Sách “Tìm hiểu kinh tế truyền hình” của tác giả Bùi Chí Trung Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2013 đề cập đến: Một số vấn đề cơ bản trong lý luận kinh tế truyền thông, lý luận kinh tế truy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
N U N D ỆU ANH
QUẢN LÝ CÁC CHƯƠN TRÌNH TRU ỀN HÌNH LIÊN KẾT
TẠ CÁC ĐÀ PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH KHU VỰC PHÍA BẮC
(Khảo sát Đài Phát thanh – truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh – truyền hình
Thanh Hoá, Đài Phát thanh – truyền hình Bắc Ninh sáu tháng đầu năm 2018)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
N U N D ỆU ANH
QUẢN LÝ CÁC CHƯƠN TRÌNH TRU ỀN HÌNH LIÊN KẾT
TẠ CÁC ĐÀ PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH KHU VỰC PHÍA BẮC
(Khảo sát Đài Phát thanh – truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh – truyền hình
Thanh Hoá, Đài Phát thanh – truyền hình Bắc Ninh sáu tháng đầu năm 2018)
Chuyên ngành : Quản lý PTTH và Báo mạng điện tử
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Phạm Thị Thanh Tịnh
HÀ NỘI, 2019
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận
văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày……tháng… năm ……
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 4LỜ CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Phạm Thị Thanh Tịnh Đề tài luận văn không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã công bố Các kết quả công bố trong luận văn là chính xác và trung thực Các tham khảo, trích dẫn đều có nguồn
Tác giả luận văn
NGUY N DIỆU ANH
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên khoa Phát thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, truyền đã truyền tải tri thức, tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn Xin cảm ơn các nhà khoa học, các nhà quản lý của Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội; Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa; Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh, các nhà báo và đồng nghiệp đã hướng dẫn, cung cấp tư liệu, trả lời phỏng vấn và đóng góp ý kiến quý báu cho luận văn của tôi Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đặc biệt tới PGS,TS Phạm Thị Thanh
Tịnh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Quản lý
các chương trình truyền hình liên kết của các Đài Phát thanh – Truyền hình khu vực phía Bắc” (Khảo sát Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội;
Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa; Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh sáu tháng đầu năm 2018)”
Dù tác giả luận văn đã có nhiều cố gắng, song do năng lực bản thân còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, tác giả mong sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Diệu Anh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC CHƯƠN TRÌNH TRUYỀN HÌNH LIÊN KẾT 16
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 16
1.2 Cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý của quản lý các chương trình truyền hình liên kết 29
1.4 Vai trò, đặc điểm của công tác quản lý các chương trình truyền hình liên kết 40
1.5 Những yêu cầu đối với việc quản lý các chương trình truyền hình liên kết 46
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC CHƯƠN TRÌNH TRUYỀN HÌNH LIÊN KẾT Ở CÁC ĐÀ ĐỊA PHƯƠN TRON D ỆN KHẢO SÁT 51
2.1 Tổng quan về các đài phát thanh – truyền hình địa phương 51
2.2 Khảo sát công tác quản lý các chương trình truyền hình liên kết của các Đài Phát thanh – Truyền hình trong diện khảo sát 59
2.3 Đánh giá về thực trạng quản lý chương trình truyền hình liên kết của các đài phát thanh – truyền hình trong diện khảo sát 74
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂN LỰC QUẢN LÝ CÁC CHƯƠN TRÌNH TRU ỀN HÌNH LIÊN KẾT 90
3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với quản lý các chương trình truyền hình liên kết 90
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý các chương trình truyền hình liên kết 96
3.3 Một số kiến nghị đối với các đài trong diện khảo sát 105
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 117
Trang 8là cung cấp thông tin cần phải liên tục thay đổi, làm mới mình bằng cách nâng cao chất lượng thông qua nhiều phương thức khác nhau
Ra đời muộn hơn so với một số loại hình báo chí khác nhưng truyền hình với những yếu tố như âm thanh, hình ảnh luôn được đánh giá là thuận lợi hơn
vì khả năng tiếp cận được lực lượng đông đảo công chúng báo chí Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của kĩ thuật khoa học công nghệ hiện đại đã tạo điều kiện để truyền hình có thể nâng cao chất lượng nội dung, sự đa dạng các thể loại cũng đang dần đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận thông tin và hưởng thụ của người dân Đã hơn 40 năm kể từ ngày phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên và cho đến ngày nay truyền hình vẫn là loại hình báo chí được đông đảo công chúng đón nhận Điều đó phần nào đã chứng minh được vị trí, vai trò của truyền hình và đặc biệt hơn đó là thế mạnh vượt trội của truyền hình so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác
Việt Nam hiện nay theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin – Truyền thông năm 2017 có 67 đài phát thanh – truyền hình và 268 kênh được cấp phép hoạt động chính thức [3]
Trong bối cảnh sự cạnh tranh giữa các loại hình báo chí cũng như giữa báo chí với truyền thông xã hội đang diễn ra vô cùng quyết liệt, việc thu hút các nguồn lực xã hội cả về tài chính, kỹ thuật và thu hút nhân lực thông qua
Trang 9việc tăng cường liên kết sản xuất với các đối tác là hướng đi đang được nhiều Đài phát thanh – truyền hình trong cả nước áp dụng Việc này, một mặt giúp tạo được nhiều chương trình mới, hay, hấp dẫn, đa dạng hóa thông tin và nội dung chương trình, được đông đảo công chúng đón nhận, góp phần đa dạng hóa nguồn thu, đem lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế cho các Đài truyền hình, nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng của nhà Đài trong xã hội Có thể khẳng định rằng, xây dựng các chương trình truyền hình liên kết hay nói cách khác
là xã hội hóa truyền hình là một chủ trương đúng đắn, tạo điều kiện cho các đài truyền hình thu hút nguồn lực, tăng nguồn thu, đồng thời mở ra nhiều cơ hội để các doanh nghiệp tham gia đồng sản xuất chương trình
Mặt khác, liên kết sản xuất các chương trình truyền hình cũng làm phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực Liên kết đôi khi đi liền với sự phụ thuộc vào đối tác về cả nội dung và hình thức chương trình, liên kết song hành với những câu chuyện hậu trường về mua giờ, bán kênh, liên kết kèm theo những sai sót
về nội dung (trong đó có cả những sai sót về chính trị), những vi phạm pháp luật, xu hướng thương mại hóa truyền hình Điều này cũng đang khiến một lượng khán giả quay lưng lại với truyền hình truyền thống
Rõ ràng hiện nay, các chương trình truyền hình liên kết xuất hiện ngày càng nhiều Tuy nhiên, cũng theo đó, chất lượng các chương trình lại không được chú trọng mà chỉ chăm chăm chạy đua để thu lợi nhuận từ quảng cáo Nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm hay trong hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình để tiếp tục phát huy mặt tích cực của nó là rất cần thiết Bên cạnh đó cũng cần chỉ rõ những bất cập, nguyên nhân và hướng
khắc phục hạn chế Với ý nghĩa đó, đề tài “Quản lý các chương trình truyền
hình liên kết của các Đài Phát thanh – Truyền hình khu vực phía Bắc”
(Khảo sát Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội; Đài Phát thanh – Truyền
Trang 10hình Thanh Hóa; Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh sáu tháng đầu năm 2018)” tuy không mới nhưng vấn rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn,
