1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý di tích văn hóa ở quận hoàn kiếm, thành phố hà nội hiện nay

118 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung quản lý được đề cập trên hai khía cạnh: Công tác quản lý nhà nước: bao gồm việc ban hành các văn bản pháp quy, các văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

- -

MAI THỊ THÚY NGÂN

QUẢN LÝ DI TÍCH VĂN HÓA Ở QUẬN HOÀN KIẾM,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

- -

MAI THỊ THÚY NGÂN

QUẢN LÝ DI TÍCH VĂN HÓA Ở QUẬN HOÀN KIẾM,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành : Quản lý xã hội

Mã số : 8 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Trần Quang Hiển

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của hội đồng chấm luận văn tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ngày tháng năm 2019

Chủ tịch hội đồng

PGS,TS NGUYỄN VŨ TIẾN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS,TS Trần Quang Hiển, người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tác giả thực hiện luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo ở Học viện Báo chí Tuyên truyền nói chung và khoa Nhà nước và Pháp luật nói riêng

Tác giả cũng bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, chia sẻ kinh nghiệm, cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày … tháng 11 năm 2019

MAI THỊ THÚY NGÂN

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận văn có xuất xứ rõ ràng và trung thực Luận văn có kế thừa chọn lọc những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài Các số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đƣợc đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, sách báo theo danh mục tài liệu của luận văn và đƣợc trích dẫn nguồn đầy đủ Các kết luận trong luận văn chƣa đƣợc công bố trong các công trình nghiên cứu khác

Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2019

Tác giả luận văn

MAI THỊ THÚY NGÂN

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VĂN HÓA 10

Ở CẤP HUYỆN/ QUẬN 10

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận 10

1.2 Nguyên tắc, nội dung và phương pháp quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận 28

Chương 2 QUẢN LÝ DI TÍCH VĂN HÓA Ở QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 43

2.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội và tình hình các di tích văn hóa ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay 43

2.2 Thực trạng quản lý di tích văn hóa ở quận Hoàn Kiếm 51

2.3 Nguyên nhân của kết quả, hạn chế 66

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DI TÍCH VĂN HÓA Ở QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 75

3.1 Phương hướng tăng cường quản lý di tích văn hóa ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới 75

Để thực hiện tốt công tác quản lý các DTLSVH trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, chúng tôi đề xuất phương hướng : 75

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý di tích văn hóa ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới 79

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 106

TÓM TẮT LUẬN VĂN 111

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Di tích văn hóa (DTVH) là thành quả lao động sáng tạo của ông cha để lại Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm, ở bất kỳ nơi đâu trên đất Việt đều bắt gặp những DTVH như đình, chùa, miếu, lăng tẩm Đây

là những tài sản vô cùng quý giá mà cha ông đã để lại cho hậu thế Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng phong phú, nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tìm hiểu cội nguồn văn hóa dân tộc mà trong đó có DTVH càng trở nên bức thiết Gìn giữ những DTVH không chỉ đơn thuần là giữ những thành quả vật chất của cha ông để lại mà hơn thế là tiếp tục thừa kế phát huy sáng tạo những giá trị văn hóa mới, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Chính vì vậy, ngày nay vấn đề quản lý

và phát huy giá trị của DTVH, góp phần làm đẹp thêm truyền thống của dân tộc luôn được ngành văn hóa quan tâm

Cùng với thời gian, các giá trị kết tinh trong DTVH như một dòng chảy

âm thầm, lặng lẽ nhưng có khả năng to lớn, là cội nguồn, nền tảng tạo nên hệ giá trị của văn hóa dân tộc Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay, vấn đề quản lý DTVH lại càng có ý nghĩa quan trọng nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, để hội nhập, hòa nhập mà không bị hòa tan, trở thành điểm tựa quan trọng, tạo thế đi vững chắc cho hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chỉ rõ: DTVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở sáng tạo những giá trị văn hoá mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng và bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể [15; tr.63]

Trang 9

Hoàn Kiếm là quận nằm ở vị trí trung tâm của Kinh thành Thăng Long xưa và Thủ đô Hà Nội ngày nay Nơi đây là đầu mối giao lưu với “tứ trấn” và cũng là điểm hội tụ nhân tài bách nghệ khắp bốn phường mà tên các phố hôm nay còn ghi đậm dấu ấn Hàng Đào, Hàng Trống, Hàng Bạc, Hàng Khay, Hàng Quạt, Hàng Da… trải qua những biến động của tự nhiên, xã hội, các thế hệ đã xây dựng, gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau nhiều di tích văn hóa có giá trị lớn cả về vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang có xu hướng làm biến dạng văn hóa nơi đây; đặc trưng di tích bị mất gốc, đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa còn kém hiệu quả; vai trò của các cơ quan chức năng trong quản lý DTVH chưa nổi bật, có nơi có lúc còn buông lỏng quản lý Vấn đề đặt ra là cần phải quản lý như thế nào để bảo tồn, phát huy giá trị các DTVH, đồng thời để thay đổi nhận thức và hành vi của người dân khi tiếp cận với DTVH nhằm nâng cao hiệu quả quản lý DTVH

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý di tích

văn hóa ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý xã hội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Một số sách, giáo trình, tài liệu về quản lý di tích văn hóa

- Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn Trường Tân: cuốn sách

Quản lý di sản văn hóa (2012) của các tác giả đã trình bày một cách thấu đáo

quan niệm về DSVH và quản lý DSVH, thực trạng quản lý DSVH ở một số vùng văn hóa Việt Nam, đưa ra định hướng quản lý DSVH ở nước ta

- Nhiều tác giả: Quản lý và khai thác di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (2017) là công trình khoa

học được chúng tôi đặc biệt quan tâm Đây là công trình nghiên cứu tập hợp nhiều bài viết về thực trạng công tác quản lý, bảo tồn vả phát huy DSVH ở

Trang 10

Việt Nam hiện nay Tác giả các bài viết trong sách này đều là những người đã trải qua kinh nhiệm thực tiễn trong công tác quản lý di sản, được đào tạo chuyên môn tại các trường đại học trong vả ngoài nước Nhiều tác giả là nhà chuyên môn tại các bảo tàng hay di tích Các bài viết đã chuyển tải nội dung khoa học thực tiễn nhất của công tác quản lý di sản, đề xuất các giải pháp chuyên môn khi các tác giả đưa ra những dữ liệu khoa học cho toàn bộ các phương diện DSVH ở Việt Nam Sách tập trung 37 bài viết được quy thành bốn nội dung chính như sau: di sản và công tác quản lý, bảo tàng và di tích trong hội nhập và phát triển, DSVH và phát triển du lịch, DSVH nhìn từ công tác bảo tồn và phát huy giá trị Nhiều bài viết đưa ra các bằng chứng xác đáng

về thực trạng của quản lý, bảo tồn và phát huy DSVH Việt Nam trong thời kỳ hội nhập bằng các số liệu nghiên cứu định tính và định lượng

