Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình nhằm bảo vệ quyền trẻ em hiện nay Qua khảo sát chương trình Thời sự 19h trên VTV1, Thời sự 18h trên VOV và chương t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Nguyễn Ngọc Oanh
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực, các trích dẫn được dẫn nguồn chính xác Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thắng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các thầy cô giáo của Học viện Báo chí và Truyên truyền, đặc biệt PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh đã tận tình truyền đạt nhiều kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này Các kiến thức và kỹ năng, kinh nghiệm sống của thầy cô đã giúp tôi trưởng thành hơn trong nghề nghiệp của mình!
Tôi xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, lãnh đạo cơ quan đã hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn!
Do còn nhiều hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp để bổ sung, hoàn thiện luận văn tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÌNH
ẢNH TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH NHẰM BẢO VỆ
2.3 Thực trạng nội dung, quy trình quản lý hình ảnh trẻ em trên
2.4 Thực trạng về phương thức, hình thức quản lý hình ảnh trẻ em
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI
VỚI TRUYỀN HÌNH VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HÌNH ẢNH TRẺ
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc quản lý hình ảnh trẻ em trên
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.6: Hình ảnh tâm sự của nạn nhân bị xâm hại tình dục khi
Hình 2.7: Nội dung chương trình Vì trẻ em về xây dựng kỹ năng
Hình 2.8: Minh hoạ về biểu hiện của trẻ bị xâm hại tinh thần trên
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai Trẻ em chính là mầm non, là tương lai của đất nước, là đối tượng cần được bảo vệ và quan tâm chăm sóc, giáo dục từ gia đình và xã hội Quan tâm đến trẻ em, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật liên quan đến trẻ em có ý nghĩa quan trọng và sống còn để xây dựng, phát triển thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và chú trọng đặc biệt đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á
và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và đã xây dựng và ban hành khung pháp lý tương đối toàn diện
để ghi nhận và bảo đảm thực thi các Quyền của trẻ em Đặc biệt, từ ngày 1/6/2017, Luật Trẻ em chính thức có hiệu lực Trước đó ngày 16/5/2017, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em Đây là bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền trẻ em ở nước ta hiện nay, tạo điều kiện để trẻ em Việt Nam được sống trong môi trường lành mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, từ đó tạo điều kiện để các em vui chơi, học tập và trưởng thành
Truyền thông, báo chí tại Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ Quyền trẻ em Các thông tin về giáo dục trẻ, sự chăm sóc và quyền lợi của trẻ hay những vấn đề mà trẻ em đang gặp phải luôn là chủ đề bất tận, góp phần không nhỏ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo
vệ trẻ em, hướng đến những điều tốt đẹp nhất cho trẻ
Trong những năm gần đây, báo chí nói chung và truyền hình nói riêng
đã có những bước tiến đáng kể trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; bảo vệ trẻ em trước những hành vi vi phạm quyền trẻ em như bạo lực gia đình, xâm hại tình dục
Trang 10Truyền hình là loại báo chí có ưu thế và đặc trưng bởi hình ảnh sống động kết hợp với âm thanh, tiếng động đã tạo nên sức lan toả cho loại hình báo chí này Chính vì vậy, truyền hình đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tuyên truyền và bảo vệ quyền trẻ em
Tuy nhiên, vì đây là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, nên đôi khi việc
áp lực đưa tin nhanh, nóng để đáp ứng nhu cầu cộng đồng có thể khiến báo chí nói chung và truyền hình vô tình xâm hại trẻ em thay vì bảo vệ trẻ em Ngoài ra, trong thời đại mạng xã hội, cạnh tranh với mạng xã hội cũng khiến việc truyền thông bảo vệ trẻ em trong giai đoạn mới cũng gặp rất nhiều thách thức
Thực tế, không ít những bài báo, sản phẩm truyền hình đã vô tình hay
cố ý vi phạm quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ khi đưa tin bằng việc sử dụng ngôn ngữ thiếu tính nhạy cảm hay hình ảnh thiếu tính chọn lọc Việc sử dụng hình ảnh trẻ em trên sóng truyền hình vẫn còn nhiều hạn chế, khi mà vẫn còn nhiều tác phẩm truyền hình đã không làm mờ hình ảnh nhân vật hoặc
cố tình để lộ thông tin cá nhân của trẻ Điều này đã gây tác động rất lớn đến tâm lý và quá trình phát triển của trẻ
Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình nhằm bảo vệ quyền trẻ em hiện nay (Qua khảo sát chương trình Thời
sự 19h trên VTV1, Thời sự 18h trên VOV và chương trình truyền hình Vì Trẻ em từ tháng 7/2019 đến tháng 12/2019)” làm đề tài nghiên cứu là một trong những việc làm cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Đến nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về trẻ em, quyền trẻ
em và báo chí truyền thông về trẻ em như:
* Các công trình nghiên cứu về trẻ em và quyền trẻ em
- Mai Quỳnh Nam,“Trẻ em - Gia Đình- Xã hội”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004 Cuốn sách giới thiệu khái quát về tình hình trẻ em hiện
Trang 11nay Trong đó đề cập đến việc sự quan tâm của xã hội đối với việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; vai trò của gia đình trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và giải pháp
- Cuốn sách “Quyền trẻ em - quyền của chúng mình" Nhà xuất bản Kim Đồng, 2013 của Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) và Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam Cuốn sách này được chính 300 trẻ em biên soạn và viết thuyết minh cho 42 Điều khoản ngắn gọn và dễ hiểu, chuyển thể dựa trên nguyên bản Công ước quốc tế về Quyền trẻ em của Liên Hợp quốc
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, (2016) Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Phạm Thị Thanh
* Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa báo chí, truyền thông với trẻ em và quyền trẻ em
- Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Báo chí với trẻ em, Nhà xuất bản Lao Động năm 2004 Đây là công trình cung cấp cái nhìn tổng quan vê trẻ em và
kỹ năng, nghiệp vụ của nhà báo với vấn đề trẻ em
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ năm 2007, mã số:
b 07 - 42, “Báo chí cho trẻ em ở nước ta hiện nay”, cơ quan chủ trì Học viện Báo chí và Tuyên truyền do PGS.TS Nguyễn Văn Dững làm chủ nhiệm đề tài Với nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu chuyên sâu hơn về tâm lý của trẻ