nhất là trong bối cảnh hoạt động liên kết vẫn đang diễn ra rất sôi động và vấn đang tiếp tục được mở rộng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài về các chương trình truyền hình liên kết là một đề tài rộng, tuy còn khá mới nhưng đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu Tác giả luận văn xin phép được nêu tên một số các tác phẩm, công trình nghiên cứu tiêu biểu và sát với đề tài nhất
* Nhóm công trình nghiên cứu về Báo chí và Báo chí truyền hình:
Sách “Từ lý luận đến thực tiễn báo chí” của tác giả Tạ Ngọc Tấn ( Nxb
Văn hóa thông tin, 1999) Nội dung cuốn sách nói về mối quan hệ báo chí với các lĩnh vực của đời sống xã hội như: khuynh hướng chính trị của báo chí, nhiệm vụ của báo chí đối với sự nghiệp đất nước ; Năng lực sáng tạo của nhà báo, lý luận về một số thể loại tác phẩm báo chí
Sách “Truyền thông đại chúng” của tác giả Tạ Ngọc Tấn (Nxb Chính trị
quốc gia, 2001): Cuốn sách cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản,
có hệ thống về các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại; các nguyên tắc, phương pháp chính nhằm quản lý điều hành, phát huy tốt vai trò, sức mạnh của các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Sách “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của nhóm tác giả Dương
Xuân Sơn (chủ biên), Đinh Hường, Trần Quang (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004): Nội dung của giáo trình đề cập đến những vấn để có tính phương pháp luận, các khái niệm, phạm trù, đặc trưng, chức năng, nguyên tắc, hiệu quả, tính sáng tạo của - lao động báo chí, làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí - truyền thông Hệ thông kiến thức về cơ sở
Trang 11lý luận báo chí - truyền thông sẽ được bổ sung và nâng cao ở những chuyên đề
cụ thể về báo chí Cuối giáo trình còn có phần Phụ lục gồm Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một sô" điều của Luật Báo chí năm 1999; Nghị định 51/2002/NĐCP ngày 26/4/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí; Quy ước tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của báo chí Việt Nam
Sách “Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn
Văn Dững (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005): Với 26 bài viết của các chuyên gia truyền thông, các nhà quản lý và nhà giáo dục báo chí truyền thông, bộ sách “Báo chí: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” phần nào mô tả bức tranh toàn cảnh của nền báo chí và truyền thông Việt Nam hiện nay, giữa
sự bùng nổ của công nghệ số và quá trình toàn cầu hoá Các nhóm chủ đề trải rộng từ vấn đề trách nhiệm xã hội tới đạo đức nghề nghiệp của nhà báo ở Việt Nam và thế giới, từ thực trạng quản trị nguồn thông tin tới những đề xuất về quản lý báo chí hiện nay Tiếp cận đối tượng báo chí và truyền thông từ cái nhìn đa điểm và liên ngành, cuốn sách là một tài liệu tham khảo hữu ích cập nhật cho nhà báo, nhà truyền thông, nhà nghiên cứu và các bạn sinh viên
Sách “Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đến đời thường)” của
tác giả Nguyễn Văn Dững (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011): Cuốn sách gồm 5 chương: Chương I: Truyền thông đại chúng; Chương II: Báo chí; Chương III: Đặc điểm báo chí hiện đại; Chương IV: Nhà báo và việc đào tạo báo chí; Chương V: Báo chí với vấn đề trẻ em Trong cuốn sách này, khái niệm truyền thông đại chúng được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Từ
đó, người đọc có thể hiểu một cách cặn kẽ và sâu sắc về vai trò và tác động của truyền thông đại chúng tới đời sống xã hội Cùng với đó, khái niệm “báo chí” phân tích một cách sâu sắc, toàn diện và cụ thể, rõ ràng Từ những phân tích về đối tượng tác động, cơ chế tác động, tác giả rút ra vai trò và tác động của báo chí, nhất là năng lực giám sát xã hội của báo chí Báo chí dù là truyền
Trang 12thống hay hiện đại cũng tự thân nó mang trong mình những đặc điểm đặc thù Khía cạnh này được tác giả lập luận chặt chẽ và khoa học, từ đó đưa ra những giải pháp để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về báo chí và những vấn
đề cơ bản của tự do báo chí Các vấn đề như phẩm chất nghề nghiệp của nhà báo; vai trò xã hội của báo chí và vấn đề đào tạo cử nhân trong thời kì mới; báo chí với vấn đề trẻ em;… được trình bày cụ thể, đầy đủ và hấp dẫn tại chương IV, V Cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu những quy luật cơ bản của hoạt động báo chí, việc nêu ra mô hình phẩm chất cần yếu của nhà báo vừa có
ý nghĩa cho công tác đào tạo nhà báo trẻ, vừa có thể giúp các nhà báo trẻ đang hành nghề tự suy ngẫm, kiểm nghiệm nhằm từng bước tự hoàn thiện và nâng cao năng lực hoạt động chuyên môn nghề nghiệp Chương V, tác giả bàn đến báo chí về đề tài trẻ em, nhằm thống nhất nhận thức, tìm kiếm cách thức và giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực của báo chí trong việc tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em- nhóm công chúng được dư luận xã hội cũng như mỗi chúng ta ngày càng quan tâm sâu sắc
Sách “Cơ sở lý luận báo chí” của tác giả Nguyễn Văn Dững (Nxb Lao
Động, 2012): Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống về hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, đặc điểm, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí, về các chức năng
và nguyên tắc cơ bản; về chủ thể hoạt động báo chí; vấn đề tự do báo chí,
Sách “Tìm hiểu kinh tế truyền hình” của tác giả Bùi Chí Trung (Nxb
Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2013) đề cập đến: Một số vấn đề cơ bản trong lý luận kinh tế truyền thông, lý luận kinh tế truyền hình; Chiến lược và hành động thực tế của các đài TH, các doanh nghiệp TH đối với hoạt động kinh tế truyền thông, kinh tế TH; Mối liên hệ cơ bản giữa cơ quan TH - công chúng - nhà quảng cáo trong sự hoạt động kinh tế TH; Mối liên hệ giữa sản phẩn nội
Trang 13dung TH với thị trường TH Quá trình xã hội hoá hoạt động TH; Các mô hình phương thức kinh doanh; Hệ thống quản lý nhà nước về TH
Sách “Truyền hình hiện đại – Những lát cắt 2015 – 2016” của tác giả
Bùi Chí Trung (chủ biên), Đinh Thị Xuân Hòa (đồng chủ biên) (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016): Cuốn sách sẽ là đáp án, là những góc nhìn đa chiều
về truyền hình hiện tại, truyền hình truyền thống và đặc biệt chú tâm vào nội dung truyền hình hiện đại, truyền hình trong tương lai Mỗi góc nhìn đó về truyền hình sẽ được luận giải bởi những lát cắt khác nhau Những lát cắt thú
vị này sẽ là những gợi mở, là cách đặt vấn đề để mở ra niềm đam mê khám phá những chân trời nghiên cứu tiếp theo của những nhà khoa học, những phóng viên và những người quan tâm đến lĩnh vực truyền hình
Sách “Kinh tế báo chí” của tác giả Bùi Chí Trung (Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, 2017): Cuốn sách được xuất bản với mục đích cung cấp những nghiên cứu chuyên sâu, phân tích có cơ sở lí luận và thực tiễn đã được đánh giá, phản biện một cách khoa học nhằm góp phần xây dựng một nền kinh tế báo chí Việt Nam vận hành lành mạnh, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước, góp phần để khoảng cách giữa báo chí Việt Nam với thế giới tiến gần đến nhau hơn Cuốn sách tập trung vào những vấn đề chính của kinh tế báo chí như: Các mô hình kinh doanh, kinh tế báo chí trên nền tảng kĩ thuật số, hội tụ
và đa phương tiện; kĩ năng phân tích thị trường và xây dựng chiến lược kinh doanh, những vấn đề cơ bản, cuốn sách đồng thời hướng đến cả những vấn đề thực tiễn trong hoạt động kinh doanh báo chí hiện nay ở Việt Nam
* Nhóm công trình nghiên cứu về quản lý báo chí:
Bài viết “Một s vấn đề c a l nh đạo, quản l báo chí trong tình hình hiện
nay” đăng trên Tạp chí Cộng sản (2007), tác giả Trần Đăng Tuấn đã nêu: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời s ng xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát
Trang 14hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử Cần nâng cao tính ch động không chỉ trong chỉ đạo nội dung thông tin, mà cả trong quản lý nhà nước đ i với báo chí - truyền thông”
Sách “L nh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay” của