2.2 Một số đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án có liên quan đến quản lý di tích văn hóa

- Đề tài nghiên cứu Bảo vệ di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Cục Di sản văn hóa do TS Nguyễn

Thế Hùng làm chủ nhiệm cũng đã đề cập tới những ảnh hưởng của sự đổi mới CNH, HĐH đến việc bảo vệ DSVH Đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo vệ, phát huy trên các lĩnh vực DSVH vật thể và phi vật thể trên phạm vi cả nước với những thành tựu đạt được cũng như hạn chế trong hoạt động này Tác giả đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp chính nhằm đây mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH như: Tăng cường công tác quản lý nhà nước; củng cố hoàn thiện bộ máy ngành; chính sách đầu tư; xã hội hóa; đào tạo nguồn lực con người; tăng cường hợp tác quốc tế

- Công trình nghiên cứu Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội của tác giả Nguyễn Chí Bền thuộc nhánh của Chương

trình Khoa học cấp Nhà nước KX.09 đã trình bày, phân tích khá rõ những vấn

Trang 11

đề về lý luận, thực tiễn cùng những kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những quan điểm mới về quản

lý di sản của nhiều nước trên thế giới để có thể áp dụng vào thực tiễn ở nước

ta Công trình đã đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của các DSVH Dưới góc độ quản lý, đây chính là những đề xuất cho công tác quản

lý DTVH của Hà Nội hiện nay, là nguồn thông tin quan trọng cho các địa phương khác nhau trong cả nước tham khảo

- Nghiên cứu về Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới hội nhập quốc tế, (2012) nhóm tác giả Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn đã đi sâu

tìm hiểu các vấn đề về văn hóa trong tiến trình đôi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta cũng như các giải pháp để quán lý hiệu quả các hoạt động văn hóa trong tiến trình ấy nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Các tác giả đã đề cập đến nhiêu lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý DSVH Nội dung quản lý được đề cập trên hai khía cạnh: Công tác quản lý nhà nước: bao gồm việc ban hành các văn bản pháp quy, các văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng

và Nhà nước về bảo tồn DSVH dân tộc; Công tác phát triển sự nghiệp: tập trung phân tích những ưu điểm trong hoạt động bảo tồn di tích, chỉ ra những hạn chế như chưa có quy hoạch bảo tồn và phát huy giả trị, các dự án chưa đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu bảo tồn Từ thực trạng này các tác giả đã đề

ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích

Một số luận văn, luận án liên quan đến vấn đề nghiên cứu:

- Luận văn của Vũ Thị Minh Hậu (2014), Quản lý hoạt động văn hóa ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên

truyền

- Luận văn của Dương Minh Vĩnh (2015), Quản lý di tích văn hóa trên địa bàn tỉnh Cà Mau, Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh

Trang 12

- Luận văn của Nguyễn Văn Khởi (2015), Quản lý di tích văn hóa ở tỉnh Vĩnh Long, Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh

- Luận án tiến sĩ của Trần Đức Nguyên (2015), Quản lý di tích văn hóa

ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, Viện Văn hóa Nghệ

thuật Quốc gia Việt Nam

- Luận văn của Vũ Thị Kiều Chinh (2017), Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay, Học viện Báo chí và

Tuyên truyền

- Luận văn của Nguyễn Thái Vinh (2018), Quản lý các lễ hội trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên

truyền

- Luận văn của Nguyễn Mạnh Tường (2018), Quản lý các di tích lịch

sử văn hóa trên địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội hiện nay, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền

- Luận văn của Phạm Thị Thùy An (2018), Đổi mới phương thức quản

lý các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các luận văn, luận án trên đã cung cấp cho chúng tôi một số luận điểm

về quản lý và quản lý hoạt động văn hóa từ góc độ lý luận chung, giúp chúng tôi có thêm cơ sở lý luận khi triển khai nội dung đề tài

2.3 Một số bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành liên quan đến quản

Trang 13

tích, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở địa phương Đối với các di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới, các địa phương cần nghiên cứu lộ trình nâng cấp bộ máy trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Trong bài Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa (2016), tác giả Đặng Văn Bài đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của

công tác quản lý nhà nước đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm Các nội dung bao gồm: Quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ phát huy giá trị DSVH; quyết định

về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý ; Việc phân cấp quản lý di tích; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý

Khánh Nguyên (2019), Siết quản lý, bảo vệ di tích lịch sử-văn hóa và danh thắng, đăng trên tạp chí Tuyên Giáo Nội dung bài viết đề cập tới việc

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa gửi văn bản số 2009/BVHTTDL-DSVH tới UBND các tỉnh, thành phố về việc tăng cường quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị DTVH, danh lam thắng cảnh Bài viết cho biết những năm qua, nhiều tỉnh, thành phố đã làm tốt công tác bảo vệ và phát huy giá trị DTVH, danh lam thắng cảnh, nhưng vẫn còn địa phương chưa chủ động trong việc kiểm

kê, xếp hạng di tích; tình trạng mất cắp hiện vật, cháy ở di tích vẫn tiếp tục xảy ra hàng năm; hiện tượng tu bổ di tích không phép, lắp đặt mới các biển hiệu giới thiệu di tích, quảng bá du lịch chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, làm ảnh hưởng tới giá trị di tích

Nhận xét chung: Những nghiên cứu trên có liên quan đến đề tài: hoặc các

chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm định hướng, tạo điều kiện cho phát triển văn hóa và quản lý hoạt động văn hóa; hoặc tập trung ở phần lý luận chung về quản lý hoạt động văn hóa, quản lý DSVH Đối với những công

Trang 14

trình nghiên cứu trực tiếp công tác quản lý DSVH ở một số đơn vị cơ sở, tiếp cận vấn đề từ góc độ quản lý một số hoạt động văn hóa, kết quả nghiên cứu thường gắn với từng hoàn cảnh cụ thể, trong một giai đoạn nhất định Các công trình trên đã nghiên cứu vấn đề quản lý DTVH, giúp chúng tôi có thêm cơ sở lý luận khi triển khai nghiên cứu đề tài quản lý DTVH ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài, tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên chưa có công trình nào trực tiếp bàn về quản lý DTVH hóa ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay Do vậy đề tài luận văn của tác giả không trùng lặp với các công trình đã công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích đánh giá thực trạng

quản lý DTVH ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý DTVH ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

Một là, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý DTVH ở cấp huyện/quận

Hai là, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý DTVH ở quận

Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay

Ba là, đề xuất một số quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý

DTVH ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý DTVH ở quận Hoàn Kiếm,

thành phố Hà Nội hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 15

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến nay

- Phạm vi không gian: quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước về quản lý văn hóa và quản lý DTVH

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn phân tích, tổng hợp các

tài liệu, các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận văn bao gồm các văn kiện của Đảng và nhà nước ở Trung ương và địa phương, các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo, các công trình nghiên cứu của các ban ngành đoàn thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý DTVH

- Phương pháp logic và lịch sử: Trên cơ sở nghiên cứu các công trình

khoa học có liên quan đến quản lý DTVH, luận văn phân tích, làm rõ những nội dung mà các công trình khoa học đã đề cập và những vấn đề liên quan đến