em, cũng như nghiên cứu chuyên sâu về công chúng trẻ em với báo chí Đề tài cũng mang đến cái nhìn toàn diện về đạo đức nghề nghiệp nhà báo với trẻ em, vai trò của báo chí truyền thông trong việc giải quyết các vấn đề trẻ em với nhiều ví dụ minh họa sống động Không những thế, đề tài còn đưa ra các đề xuất cụ thể nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả của báo chí cho trẻ em cũng như nâng cao chất lượng báo chí với trẻ em Trong đó, để tài đã nêu ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội trong việc
Trang 12bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bạo lực xâm hại tình dục Tuy nhiên mức độ để cập vẫn còn quá ít và hạn chế
- Nguyễn Ngọc Oanh, Kỹ năng làm báo cho trẻ em, Luận án tiến sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2009 Luận án tiến sĩ đã đưa ra khung lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ em, từ đó đưa ra các khảo sát phân tích kinh nghiệm thực tiễn khi tác nghiệp ở trẻ em luận án cũng nghiên cứu tính đặc thù và vai trò của kỹ năng làm báo cho trẻ em trong quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí và tác động của nó đến công chúng báo chí là trẻ em Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp trong việc nâng cao năng lực làm báo cho trẻ em của đội ngũ nhà báo, phóng viên
- Cuốn sách “Báo chí truyền thông hiện đại - Từ hàn lâm đến đời thường“ của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
2012 Cuốn sách đã cung cấp cho độc giả những khái niệm cơ bản về hoạt động báo chí truyền thông hiện đại, trong đó đáng chú ý có hương V là báo chí với vấn đề trẻ em Trong chương này, tác giả đã đề cập toàn cảnh đến diện mạo vấn đề trẻ em trên báo chí, nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trẻ
em và đạo đức nghề nghiệp nhà báo với trẻ em Cuốn sách phát triển đổi mới
và cập nhật hơn so với ba công trình trước của tác giả, khi nêu ra mô hình phẩm chất cần yếu của nhà báo, vừa có ý nghĩa cho công tác đào tạo ở nhà báo trẻ, vừa có thể giúp các nhà bạn trẻ đang hành nghề tự suy ngẫm, kiểm nghiệm nhằm từng bước được hoàn thiện và nâng cao năng lực hoạt động chuyên môn nghề nghiệp
- Cuốn sách “Nhà báo với trẻ em: Kiến thức và kỹ năng“, TS Nguyễn Ngọc Oanh, Học viện Báo chí và tuyên truyền, Nxb Thông Tấn, Hà Nội 2014 Đây là cuốn sách được viết bởi một người có hơn 20 năm nghiên cứu, giảng dạy được tham gia hoạt động thực tiễn báo chí với trẻ em Cuốn sách đã đưa
ra khung lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ em Nhận diện những nhân tố
có tính chất điều kiện, ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển các kỹ
Trang 13năng tác nghiệp và cách ứng xử khi làm việc với trẻ em Cuốn sách còn khảo sát thực tế kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, nhằm góp phần tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí với trẻ em ở Việt Nam Cuốn sách này xem xét trẻ em không chỉ là đối tượng phản ánh, mà còn là đối tượng thụ hưởng các sản phẩm, đối tượng tham gia sáng tạo sản phẩm báo chí, trẻ em có thể viết báo, tham gia làm phóng sự, thể hiện tiếng nói của mình trên phương tiện truyền thông đại chúng Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách
cơ bản, hệ thống và chuyên sâu, thiết lập hệ thống khái niệm và khung lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ em, cũng như các yếu tố tác động đến quá trình hình thành kỹ năng làm báo cho trẻ em Trong đó tác giả có đưa ra những ví dụ sinh động được báo chí thiếu kỹ năng đưa tin về trẻ em dẫn đến việc “xâm hại lần thứ hai các bé trên các phương tiện truyền thông thông đại chúng khi đưa tin liên quan đến các vụ bài việc bạo lực, xâm hại tình dục trẻ
em, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho các nhà báo khi tiếp xúc với trẻ em và đưa tin về trẻ em Tuy nhiên, tác giả chỉ mới đưa ra các kỹ năng cho nhà báo, phóng viên nhằm nâng cao nghiệp vụ khi làm báo với trẻ em, chưa nghiên cứu sâu về hoạt động quản lý hình ảnh trẻ em trên sóng truyền hình hiện nay như thế nào
* Các công trình nghiên cứu về sử dụng và quản lý hình ảnh trẻ em trên báo chí, truyền hình
- Luận văn thạc sĩ “Sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình trên chương trình truyền hình Vì trẻ em, Đài truyền hình Việt Nam (khảo sát chương trình truyền hình Vì trẻ em phát sóng năm 2014 trên VTV1), tác giả Vũ Văn Dũng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Luận văn đã
có nhiều nghiên cứu và dẫn chứng thực tế, của một người làm báo vì trẻ em lâu năm Luận văn đã đưa ra khung lý thuyết cơ bản về báo chí với trẻ em Khảo sát chương trình Vì trẻ em, để nêu ra những thành công và hạn chế của chương trình trong việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong phóng sự truyền hình
Trang 14Đồng thời, luận văn cũng đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp nâng cao kỹ năng của đội ngũ phóng viên trong việc đưa tin và sử dụng hình ảnh trẻ em trên sóng truyền hình
- Nguyễn Việt Nam,“Vấn đề phòng chống bạo lực xâm hại tình dục trẻ
em trên truyền hình Việt Nam hiện nay“, luận văn thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2019 Luận văn đã tìm hiểu thực trạng, những
ưu, nhược điểm trong hoạt động truyền thông về phòng chống bạo lực xâm hại tình dục trẻ em trên một số chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay
Từ đó luận văn đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông về phòng chống bạo lực xâm hại tình dục trẻ em nêu trên truyền hình
- Nguyễn Công Tâm, Quản lý hình ảnh truyền thông về về trẻ em trên báo chí hiện nay, Luận văn thạc sỹ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2020 Từ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, luận văn đã tìm hiểu thực trạng quản lý hình ảnh truyền thông về trẻ em trên báo chí hiện nay thông qua việc khảo sát hai tờ báo là Báo GĐ&XH, Báo LĐ&XH Luận văn đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý,
sử dụng hình ảnh truyền thông về trẻ em trên Báo GĐ&XH, Báo LĐ&XH nói riêng và báo chí ở Việt Nam nói chung
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả nhận thấy chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu và phân tích việc quản lý trẻ em trên truyền hình nhằm bảo vệ quyền trẻ em, qua khảo sát chương trình Thời sự 19h trên VTV1, chương trình thời sự 18h trên VOV.TV và chương trình truyền hình Vì trẻ em Vì vậy, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu việc quản
lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình nhằm đảm bảo các chương trình truyền hình này có đảm bảo đúng Luật báo chí? Có vi phạm đạo đức nghề nghiệp?