tác giả Hoàng Quốc Bảo (Nxb Chính trị - Hành chính, 2010): Nội dung cuốn sách gồm 3 chương, không chỉ cung cấp cho người học tri thức về lãnh đạo, quản lý báo chí mà còn góp phần quan trọng vào việc hình thành năng lực tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và năng lực tham gia vào việc tổ chức thực hiện sự quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí của người cán bộ văn hóa - tư tưởng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Luận văn "Tăng cường quản l Nhà nước đ i với báo Đảng hiện nay"
của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2010) nghiên cứu về cách thức và nội dung quản lý Nhà nước với riêng đối tượng báo Đảng
Luận văn "Pháp luật về quản l Nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt
Nam hiện nay" của tác giả Phí Thị Thanh Tâm (2007) nghiên cứu về sự cần
thiết quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay
Sách “Thông tin báo chí với công tác l nh đạo, quản l ” của tác giả
Nguyễn Đức Lợi và Lưu Văn An (đồng chủ biên) (Nhà xuất bản Thông tấn, 2017) làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn vai trò của thông tin báo chí trong công tác lãnh đạo, quản lý và vai trò của công tác lãnh đạo, quản lý đối với thông tin báo chí ở Việt Nam, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm mọt số nước trên thế giới Phần đánh giá công tác quản lý thông tin báo chí được trình bày cụ thể
Bài báo khoa học “L nh đạo, quản lý báo chí - truyền thông trong thời
Trang 15đại công nghiệp 4.0” của tác giả Hà Huy Phượng (2018) nhấn mạnh mô hình
tòa soạn và phương thức tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí – truyền thông truyền thống dần trở nên lạc hậu Thay vào đó sẽ là những tòa soạn báo chí,
cơ quan truyền thông thông minh, có khả năng kết nối hệ thống, sản xuất sản phẩm truyền thông bằng dữ liệu số hóa, trí tuệ nhân tạo
* Nhóm công trình nghiên cứu về chương trình truyền hình liên kết:
Luận văn “Xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình hiện nay (Khảo
sát tại Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Tây 2004 – 2006)”của tác già Vũ
Thu Hà (2007) tập trung khảo sát các chương trình truyền hình được xã hội hóa của đài PTTH Hà Tây, phân tích đặc điểm, thực trạng, ưu, nhược điểm của hoạt động xã hội hóa truyền hình ở Đài PTTH Hà Tây, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội hóa TH hiện nay Tuy nhiên, những đúc rút đưa ra mới chỉ dừng lại ở quy mô, tính chất của một đài TH địa phương, chưa bao quát được mọi lĩnh vực của vấn đề xã hội hóa của cả ngành truyền hình Việt Nam nói chung
Luận văn "Quản lý các kênh xã hội hóa c a mạng truyền hình cáp Việt
Nam Thực trạng và giải pháp" của tác giả Nguyễn Hồng Việt (2011) nghiên
cứu về xã hội hóa ở các kênh truyền hình trả tiền của truyền hình cáp, thực trạng và cách thức quản lý của chúng ta hiện nay như thế nào và đề xuất một
số kiến nghị để công tác quản lý có hiệu quả hơn
Luận văn “X hội hóa chương trình truyền hình trên VTV4” của tác giả
Trần Việt Hùng Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa chương trình truyền hình trong mối quan hệ với các công ty truyền thông tại VTV4, luận văn đề xuất giải pháp để hoạt động xã hội hóa chương trình truyền hình trên VTV4 đi vào chuyên nghiệp, quy củ, có hiệu quả cao, phù hợp với định hướng phát triển báo chí theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước đồng thời đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của
Trang 16khán giả Luận văn không chỉ phân tích, đánh giá thực trạng xã hội hóa chương trình truyền hình của VTV4 mà còn góp phần làm rõ những vấn đề mới làm phát sinh, đề xuất giải pháp, mô hình, những vấn đề cần giải quyết nhằm giúp các nhà quản lý có thêm dữ liệu, cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp luật, tăng cường trách nhiệm quản lý nội dung chương trình và định hướng mô hình xã hội hóa thích hợp
Luận văn “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trên hệ
th ng truyền hình cáp c a Đài Phát thanh – truyền hình Hà Nội, (Khảo sát 5 kênh xã hội hóa c a truyền hình cáp Hà Nội, từ năm 2010 – 2013) của tác giả
Tô Thị Nhàn: Luận văn chỉ ra rất rõ các khái niệm về xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình và vai trò của nó trong hoạt động sản xuất chương trình truyền hình
Luận văn “Hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình c a Đài Truyền
hình thành ph Hồ Chí Minh - Thực trạng và định hướng phát triển” của
Dương Thanh Tùng (2013) Một số luận điểm trong luận văn này bước đầu đã xác định được mục đích, tiêu chí, yêu cầu của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Trong đó, đặc biệt là việc xác định năng lực sản xuất theo từng tiêu chí, nhiệm vụ cụ thể trong lộ trình và quy trình hợp tác sản xuất Song, các nội dung được đề cập trong luận văn còn giới hạn, chỉ nghiên cứu trong phạm
vi của một Đài truyền hình đó là Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh
Luận văn “Vấn đề quản lý nội dung chương trình truyền hình liên kết ở
HTV” của tác giả Thái Thành Chung (2014): Luận văn hệ thống hóa những
vấn đề liên quan đến việc liên kết sản xuất chương trình truyền hình, hình thành cơ sở lý luận - thực tiễn của hoạt động quản lý nội dung chương trình truyền hình liên kết hiện nay, đồng thời đề xuất xây dựng quy trình quản lý nội dung hợp lý trong sản xuất chương trình truyền hình ở đài truyền hình TP
Hồ Chí Minh; Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý
Trang 17nội dung các chương trình truyền hình liên kết nói chung; Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất chương trình và kênh truyền hình liên kết tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh; Đề ra giải pháp nhằm nâng cao việc quản lý nội dung các chương trình và kênh truyền hình liên kết của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Sách “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Đinh Thị Xuân Hòa (Nxb Thông tin và truyền thông, 2014):
Cuốn sách làm rõ cơ sở lý luận và một số vấn đề thực tiễn về xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình như: làm rõ khái niệm, những yếu tố thúc đẩy
sự ra đời và phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình; các hình thức xã hội hóa chương trình truyền hình; những yêu cầu và điều kiện để hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình thành công; xã hội hóa và yêu cầu từ thực tiễn phát triển của truyền hình Việt Nam Cuốn sách cũng chỉ rõ thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt nam hiện nay, từ đó đưa ra những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra dự báo sự phát triển và một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam trong thời gian tới
Luận văn “Liên kết sản xuất chương trình truyền hình giữa các Đài Phát
thanh – Truyền hình khu vực Tây Nam Bộ hiện nay” (Khảo sát từ tháng 01/2014 đến tháng 01/2015) của Trần Thị Mỹ Hạnh: Trên cơ sở khảo sát,
nghiên cứu thực trạng về nội dung, hình thức và phương thức liên kết sản xuất các chương trình truyền hình giữa các Đài Phát thanh – Truyền hình khu vực Tây Nam bộ, luận văn làm rõ những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của việc liên kết sản xuất; từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình liên kết sản xuất chương trình truyền hình và nâng
Trang 18cao chất lượng các chương trình truyền hình theo phương thức liên kết sản xuất giữa các Đài Phát thanh – Truyền hình khu vực Tây Nam bộ trong thời gian tới
Trên đây là những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Hầu hết các công trình nghiên cứu trên cung cấp cho người đọc những kiến thức cần nắm vững về báo chí, về cơ chế quản lý nhà nước đối với báo chí nói chung
và với truyền hình liên kết nói riêng Tất cả các công trình nghiên cứu đề cập