đề tài nhưng chưa được các công trình làm rõ, rút ra những vấn đề mới mà luận văn tiếp tục phải nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học: Chọn mẫu điều tra mang tính đại

diện để điều tra về quản lý DTVH ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Trên

cơ sở nghiên cứu các yếu tố chủ quan và khách quan, chúng tôi lập bảng hỏi thu thập dữ liệu theo mẫu và phân tích, xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Sau khi đã có kết quả điều tra xã

hội học, luận văn tập trung phân tích, thống kê, xử lý số liệu nhằm xác định

Trang 16

cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu là tăng cường quản lý quản lý DTVH ở

quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về DTVH, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các DTVH trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay

Luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp có ý nghĩa thực tiễn, khả thi tăng cường quản lý di tích văn hóa ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của để tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để thống nhất nhận thức và góp phần cung cấp căn cứ khoa học cho lãnh đạo các cấp, các ngành mà trước hết là căn cứ khoa học cho cán bộ, lãnh đạo quản lý văn hóa nói chung, quản

lý DYVH nói riêng ở các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho chuyên viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên về các vấn đề văn hóa, quản lý di tích văn hóa

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm 03 chương, 07 tiết

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VĂN HÓA

Ở CẤP HUYỆN/ QUẬN 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm quản lý và quản lý xã hội

* Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động xuất hiện rất sớm trong lịch sử, nó là hoạt động tất yếu khi có sự tham gia của nhiều người Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý Theo các nhà khoa học đã nghiên cứu về khoa học quản lý,

F W Taylo (1856- 1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “cha đẻ” của trường phái quản lý theo khoa học, người đầu tiên tiếp cận và nghiên cứu quản lý một cách khoa học và có hệ thống, cho rằng quản lý là biết được chính xác điều bạn mong muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất H Fayol (1886- 1925) là đại diện xuất sắc nhất của thuyết quản lý hành chính được coi là người đặt nền móng cho lý luận quản lý cổ điển , là một

“Taylo của Châu Âu” và là người cha thực sự của lý thuyết quản lý hiện đại trong xã hội công nghiệp Theo Fayol, quản lý hành chính là dự toán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra M P Follet (1868- 1933) tiếp cận quản lý từ cấp độ quan hệ con người, nhấn mạnh yếu tố nghệ thuật trong quản lý không định: quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác C.I Barrard (1866- 1961) tiếp cận quản lý của lý thuyết hệ thống, là đại biểu xuất sắc của lý thuyết quản lý tổ chức cho rằng: quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát triển tổ chức Điều quyết định đối với sự tồn

Trang 18

tại và phát triển của một tổ chức đó là sự sẵn sàng hợp tác, khả năng thông tin Simon (1916- 2001) cho rằng do quyết định là cốt lõi của quản lý Mọi công việc của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý Ra quyết định quản lý là chức năng cơ bản của mọi cấp trong tổ chức [21]

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đặc tính đã

đề ra đúng với ý chí của người quản lý Theo cách hiểu nay thì quản lý là các

tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý

và mục đích quản lý Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản

lý Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào các khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Những tiếp cận và quan điểm khác nhau đã tạo ra bức tranh đa sắc và phong phú về quản lý, góp phần cho việc nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn về quản lý Quản lý là hoạt động bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động Trong xã hội bao gồm nhiều phương diện, nhu cầu, đòi hỏi có nhiều lĩnh vực hoạt động của con người để đáp ứng những nhu cầu đó như: hoạt động trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, văn hóa, giáo dục Mỗi lĩnh vực đều đặt dưới sự điều chỉnh của một cơ chế quản lý toàn xã hội, có sự chỉ đạo để điều hòa hoạt động của các cá nhân từ đó hình thành nên hoạt động quản lý Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên Quản lý ra đời chính là nhằm đạt hiệu quả hơn, năng suất cao hơn trong công việc Nhìn chung, quản lý là chức năng nhằm bảo vệ

và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ hoạt

Trang 19

động thực hiện một chương trình và một mục tiêu của hoạt động đã được ý thức hóa của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hoặc một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý Theo nghĩa thông thường thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã định

Từ những phân tích trên, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức,

có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong những điều kiện cụ thể, nhằm đạt mục tiêu đã xác định từ trước

Quản lý có 7 chức năng cơ bản sau: Dự đoán là phán đoán trước toàn

bộ quá trình và các hiện tượng mà trong tương lai có thể xảy ra trong sự phát triển của một hệ thống quản lý, giúp nhà quản lý chủ động trong quy trình quản lý, phán đoán trước tình hình và có các phương án khả thi để xử lý các tình huống xảy ra trong quá trình quản lý nhằm đạt mục tiêu và hiệu quả quản

lý cao nhất Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản

lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động và bước đi cụ

thể trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý Tổ chức chính là sự

kết hợp, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất Một cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi

nó tuân thủ nguyên tắc thống nhất trong mục tiêu, mỗi cá nhân đều góp phần

công sức vào các mục tiêu chung của hệ thống Động viên nhằm phát huy khả

năng vô tận của con người vào quá trình thực hiện mục tiêu của hệ thống, là chức năng quản lý cần phải xác định những yếu tố tạo thành động cơ thúc đẩy mọi người đóng góp có kết quả và hiệu quả tới mức có thể được cho hệ thống

Điều chỉnh nhằm sửa chữa các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ

thống để duy trì các mối quan hệ giữa bộ phận điều khiển và bộ phận chấp hành;

Trang 20

giữa bộ máy quản lý với hoạt động của hàng trăm, hàng nghìn người sao cho nhịp nhàng, ăn khớp với nhau Sự điều chỉnh cũng rất phức tạp, bởi vì bất cứ một sự rối loạn nào trong bộ phận, một khâu nào đó đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp

đến những bộ phận khác của hệ thống Kiểm tra là để đánh giá đúng kết quả

hoạt động của hệ thống, bao gồm cả việc đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động, là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý căn

cứ vào mục tiêu và kế hoạch đã định, xác định xem chúng hoạt động có phù

hợp với mục tiêu và kế hoạch hay không Đánh giá và hoạch toán cung cấp

cho cơ quan quản lý các thông tin cần thiết để đánh giá đúng tình hình của đối tượng quản lý và dự kiến quyết định bước phát triển mới Đây là chức năng quan trọng của quá trình quản lý đối với mọi hệ thống, yêu cầu phải chính xác đối với các yếu tố định lượng và định tính, nhưng tuyệt đối hóa phương pháp này và bỏ qua các định tính hoặc các yếu tố tiềm ẩn là các yếu tố khó đo lường được bằng con số thì thông tin chưa thật chính xác Do đó đánh giá hiệu quả phải có thước đo phù hợp với mục tiêu theo quan hệ chính xác cao dựa vào các tiêu chuẩn của các yếu tố cả định tính và định lượng Các chức năng quản lý tạo thành một chỉnh thể thống nhất với một trình tự chặt chẽ, trong quản lý không được coi nhẹ một chức năng nào [21]