Có vi phạm quyền riêng tư của trẻ em không Để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình nhằm bảo vệ quyền trẻ em
Trang 153 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Phân tích, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng hình ảnh trẻ
em trên truyền hình hiện nay để từ đó đề ra những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm tăng cường công tác quản lý báo chí truyền thông đối với việc bảo vệ quyền trẻ em trong môi trường truyền thông số hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hình ảnh trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em; thực trạng; phòng ngừa và khắc phục tình trạng bạo lực đối với trẻ em; sự cần thiết phải tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em
và vai trò của truyền hình trong công tác đó
Khảo sát thực trạng việc tuyên truyền về phòng chống bạo lực đối với trẻ em trên 3 kênh truyền hình để đánh giá những thành công, hạn chế về nội dung cũng như hình thức của những kênh truyền hình đó đó trong việc tuyên truyền về quản lý hình ảnh trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
Phân tích những nguyên nhân cơ bản của thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền về quản lý hình ảnh trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình nhằm bảo vệ quyền trẻ em 4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn trong việc tập trung khảo sát nghiên cứu những nội dung chủ yếu về tuyên truyền phòng chống bạo lực đối với trẻ em đã đăng tải trên các kênh VTV1 (Chương trình thời sự 19h), VOV TV (Chương trình thời sự 18h), Truyền hình Vì trẻ em trong thời gian từ tháng 07/2019 đến tháng 12/2019
Trang 165 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý thuyết của luận văn liên quan đến báo chí là cơ sở lý luận báo chí, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về hoạt động báo chí
- Quan điểm của Đảng, Nhà nước về báo chí và trẻ em
- Những quan điểm, góc nhìn mới và hiện đại về báo chí với trẻ em trên thế giới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này nhằm khai thác những tài liệu có sẵn trên các văn bản pháp luật Việt Nam và Công ước Quốc
tế về Quyền trẻ em Ngoài ra, còn tìm hiểu thêm các công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề thông tin, sử dụng hình ảnh trẻ em trên báo chí, truyền thông Bên cạnh đó, Luận văn còn nghiên cứu thêm tư liệu từ các báo cáo, văn bản của Nhà nước, các tổ chức xã hội đề cập đến việc bảo vệ quyền trẻ em; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
- Phương pháp phân tích văn bản: Phương pháp này được sử dụng làm phương pháp nghiên cứu chính trong quá trình thực hiện luận văn Qua đó, các khái niệm “trẻ em”, “quyền trẻ em, truyền hình, hình ảnh trẻ em được xác định và làm rõ Từ đó luận văn sẽ phân tích những khía cạnh nội dung và hình thức thể hiện trong các tin bài, phóng sự; các chương trình nói về trẻ em
và quyền trẻ em Thông qua khảo sát và phân tích các chương trình Thời sự 19h trên VTV1; Thời sự 18h trên VOV.TV; và chương trình truyền hình Vì trẻ em, luận văn sẽ đưa ra những đánh giá và quan điểm của mình về quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình hiện nay
- Phương pháp thống kê: Thống kê số lượng các tin bài/chương trình đề cập đến các vấn đề khác nhau liên quan đến trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
Từ đó đưa ra số liệu tổng quát thể hiện tỉ lệ phân bổ tin bài/chương trình về
Trang 17các vấn đề sử dụng hình ảnh trẻ em để thể hiện mức độ quan tâm về vấn đề này của các Đài truyền hinh
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn sâu các đại diện cơ quan quản lý, lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên đã và đang thực hiện các chương trình truyền hình cho VTV1, VOV.TV và chương trình Vì Trẻ em
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thứ nhất về khía cạnh khoa học, luận văn góp thêm một góc nhìn về những tác động của công tác quản lý báo chí truyền thông đối với việc bảo vệ quyền trẻ em trong môi trường truyền thông số sau sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội ở nước ta, những vấn đề lý luận giữa công tác quản lý báo chí truyền thông và bảo vệ quyền trẻ em cũng như cơ chế tác động của truyền thông
xã hội đối với giới trẻ trên cả phương diện nhận thức lẫn nghiên cứu Công trình này cũng phần nào đóng góp vào hệ thống lý luận về khoa học truyền thông đại chúng tại Việt Nam, nhất là mảng nghiên cứu về tác động của báo chí truyền thông hiện đại đối với việc bảo vệ quyền trẻ em Đây là mảng nghiên cứu rất quan trọng, song tới nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức
Về giá trị thực tiễn, thứ nhất trên cơ sở khảo sát thực tiễn có sự so sánh đối chiếu, đề tài chỉ ra thực trạng của việc sử dụng, tiếp nhận mạng xã hội ở giới trẻ Đề tài cũng đưa ra những mặt tích cực cũng như hạn chế, những tác động nhiều chiều của mạng xã hội đối với người dùng mà điển hình là giới trẻ, những thay đổi trong việc thu thập, tiếp nhận, kết nối, chia sẻ thông tin của họ sau khi sử dụng mạng xã hội
Thứ hai, luận văn đưa ra những thách thức mà báo chí truyền thống phải đối mặt và đề xuất những định hướng cho sự phát triển của báo chí truyền thống trong bối cảnh truyền thông mạng xã hội đang tác động mạnh
mẽ đến nhóm công chúng trẻ
Luận văn là tài liệu nghiên cứu cho sinh viên chuyên ngành Báo chí học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài gồm 3 chương
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÌNH ẢNH TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH NHẰM BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
1.1 Các khái niệm liên quan
Điều 1, Công ước Quốc tế Quyền trẻ em ghi rõ: “Trẻ em là người dưới
18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [27]
Ở nước ta, Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 05/4/2016 có hiệu lực từ ngày 01/06/2017 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, “Những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên” Như vậy, điều đó khẳng định, trẻ em cũng phải được hưởng mọi quyền lợi của một công dân, một con người, đã được nêu trong Công ước quốc tế về quyền con người mà “không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác” [35] Trẻ em là người chưa trưởng thành nên còn có quyền được chăm sóc cho sự sống, sự tồn tại và phát triển, được bảo vệ và được bày tỏ ý kiến, nhất
là đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Ở Việt Nam, ngoài thuật ngữ “trẻ em” còn có nhiều thuật ngữ khác được dùng để chỉ đối tượng này Tuy nhiên, mỗi thuật ngữ lại bao hàm ý nghĩa khác nhau và phản ánh cách nhìn nhận về trẻ em khác nhau
Trang 19Phổ biến nhất là thuật ngữ thiếu niên, nhi đồng hoặc thanh thiếu niên Khi không xác định được độ tuổi thì người ta sử dụng thiếu niên nhi đồng để chỉ lứa tuổi học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Cách gọi này thiên về định tính nên khó xác định chính xác nội hàm dùng để chỉ đối tượng
cụ thể Qua thời gian, thuật ngữ thiếu niên nhi đồng thường được dùng để chỉ một đối tượng luôn được coi là còn trẻ thơ, non nớt, cần được chăm sóc, bảo
vệ, giúp đỡ Báo chí dành cho thiếu niên nhi đồng tuy có xác định độ tuổi để tiếp cận như dành các ấn phẩm riêng, chương trình riêng cho mỗi lứa tuổi nhưng thường chưa phân định rạch ròi các giai đoạn phát triển tâm sinh lý của các em một cách rõ ràng Điều này dẫn đến việc tiếp cận và thỏa mãn nhu cầu của trẻ em đôi khi không sát thực tế Đôi khi người ta sử dụng thuật ngữ vị thành niên để chỉ độ tuổi không còn là trẻ em nhưng chưa phải là người lớn, độ tuổi này đã phải chịu trách nhiệm và bị chi phối bởi một hệ thống luật pháp khác
