng có lợi
Ảnh hưởng quốc tế tùy thuộc vào sức mạnh mọi mặt của mỗi quốc gia,
cả sức mạnh kinh tế lẫn quân sự, đồng thời tùy thuộc vào sức mạnh chính trị, thậm chí cả ảnh hưởng văn hóa Trong hoàn cảnh hiện nay, sức mạnh kinh tế
có ý nghĩa nổi trội đối với yêu cầu phát huy vai trò quốc tế… Do vậy, vấn đề đặt ra là làm sao phát huy được ảnh hưởng nếu không có đủ những yếu tố tạo nên sức nặng trên trường quốc tế Đương nhiên, điều cốt lõi vẫn là vươn lên
để xây dựng thực lực Mặt khác nếu như có chính sách đối ngoại khôn khéo nắm bắt trúng xu thế tình hình, tập hợp lực lượng phù hợp thì vẫn nâng cao được vị trí và ảnh hưởng quốc tế, cho dù thực lực chưa đủ mạnh
Để thực hiện được chiến lược này, truyền thông đại chúng thực sự là một phương tiện hữu hiệu, một công cụ giữ vai trò quan trọng, nếu không nói
là quan trọng nhất Thông qua tuyên truyền và các biện pháp truyền thông mà bạn bè quốc tế hiểu được Việt Nam hơn, biết đến Việt Nam là một đất nước xinh đẹp, giàu tiềm năng kinh tế và có nền văn hóa đa dạng và phong phú, từ
đó tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị Truyền thông cũng làm cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thêm hiểu biết về tình hình thực tế của đất nước, từ đó có lập trường vững vàng để phân biệt được đâu là hình ảnh thực của đất nước, con người Việt Nam, đâu là những thông tin sai lệch, mang tính chống đối và bóp méo sự thật
Những hình ảnh, thông điệp đẹp về đất nước, con người và tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam khi đến được với đối tượng tiếp nhận của truyền thông sẽ tạo ra được những ấn tượng tốt với bạn bè quốc tế, từ đó sẽ tác động đến lĩnh vực kinh tế Việt Nam sẽ có thêm thị trường, có thêm bạn hàng, có thêm nguồn vốn đầu tư thông qua thu hút vốn ODA, FDI… bởi không thể có quan hệ làm ăn kinh tế sâu sắc và bền vững khi chưa hiểu nhau,
Trang 36chưa có thiện cảm với nhau và là lợi ích kinh tế có thể bị đe dọa bởi bất ổn chính trị, thị trường và môi trường kinh doanh
- Quảng bá hình ảnh, tiềm năng kinh tế của đất nước và doanh nghiệp
Nghị định số 08/2003/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động của cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài quy định một trong những hoạt động phục
vụ kinh tế của cơ quan đại diện là: Thực hiện tuyên truyền, quảng bá tại nước tiếp nhận và các tổ chức quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội, đất nước, danh lam thắng cảnh, cơ hội và môi trường đầu tư - kinh doanh ở Việt Nam thông qua việc giới thiệu về đường lối, chính sách, tiềm năng, cơ hội hợp tác, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, khả năng nhu cầu hợp tác của cán bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế - xã hội
Hình ảnh và tiềm năng của một đất nước, của cộng đồng doanh nghiệp với những lợi thế so sánh của nước đó sẽ ít hoặc thậm chí không được biết đến nếu không có sự hỗ trợ, sự truyền bá thông qua công cụ của truyền thông đại chúng Và như vậy, tiềm năng đó cũng như các khả năng giao thương, trao đổi và mở mang thị trường sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Trong những năm gần đây, Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp đã gia tăng các hoạt động quảng bá hình ảnh và tiềm năng đất nước và doanh nghiệp thông qua các hãng truyền thông lớn của thế giới như BBC, CNN, New York Times… Trong khi đó, hàng loạt các hoạt động quảng bá hình ảnh, tiềm năng của các danh nghiệp cũng được đồng bộ triền khai ở tất cả các cấp
độ thông qua việc phát hành rộng rãi các ấn phẩm giới thiệu kinh tế và kinh tế đối ngoại của các cơ quan chức năng trong nước, sử dụng mạng lưới các phương tiện truyền thông ở nước sở tại, ra bản tin kinh tế định kỳ của cơ quan đại diện, các website của cơ quan đại diện, tổ chức các cuộc tiếp xúc, triển lãm, hội chợ, hội thảo… Điều đó cho thấy, vai trò của truyền thông trong việc quảng bá hình ảnh và tiềm năng đất nước và doanh nghiệp luôn được coi