Các nhà khoa học phân ra hai loại quản lý, đó là quản lý xã hội và quản

lý nhà nước Trong thực tế, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội và những hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển xã hội Có thể hiểu quản lý nhà nước xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và đồng nhiệm những công việc quan trọng nhất là sử dụng quyền lực nhà nước tiến

Trang 21

hành thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội, đó là điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người

* Quản lý xã hội là “những tác động có ý thức của các chủ thể xã hội

có thể cá nhân hoặc tổ chức và xã hội nhằm sắp xếp và duy trì các sản phẩm đặc thù của xã hội, tồn tại và phát triển xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nó như lao động và học tập, văn hóa, chính trị, tôn giáo và các công tác xã hội khác Quản lý xã hội là loại hình quản lý nói chung Chức năng của quản lý xã hội là đảm bảo việc thực hiện các nhu cầu phát triển tiến bộ cho toàn hệ thống xã hội cũng như các bộ phận của nó” [38; tr.13] Quản lý xã hội được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý con người điều khiển con người

Theo tác giả Nguyễn Vũ Tiến, khái niệm quản lý xã hội được sử dụng theo hai cách tiếp cận khác nhau:

Thứ nhất, quản lý xã hội là “hoạt động quản lý các tổ chức xã hội phi

nhà nước, không chịu sự chi phối trực tiếp với quyền lực nhà nước hay chính phủ” [38; tr.13] Quản lý xã hội ở phương diện này vừa rộng hơn và khác biệt

so với quản lý nhà nước bởi không chịu sự chi phối trực tiếp nhưng vẫn chịu

sự tác động của quyền lực nhà nước, của chính phủ Về nguyên tắc, nhà nước xuất hiện gắn liền với một thực thể xã hội, điều hành các mối quan hệ xã hội,

vì thế quản lý xã hội gắn bó chặt chẽ với quyền lực nhà nước và chính phủ không chịu sự chi phối trực tiếp

Thứ hai, quản lý xã hội là cách tổ chức đời sống xã hội vì mục tiêu

chung, khi đó cả quốc gia đều bị chi phối bởi dạng quản lý nào đó Quản lý hành chính cũng là một dạng quản lý xã hội Cách định nghĩa này có tính phổ biến hiện nay, đây cũng là sự lựa chọn của chúng tôi khi xây dựng cơ sở lý luận của đề tài luận văn Quản lý xã hội hiện nay bao gồm hai yêu tố trong

Trang 22

cấu trúc, đó là quản lý bởi quyền lực của nhà nước và quản lý bởi các yếu tố

xã hội phi chính phủ, ngoài nhà nước Các tổ chức xã hội tham gia quản lý xã hội có thể là tổ chức xã hội trong thiết chế tổ chức của nhà nước, cũng có thể

là tổ chức phi chính phủ Mối quan hệ giữa các tổ chức xã hội này đôi khi không được phân định một cách rõ ràng vai trò của nhà nước trong xã hội là

để điều tiết các quan hệ xã hội

Từ cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu rằng: quản lý xã hội là những tác động có ý thức của con người và xã hội nhằm sắp xếp và duy trì các phẩm chất đặc thù của xã hội để đáp ứng sự sự tồn tại và phát triển của xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, nhằm đạt được mục đích và đúng quy định của chủ thể quản lý

1.1.1.2 Khái niệm di tích văn hóa

Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng

tạo ra trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội nhằm phục

vụ lợi ích nhu cầu của con người Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa cho tới nay trên thế giới có hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa Có người cho rằng văn hóa là thước đo trình độ phát triển và dấu ấn bản sắc dân tộc, người khác lại nhận định văn hoá là phong tục, lối sống…Có thể hiểu văn hóa là tổng thể những nét đặc thù

về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng

Di tích là “dấu vết của người hoặc sự việc thời xưa hoặc thời trước đây

còn để lại” [30, tr.341]; là “ các loại dấu vết của quá khứ, là đối tương nghiên cứu của khảo cổ học, sử học” [31, tr.834] Có nhiều loại di tích, nhưng phổ

Trang 23

biến là di tích cư trú và mộ táng, một số di tích bị chôn trong lòng đất, một số

lộ thiên như đền, chùa, tháp, các bức tranh vẽ ở hang động Một di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt Di tích khi đã được công nhận sẽ là tài sản được pháp luật bảo vệ, không được tùy tiện xâm hại, dịch chuyển, phá hoại

Di tích văn hóa được định nghĩa theo nhiều góc độ, có thể được hiểu là

tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại Cũng có thể hiểu đó là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội Di tích văn hóa làdấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử, đó

có thể là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: di tích văn hóa là “những công trình xây dựng, những hiện vật, đồ vật có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội của một dân tộc, một đất nước, vd; Văn miếu- Quốc tử giám ”[31,t1,tr.834] Theo Luật Di sản văn hóa thì DTVH là công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử Là địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu, là công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật

* Di tích văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Trang 24

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa, Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ …

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần thể di tích Yên Tử …

Các DTVH là một trong số những dạng thức chính của văn hóa vật thể,

là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại Mỗi DTVH chứa đựng nhiều nội dung khác nhau Có thể chia thành các loại di tích như sau:

+) Di tích văn hóa khảo cổ (di chỉ khảo cổ): Là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại Đa số các di tích văn hóa khảo

cổ nằm trong lòng đất, cũng có trường hợp tồn tại trên mặt đất: các bức chạm trên vách đá Những di tích văn hóa khảo cổ này được phân thành hai loại di chỉ cư trú và di chỉ mộ tang

+) Di tích lịch sử văn hóa: thường gắn liền với các kiến trúc có giá trị ghi dấu về dân tộc học (sự ăn ở, sinh hoạt của các tộc người); ghi dấu chiến công xâm lược áp bức; những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa khoa học; ghi dấu sự vinh quang trong lao động; ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến

+) Di tích văn hóa nghệ thuật: là những di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa

xã hội, văn hóa tinh thần

1.1.1.3 Khái niệm quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận

Trang 25

Quản lý di tích văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của quản lý văn hóa,

mang tính đặc thù Theo tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn [17] vì trước hết, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người Hoạt động đó đòi hỏi phải có những không gian dành riêng, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có khả năng sáng tạo theo khả năng của mình Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây hiệu ứngtốt hoặc xấu trong xã hội Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Quản lý văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của quản lý, thường được hiểu là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung

Cấp quận, huyện là thuật ngữ để chỉ một đơn vị hành chính bậc hai của một quốc gia, đơn vị bậc một là tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương

Huyện được chia thành các xã và ít nhất là một thị trấn nơi chính quyền huyện đặt cơ quan hành chánh Cấp quận là một thuật ngữ khác được dùng để chỉ các đơn vị hành chính tương đương với huyện gồm có các phường, xã trực thuộc Theo nghị định của Chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 26/1/2007 "Về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện" thì đơn vị hành chính cấp huyện được phân làm ba loại: loại I, loại II và loại III Thành phố trực thuộc tỉnh, quận thuộc thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh là các đơn vị hành chính cấp huyện loại I Quận thuộc Thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có dân số và mật độ dân số cao, tính chất quản lý nhà nước về đô thị phức tạp và khó khăn, đạt tỷ lệ thu chi cân đối ngân sách hàng năm cao, là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc đô thị loại đặc biệt Các

Trang 26

đơn vị hành chính cấp huyện còn lại được tính điểm để phân loại theo các tiêu chí: Dân số; Diện tích tự nhiên; Các yếu tố đặc thù.