Hiện nay, từ Trẻ em đã được dùng trong tất cả các văn bản của nhà nước Việt Nam là ngôn từ chính thức dành để chỉ đối tượng trẻ em có xác định độ tuổi Đây là cách gọi lấy định lượng độ tuổi làm chuẩn mực Cách gọi này được thừa nhận trong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam và quốc
tế, tránh được những hiểu sai về đối tượng này Hiểu và sử dụng đúng thuật ngữ trẻ em, sẽ giúp cho việc tiếp cận đối tượng này được chính xác hơn
1.1.2 Quyền trẻ em
Quyền trẻ em là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ em có những quyền và gánh vác những nghĩa vụ khác nhau Việc xem xét quy định và thực hiện quyền trẻ em phải xuất phát từ quan điểm của trẻ em, vì vậy quyền trẻ em là những đặc lợi
mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật
Quyền của trẻ em được quy định cả trong pháp luật quốc tế nói chung
và pháp luật Việt Nam nói riêng Các quyền cơ bản của trẻ em được quy định trong Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em 1989 gồm bốn nhóm
Trang 20quyền: quyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia Cụ thể:
Quyền được sống còn: bao gồm quyền của trẻ em được sống một cuộc sống bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển thể chất Đó là mức sống đủ, có nơi ở, ăn uống đủ chất, được chăm sóc sức khỏe Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi ra đời
Quyền được phát triển: gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát triển đầy đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức, bao gồm việc học tập, vui chơi, tham gia các hoạt động văn hóa, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo Trẻ em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ
để có thể phát triển hài hòa
Quyền được bảo vệ: bao gồm những quy định như trẻ em phải được bảo vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma túy, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán Trẻ em còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư
Quyền được tham gia: tạo điều kiện cho trẻ em được tự do bày tỏ quan điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình Trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hòa bình, được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp
Tại Việt Nam, quyền trẻ em được ghi nhận tại Mục 1, Chương II Luật Trẻ em năm 2016 Theo đó, trẻ em có 25 quyền cơ bản, trong đó có nhiều quyền được bổ sung như: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bí mật đời sống riêng tư; quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi; quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột lao động, không bị bạo lực, không bị mua, bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt; quyền được bảo vệ trong
tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang; quyền được đảm bảo an sinh xã hội; quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn (Phụ lục 1)
Trang 211.1.3 Truyền hình
Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass Communication), hay Mass Media gồm có báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo điện tử phát trên mạng Internet, sản phẩm thông tin của chúng có tính định kỳ hết sức đa dạng và phong phú Bên cạnh đó còn có những sản phẩm không định kỳ của truyền thông như các ấn phẩm của ngành xuất bản, các phương pháp truyền thông trực tiếp như: tuyên truyền miệng, quảng cáo,… Nội dung và tính chất thông tin đều mang tính phổ cập và có phạm vi tác động rộng lớn trên toàn xã hội
Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “videre” là
“thấy được”, còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại
“Televidere” có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp
là “Television”, tiếng Nga gọi là “Tелевидение” Như vậy, dù có phát triển bất
cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công
cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về
Trang 22chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức
và phong phú hơn về nội dung
Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn, ông nêu ra ngắn gọn quan điểm về truyền hình bằng cách diễn đạt thuật ngữ truyền hình bằng tiếng Anh và đưa
ra kết luận trong cuốn sách “Giáo trình báo chí truyền hình”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2011 như sau:
“Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng
vô tuyến điện” [40]
Tác giả đã đề cập đến khái niệm truyền hình dựa trên việc giải nghĩa nguồn gốc của từ “truyền hình” trên thế giới, từ đó khái quát định nghĩa truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó yếu tố quyết định nhằm phân biệt truyền hình với các phương tiện truyền thông đại chúng khác đó chính là yếu tố công nghệ, khi thông tin trên truyền hình phải được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh bằng sóng vô tuyến điện Đây là khái niệm đã bao quát nội hàm của định nghĩa báo truyền hình, song do công nghệ liên tục phát triển nên cho đến nay đã bộc lộ những hạn chế
Còn theo Thạc sĩ Đinh Ngọc Sơn - Khoa Phát thanh Truyền hình của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đã đưa ra định nghĩa về truyền hình trên phương diện kỹ thuật và phương diện nội dung như sau:
“Trên phương diện kỹ thuật thì truyền hình là quá trình biến đổi từ năng lượng ánh sáng tác động qua ống kính máy thu hình thành năng lượng điện, nguồn tín hiệu điện tử được phát sóng truyền đến máy thu hình và lại biến đổi thành năng lượng ánh sang tác động vào thị giác, người xem nhận được hình ảnh thông qua màn hình
Trang 23Về mặt nội dung: Truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp được truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho người xem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống”
Khái niệm của Thạc sỹ Đinh Ngọc Sơn đã chỉ ra đặc trưng của truyền hình đó là thông điệp và thông tin phải được truyền đi với hình ảnh và âm thanh sống động tạo hiệu ứng cho người xem
Ngày nay, sự thay đổi của công nghệ và khoa học kỹ thuật, mà đặc biệt
là sự ra đời và ảnh hưởng mạnh mẽ của Internet, khái niệm báo truyền hình đã
có ít nhiều sự thay đổi Với sự thay đổi của Internet, truyền hình giờ đây không chỉ giới hạn phát sóng thông tin bằng hình ảnh và âm thanh trực quan, sinh động thông qua các nền tảng truyền thống như: hệ thống vệ tinh, truyền hình cáp, truyền hình mặt đất mà còn mở rộng ra tất cả các kênh truyền thông chỉ với một thiết bị kết nối internet Ông Đinh Đắc Vĩnh, Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam tại Hội thảo “Xu hướng phát triển của truyền hình
và Internet thế giới” trong khuôn khổ Liên Hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 37 đã đưa ra khái niệm truyền hình hiện đại như sau: “Khái niệm truyền hình đã được mở rộng ra khi không chỉ là các kênh truyền hình đơn thuần mà gọi chung là các media trên hệ thống mạng hay hệ thống số Hiện nay với Internet, người dùng có thể xem các nội dung truyền hình theo nhu cầu ở bất
kỳ đâu, bất kỳ lúc nào trên bất kỳ phương tiện nào Một phần không nhỏ người dung hiện nay không còn muốn xem truyền hình theo cách truyền thống với việc xen lẫn quảng cáo”
Từ các khái niệm trên, có thể rút ra một định nghĩa chung nhất về truyền hình như sau:
“Truyền hình hay báo truyền hình là một loại hình báo chí tích hợp cả hình ảnh và âm thanh sống động kết hợp với đồ họa và nhiều hiệu ứng kỹ xảo tạo cảm giác chân thật cho người xem Nội dung thông tin trên báo truyền hình không chỉ được lan tỏa trên sóng truyền hình thông qua màn hình ti vi