Trang 37trọng và luôn được giới doanh nghiệp chọn là công cụ ưu tiên số một trong các chiến lược quảng bá
- Góp phần thúc đẩy hợp tác, mở rộng thị trường và giảm tranh chấp thương mại
Quá trình toàn cầu hóa sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế ngày càng làm cho các mối liên kết và hợp tác kinh tế, đầu tư thương mại… thêm chặt chẽ và
là một đặc điểm của nền kinh tế thị trường hiện đại Để gia tăng hợp tác và
mở mang thị trường phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của quốc gia, với sự tham gia của nhiều lĩnh vực và sử dụng nhiều biện pháp, công cụ… nhưng trong số đó, truyền thông có thể nói là vẫn là công cụ có vai trò quan trọng bậc nhất Báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh chính là một phương tiện chủ lực của truyền thông, luôn được giới doanh nghiệp và lực lượng làm ngoại giao kinh tế sử dụng để xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường
Báo mạng điện tử có vai trò to lớn trong việc cung cấp các thông tin có giá trị, nhanh và chính xác về kinh tế như: thông tin thị trường, hàng hóa, thông tin thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường lao động, vật tư, thiết bị, đặc biệt là thị trường công nghệ
Báo mạng điện tử không chỉ dừng lại trong việc cung cấp thông tin thuần túy mà có có thể hướng dẫn thị trường, hướng dẫn việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, giới thiệu những mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất và kinh doanh, kinh nghiệm kinh doanh của thế giới
Trong nền kinh tế hiện đại, người tiêu dùng và nhà đầu tư cần thông tin
để lựa chọn sản phẩm Sự sẵn có thông tin là nhân tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả của các thị trường kinh tế Ở hầu hết các nước, người tiêu dùng và người dân nhận thông tin mà họ cần thông qua truyền thông, gồm chủ yếu là báo chí và truyền hình Truyền thông có vai trò trung gian trong việc thu thập
và truyền tải thông tin cho người tiêu dùng và nhà đầu tư
Trang 38Việc có đầy đủ thông tin từ truyền thông đại chúng và sự hỗ trợ của những người làm ngoại giao kinh tế ở các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp, thậm chí ở cấp chính phủ đưa ra những quyết định hợp tác và đầu tư sáng suốt, bền vững Chính các quyết định có thông tin đầy đủ đó sẽ làm giảm đi số lượng các tranh chấp hoặc xung đột trong thương mại không chỉ giữa các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế với nhau mà còn giữa các quốc gia với nhau Trước thực tế đó, báo mạng điện tử là một công cụ để cung cấp thông tin mọi mặt để góp phần giảm thiểu tranh chấp, giảm thiểu thiệt hại do thiếu thông tin trong các vụ tranh chấp thương mại
- Góp phần vận động người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp xây dựng đất nước
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay không ngừng phát triển cả về lượng và chất, với khoảng 4,5 triệu người tại hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có hơn 500.000 người có trình độ đại học trở lên, nhiều người là kỹ sư, chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, kinh tế, tài chính và một số đã tham gia vào hệ thống chính trị các nước
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta và các nước…, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho đồng bào về thăm quê hương đất nước, đầu tư làm ăn và hợp tác mọi mặt…
Để thực hiện tốt và hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài, công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin về đời sống mọi mặt hiện nay ở Việt Nam cho bà con, đồng thời giải thích cụ thể chủ trương, chính sách đổi mới của đất nước cho bà con là cực kỳ quan trọng Đóng góp và vai trò của truyền thông trong lĩnh vực này là cực kỳ thiết yếu,
Trang 39có thể nói là phương tiện hữu hiệu nhất để bà con thêm hiểu vè đất nước, từ
đó tăng cường hợp tác, đóng góp cho quê hương đất nước