Từ các khái niệm có liên quan như đã phân tích ở trên có thể đưa ra

khái niệm quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận như sau: Quản lý DTVH

ở cấp huyện/quận là sự tác động liên tục, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở cấp huyện/quận lên các DTVH nhằm bảo tồn và phát triển DTVH phù hợp với đặc trưng, mục tiêu, quy luật phát triển khách quan của tiến trình quản lý xã hội Chủ thể quản lý là hệ thống những người quản lý, các tổ chức

như đảng, nhà nước, mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội ở huyện, quận tham gia quản lý DTVH

Quản lý DTVH là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực và thực sự trở thành mục tiêu và động lực của phát triển

Di tích phải hướng về cộng đồng và phục vụ sự phát triển cộng đồng, tạo động lực để thu hút sự tham gia của họ vào quản lý DTVH Các DTVH cần được tôn trọng và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên quan trọng trong phát triển kinh tế du lịch Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những DTVH có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của cộng đồng Về bản chất, quản lý các DTVH là quản lý các hoạt động của con người và cộng đồng xã hội như nghiên cứu, kiểm kê, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị, có thể tác động ở cả hai chiều thuận và nghịch tới DTVH Như vậy, quản lý DTVH là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan quản lý và cộng đồng dân cư địa phương nơi có DTVH cần được bảo

vệ, phát huy

Quản lý DTVH là nội dung của quản lý DSVH bởi DTVH là một bộ phận của DSVH Việc quản lý DTVH nhằm hướng tới mục đích chính: bảo tồn, gìn giữ các di tích chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người; khai

Trang 27

thác, phát huy có hiệu quả các di tích phục vụ phát triển kinh tế xã hội Các nhà nghiên cứu nhìn nhận DTVH theo những cách tiếp cận mới mẻ, phong phú nhất là về vai trò, giá trị của DTVH Theo đó, DTVH không còn được coi

là sự vật của quá khứ với những giá trị và hình thái bất di bất dịch, có giá trị vĩnh viễn Thay vào đó, DTVH được nhìn nhận lại như một quá trình sáng tạo văn hóa trong những môi trường vận động thực tại Như vậy, DTVH là sản phẩm của thực tại, được tạo ra bởi cảm nhận về các giá trị của quá khứ, dẫn đường bởi những mối quan tâm đến vai trò của quá khứ trong các mối lo toan

về thực tại và tương lai Một mặt cần gìn giữ, bảo tồn các di tích tránh những nguy cơ bị hủy hoại, bị tàn phá bởi thiên nhiên, con người nhưng mặt khác cần đưa những giá trị của di tích vào phục vụ cho sự phát triển của con người Phát huy giá trị của di tích chính là sử dụng có hiệu quả các giá trị vốn có của

di tích, những giá trị mang tính tích cực, có ích cho thời đại vào việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ và khoa học, coi đó như một nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng cho cộng đồng, nâng cao trách nhiệm bảo vệ DSVH của cộng đồng

1.1.2 Đặc điểm quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận

1.1.2.1 Đặc điểm về chủ thể quản lý

Quản lý các DTVH là hoạt động quản lý rộng lớn và rất phức tạp, trước hết là từ phía chủ thể quản lý Theo mục I, chương 4 của Luật Di sản văn hóa thì chủ thể quản lý DTVH là chính quyền địa phương mà thẩm quyền quyết định các vấn đề về xét duyệt di tích, lập hồ sơ di tích, quản lý bảo vệ di tích là Chủ tịch UBND tỉnh và Sở Văn hóa, Thông tin và Truyền thông

Theo Luật Di sản thì việc quản lý DTVH ở các địa phương chủ yếu do chính quyền quản lý và tự ban hành quy chế riêng phù hợp với quy định trong Luật Di sản Vậy nên chủ thể quản lý các DTVH cấp huyện/quận không thuần nhất chủ yếu dựa vào vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự

Trang 28

tham gia quản lý của các tổ chức chính trị - xã hội và các lực lượng xã hội khác Ở cấp huyện/ quận chủ thể quản lý DTVH do UBND cấp tỉnh chỉ đạo,

và trực tiếp là UBND huyện/quận, Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan tham mưu giúp UBND huyện/quận trong quản lý DTVH; bên cạnh đó còn có các chủ thể khác tham gia quản lý DTVH như MTTQ và các tổ chức thành viên, các đoàn thể quần chúng và nhân dân

Trên địa bàn thành phố Hà Nội, Điều 17 của Quyết định UBND ngày 17/11/2016 về việc ban hành quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị DTVH và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố Hà Nội thì

48/2016/QĐ-cơ quan quản lý di tích bao gồm:

1 UBND Thành phố thực hiện việc quản lý nhà nước đối với toàn bộ di tích trên địa bàn thuộc thẩm quyền quản lý của thành phố

2 Sở Văn hóa và Thể thao chịu trách nhiệm tham mưu UBND Thành phố thực hiện quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn Thành phố

3 UBND cấp huyện thực hiện việc quản lý nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn và nhiệm vụ được phân công UBND cấp huyện phân công UBND cấp xã thực hiện quản lý di tích trên địa bàn, bảo đảm phù hợp với điều kiện, khả năng cụ thể của mỗi địa phương và thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định pháp luật Đối với di tích quốc gia đặc biệt, việc quản lý

do UBND cấp huyện quyết định, phù hợp quy định pháp luật; trong thành phần tham gia quản lý phải bố trí nhân sự có trình độ chuyên môn

4 Phòng Văn hóa và Thông tin chịu trách nhiệm trước UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn huyện

5 UBND cấp xã quyết định thành lập Ban quản lý di tích hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm căn cứ đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, số lượng

di tích, sau khi có thỏa thuận bằng văn bản của Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện về thành phần nhân sự