Trang 24truyền thống mà còn lan tỏa ở bất kỳ phương tiện truyền thông nào có kết nối với hệ thống mạng và hệ thống số”
Trong tương lai, chắc hẳn cần nhiều hơn sự quan tâm và nghiên cứu về truyền hình hiện đại và đưa ra một khái niệm tổng quan và chính xác nhất
1.1.4 Khái niệm hình ảnh trẻ em và quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình nhằm bảo vệ quyền trẻ em
1.1.4.1 Khái niệm quản lý
Frederick W.Taylor (1856 - 1915) là một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái quản lý theo khoa học Để trả lời câu hỏi quản lý là gì ông cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Ông đã đưa ra các tư tưởng chính của thuyết quản lý theo khoa học là: Tiêu chuẩn hóa công việc, chuyên môn hóa lao động, cải tạo các hệ quản lý
Henry Fayol (1841-1925) là người đưa ra học thuyết quản lý hành chính ở Pháp, định nghĩa: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” Ông là người đầu tiên nêu một cách
rõ ràng các yếu tố của quá trình quản lý, cách thức phân tích một quá trình quản lý phức tạp thành các chức năng tương đối độc lập và mang tính phổ biến gồm các chức năng: Dự đoán - Lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra
Để trả lời câu hỏi quản lý là gì thì tác giả Nguyễn Quốc Chi, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tô chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tô chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý là sự tác động có tô chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”
Còn theo tác giả Đặng Bá Lãm, “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”
Trang 25Do vai trò đặc biệt quan trọng của quản lý đối với sự phát triển kinh tế,
từ những năm 1950 trở lại đây đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về
lý thuyết và thực hành quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể nêu
ra một vài cách tiếp cận như sau để trả lời câu hỏi “quản lý” là gì:
Tiếp cận quản lý theo kiểu kinh nghiệm: Cách tiếp cận này phân tích quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm, thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể Những người theo cách tiếp cận này cho rằng, thông qua việc nghiên cứu những thành công hoặc những sai lầm trong các trường hợp
cá biệt của những nhà quản lý, người nghiên cứu sẽ hiểu phải làm như thế nào
để quản lý một cách hiệu quả trong trường hợp tương tự
Tiếp cận quản lý theo hành vi quan hệ cá nhân: Cách tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân dựa trên ý tưởng cho rằng, “quản lý” là làm cho công việc được hoàn thành thông qua con người, và do đó, nghiên cứu nó nên tập trung vào các mối liên hệ giữa người với người
Tiếp cận theo lý thuyết quyết định: Cách tiếp cận theo lý thuyết quyết định trong quản lý dựa trên quan điểm cho rằng, người quản lý là người đưa
ra các quyết định, vì vậy cần phải tập trung vào việc ra quyết định quản lý Sau đó là việc xây dựng lý luận xung quanh việc ra quyết định của người quản lý
Tiếp cận toán học: Các nhà nghiên cứu theo trường phái này xem xét công việc quản lý trước hết như là một sự sử dụng các quá trình, ký hiệu và
mô hình toán học Nhóm này cho rằng, nếu như việc quản lý như xây dựng tổ chức, lập kế hoạch hay ra quyết định là một quá trình lôgic thì nó có thể biểu thị được theo các ký hiệu và các mô hình toán học Vì vậy, việc ứng dụng toán học vào quản lý sẽ giúp người quản lý đưa ra được những quyết định tốt nhất
Tiếp cận theo các vai trò quản lý: Cách tiếp cận theo vai trò quản lý là một cách tiếp cận mới đối với lý thuyết quản lý thu hút được sự chú ý của cả các nhà nghiên cứu lý luận và các nhà thực hành Về căn bản, cách tiếp cận
Trang 26này nhằm quan sát những cái mà thực tế nhà quản lý làm và từ các quan sát như thế đi tới những kết luận xác định hoạt động quản lý là gì,…
Từ những cách tiếp cận khác nhau đó, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý như:
- Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực của người khác;
- Quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm đưa ra các quyết định;
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự trong cùng một tổ chức;
- Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục đích đã đề ra của tổ chức;
- Hoặc đơn giản hơn nữa, quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó… Theo một cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý)
Từ đó có thể đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm
sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”
Với khái niệm trên, quản lý phải bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất một đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể có quan hệ gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản lý
và chủ thể quản lý Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể quản lý đưa ra các tác động quản lý
Trang 27- Chủ thể phải thực hành việc tác động và phải biết tác động Vì thế, hoạt động quản lý đòi hỏi chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả
- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan quản lý còn đối tượng quản lý có thể là con người (một hoặc nhiều người) giới vô sinh hoặc sinh vật Quản lý chính là sự kết hợp được mọi nỗ lực chung của mọi người trong tổ chức và sử dụng tốt nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt tới mục tiêu chung của tổ chức và mục tiêu riêng của mỗi người một cách khôn khéo và có hiệu quả nhất
1.1.4.2 Khái niệm hình ảnh trẻ em
* Hình ảnh
Khi loài người chưa có chữ viết, con người đã biết dung lối vẽ làm phương tiện thông tin Trong các hang động cổ xưa có nhiều bức tranh động vật được khắc lên vách đá, họ thông báo cho nhau những điều cần biết Từ tranh chuyển sang chữ viết là một quá trình trừu tượng hoá; sau dần người ta lược bỏ các chi tiết cụ thể, phức tạp, dùng các đường nét đơn giản làm kí hiệu ghi lại ngôn ngữ, mở rộng thông tin cho con người
Cùng với chữ viết, tranh vẽ dần dần được phổ biến Điều này thật dễ hiểu, bởi con người cần thiết phải sử dụng giác quan để tìm hiểu thực tại và
mở rộng tri thức Nhưng “trăm nghe không bằng một thấy” ảnh đã ra đời để đáp ứng nhu cầu này Không bằng lòng với những tấm ảnh bình thường con người muốn những hình ảnh đó phải thực sự sống động ghi lại những hành động việc, hiện tượng sự kiện diễn ra một cách thực tế nhất
Từ đây hình ảnh đã bắt đầu ra đời Nó đã đáp ứng một phần không nhỏ yêu cầu nhìn, quan sát của loài người Như vậy, hình ảnh đã trở thành một loại hình ngôn ngữ - ngôn ngữ hình ảnh Nó có khả năng thông tin chính xác một nội dung mang tính vật chất nhất định Khả năng thông tin bằng hình ảnh
đã mở rộng tầm nhìn của con mắt người, giúp con người hiểu mình đầy đủ hơn, chính xác hơn và sâu sắc hơn
Trang 28Theo Từ điển Tiếng Việt, của Viện Ngôn ngữ học do Nxb Từ điển Bách khoa ấn hành năm 2011, thì “hình ảnh” là “hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh), hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc” [57]
“Từ điển từ và ngữ Việt Nam” do Nxb Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2000 định nghĩa “hình: dáng bên ngoài; ảnh: hình thu được”, “hình ảnh là đường nét, màu sắc, dung mạo của người hay vật được phản chiếu vào trong trí óc”
Truyền hình sử dụng hình ảnh làm phương tiện thông tin, miêu tả, bình luận cũng là vì tính xác thực trực tiếp và tính nhanh chóng của nó Lịch sử phát triển của hình ảnh đã ghi nhận: Hình ảnh chuyển động lần đầu tiên mà mọi người nhìn thấy đều hết sức ngạc nhiên Đó là vào năm 1895 khi anh em nhà Luymiê cho chiếu bộ phim “Chuyến xe lửa đến ga”