Có thể nói, những bài báo, những video clips, những thông tin trên các trang báo mạng điện tử về tình hình thực tế hiện nay ở trong nước đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ là những bằng chứng thuyết phục nhất đối với người Việt Nam ở nước ngoài Các hoạt động thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng nhân các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước tới các nước có bà con Việt kiều sinh sống làm cho bà con ngày càng nhận thức rõ hơn về đất nước Việt Nam hiện nay Từ đó, làm thay đổi tư duy, cách nghĩ của một số thành phần bà con ta chưa hiểu rõ đất nước, còn lưỡng lự hoặc còn do dự khi nghĩ về đất nước, nghĩ về việc đầu tư, làm ăn ở Việt Nam
Hiện có gần 3.000 doanh nghiệp kiều bào từ Mỹ, Canada, Úc, Nga, Pháp… đang hoạt động tại 50/63 tỉnh, thành phố trên cả nước với số vốn góp
và vốn đăng ký 4 tỷ USD tập trung vào các lĩnh vực du lịch, thương mại, bất động sản, sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến, xuất khẩu thủy sản, công nghệ phần mềm… Kiều hối gửi về nước luôn duy trì mức tăng khoảng 10-15% mỗi năm với tổng kiều hối trong 10 năm qua đạt gần 112 tỷ USD, đưa Việt Nam
là một trong 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới, đóng góp quan trọng vào ổn định cán cân thanh toán và phát triển kinh tế của đất nước… Theo công bố từ Ngân hàng thế giới (WB) năm 2019, lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 16,7 tỷ USD Điều đó chứng tỏ bà con ngày càng quan tâm hơn đến đất nước, ủng hộ và thực sự muốn làm ăn ở quê hương Ngoài ra, ngày càng nhiều các trí thức, nhà khoa học Việt kiều trở về phục vụ đất nước với kiến thức và trí tuệ được đào tạo ở các nền giáo dục tiên tiến Đó là những nguồn lực vô cùng quý giá cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Trang 40- Hỗ trợ lực lượng làm ngoại giao kinh tế thực hiện nhiệm vụ
Một trong những nhân tố góp phần giúp cho ngành ngoại giao làm tốt công tác phục vụ phát triển kinh tế là các cán bộ ngoại giao trực tiếp thực thi các nhiệm vụ này ở nước ngoài có được sự phối hợp và hỗ trợ tích cực của truyền thông đại chúng Sự hỗ trợ này không chỉ là từ phía truyền thông Việt Nam mà còn là từ việc lợi dụng, tranh thủ truyền thông của nước sở tại để hỗ trợ cho lực lượng làm ngoại giao kinh tế hoàn thành nhiệm vụ
Báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh đã giúp lực lượng làm ngoại giao kinh tế có thêm thông tin để thường xuyên đánh giá thực trạng quan hệ,
rà soát các chính sách và biện pháp về quan hệ của Việt Nam với các nước, các đối tác kinh tế để có những điều chỉnh thích hợp; hỗ trợ triển khai các thỏa thuận, nhất là các thỏa thuận cấp cao, bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, giữa ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân…; tăng cường vận động các nước, các tổ chức quốc tế ủng hộ và hỗ trợ công cuộc phát triển kinh tế và quá trình hội nhập của Việt Nam; giúp các cán bộ ngoại giao phát triển các mối quan hệ song phương và đa phương…
Báo mạng điện tử phiên bản tiếng Anh cũng là một trợ thủ đắc lực của lực lượng làm ngoại giao kinh tế trong việc cung cấp thông tin đa chiều, thông tin sâu… phục vụ công tác nghiên cứu kinh tế ở cơ quan đại diện
Báo mạng điện tử cũng là phương tiện chính để lực lượng làm ngoại giao và ngoại giao kinh tế ở các cơ quan đại diện quảng bá hình ảnh và tiềm năng kinh tế Việt Nam Giới thiệu và quảng bá đều nhằm mục tiêu tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế song phương Với những hoạt động này, cơ quan đại diện cung cấp những thông tin chính xác, cập nhật về kinh tế và kinh tế đối ngoại của Việt Nam cho công chúng nước sở tại, đặc biệt cho những nhà hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại, các nhóm đối tác khác nhau, trong đó các nhóm đối tác tiềm năng… từ đó thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương, mở rộng thị trường xuất khẩu, thúc đẩy kinh tế đối ngoại thông qua các hoạt động ngoại giao