Trang 29

Như vậy, chủ thể quản lý DTVH ở quận thường xuyên, trực tiếp là UBND quận và Phòng Văn hóa, thông tin quận Hoạt động quản lý các DTVH với sự điều tiết của các cộng đồng dân cư, bị chi phối bởi các đặc điểm, phong tục, tập quán, lối sống Mối quan hệ này phải tìm được tiếng nói chung đối với các DTVH mới tạo được sự đồng thuận lớn giữa người dân và các cơ quan quản lý, và sẽ mang lại hiệu quả cao Do đó, chủ thể quản lý DTVH cấp huyện/quận còn là chính người dân, có sự linh hoạt, phù hợp trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Quản lý DTVH là sự nghiệp của toàn xã hội, công sức, mọi nỗ lực chủ động của mọi người, của các tổ chức chính trị

xã hội dưới sự điều hành chủ yếu của Nhà nước

1.1.2.2 Đặc điểm về đối tượng quản lý

Quản lý DTVH cấp huyện/quận mang tính đặc thù vì tính đặc trưng của khách thể và đối tượng quản lý Quản lý DTVH là một lĩnh vực cụ thể của quản lý, đây là sự quản lý của nhà nước, các tổ chức phi nhà nước, của nhân dân đối với DTVH trên cơ sở công cụ chủ yếu là chính sách, pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Theo điều 28 Luật Di sản văn hóa, việc quản lý DTVH gắn trực tiếp với các công trình văn hóa như:

a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;

b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;

c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;

d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;

Trang 30

đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử

Có thể thấy, trước hết hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo và gắn với các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người Hoạt động đó đòi hỏi phải có những không gian dành riêng, giúp sức cho sự tưởng tượng của chủ thể có khả năng sáng tạo theo khả năng của mình Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng xây dựng tốt tri thức văn hóa, định hướng tư tưởng cho cộng đồng Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động tạo nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội

Thực tế ở nước ta cho thấy quản lý DTVH là quá trình xuyên suốt trong đời sống xã hội tất cả các cấp độ, các địa phương; công tác này giúp cho đời sống văn hóa của xã hội có nền tảng để ổn định và bền vững để tồn tại và phát triển Đối tượng của hoạt động quản lý là các DTVH ở địa phương cụ thể, với những đặc trưng về loại hình, vật liệu xây dựng, việc bảo tồn cần tôn trọng tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của di tích trong những điều kiện cho phép Việc quản lý DTVH phải vì mục tiêu và gắn với phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt cần gắn với cộng đồng, tôn trọng và đề cao vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ sở hữu của

di sản, người hưởng thụ giá trị của di sản đó, đóng vai trò chủ động trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DTVH

1.1.2.3 Đặc điểm về môi trường quản lý

Môi trường quản lý được hiểu quản lý trong điều kiện, hoàn cảnh nào, tức là toàn bộ các yếu tố tác động đến quá trình quản lý, có môi trường bên trong và môi trường bên ngoài, có môi trường khách quan và môi trường chủ quan Quản lý DTVH cấp huyện/quận ở nước ta hiện nay trong bối cảnh nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóa nói chung,

Trang 31

DTVH và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càng được nâng cao Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đấu tranh chống vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân Hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ trong mấy chục năm qua đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội chăm lo và bảo vệ di tích Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc dù

đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa Phần lớn các vi phạm này đã diễn ra từ lâu nên việc giải quyết cần có quyết tâm và sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp

Các DTVH tiêu biểu của đất nước đều từng bước đã được đầu tư tu bổ Tuy nhiên, cũng còn nhiều di tích đang ở trong tình trạng xuống cấp Nhưng việc tu bổ di tích hiện nay mới chỉ tập trung vào di tích chính nổi tiếng, hầu như chưa có di tích nào được đầu tư tu bổ hoàn chỉnh từ kiến trúc tới hạ tầng,

từ nội thất tới ngoại thất Bên cạnh đó, chất lượng tu bổ di tích, nhất là những hạng mục được thi công bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp còn chưa đạt yêu cầu về chuyên môn Tăng cường quản lý nhà nước và xây dựng đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư, nghệ nhân, công nhân phục vụ tu bổ di tích là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay Các di tích lớn đều trở thành những địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước Điều đó đưa đến kết quả nguồn thu từ bán vé tham quan tại di tích và những sản phẩm dịch vụ khác không ngừng tăng lên, tạo việc làm cho nhiều người lao động, góp phần biến đổi cơ cấu kinh tế của địa phương Di tích văn hóa là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ qua thời gian nhưng cũng trở thành đối tượng bị thời gian tàn phá cho nên chúng ta cần phải có những biện pháp quản lý thích hợp để có thể gìn giữ lâu dài, phải làm cho các di sản đến từ quá khứ và trở

Trang 32

thành một phần quan trọng của đời sống xã hội hiện tại Tất cả những hoạt động đó được coi là những công việc thuộc về quản lý DTVH Quản lý DTVH không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phải tiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao những giá trị văn hóa đó phù hợp với yêu cầu của xã hội đương đại Môi trường quản lý tốt sẽ tác động tích cực đến hiệu quả quản lý DTVH trên địa bàn quận

1.1.3 Vai trò của quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận

Một là, quản lý di tích văn hóa góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển văn hóa, hiện thực hóa các chủ trương, đường lối bảo tồn, phát triển văn hóa của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Các DTVH luôn là nội lực mang sức mạnh vật chất to lớn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cũng bởi vậy, việc xã hội hóa để có những phương thức tiếp cận nhằm khai thác, phát huy giá trị của các di tích này đã và đang đòi hỏi các cấp chính quyền, các nhà quản lý xã hội

có nhận thức đúng đắn về vấn đề quản lý trong mối gắn kết giữa lý luận khoa học với thực tiễn Tính đến năm 2017, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở

11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam Di tích văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Chiếm 51,2 % số di tích được xếp hạng, không những có giá trị lịch

sử, DTVH còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch Quản lý DTVHcó vai trò góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển văn hóa của địa phương, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước

Trang 33

Hai là, quản lý di tích văn hóa góp phần tăng cường gắn kết cộng đồng của dân tộc, xây dựng văn hóa cộng đồng

Đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, lịch sử văn hóa được xem là bảo vật thiêng liêng mà mỗi thế hệ phải có trách nhiệm phát huy và bảo tồn Một xã hội không thể tồn tại và phát triển nếu không dựa trên nền tảng giá trị văn hóa Văn hóa cộng đồng là nền tảng phát triển của mọi xã hội Quản lý DTVH góp phần tăng cường gắn kết cộng đồng các dân tộc, làm cho các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ những tri thức, kinh nghiệm thông qua việc các tổ chức

và các cá nhân cùng nhau tham gia sản xuất kinh doanh, sinh hoạt, tổ chức sự kiện lễ hội, vui chơi giải trí tại các khu di tích, góp phần xây dựng văn hóa cộng đồng, vì thế rất cần tăng cường quản lý các DTVH tại địa phương

Ba là, quản lý di tích văn hóa góp phần phát triển văn hóa du lịch

Quản lý xã hội và phát huy, bảo tồn các giá trị văn hóa là hai mặt của một thể thống nhất, có tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trình phát triển của mỗi xã hội và văn hóa được xem là nền tảng Việc phát huy các giá trị văn hóa sẽ có tác dụng làm tăng ý thức, trước hết là của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc và của bạn bè quốc tế đối với trách nhiệm bảo tồn các giá trị văn hóa Ngược lại việc bảo tồn sẽ là cơ sở và tạo cơ hội có được các giá trị văn hóa để tự học, giới thiệu với các dân tộc khác, các quốc gia khác trên thế giới