ở trên có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho đề tài chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết về quản lý các chương trình truyền hình liên kết trên 3 Đài Phát thanh – Truyền hình khu vực phía Bắc: Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh – Truyền hình Thanh Hóa, Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh Do vậy, đề tại Luận
văn “Quản lý các chương trình truyền hình liên kết của các Đài Phát thanh
– Truyền hình khu vực phía Bắc” (Khảo sát Đài Phát thanh – Truyền hình
Hà Nội; Thanh Hóa; Bắc Ninh sáu tháng đầu năm 2018) không hề trùng lặp
với các tài liệu và các công trình đã được nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, cùng với đó là đánh giá thực trạng một số các chương trình truyền hình liên kết, tìm hiểu về quy trình quản lý của các chương trình truyền hình liên kết ở các Đài Phát thanh – Truyền hình địa phương Qua đó rút ra những thành tựu đạt được cũng như hạn chế cần khắc phục để đề xuất một số những giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý các chương trình truyền hình liên kết
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về mặt lý luận của các chương trình truyền hình liên kết bao gồm các khái niệm liên quan đến đề tài; cơ sở chính trị và pháp lý đối với
Trang 19các chương trình truyền hình liên kết; vai trò và đặc điểm; yêu cầu của việc quản lý các chương trình truyền hình liên kết
- Khảo sát thực trạng quản lý một số chương trình truyền hình liên kết của Đài Phát thanh – Truyền hình địa phương (Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc Ninh) hiện nay, từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2018 Khảo sát về lịch sử ra đời
và phát triển; công tác quản lý các chương trình truyền hình liên kết ở các Đài; đánh giá những thành công và hạn chế của công tác quản lý
- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các chương trình truyền hình liên kết thông qua các kết quả khảo sát, phân tích
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát
Đối tượng nghiên cứu của đề tài nghiên cứu là quản lý các chương trình truyền hình liên kết Đối tượng khảo sát của đề tài là các Đài Phát thanh – Truyền hình khu vực phía Bắc, cụ thể là Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa, Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về quản lý các chương trình truyền hình liên kết của Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa, Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh trong khoảng thời gian từ 1/2018 đến tháng 6/2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở chính trị - pháp lý của vấn đề nghiên cứu và quản lý chương trình truyền hình liên kết Nghiên cứu các quan điểm của Đảng và Nhà nước để coi đó là định hướng cho hoạt động quản lý Bên cạnh đó, luận văn tìm hiểu Luật Báo Chí 2016 và các văn bản pháp luật liên
Trang 20quan đến quản lý chương trình truyền hình liên kết Ngoài ra, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là các lý thuyết về truyền thông, báo chí học, các lý thuyết về khoa học quản lý, các lý thuyết về xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình… đã tiếp thu được từ những công trình nghiên cứu trước đó
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả của luận văn sử dụng các phương pháp chính như sau:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, phân tích nội dung: Dùng để xem xét, phân tích thông tin trong các tài liệu có liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những thông tin cần thiết, phục vụ cho mục đích nghiên cứu và hoàn thành chương I của luận văn Tác giả đã tìm hiểu, tham khảo các sách tham khảo, tài liệu, văn bản quyết định về hoạt động liên kết sản xuất của các nhà Đài để đưa
ra những đánh giá, phân tích trong chương II
- Phương pháp quan sát: quan sát quy trình hoạt động các cách thức quản
lý của các chương trình truyền hình liên kết tại các đài phát thanh - truyền hình địa phương nhằm mục đích có thể bước đầu tiếp cận với cơ chế quản lý của nhà đài
- Phương pháp phỏng vấn sâu: với hình thức là đặt câu hỏi cho các đối tượng khác nhau, dùng để phỏng vấn các lãnh đạo cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí và lãnh đạo các cơ quan báo chí đang thực hiện công tác quản
lý các chương trình truyền hình liên kết trong phạm vi nghiên cứu để thu thập những ý kiến cá nhân của họ về các chương trình truyền hình liên kết tại Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc Ninh
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Dùng để thống kê, phân tích, tổng hợp những con số, thông tin, dữ liệu thu được trong quá trình khảo sát công tác tổ chức các chương trình truyền hình liên kết của 3 Đài: Đài Phát
Trang 21thanh – Truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa, Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh; qua đó đưa ra những luận điểm, luận cứ khái quát
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống lại các quan điểm liên quan đến liên kết trong các chương trình truyền hình trên Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Thanh Hóa và Bắc Ninh Qua đó tổng kết thực tiễn, nêu ra vai trò của các chương trình truyền hình liên kết đối với đời sống xã hội nói chung và với truyền hình nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là gợi ý cho các hướng nghiên cứu tiếp theo Bên cạnh đó, luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho nhà trường cũng như các trường báo chí, các cơ sở đào tạo và các trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, đặc biệt là đối với các cơ quan báo chí mà tác giả đã khảo sát, nghiên cứu: Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Thanh Hóa và Bắc Ninh Kết quả nghiên cứu có thể giúp cho các nhà lãnh đạo tham khảo trong quá trình hoạch định chiến lược, hệ thống các quy chế để quản lý Kết quả nghiên cứu cũng có thể là cơ
sở để các Đài phát thanh – truyền hình tham khảo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình trong việc phát triển loại hình truyền hình, đặc biệt ở các Đài phát thanh – truyền hình Hà Nội, Thanh Hóa và Bắc Ninh Bên cạnh đó, luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho sinh viên báo chí, người làm truyền hình liên kết và những người quan tâm đến lĩnh vực này
7 Cái mới của đề tài
Luận văn làm rõ khung lý thuyết, cơ sở thực tiễn làm nền tảng cho việc nghiên cứu về quản lý các chương trình truyền hình liên kết nói chung và
Trang 22quản lý các chương trình truyền hình liên kết tại các Đài Phát thanh – truyền hình Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc Ninh nói riêng
Qua khảo sát, tác giả chỉ ra thực trạng của hoạt động quản lý các chương trình truyền hình liên kết tại các đài trong diện khảo sát hiện nay, về những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó có sự nhận đình khái quát về thực trạng và khẳng định vai trò của hoạt động quản lý đối với các chương trình truyền hình liên kết
Bên cạnh đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm điều chỉnh hoạt động quản lý, khắc phục các hạn chế tiến tới nâng cao chất lượng chương trình truyền hình liên kết
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý các chương trình truyền hình liên kết
Chương 2: Thực trạng quản lý các chương trình truyền hình liên kết ở các đài địa phương trong diện khảo sát
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao năng lực quản lý các chương trình truyền hình liên kết
Trang 23Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC CHƯƠN TRÌNH TRU ỀN HÌNH LIÊN KẾT
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1 Quản lý và quản lý báo chí
1.1.1.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động đặc biệt của con người Quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và đối với mỗi lĩnh vực lại có ý nghĩa khác nhau Có thể hiểu rằng, “quản” là sự chăm sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; “lý” là việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống
“phát triển” Nếu người quản lý chỉ lo “quản” tức là chỉ lo việc chăm sóc, giữ gìn thì dẫn đến tổ chức trì trệ; nhưng nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững Tóm lại, kết hợp “quản” với