Hình ảnh có những ưu thế đặc biệt, đó là khả năng ghi trực tiếp, ra đời nhanh và gây ấn tượng sâu sắc Tận dụng đặc điểm này nghành truyền hình và những người làm báo hình đã sử dụng chiếc máy quay như một phương tiện đắc lực và hữu hiệu Bên cạnh những đặc điểm chung của nghệ thuật tạo cảnh thì hình ảnh còn mang những đặc điểm riêng
Hình ảnh là thông tin là sự gắn kết giữa yếu tố thông tin và yếu tố nghị luận Trong tất cả các loại hình sử dụng hình ảnh thì có lẽ hình ảnh được sử dụng trong báo truyền hình là mang tính thông tin nhiều nhất Nhưng bên cạnh đó nó cũng mang yếu tố nghị luận và cả yếu tố thông tin ở đây cũng được biểu hiện một cách chặt chẽ Với loại hình ảnh sang tác vì mục đích đầu tiên là miêu tả cái đẹp trên một bình diện nào của đối tượng, hoặc là cái đẹp
về hình thức, hoặc khai thác giá trị nhân văn của đối tượng, vì vậy “người nghệ sĩ” có quyền dàn dựng, bài trí để tạo ra một mẫu hình ảnh mang tính khái quát trừu tượng
Xét về bản chất “hình ảnh sáng tác” không nhấn mạnh về thông tin, nhưng xem hình ảnh người ta lại có thể dẫn dắt đến yếu tố ý tưởng nào đó khá
Trang 29độc đáo, ta bảo hình ảnh đó mang tính nghị luận nhất định; dù nó không bao hàm tính tài liệu
Còn với hình ảnh trên báo truyền hình, do tính mục đích của sự phản ánh, nên hai yếu tố thông tin và nghị luận luôn gắn kết chặt chẽ ngay trong bản than sự kiện, sự vật, hiện tượng Yếu tố thông tin theo cách hiểu phổ thông và đơn giản chính là sự tổng hợp các chi tiết cấu thành đối tượng, sự kiện, sự việc có chứa đựng những nội dung cần thông báo đến người đọc người xem
Nói cách khác, yếu tố thông tin mang đến cho công chúng và độc giả những thông số, sự nhận biết, những cứ liệu xác định về cuộc sống con người,
sự kiện, sự việc dang diễn ra trước sự chứng kiến của người cầm máy và nó được tái hiện bằng hình ảnh trong tác phẩm
Lượng thông tin trong hình ảnh được chuyển tải qua nội dung hình ảnh lẫn hình thức thể hiện của nó; qua cả phần hình ảnh và phần lời nói của một tác phẩm
* Hình ảnh trẻ em trên truyền hình
Hình ảnh trẻ em trên truyền hình là hình ảnh của trẻ được thể hiện, phản ánh trên truyền hình Đó là hình ảnh vật lý, ảnh tĩnh, ảnh động trong các bức ảnh, video clip mà đối tượng được ghi nhận, hiển thị là trẻ em Ngoài ra, hình ảnh trẻ em còn là hình tượng mà trong đó trẻ em được phác họa bằng ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói thông qua sự miêu tả, sự lựa chọn góc nhìn, góc phản ánh, chi tiết của nhà báo, người làm truyền hình
Hình ảnh trẻ em trên truyền hình là nguồn tư liệu đặc biệt, đòi hỏi các nhà làm truyền hình, nhà báo, nhà quản lý phải hết sức chú ý khi sử dụng Nếu hình ảnh trẻ em được sử dụng một cách thiếu cân nhắc thì sẽ gây ra tác động khôn lường đối với sự phát triển của trẻ Nhà báo, người làm truyền hình, nhà quản lý sẽ rơi vào tình trạng vi phạm các nội dung về quyền con người, quyền trẻ em nếu sử dụng hình ảnh trẻ một cách trái luật, trái với các phạm trù đạo đức và thuần phong mỹ tục
Trang 30Ở khía cạnh nào đó, việc thể hiện, quản lý hình ảnh truyền thông về trẻ
em là một phần của hoạt động làm báo cho trẻ em Trong cuốn “Nhà báo với trẻ em, kiến thức và kỹ năng”, tác giả Nguyễn Ngọc Oanh cho rằng, khi nói đến làm báo cho trẻ em là nói đến một mảng báo chí có liên quan đến trẻ em được đặt trong mối quan hệ giữa báo chí với trẻ em và trẻ em với báo chí Mối quan hệ này thể hiện dưới các góc độ gồm: Trẻ em xuất hiện trong các tác phẩm, chương trình với tư cách là đối tượng được phản ánh; Trẻ em là đối tượng được hưởng thụ các sản phẩm báo chí; Trẻ em tham gia sáng tạo các tác phẩm báo chí và sản xuất các chương trình với vai trò là chủ thể sáng tạo Như vậy, trên báo chí, truyền hình, hình ảnh trẻ em xuất hiện rất đa dạng, nhà quản lý, người làm báo cần nắm rõ được mối quan hệ cụ thể để có biện pháp quản lý, ứng xử, lựa chọn hành vi truyền thông phù hợp
1.1.4.3 Quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình
Quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình là một trong những nội dung quản trị quan trọng của một đài truyền hình Mục tiêu của quản lý hình ảnh trẻ
em trên truyền hình nhằm giúp cơ quan báo chí thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, nghĩa vụ của mình đối với sự phát triển của trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em Mặt khác, việc quản lý tốt giúp hình ảnh trẻ em xuất hiện trên truyền hình đúng với các quy định pháp luật và đạo đức xã hội Để thực hiện được nội dung quản lý này, các đài truyền hình, lãnh đạo các đài phải có một hệ thống những quy tắc áp dụng một cách thông suốt từ trên xuống dưới Hệ thống quy tắc này phải phù hợp với các nội dung của Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, phù hợp với các quy phạm pháp luật có hiệu lực liên quan đến quyền con người, quyền trẻ em và các phạm trù về đạo đức xã hội nói chung, cũng như đạo đức báo chí nói riêng
Như vậy, quản lý hình ảnh trẻ em trên truyền hình có thể hiểu là các biện pháp, phương thức mà một đài truyền hình áp dụng cho toàn thể cán bộ liên quan với mục tiêu nhằm đảm bảo hình ảnh trẻ em xuất hiện trên báo chí
Trang 31tuân thủ các nguyên tắc, quy định của pháp luật quốc tế, trong nước và các phạm trù đạo đức
Trong phạm vi một đài truyền hình, chủ thể quản lý là Ban biên tập hoặc Hội đồng biên tập gồm Tổng biên tập hoặc các Phó Tổng biên tập Khách thể chịu sự quản lý là phóng viên, biên tập viên, thư kí toà soạn và các
bộ phận chuyên môn liên quan Phương thức quản lý là ban hành các văn bản hành chính; là phân cấp, phân quyền, quy định trách nhiệm và giám sát hiệu quả của từng bộ phận Nội dung quản lý thể hiện trong các quy chế, quy định, quy trình sản xuất tác phẩm báo chí của các tòa soạn Nền tảng của nội dung quản lý là Hiến pháp, hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật liên quan đến trẻ em, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em và các ràng buộc về mặt đạo đức
Việc “quản lý hình ảnh trẻ em” của cơ quan truyền hình đó được thực hiện theo định hướng của cơ quan báo chí đó, tuy nhiên việc quản lý này không nằm ngoài lợi ích chung của xã hội Quản lý hình ảnh giúp cho cơ quan báo chí truyền hình sử dụng có hiệu quả hình ảnh trẻ em trong các tác phẩm truyền hình của mình, từ đó đạt được những mục tiêu nhất định
1.2 Pháp luật Việt Nam về trẻ em và quản lý hình ảnh trẻ
1.2.1 Pháp luật Việt Nam về trẻ em
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chỉ đạo và dành nhiều nguồn lực cho công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Hệ thống chính sách, pháp luật về trẻ em, cơ chế bảo vệ trẻ em cơ bản được hoàn thiện; nhận thức về công tác trẻ em của các cấp, các ngành, toàn xã hội được quan tâm và ngày càng nâng cao; các quyền của trẻ em đã được thực hiện tốt hơn; những vấn đề phát sinh về trẻ em được chú trọng giải quyết
Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn CRC năm 1990 và công tác BVCSGDTE phát triển cả về nội dung, hình thức và tổ chức thực hiện Việt Nam đã tiến hành luật hóa và từng bước đưa các quy định của CRC trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật BVCSGDTE năm 1991 thay thế cho
Trang 32Pháp lệnh về BVCSGDTE năm 1979; công tác BVTE đã có chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và tổ chức thực hiện Tuy nhiên, trong giai đoạn này mục tiêu trong công tác trẻ em vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực chăm sóc và giáo dục trẻ em
Giai đoạn 2004 đến nay, pháp luật Việt Nam đã hướng tới việc BVTE nhiều hơn Luật BVCSGDTE năm 2004 thay thế cho Luật năm 1991; Luật Trẻ