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt, hay nói một cách khác để có thể phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch Đứng từ góc độ này, các giá trị văn hóa được xem là dạng tài nguyên du lịch để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và

có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền, các địa phương mà còn giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế Nhiều giá trị văn hóa chỉ có thể cảm nhận được trong những khung cảnh của tự nhiên, của nếp sống truyền thống cộng đồng mà không thể có trong phim ảnh, chính sách nào có

Trang 34

thể chuyển tải được Hoạt động du lịch đem lại cho du khách những trải nghiệm đặc biệt, sống động về văn hóa của các vùng miền và các quốc gia

Bốn là, quản lý di tích văn hóa góp phần nâng cao nhận thức của các dân tộc trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới

Sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin trong bối cảnh toàn cầu hóa đã tạo ra những cơ hội, thành công, cho kết nối các quốc gia, dân tộc mở rộng giao lưu, sự hiểu biết và xích lại gần nhau hơn Chính nhờ cơ hội này mà nền văn hóa Việt Nam có điều kiện thuận lợi để giao lưu thế giới Thông qua đó, con người Việt Nam có điều kiện học tập, tiếp thu những giá trị, tinh hoa văn hóa của các dân tộc để làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc mình Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là những nhu cầu tất yếu, khách quan để một dân tộc có thể tồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa, đây là hai mặt thống nhất, có quan

hệ chặt chẽ với nhau Việc nhận thức rõ vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý DTVH Cách thức lớn nhất đối với Việt Nam là làm thế nào để có thể tiếp thu được các giá trị thời đại, tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa có thể giữ gìn bản sắc dân tộc vốn có Do đó, quản lý DTVH cần phát huy tốt vai trò nâng cao nhận thức của các dân tộc trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

Năm là, quản lý di tích văn hóa góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị di tích, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân

Di tích văn hóa là sản phẩm vật chất nhưng luôn mang trong mình những yếu tố phi vật chất là thông điệp, ý thức xã hội, đời sống tinh thần, tâm linh của thế hệ trước lưu chuyển cho thế sau Do vậy, quản lý DTVH, bảo tồn

và phát huy giá trị di tích không những giữ gìn được sản phẩm vật thể mà còn

Trang 35

góp phần làm tăng giá trị văn hóa phi vật thể, từ đó cốt cách dân tộc được giữ gìn, truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc được nuôi dưỡng, lưu chuyển những nhân tố quan trọng không thể thiếu trong sự phát triển bền vững Bảo tồn và phát triển là hai nhân tố quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của mỗi quốc gia Trong lĩnh vực di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích một cách đúng mức sẽ đem lại những hiệu quả thiết thực cho phát triển kinh

tế, ổn định chính trị xã hội Di tích văn hóa là cầu nối quá khứ hiện tại và tương lai, là một trong những yếu tố cấu thành nên môi trường sống, nhiều mặt giá trị văn hóa truyền thống được ngưng đọng khiến DTVH thành tài sản

vô giá, kết tinh giá trị lao động sáng tạo của biết bao thế hệ Tổng hợp các giá trị DTVH là nền tảng vật chất, tinh thần của mỗi dân tộc, là động lực phát triển của quốc gia, mỗi địa phương

1.2 Nguyên tắc, nội dung và phương pháp quản lý di tích văn hóa

ở cấp huyện/quận

1.2.1 Nguyên tắc quản lý di tích văn hóa ở cấp huyện/quận

Quản lý DTVH là một lĩnh vực cụ thể của quản lý, thường được hiểu là

sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (cá nhân, tổ chức) được trao quyền và trách nhiệm quản lý đối với khách thể

là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa nhằm đạt được mục tiêu mong muốn Di tích văn hóa là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc vì vậy quản lý DTVH chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo nhiều hướng tích cực, phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng Nguyên tắc quản lý DTVH là các phương châm chỉ đạo, các chuẩn mực hoạt động cơ bản để đảm bảo thống nhất các hoạt động quản lý di tích theo đúng định hướng Để quản lý DTVH theo đúng định hướng cần phải quán triệt các nguyên tắc chính sau đây:

Trang 36

Thứ nhất, nguyên tắc đảm bảo sư lãnh đạo của Đảng Cơ sở pháp lý của

nguyên tắc này là tại Ðiều 4, Hiến pháp năm 2013 quy định : “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối với nhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội…Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối, quan điểm giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý DTVH biểu hiện cụ thể ở các hình thức hoạt động của các tổ chức Ðảng

Trước hết, Ðảng lãnh đạo trong quản lý DTVH bằng việc đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý di tích văn hóa Trên cơ sở đường lối chủ trương, chính sách của Ðảng thông qua các Nghị quyết, các chủ thể quản lý DTVH xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ đó đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng sẽ được cụ thể hóa, thể chế hóa trong quản lý DTVH Ðảng lãnh đạo trong quản lý DTVH thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ Các tổ chức đảng

đã bồi dưỡng, đào tạo những đảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy quản lý DTVH, đưa ra ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan quản lý DTVH Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là

cơ sở để cơ quan xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng Ðảng lãnh đạo

Trang 37

trong quản lý DTVH thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý DTVH Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính hiện thực của các chủ trương chính sách mà Ðảng

đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo Sự lãnh đạo của Ðảng trong quản lý DTVH còn được thực hiện thông qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng đảng viên Ðây là cơ sở nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân Sự lãnh đạo của Ðảng là cơ sở bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý Ðây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý DTVH, cần được vận dụng một cách khoa học và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong quản lý DTVH, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Ðảng cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý DTVH Vì vậy, đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay cho pháp luật, cơ quan, tổ chức của Ðảng không nên và không thể làm thay cho cơ quan quản lý DTVH Các nghị quyết của Ðảng không mang tính quyền lực- pháp lý, tuy nhiên để bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước không thể tách rời sự lãnh đạo của Ðảng

Thứ hai, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc thể hiện

một nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Bởi vì trước hết việc tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý DTVH phải hợp pháp, tức là phải tuân theo pháp luật Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

là một biện pháp để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.” (Ðiều 8, Hiến pháp 2013) Đây là nguyên tắc mang tính bắt buộc chấp hành luật pháp và các

Trang 38

văn bản pháp lý tương ứng của các cơ quan nhà nước Quyết định quản lý nhà nước chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lý xã hội, là phương tiện không thể thiếu được của chủ thể quản lý DTVH sử dụng nhằm thực hiện chức năng quản lý Quyết định quản lý có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn cho hoạt động quản lý; đặt ra, sửa đổi, bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính hoặc làm thay đổi phạm vi hiệu lực của chúng làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể Vì vậy, các chủ thể quản lý DTVH khi ban hành quyết định quản lý trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay có trách nhiệm phải bảo đảm để quyết định đó phải hội đủ những yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý Nếu quyết định quản lý không hợp pháp

đã được thi hành, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm thì công dân được bồi thường thiệt hại Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý nói chung và quản lý DTVH nói riêng nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý DTVH trong thời gian tới