“lý” sẽ giúp hoạt động của một hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng
Theo Harol Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu
đ đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, ph i hợp, hướng dẫn hoạt động
c a những người khác” [26; tr.167]
F.W Taylor (1856 – 1915) được xem là một trong những người đầu tiên
khai sinh ra khoa học quản lý đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc
c a mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đ hoàn thành công việc một các t t nhất và rẻ nhất” [50, tr.7]
Theo Nguyễn Minh Đạo, ông cho rằng: :“Quản lý là sự tác động chỉ
huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động c a con người nhằm đạt tới mục tiêu đ đề ra” [25, tr.43]
Trang 24Theo từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo nhwuxng
yêu cầu nhất định hoặc là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [48, tr.127]
Hoặc cũng có khái niệm cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật khiến công
việc được làm bởi người khác; là sự tác động có tổ chức có hương đích c a
ch thể quản l lên đ i tượng và được khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động c a môi trường” [ 42, tr.56]
Các yếu tố trong hoạt động quản lý bao gồm: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, thường hoạt động trong một môi trường nhất định nào đó
Theo các khái niệm trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động một cách có
tổ chức, có mục đích, có kế hoạch c a ch thể quản l đ i với đ i tượng, khách thể quản l để điều khiển, chỉ huy các yếu t đó tham gia vào cùng một hoạt động và hình thành một chỉnh thể th ng nhất Bên cạnh đó, quản lý là sự điều hòa hoạt động c a các khâu hợp lý nhằm hướng đến một mục tiêu đ xác định từ trước trong sự biến đổi c a môi trường làm việc
1.1.1.2 Quản lý báo chí
Quản lý báo chí bao gồm: quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản đối với
cơ quan báo chí và quản lý nội bộ cơ quan báo chí
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu, là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân lao động Báo chí không chỉ có nhiệm vụ thông tin mà còn có chức năng tuyên truyền, định hướng và bình ổn xã hội Chính vì vậy mà báo chí cần phải có sự quản lý của nhà nước Quản lý nhà nước đối với báo chí là hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí phù hợp với xu thế phát triển của
xã hội Nhà nước đại diện cho nhân dân và đảm bảo nhân dân được thực hiện quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí
Trang 25Trách nhiệm của nhà nước là đảm bảo sự phát triển của báo chí đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trong việc tiếp nhận thông tin Trong giai đoạn hiện nay, khi xã hội đang không ngừng phát triển và ngày càng khó kiểm soát thông tin, nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh chống các thế lực thù địch khi chúng lợi dung chính sách tự do ngôn luận, tự
do báo chí để đưa ra những luận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự trong nước Quản lý của nhà nước và các cơ quan chủ quản đối với báo chí là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy nhà nước Đó là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với hoạt động báo chí
do các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ trung ương đến cơ
sở tiến hành để thực hiện nhiệm vụ của nhà nước
Quản lý nội bộ trong cơ quan báo chí là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là các phóng viên, biên tập viên, các cán bộ thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch đề ra, phân công người thực hiện các đầu mối kế hoạch, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức
để đạt được mục tiêu đã đề ra
1.1.2 Báo truyền hình và chương trình truyền hình
1.1.2.1 Báo truyền hình
Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng (tiếng anh gọi là Mass Media) gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và báo mạng điện tử Sản phẩm của các loại hình báo chí này có tính định kì, phổ cập và có phạm vi tác động rộng lớn trên toàn xã hội
Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và Hy Lạp, xuất hiện từ đầu thế kỉ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học, kĩ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan
Trang 26trọng cho đời sống và xã hội Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình được sử dụng như công cụ giải trí Ngày nay, truyền hình không chỉ là phương triện thiết yếu của mỗi gia đình mà còn trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng Bên cạnh
đó, truyền hình đã tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục, phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và dịch vụ
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng hùng mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng Công chúng truyền hình ngày càng đông đảo Với những ưu thế về kĩ thuật và công nghệ, truyền hình
đã làm cuộc sống trở nên màu sắc hơn, đa dạng hơn về hình thức và nội dung Truyền hình là một loại hình báo chí, vì vậy nó mang đầy đủ đặc điểm của báo chí nói chung và bên cạnh đó, truyền hình còn có những đặc trưng riêng như tính thời sự, đặc trưng về ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh, tính phổ cập và quảng bá, khả năng thuyết phục công chúng, khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân
1.1.2.2 Chương trình truyền hình
Trong các loại hình truyền thông truyền thống, truyền hình là loại hình ra đời muộn (đầu thế kỉ XX) Tuy nhiên, cũng chính vì ra đời muộn hơn mà truyền hình lại có lợi thế khi phát huy được nhưng ưu thế của các loại hình đi trước như của báo in, báo phát thanh, điện ảnh từ đó, truyền hình dần trở thành loại hình truyền thông quan trọng đối với công chúng
Truyền hình xuất hiện đã đem đến làn gió mới cho công chúng, khán giả bởi sự xuất hiện của nó đã làm thay đổi phần nào phương thức sống và tư duy của con người Nhờ có những yếu tố về âm thanh, hình ảnh vô cùng sống động mà truyền hình đã thực hiện nhiệm vụ chuyền tải thông tin đến công chúng một cách dễ dàng và sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu hơn Những thông
Trang 27tin được chuyền tải đến công chúng thông qua một cấu trúc truyền hình phức
tạp hơn đó là chương trình truyền hình Tuy nhiên, các chương trình truyền
hình không phải là sự lắp ghép các thông tin để thành một sản phẩm truyền hình mà là sự liên kết, sắp xếp nội dung thông tin hài hòa, hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định, theo chủ đề và phạm vi nội dung nhất định
Trong cuốn sách “Truyền thông đại chúng”, GS.TS Tạ Ngọc Tấn viết:
“Chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một s thông tin, tài liệu khác được tổ chức theo một ch đề
cụ thể với hình thức tương đ i nhất quán, thời lượng tương đ i ổn định và được phát đi theo định kỳ” [55, tr.142]
Cũng có ý kiến cho rằng: “Chương trình truyền hình là sản phẩm lao
động c a một tập thể nhà báo và cán bộ kĩ thuật, dịch vụ Đồng thời đó cũng chính là quá trình giao tiếp truyền thông giữa người làm truyền hình với công chúng xã hội” [55, tr.143]
PGS.TS Dương Xuân Sơn trong cuốn Tập bài giảng môn Truyền hình của khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn: “Truyền
hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đ i tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh”
Từ những khái niệm đó, cùng với sự hiểu biết từ thực tiễn có thể nói: Chương trình truyền hình và một sản phẩm báo chí hoàn chỉnh gồm nội dung,
âm thanh, hình ảnh, được thực hiện bởi một tập thể qua nhiều công đoạn và được phát sóng theo định kì
Chính vì cấu trúc như vậy nên thời lượng các chương trình truyền hình thường khá lớn, nội dung thì phong phú và đa dạng Tuy nhiên, để làm ra một
Trang 28chương trình với cấu trúc khá phức tạp như vậy đòi hỏi một quy trình sản xuất phức tạp và tốn kém về nhân lực, thời gian, máy móc
1.1.3 Chương trình truyền hình liên kết