em năm 2016 thay thế cho Luật năm 2004 đã quy định cụ thể biện pháp BVTE từ phòng ngừa, hỗ trợ đến can thiệp và trách nhiệm thực hiện của các
cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân để bảo đảm trẻ em được an toàn, được hỗ trợ và can thiệp kịp thời khi có nguy cơ hoặc đang bị xâm hại
Theo Luật Trẻ em năm 2016, trách nhiệm giám sát việc thực hiện quyền trẻ em thuộc nhiều cơ quan khác nhau như: Quốc hội thực hiện giám sát tối cao; Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội thực hiện việc thanh kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật hiện hành; Mặt trận Tổ quốc phụ trách giám sát và phản biện xã hội; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đại diện cho tiếng nói và nguyện vọng của trẻ em; Hội Bảo trợ trẻ em cùng tham gia giám sát Sự tham gia của nhiều bên dẫn đến việc giám sát manh mún, chồng chéo, không rõ ràng về vai trò giám sát của từng bên Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan giám sát để đảm bảo tính thống nhất, tạo được kết quả tốt trong giám sát để phục vụ cho việc hoạch định chính sách về trẻ em
Cụ thể, Luật Trẻ em 2016 quy định Bảo vệ trẻ em phải bảo đảm tính hệ thống, tính liên tục, có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cấp, các ngành trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và cung cấp dịch
vụ bảo vệ trẻ em” (Điều 47); Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em và giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em (Điều 77); Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban
Trang 33văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội để xem xét, đánh giá những vấn đề liên quan đến trẻ em trong dự án luật, pháp lệnh,
dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và việc lồng ghép các Mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện quyền trẻ em khi thẩm tra quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến trẻ em và việc thực hiện quyền trẻ em (Điều 79); Hằng năm hoặc đột xuất báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện quyền trẻ em và việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương liên quan đến trẻ em (Điều 80); Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, ngoài việc thực hiện quy định tại Điều này có trách nhiệm tổ chức việc kết nối, thu thập thông tin, kiến nghị của các tổ chức xã hội và của trẻ em chuyển đến các cơ quan nhà nước để góp ý, tư vấn cho việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về quyền trẻ em; tham gia giám sát thực hiện quyền trẻ em; phát biểu chính kiến và kiến nghị của Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam đối với các cơ quan nhà nước có liên quan về các vấn đề về trẻ em và việc vi phạm pháp luật về trẻ em
Ngoài Luật Trẻ em 2016, nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác về trẻ em và BVTE đã được ban hành như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Giáo dục, Luật Thanh niên, Luật Nuôi con nuôi
Bên cạnh đó, một số chính sách về BVTE đã được Nhà nước quan tâm xây dựng và ban hành như: Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn
2016 - 2020; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020; Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ
em giai đoạn 2016-2020; Quy định Tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em; Kế hoạch triển khai thực hiện Khuyến nghị của Ủy ban về quyền trẻ em của Liên hợp quốc; Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ
em giai đoạn 2013 - 2015; Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh
Trang 34hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014 - 2020; Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm thực hiện tốt các quy định về BVTE, tạo cơ hội cho trẻ
em được phát triển toàn diện, bình đẳng về thể chất, trí tuệ và tinh thần; để trẻ
em trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước
1.2.2 Pháp luật Việt Nam về quản lý hình ảnh trẻ em
Quyền cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận và bảo vệ có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân, đây là yếu tố tinh thần gắn liền với mỗi cá nhân, hình ảnh của mỗi cá nhân bị xâm phạm không chỉ ảnh hưởng về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm…Vì vậy, việc pháp luật dân sự ghi nhận và bảo vệ cho mỗi cá nhân quyền đối với hình ảnh đảm bảo quyền nhân thân, hạn chế một cách tối đa nhất hành vi xâm phạm Ngoài ra, còn góp phần đảm bảo trật tự xã hội và giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người tôn trọng quyền đối với hình ảnh của cá nhân, khi có hành vi xâm phạm, tùy theo tính chất mức độ, hậu quả xảy ra mà bị xử lý theo quy định của pháp luật tương ứng Đối với trẻ em, một đối tượng dễ bị tác động, xâm hại, quyền cá nhân đối với hình ảnh là hết sức quan trọng Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể nào của pháp luật về quản lý hình ảnh trẻ em mà được pháp luật quy định chung trong việc quản lý quyền cá nhân đối với hình ảnh
Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người
có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng
tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”
Cụ thể hóa khoản 1 Điều 21 Hiến pháp 2013, Điều 32 BLDS năm 2015
về Quyền của cá nhân đối với hình ảnh năm 2015 quy định:
“1 Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Trang 352 Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:
a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh
3 Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật” [33] Luật Trẻ em năm 2016, có hiệu lực từ ngày 1/6/2017, mà theo đó, quyền bí mật đời sống riêng tư, tại Điều 21 của Luật này, quy định:
“1 Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật
cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em
2 Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng
tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư” [35]
Một trong những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 11 Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016, đó là: công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ
đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 54 Luật này quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thông tin, truyền thông và tổ chức các hoạt động trên môi trường mạng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và bí mật đời sống riêng tư cho trẻ em theo quy định của pháp luật” [35]
Trang 36Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/2/1990 Theo đó, Điều 16 Công ước này quy định: Không trẻ em nào phải chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín cũng như những
sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của các em; trẻ em có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp hay công kích như vậy
Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 9/5/2017 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em (có hiệu lực từ ngày 1/7/2017) Điều 33 của Nghị định này, giải thích rõ thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em là các thông tin về: tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh
cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình, người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán; địa chỉ, thông tin về trường, lớp, kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè của trẻ em; thông tin về dịch vụ cung cấp cho cá nhân trẻ em
Kể cả pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, đã có khung pháp lý chặt chẽ để bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em Với các quy định trên, các bậc cha,