Thứ ba, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ

chức và hoạt động của nhà nước ta nên việc thực hiện quản lý DTVH phải tuân theo nguyên tắc này Ðiều 8 trong Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo

mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất Sự tập trung đó bảo đảm cho cơ quan cấp dưới, cơ quan địa phương có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương;

Trang 39

đồng thời, căn cứ trên điều kiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương và cơ sở Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ Chúng có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý nói chung và quản lý DTVH nói riêng Tập trung dân chủ thể hiện quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ quan quản lý trước cơ quan quản lý cấp trên; phân định chức năng, thẩm quyền giữa cơ quan quản lý các cấp, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của cấp trên, của trung ương và quyền chủ động của cấp dưới

Đó là hệ thống “song trùng trực thuộc” của nhiều cơ quan quản lý, bảo đảm

sự kết hợp tốt nhất sự lãnh đạo tập trung theo ngành với thẩm quyền quản lý theo đơn vị hành chính lãnh thổ của các cơ quan quản lý ở địa phương

Thứ tư, nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới

hành chính Ngành là một phạm trù chỉ tổng thể những đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh doanh có cùng một cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với cùng một mục đích giống nhau Có sự phân chia các hoạt động theo ngành tất yếu dẫn đến việc thực hiện hoạt động quản lý theo ngành Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý ở các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được yêu cầu của nhà nước

và xã hội Hoạt động quản lý theo ngành được thực hiện với hình thức, qui

mô khác nhau, có thể trên phạm vi toàn quốc, trên từng địa phương hay một vùng lãnh thổ

Quản lý theo địa giới hành chính là quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự phân vạch địa giới hành chính của nhà nước Quản lý theo địa giới hành chính ở nước ta được thực hiện ở bốn cấp: Cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, quận, thị xã, thành phố

Trang 40

thuộc tỉnh; cấp xã, phường, thị trấn Trong quản lý DTVH cũng cần vận dụng

và thực hiện tốt nguyên tắc quản lý theo ngành, kết hợp với quản lý theo đơn

vị hành chính lãnh thổ Đối với cấp huyện/quận cần có sự kết hợp trong quản

lý giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (hoặc Sở Văn hóa và Du lịch tổ chức

ở một số địa phương) là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh/thành phố thống nhất quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn tỉnh với UBND huyện/quận; giữa Phòng Văn hóa và Thông tin với UBND cấp xã, phường, thị trấn, cũng như công chức Văn hóa – Xã hội của xã/phường trong quản lý DTVH trên địa bàn huyện/quận

Thứ năm, nguyên tắc có địa chỉ là nguyên tắc tổ chức quá trình quản lý

nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội và các lực lượng khác giao cho cơ quan chuyên môn ngành dọc quản lý DTVH thực hiện để đạt được mục tiêu

đề ra Mỗi địa phương có những DTVH khác nhau, không ai có thể nắm được thông tin về tình trạng di tích tốt bằng người dân địa phương đó Những cơ quan chuyên môn ở tại địa phương sẽ nắm được rất rõ thực trạng của từng di tích Chính vì vậy, quá trình quản lý sẽ được tốt hơn nếu như nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và các lực lượng khác do việc quản lý cụ thể theo ngành dọc với các địa phương, từ đó sẽ dễ dàng đạt được mục tiêu quản lý đề ra

Thứ sáu, nguyên tắc công khai là một trong những nguyên tắc quan

trọng trong quản lý DTVH Hoạt động này yêu cầu chủ thể quản lý thông báo kịp thời, rộng rãi và thường xuyên về tình hình và nội dung hoạt động quản lý của mình đối với các cơ quan chuyên môn ngành dọc việc quản lý DTVH để thống nhất thực hiện Nguyên tắc này là phương tiện hình thành nên dư luận

xã hội để đối tượng quản lý tham gia vào quá trình quản lý Cơ sở của nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý hoạt động quản lý DTVH bắt nguồn từ các học thuyết về sự kiểm soát quyền lực của chủ thể quản lý Công khai,

Ngày đăng: 11/11/2021, 01:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
2. Trần Thúy Anh (chủ biên) (2011), Du lịch văn hóa, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch văn hóa
Tác giả: Trần Thúy Anh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
3. Đặng Văn Bài (2006), Bảo vệ di sản văn hóa trong qui hoạch phát triển đô thị ở Việt Nam;Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, In trong cuốn Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Cục Di sản văn hóa xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa trong qui hoạch phát triển đô thị ở Việt Nam;Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2006
4. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch - Cục Di sản văn hóa (2018), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 8, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch - Cục Di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2018
5. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch - Cục Di sản văn hóa (2014), Văn bản quản lý nhà nước về di sản văn hóa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch - Cục Di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2014
12. Phạm Duy Đức (chủ biên) (2010), Phát triển văn hóa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Duy Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
13. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (nhiều tác giả) (2017), Quản lý và khai thác di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập, NXB Đại học Quốc gia thành phó Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và khai thác di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (nhiều tác giả)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phó Hồ Chí Minh
Năm: 2017
14. Vũ Thị Minh Hậu (2014), Quản lý hoạt động văn hóa ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý xã hội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động văn hóa ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Minh Hậu
Năm: 2014
15. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Giáo trình Khoa học quản lý, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2008
18. Nguyễn Thị Kim Loan (Chủ biên), (2012), Quản lý di sản văn hóa, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Loan (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
19. Luật Di sản Văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị quốc gia, 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản Văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
20. Lưu Trần Tiêu (2012), “Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3 (40)-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Lưu Trần Tiêu
Năm: 2012
23. Từ Sơn (chủ biên) (1990), Một số vấn để trong công tác quản lý văn hóa nghệ thuật hiện nay. NXB Thể thao văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn để trong công tác quản lý văn hóa nghệ thuật hiện nay
Tác giả: Từ Sơn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thể thao văn hóa
Năm: 1990
24. Hoàng Trinh (2000), Bản sắc dân tộc và hiện đại trong văn hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc và hiện đại trong văn hóa
Tác giả: Hoàng Trinh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
25. Trần Ngọc Thêm (2006), Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam: cái nhìn hệ thống - loại hình, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam: "cái nhìn hệ thống - loại hình
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
26. Ngô Đức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
27. Ngô Đức Thịnh (2009), Một số vấn để lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyên thống trong đổi mới và hội nhập, Trường Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn để lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyên thống trong đổi mới và hội nhập
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 2009
28. Phạm Ngọc Thanh (2011), “Văn hóa lãnh đạo, quản lý trước yêu cầu đổi mới và phát triên xã hội hiện nay”. Tạp chí Lý luận chính trị (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn hóa lãnh đạo, quản lý trước yêu cầu đổi mới và phát triên xã hội hiện nay”". Tạp chí "Lý luận chính trị
Tác giả: Phạm Ngọc Thanh
Năm: 2011
29. Nguyễn Vũ Tiến (2012), Giáo trình Lý huyết chung về quản lý xã hội. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý huyết chung về quản lý xã hội
Tác giả: Nguyễn Vũ Tiến
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
30. Nguyễn Danh Tiên (2012), Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Danh Tiên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w