Trước khi khái niệm về “chương trình truyền hình liên kết” được biết đến, chúng ta thường sử dụng thuật ngữ “Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình” Sự khác nhau giữa hai khái niệm này nằm ở đối tượng liên kết trong chương trình của “chương trình truyền hình liên kết” sẽ hẹp hơn so với đối tượng của “xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình” Đối tượng của “liên kết” là các tổ chức có tư cách pháp nhân và có đăng kí kinh doanh theo pháp luật, bị ràng buộc bởi pháp lý Còn đối tượng của “xã hội hóa” có thể là mọi người, ở mọi ngành nghề
Theo từ điển Tiếng Việt, “xã hội hóa” là: “Làm cho trở thành c a chung
c a xã hội” [63, tr.1140]
Tuy nhiên, ta có thể hiểu khái niệm chung nhất về xã hội hóa đó là: Xã
hội hóa là quá trình mở rộng sự tham gia, chia sẻ c a xã hội với một hoạt động, một dịch vụ hay một tri thức v n là độc quyền c a một tổ chức hay cá nhân nhằm để hoặt động hay sản phẩm đó được nhiều người biết tới, sử dụng hay thưởng thức” [31, tr.11]
Thực tế cho thấy, để sản xuất một chương trình truyền hình, dù là ngắn vài phút hay thậm chí chỉ 30 giây hay đến những chương trình dài cả giờ thì đều trải qua quy trình nhất định với những bước cơ bản như: lên ý tưởng/kịch bản, duyệt kịch bản, sản xuất tiền kì va hậu kì, duyệt nội dung, phát sóng chương trình và bước cuối cùng là nhận phản hồi từ khán giả
Dễ dàng thấy được 3 yếu tố quan trọng nhất để sản xuất một chương trình truyền hình đó là con người, kỹ thuật và tài chính Đó đều là những yếu
tố không thể thiếu Bên cạnh đó, chúng còn có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ nhau tạo nên một tác phẩm truyền hình
Trang 29Vào thời kì đầu khi truyền hình mới xuất hiện, mỗi đài chỉ có 1 đến 2 kênh truyền hình Tuy nhiên để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và để có thể gửi tới khán giả những chương trình chất lượng và đặc sắc, đòi hỏi các nhà đài phải có sự đầu tư cho từng công đoạn sáng tạo ra tác phẩm truyền hình Mỗi chương trình truyền hình thường đòi hỏi một ê kíp với số lượng người phụ thuộc vào quy mô chương trình Có thể chỉ một vài người nhưng cũng có thể lên đến hàng trăm người Có thể nói yếu tố nhân lực đóng một vai trò cực kì quan trọng đối với truyền hình Bên cạnh đó, sản xuất chương trình truyền hình không thể không có phương tiện kĩ thuật và trang thiết bị Đây cũng là điểm mấu chốt đối với quá trình sản xuất chương trình truyền hình Chỉ khi có các phương tiện và trang thiết bị mới có thể hiện thực hóa những ý tưởng, những phát hiện trở thành thông tin với những âm thanh, hình ảnh sống động Một vấn đề khác nữa đó là tài chính Có nguồn lực tài chính mãnh
mẽ sẽ thúc đẩy nhà Đài có nội lực để xây dựng chương trình truyền hình Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triền như hiện này, khi mà nhu cầu tiếp nhận thông tin bằng máy móc hiện đại của công chúng đang ngày càng gia tăng, nếu nguồn tài chính eo hẹp, nhà đài sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí là không thể triển khai sản xuất chương trình truyền hình để đáp ứng được nhu cầu của khán thính giả Chính vì vậy, nhiều nhà đài đã đưa ra những chính sách hợp tác với các cá nhân, tổ chức có tiền năng và điều kiện phù hợp để cùng tham gia sản xuất chương trình truyền hình Cũng từ đó, chương trình truyền hình liên kết ra đời
Như vậy, có thể hiểu chương trình truyền hình liên kết là sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành truyền hình Điều đó
có nghĩa là trong các khâu sản xuất, hình thành tác phẩm của một chương trình truyền hình, có sự tham gia của một hoặc nhiều đơn vị, cơ quan không thuộc nhà Đài Hay nói cách khác, chương trình truyền hình liên kết được
Trang 30thực hiện bởi sự phối hợp giữa nhà đài và các đối tác sản xuất trong một hoặc nhiều công đoạn để tạo ra được một phần hoặc cả chương trình truyền hình hoàn chỉnh
Bản chất của việc thực hiện sản xuất các chương trình truyền hình liên kết là nhằm huy động nguồn lực bên ngoài Đài, qua đó tạo được hiệu quả và chất lượng cho chương trình, giúp nhà đài của được sự hỗ trợ về ngồn vốn và nhân lực, từ đó có thể nâng cao uy tín của nhà đài
Tùy thuộc vào nội dung thông tin trong chương trình, cách thức sản xuất thực hiện chương trình có thể phân loại các chương trình truyền hình liên kết theo các dạng:
- Hợp tác sản xuất:
Các lĩnh vực hợp tác bao gồm: hợp tác sản xuất nội dung chương trình truyền hình; hợp tác trong việc đầu tư trang thiết bị kĩ thuật phục vụ cho việc sản xuất chương trình truyền hình và hợp tác qua việc cung cấp tài chính sản xuất chương trình truyền hình
Trong các yếu tố làm nên một chương trình truyền hình, nội dung là yếu
tố quan trọng hàng đầu Để có thể sản xuất một chương trình truyền hình có nội dung và thông tin đầy đủ, hữu ích đưa đến công chúng thì người làm truyền hình phải trải qua một quy trình với rất nhiều công đoạn Hợp tác sản xuất nội dung chương trình truyền hình nghĩa là các đối tác của đơn vị chịu trách nhiệm sản xuất có thể tham gia vào việc xây dựng nội dung chương trình theo nhiều mức độ khác nhau như xây dựng một phần, nhiều phẩn hoặc toàn phần nội dung chương trình đó
Nội dung và chất lượng, số lượng của trang thiết bị kĩ thuật phục vụ công việc sản xuất chương trình truyền hình là hai yếu tố không thể tách rời Nội dung tốt nhưng kĩ thuật lại không đạt chất lượng và ngược lại, kĩ thuật tốt
mà nội dung không được đầu tư sẽ không đạt được yêu cầu cần có của một
Trang 31chương trình truyền hình Bởi sản phẩm truyền hình yêu cầu về cả nội dung, hình ảnh và âm thanh Nếu không có trang thiết bị kĩ thuật là máy quay, thiết
bị âm thanh, thiết bị dựng hình, ánh sáng thì sẽ không thể đưa được sản phẩm truyền hình tiếp cận với công chúng
Về mức độ hợp tác sản xuất truyền hình hiện nay có 3 mức độ:
+ Hợp tác sản xuất một phần chương trình nghĩa là mỗi bên tham gia một hoặc một vài công đoạn nào đó trong các khâu sản xuất chương trình Hình thức này thường phù hợp với đối tác có quy mô nhỏ hoặc một tổ chức,
cơ quan có quy mô lớn nhưng hoạt động và kinh doanh nhiều lĩnh vực khác nhau Quản lý hình thức hợp tác này khá phức tạp bởi hai bên cùng tham gia vào quá trình sản xuất chương trình nên không thể tránh khỏi xảy ra những mâu thuẫn và ý kiến bất đồng Để quản lý tốt đối với hình thức hợp tác này đòi hỏi người quản lý phải có sự phân công về nhiệm vụ, trách nhiệm rõ ràng giữa Đài truyền hình và đối tác
+ Hợp tác sản xuất một chương trình hoàn chỉnh nghĩa là đối tác có thể thực hiện tất cả các khâu trong quy trình sản xuất ra sản phẩm truyền hình Công tác quản lý đối với hình thức hợp tác này sẽ đơn giản hơn vì 2 bên hầu như làm việc độc lập Đối tác có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện chương trình Đài truyền hình sẽ duyệt chương trình theo tiêu chí đã có sẵn để đưa lên phát sóng trên kênh
+ Hợp tác sản xuất nhiều chương trình truyền hình cho một kênh nghĩa
là đối tác của đài có thể tham gia sản xuất hoàn chỉnh hầu hết các chương trình của cả kênh đó, lúc này đài truyền hình sẽ là nơi định hướng, duyệt nội dung và phát sóng chương trình Đối với hình thức này, Đài truyền hình phải biết chọn lựa những đối tác chuyên nghiệp, có quy mô và tiềm năng lớn về tất
cả các mặt Bên cạnh đó, Đài truyền hình phải xem xét các chương trình và
Trang 32đối tác có phù hợp với tôn chỉ, mục đích của Đài hay không mới có thể tiến hành hợp tác
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tìm hiểu về mức độ liên kết sản xuất một phần chương trình truyền hình cụ thể tại 3 đài trong diện khảo sát
- Sản xuất theo đơn đặt hàng
Chủ thể đặt hàng thường là các đài truyền hình và đối tượng đặt hàng là các công ty truyền thông Lúc này thường đài truyền hình chỉ tham gia vào 2 khâu đầu và cuối, đó là đưa ra ý tưởng về tác phẩm và duyệt tác phẩm sau khi
đã hoàn thiện