mẹ, người thân thích của trẻ em cần phải lưu ý và thận trọng trong việc đăng tải hình ảnh, kết quả học tập,… của trẻ trên các trang mạng xã hội để tránh vi phạm các quy định của pháp luật
1.3 Truyền hình với vấn đề quản lý hình ảnh trẻ em
1.3.1 Vai trò của truyền hình trong việc bảo vệ quyền trẻ em
1.3.1.1 Truyền hình phản ánh nhanh, kịp thời
Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí Nhưng truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí khi
Trang 37nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh và
âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc “khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo in giảng giải nó”
1.3.1.2 Truyền hình phản ánh chân thực, khách quan với thái độ rõ ràng, dứt khoát
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội thì thông tin giả cũng xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Những tin giả kiểu xuyên tạc có ở tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh, đối ngoại Trong các vụ việc liên quan đến trẻ em, nhất là những vụ việc xâm hại đến quyền lợi của trẻ như bạo hành, xâm hại tình dục trẻ em được xã hội quan tâm chú ý, luôn xuất hiện những tin giả, tin chưa được kiểm chứng gây hoang mang và định hướng dư luận theo nhiều hướng khác nhau
Truyền hình nhất là các chương trình truyền hình mang tính chính luận như Thời sự 19h; Chuyển động 24h của Trung tâm Tin tức VTV24 luôn là những nơi cung cấp thông tin một cách nhanh nhất, chính xác nhất, chân thực nhất về các vụ việc, các vấn đề xảy ra hàng ngày liên quan đến trẻ em Qua các chương trình truyền hình, thái độ rõ ràng dứt khoát của xã hội trong việc lên án các hành vi vi phạm quyền trẻ em bị lên án; những hành động, tấm gương sáng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được nêu gương
1.3.1.3 Truyền hình tạo dư luận xã hội rộng rãi
Dư luận xã hội được cho là hiệu quả tức thì của truyền thông đại chúng
Dư luận xã hội tích cực là một điều kiện dẫn đến ổn định chính trị xã hội Từ
Trang 38dư luận xã hội, sẽ dẫn đến các hành vi xã hội rộng lớn, tạo sức ép thúc đẩy, tạo ra những khuôn khổ bắt buộc đối với việc nhận thức và giải quyết các vấn
đề chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Các phương tiện truyền thông đại chúng
là kênh có vai trò quan trọng trong việc thảo luận xã hội vì nó có khả năng tập hợp, thu hút đông đảo quần chúng tham gia
Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ Các chương trình của Đài truyền hình Việt Nam như các chuyên mục “Sự kiện và bình luận”, “Đối thoại trực tiếp”, “Chào buổi sáng” của ban Thời sự VTV1 không chỉ tác động dư luận mà còn định hướng dư luận, hướng dẫn dư luận phù hợp với sự phát triển của xã hội và các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Đối với việc bảo vệ trẻ em, rất nhiều vụ việc trẻ em bị xâm hại trong thời gian gần đây được truyền hình phản ánh, đưa tin đã trở thành một trong những điểm nóng của dư luận xã hội Một số vụ xâm hại tình dục gây bức xúc gần đây: Bé 11 tuổi bị cha đẻ và ông nội xâm hại; bé 13 tuổi ở Cà Mau tự tử sau khi bị hàng xóm xâm hại nhiều lần; vụ trẻ bị dâm ô ở Bà Rịa - Vũng Tàu… hay vụ Nguyễn Hữu Linh “nựng” bé gái trong thang máy; thông qua
sự tác nghiệp của truyền thông, báo chí, truyền hình; công chúng có thể hiểu
rõ hơn về các sự việc xảy ra, tạo nên được những dư luận xã hội mạnh mẽ, lên
án các hành vi xâm phạm đến quyền của trẻ nhỏ
1.3.1.4 Truyền hình góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục
Truyền hình góp phần định hướng tư tưởng, giáo dục về tầm quan trọng của việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và bảo vệ, phát huy quyền trẻ em Thông qua truyền hình; trẻ em, phụ huynh, thầy cô và cộng đồng, trang bị thêm những kiến thức về quyền của trẻ em; kỹ năng phòng chống bạo lực đối
Trang 39với trẻ, kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em; chỉ dẫn trẻ em các cách bảo vệ bản thân như thế nào trong môi trường xã hội phức tạp như hiện nay Những thông điệp về phòng chống bạo lực gia đình, bạo lực trẻ em; xâm hại tình dục trẻ em trên truyền hình góp phần giáo dục tư tưởng cho các ông bố
bà mẹ về mức nguy hại của các hành vi trên; vai trò quan trọng của việc dạy bảo con em mình trong việc phòng tránh các tệ nạn xã hội Bằng cách thức tuyên truyền chỉ dẫn cách phòng tránh, bảo vệ trẻ em thông qua việc cung cấp thông tin rõ ràng, bằng những hình ảnh thực tế, sinh động, truyền hình góp phần giúp các bậc phụ huynh, nhà trường, cộng đồng đặc biệt là trẻ em nhận thức được các quyền của trẻ em, hình thành nhận thức căn bản, đúng đắn để có trách nhiệm trong các mối quan hệ, tránh được những hậu quả đáng tiếc xảy ra
1.3.2 Nội dung và các dạng hình ảnh trẻ em xuất hiện trên các chương trình truyền hình
1.3.2.1 Nội dung hình ảnh trẻ em trên truyền hình
Hiện nay, trên các chương trình truyền hinh, nội dung hình ảnh trẻ em được xuất hiện có ba nội dung chính:
- Hình ảnh trẻ em là đối tượng phản ánh: trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực, sa ngã, bị bắt cóc, mua bán; bị bỏ rơi, khuyết tật, nhiễm chất độc hóa học, ảnh hưởng bởi HIV Trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em phải lao động trong điều kiện độc hại nguy hiểm, trẻ em nghèo
- Hình ảnh trẻ em được hưởng thụ: là các hình ảnh trẻ em được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và thực hiện 4 “nhóm quyền” cơ bản của trẻ em em Đó
là, quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc quyền được tham gia, phát triển Đó là các hình ảnh về sinh hoạt học tập, lao động vui chơi, thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ tham gia các diễn đàn các hoạt động của trẻ em
- Hình ảnh trẻ em với tư cách tham gia phản ánh: là các hình ảnh trẻ em trả lời phỏng vấn, trẻ em tham gia vào các hoạt động bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; trẻ em tham gia các diễn đàn
Trang 401.3.1.2 Các dạng hình ảnh trẻ em được sử dụng trên truyền hình
Trên truyền hình hiện nay, có 3 dạng hình ảnh trẻ em được sử dụng: hình ảnh tĩnh, hình ảnh động và hình ảnh tư liệu
* Hình ảnh tĩnh
Là hình ảnh mà các chi tiết ở đó ở trạng thái đứng yên, không chuyển động Hình ảnh trẻ em tĩnh gồm: ảnh chụp, tranh vẽ, hình ảnh đồ hoạ, hình ảnh trẻ em động được dựng hình
Hình ảnh tĩnh là những tư liệu quý có thể khai thác, sử dụng cho một chủ đề nào đó của một tác phẩm truyền hình Tác giả dùng hình ảnh tĩnh để minh hoạ cho một nội dung nào đó mà tác giả muốn thông tin cho người xem
dễ hiểu
Hiện nay ở Đài Truyền hình Việt Nam VTV, Đài Truyền hình Kỹ thuật
số VTC, VOV.TV, chương trình Vì trẻ em, việc thể hiện hình ảnh trẻ em bị nhiễm HIV, trẻ em bị mua bán, bị xâm hại tình dục được thể hiện bằng hình ảnh đồ hoạ Các hình ảnh này được sự hỗ trợ của công nghệ số, thiết bị máy tính nên cũng tạo ra những hình ảnh sinh động, hấp dẫn công chúng
Ngày nay, nhờ công nghệ khoa học, kỹ thuật viên có thể dùng hình ảnh động thành hình ảnh tĩnh ở một khuôn hình nào đó để nhằm nhấn mạnh, khắc hoạ một số chi tiết, một đặc điểm nào đó mà tác giả thấy cần phải thực hiện
* Hình ảnh động
Hình ảnh động là hình ảnh có liên quan trực tiếp đến sự kiện, hiện tượng, nhân vật được người quay phim hoặc một ai đó có phương tiện ghi hình lại ngay trong khi sự kiện, hiện tượng diễn ra và mọi chi tiết trong khuôn hình đó không ở tư thế đứng yên
Đây là dạng hình ảnh chiếm tỷ lệ cao trong những chương trình, phóng
sự truyền hình và dạng hình ảnh này tạo nên đặc trừn của truyền hình Nó cũng chính là yếu tố tạo nên độ chính xác, độ tin cậy, tính hấp dẫn của các tác phẩm truyền hình đến khán giả