Các hình thức đặt hàng sản phẩm truyền hình: đặt hàng sản xuất một phần của một chương trình; đặt hàng sản xuất toàn bộ một chương trình; và đặt hàng sản xuất toàn bộ chương trình cho một kênh truyền hình Trong đó, hình thức đặt hàng sản xuất toàn bộ chương trình cho một kênh truyền hình là phức tạp nhất bởi khi đó các đối tác (thường là các công ty truyền thông) sẽ chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ các chương trình mà không có bất cứ đối tác nào tham gia cùng Hình thức đặt hàng này đòi hỏi đối tác phải là những công ty truyền thông đảm bảo được nhiều yếu tố từ kĩ thuật, năng lực, nhân lực và tài chính
- Khai thác
Khai thác các nguồn tài nguyên truyền hình từ xã hội đang dần trở nên phổ biến hơn với mục đích xây dựng được một chương trình truyền hình của một kênh nhằm đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin phong phú, đa dạng của khán giả Vậy các nguồn tài nguyên truyền hình nào có thể khai thác? Trên thực tế thì các nguồn này rất đa dạng Tuy nhiên chúng ta có thể chia tất
cả các nguồn ấy vào 2 hình thức đó là: khai thác chất liệu truyền hình và khai thác sản phẩm truyền hình
Trang 33Về chất liệu truyền hình: Những năm gần đây cụm từ “nhà báo công dân” xuất hiện và dần trở nên quen thuộc hơn đối với những người làm báo nói chung và với dân chúng nói riêng Hiện nay đang là thời kì khoa học kĩ thuật và công nghệ đang phát triển rất mạnh mẽ, giá cả thiết bị công nghệ ngày càng rẻ và việc sở hữu điện thoại di động thông minh, máy ảnh, máy quay phim và các phầm mềm dựng hình hay thậm chí là sở hữu tất cả những thiết bị công nghệ kể trên cùng một lúc nó đang dần thông dụng và phổ biến hơn rất nhiều với người dân Ngay cả các đài truyền hình trên thế giời dù có nguồn nhân lực lớn đến đâu cũng không thể đảm bảo là phóng viên của họ có thể bắt kịp mọi sự kiện, mọi hiện tượng xảy ra mà không được báo trước Lúc này, các nhà báo công dân chỉ cần nhanh chóng chụp lại, ghi lại những đoạn phim ngắn bằng một thiết bị công nghệ mà họ đang có sẵn trong tay là đã có thể có được những chất liệu cơ bản để sản xuất một chương trình Đây có thể
là những hình ảnh, những thước phim thô mà người dân gửi tới các đài truyền hình Để sử dụng được những chất liệu này, các đài truyền hình phải bỏ thêm công sức vào công đoạn biên tập, dựng thành một sản phẩm truyền hình hoàn chỉnh để gửi tới khán giả
Với hình thức khai thác chất liệu truyền hình từ các nhà báo công dân này thường sẽ không mang tính ổn định Nó không phụ thuộc vào những bản hợp đồng kinh tế, không phụ thuộc vào các đơn đặt hàng đã có kế hoạch mà
nó phụ thuộc tần suất của các sự kiện, các hiện tượng mà người dân bắt gặp trong cuộc sống
Không chỉ có những chất liệu thô như hình ảnh, âm thanh, đoạn phim mà người dân quay lại, các đài truyền hình hoàn toàn có thể chi ra những khoản tiền lớn để mua lại các format của các chương trình thu hút được nhiều khán giả đón xem trên thế giới, sau đó xây dựng chương trình dựa trên format đó làm sao để phù hợp hơn đối với công chúng nước nhà Ví dụ như chương
Trang 34trình Ai là triệu phú được xây dựng trên format chương trình Who wants to be
millionaire xuất xứ tại Anh; chương trình Giọng ải giọng ai mua format của
chương trình I Can See Your Voice xuất xứ từ Hàn Quốc và Thái Lan; chương trình Nhanh như chớp được chuyển thể từ format chương trình Pritsana Fah
Laep của Thái Lan (tên tiếng Anh là Lightning Quiz)
Về khai thác sản phẩm truyền hình: Trong khi các nhà đài chưa có điều kiện để sản xuất các chương trình truyền hình thì hình thức khai thác các sản phẩm truyền hình bằng cách mua lại các sản phẩm đã được các cá nhân, tổ chức thực hiện hoàn chỉnh, là hình thức được các nhà đài sử dụng để đưa được các chương trình truyền hình đa dạng đến với khán giả Sau khi mua lại thì bản quyền của chương trình đó hoàn toàn thuộc về nhà đài và nhà đài hoàn toàn có quyền chỉnh sửa, biên tập lại hoặc cắt bỏ những phần chưa thực sự phù hợp với tôn chỉ và mục đích của họ Hiện nay chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, hình thức khai thác sản phẩm truyền hình này rất phổ biến đối với các chương trình phim truyện, phim tài liệu hoặc các chương trình ca nhạc trên thế giới
- Trao đổi sản phẩm truyền hình
Nếu các hình thức kể trên các đài truyền hình sử dụng nguồn vốn kinh tế hoặc quyền lợi quảng cáo của mình để trả cho đối tác thì với hình thức trao đổi sản phẩm truyền hình lại là sự trao đổi các chương trình giữa các đài với nhau Trên thực tế việc trao đổi sản phẩm truyền hình còn diễn ra rất hạn chế hoặc thậm chí là không xuất hiện ở nhiều đài truyền hình
1.1.4 Quản lý chương trình truyền hình liên kết
Hoạt động liên kết sản xuất đó là việc các đối tác bên ngoài có thể trực tiếp tham gia vào việc sản xuất chương trình truyền hình của nhà đài Có rất nhiều hình thức của các chương trình truyền hình liên kết như hợp tác sản xuất về nội dung chương trình, hợp tác trong việc đầu tư, khai thác các nguồn
Trang 35phương tiện, thiết bị kĩ thuật phục vụ cho tiến trình sản xuất chương trình, hợp tác trong việc đầu tư tài chính, kinh phí thực hiện chương trình Bên cạnh
đó cũng có rất nhiều các mức độ hợp tác trong hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình liên kết Các Đài truyền hình và các đối tác tùy thuộc vào tình hình của hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về từng chương trình sẽ hợp tác sản xuất một phần chương trình, hợp tác sản xuất toàn bộ chương trình hay hợp tác toàn bộ các chương trình của một kênh truyền hình Với mỗi hình thức và mỗi mức độ hợp tác sẽ có những ưu điểm và hạn chế riêng, cùng với
đó là những thuận lợi và khó khăn mà các Đài truyền hình và các đối tác gặp phải Điều này sẽ tạo nên sự đa dạng cho ngành truyền hình cả nước nói chung và cho các hoạt động tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình liên kết của các đài nói riêng Tuy nhiên, để hoạt động sản xuất các chương trình liên kết được hiệu quả thì cần phải có cơ chế và chiến lược quản lý đúng đắn từ các Đài truyền hình Vậy để hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình liên kết đạt hiệu quả cao thì điều quan trọng nhất, quyết định đến
sự tồn tại của các đơn vị tham gia sản xuất là phải xác định được rõ khả năng quản lý của mình cũng như tiềm năng, năng lực sản xuất của đối tác Bên cạnh đó, môi trường hợp tác và mối quan hệ cũng là điều cần được chú trọng
Để nghiên cứu luận văn này, theo quan điểm của cá nhân tác giả thì quản
l các chương trình truyền hình liên kết là hoạt động, sự điều hành, tổ chức
có sắp xếp c a ban l nh đạo các Đài truyền hình đ i với các đ i tượng thực hiện chương trình truyền hình liên kết trong việc đưa ra những yêu cầu, những quy định phù hợp với quy định c a pháp luật để một mặt nâng cao khả năng và trình độ quản lý c a mình , đồng thời khai thác được những tiềm năng, năng lực sản xuất sẵn có c a đ i tác sản xuất Mặt khác, các yêu cầu
và quy định đề ra còn hướng đến việc tạo nên một môi trường hợp tác lành
Trang 36mạnh, hài hòa; xây dựng và nuôi dưỡng m i quan hệ bền vững đa chiều và bình đẳng giữa Đài truyền hình và các đ i tác
1.2 Cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý của quản lý các chương trình truyền hình liên kết
1.2.1 Cơ sở chính trị
Báo chí luôn có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, vì vậy mà nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà báo đầy đủ bản lĩnh chính trị và ý thức trách nhiệm, trình độ và phẩm chất đều được nhắc đến trong các Văn kiện Đại hội Đảng các khóa
Năm 1986 diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã đề ra đường lối đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng và từng bước đi đến đổi mới Tổng kết 10 năm sau đổi mới (1996), văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần VIII đã chỉ ra rằng: “Nước ta đ ra khỏi khung hoảng kinh tế, xã hội
Con đường đi lên ch nghĩa x hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường l i đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng Xã hội ch nghĩa” [21,
tr.67,68] Tuy nhiên, Đại hội VIII cũng thừa nhận rằng nước ta vẫn còn yếu kém, chưa thể huy động được nguồn lực và nguồn vốn cho nhân dân Chính
vì vậy, để khắc phục tình trạng này, Đại Hội VIII cũng đã đề ra một số những
phương hướng cụ thể như: “Phát triển các hình thức liên doanh, liên kết trực
tiếp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, giữa kinh tế nhà nước với kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản tư nhân, cá thể và các công ty nước ngoài”
[21, tr.83] “Động viên đúng mức cho sự đóng góp c a mỗi nhà, mỗi người,
đồng thời thu hút nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các giới trong và ngoài nước cho giáo dục và đào tạo” [21, tr.110] Cùng với đó “Các vấn đề chính sách xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng c t, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ
Trang 37chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” [21, tr.114]
Ngày 27/1/2003, Ban Bí thư chỉ định tiếp tục triển khai Chỉ thị số CT/TW của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị; từng bước khắc phục khuynh hướng thương mại hoá, đưa hoạt động báo chí, xuất bản đi vào nền nếp Coi trọng nghiên cứu dư luận xã hội và những vấn đề mới, để dự báo, định hướng công tác tư tưởng, văn hoá kịp thời và sắc bén hơn và Chỉ thị số 42-CT/TW về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản vào ngày 25/8/2004
20-Văn kiện Đại hội Đại biểu tòa quốc lần IX, X cũng khẳng định: “Đẩy
mạnh xã hội hóa, khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực,
có hiệu quả các hoạt động văn hóa thể thao Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và bảo trợ các hoạt động văn hóa, thể thao ” [22, tr.210];“xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật,thông tin với bước đi thích hợp cho từng loại hình, từng vùng Huy động các nguồn lực và sức sáng tạo trong
xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia hoạt động văn hóa, nghệ thuật, quản lý và bảo vệ di tích, di sản văn hóa” [23, tr.214]
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan báo chí được tổ chức ngày 5/5/2010 tại Hà Nội, đồng chí Tô Huy Rứa - nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh: Các cơ quan báo chí cần chủ động, tích cực và nhạy bén cũng như cần có trách nhiệm trong việc định hướng tư tưởng và tạo sự đồng thuận giữa các vấn đề, sự kiện lớn của đất nước và thể hiện chủ đề sinh động, đậm nét, có bề rộng thông tin và chiều sâu tư tưởng Chính vì vậy, nếu có sự góp mặt của các đơn vị xã hội hóa thông qua các hoạt động liên kết giúp đổi mới phương pháp tư duy, quy trình
Trang 38sản xuất và tăng sức hấp dẫn cho các chương trình và các kênh truyền hình của Việt Nam thì Nhà nước sẽ sẵn sàng khuyến khích
1.2.2 Cơ sở pháp lý
Quan điểm liên kết, phát huy nguồn lực xã hội đóng góp cùng nhà nước
để giải quyết các vấn đề chung của xã hội đã được xác định và đề cập trong phương hướng phát triển của Đại hội VIII Đến ngày 21/8/1997, Chính phủ ban hành nghị quyết 90/CP về “Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá”
Ngày 19/8/1999, Chính phủ ban hành Nghị định 73/1999/NĐ-CP về
“Chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực
giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao” đã khẳng định rằng: “X hội hoá các hoạt
động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi c a nhân dân, c a toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần c a nhân dân” ; “X hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm c a các tầng lớp nhân dân đ i với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”; “Nhà nước khuyến khích các tổ chức và
cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân dân và trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo đúng quy định c a pháp luật”; “Cùng với việc c ng c các tổ chức công lập, Nhà nước khuyến khích phát triển rộng rãi các cơ sở ngoài công lập phù hợp với quy hoạch c a Nhà nước trong các lĩnh vực giáo dục, y
tế, văn hoá, thể thao, hoạt động không theo mục đích thương mại hoá” [6]
Ngày 18/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về “Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế Văn hóa và thể dục thể thao”
Trang 39Ngày 8/8/2005, trong quyết định số 767/QĐ-TTg, thủ tướng Chính phủ
nêu rõ: “Tăng cường hợp tác sản xuất, trao đổi chương trình truyền hình với
các đài địa phương, các đài nước ngoài, các bộ, ngành và các đơn vị tổ chức khác trong xã hội; tăng cường khả năng trao đổi thông tin, mua bản quyền và nâng cao chất lượng biên tập, biên dịch các chương trình truyền hình nước ngoài (có lồng tiếng, thuyết minh, phụ đề tiếng Việt); hợp tác với các đơn vị
tổ chức trong và ngoài nước để sản xuất, trao đổi, khai thác chương trình và cung cấp các dịch vụ truyền hình trả tiền cho các hộ dân có nhu cầu xem truyền hình ở mức cao hơn cần quảng bá”
Văn bản số 240/BTP-PLDSKT ngày 22/1/2009 của Bộ Tư pháp nêu ý
kiến: “việc ban hành quy chế quản lý hoạt động liên kết sản xuất chương
trình phát thanh, truyền hình là cần thiết , phù hợp với ch trương, chính sách c a Nhà nước, không trái với các quy định c a Hiến pháp, Luật Báo chí,
th ng nhất và đồng bộ với các quy định pháp luật khác nhau có liên quan”
Năm 2009, hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình, cho phép sự liên kết của đối tác với Đài được cụ thể hoá bằng Thông tư 19/2009/TT-BTTT ngày 28/5/2009 của Bộ TTTT Văn bản này cho phép doanh nghiệp được hợp tác với Đài truyền hình để sản xuất một phần hoặc toàn bộ chương trình, kênh truyền hình, áp dụng đối với truyền hình trả tiền
và truyền hình quảng bá Đài truyền hình muốn hợp tác chỉ cần làm thủ tục đăng ký hoặc thông báo với Bộ TTTT Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bộ TTTT là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình Quy định này nhằm vừa đảm bảo giữ vững nguyên tắc không để tư nhân núp bóng chi phối hoạt động báo chí, vừa tạo hành lang pháp lý cần thiết trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa trong hoạt động văn hóa, thông tin Theo nhiệm vụ và quyền hạn, các Đài phát thanh, truyền hình có quyền tự quyết
Trang 40định và chịu trách nhiệm về nội dung, chương trình và thời lượng phát sóng, tuy nhiên quyền tự quyết định này phải phù hợp với các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định của pháp luật về báo chí Việc ra đời Thông tư 19/2009/TT-BTTTT đã có tác dụng tốt trong quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình, được đa số các đài phát thanh, truyền hình trong cả nước đồng tình và thực hiện nghiêm túc; đã đem lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc nghiên cứu, xây dựng Luật Báo chí hiện nay
Tại hội thảo “Quản lý hoạt động truyền hình trả tiền”, Thứ trưởng Đỗ
Quý Doãn phát biểu: xu hướng xã hội hóa là rất đáng khuyến khích trong lĩnh vực truyền hình để huy động các nguồn lực khác nâng cao chất lượng của chương trình truyền hình để phục vụ tốt cho nhân dân Về nguyên tắc, đây là lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nên xã hội hóa như thế nào, thì đài truyền hình vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm toàn bộ về mọi nội dung chương trình kể cả chương trình đó là chương trình liên kết thực hiện sản xuất Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thông tin - Truyền thông đã ban hành một thông tư
về liên kết sản xuất chương trình phát thanh truyền hình Đây là một văn bản bước đầu rất quan trọng để điều chỉnh hoạt động liên kết để sản xuất chương trình truyền hình hay còn gọi là xã hội hóa
Trong bản Quy hoạch phát triển đến năm 2010 và những năm sau của
Đài Truyền hình Việt Nam, chính phủ đã có những chỉ đạo sâu sát: “Phát
triển truyền hình hướng tới mục tiêu phục vụ nhu cầu, lợi ích c a nhân dân; phát triển đi đôi với việc quản lý t t để bảo đảm Đài Truyền hình Việt Nam là công cụ tuyên truyền c a Đảng và Nhà nước” ; “Tăng cường xã hội hóa việc sản xuất các chương trình truyền hình, phim truyền hình theo đúng định hướng c a Đảng và các quy định c a Nhà nước” ; “Tăng cường hợp tác sản