1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay

121 22 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
Tác giả Trương Thị Mỹ Linh
Người hướng dẫn PGS, TS. Lương Khắc Hiếu
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Quản lý Văn hóa, Giáo dục và Khoa học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.. Những vấn đề đặt ra trong năng l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 3

Luận văn đã đƣợc sửa chữa theo khuyến nghị của hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS PHẠM HUY KỲ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Quá trình học Cao học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của Ban Giám đốc, Khoa Tuyên truyền, Trung tâm Thông tin Khoa học, các Trung tâm, Ban, Phòng và các cá nhân liên quan khác Đội ngũ thầy, cô giảng dạy đã giúp đỡ tôi trưởng thành hơn rất nhiều so với hồi đầu mới vào Học viện Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này, tôi đã được hướng dẫn tận tình bởi PGS, TS Lương Khắc Hiếu trong suốt quá trình tư duy và viết Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy

Cuối cùng tôi xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong sự nghiệp cao quý

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Năng lực nghiên cứu

khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

TRƯƠNG THỊ MỸ LINH

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

01 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW

07 Xã hội chủ nghĩa XHCN

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ

GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 12 1.1 Năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học 12

1.2 Giảng viên đại học và năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học công lập ……… …15

1.3 Những yếu tố tác động đến năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng

viên các trường đại học 25

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG NĂNG

LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 38

2.1 Khái quát về các trường đại học công lập và hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học công lập được khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm qua 38 2.2 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguyên nhân 43

2.3 Những vấn đề đặt ra trong năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay 68

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TRONG THỜI GIAN TỚI 76 3.1 Quan điểm về việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Hà Nội trong thời gian tới 76

3.2 Giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới 83

KẾT LUẬN 96

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Công tác tổ chức NCKH cho đội ngũ giảng viên nhà trường 43 Bảng 2.2: Đánh giá mức độ năng lực NCKH của đội ngũ giảng viêncác trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội 44 Bảng 2.3: Kiến thức giảng viên có trước khi tham gia NCKH 47 Bảng 2.4: Những khó khăn giảng viên gặp trong quá trình NCKH 57 Bảng 2.5: Đánh giá năng lực cần thiết bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên NCKH 61 Biểu đồ 2.1: Thái độ tham gia hoạt động NCKH của đội ngũ giảng viên 42 Biểu đồ 2.2: Thời gian NCKH của giảng viên ngoài giờ giảng dạy trong ngày… 67

Trang 9

Mặt khác, NCKH giúp giảng viên nâng cao phong cách và phương pháp làm việc khoa học, đặt các vấn đề dưới tác động đa chiều với cách nhìn khách quan, chính xác Thông qua NCKH, giảng viên được rèn luyện khả năng tư duy,

kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng làm việc nhóm với nhiều hình thức nghiên cứu khác nhau như viết tham luận, viết bài đăng trên tạp chí chuyên ngành, cho trang website của trường, viết bài cho các hội thảo, viết bài Nội san (thông tin lý luận và thực tiễn) làm đề tài NCKH Đồng thời, giảng viên biết được những hạn chế, những "lỗ hổng" trong kiến thức của mình để kịp thời bổ sung, cập nhật NCKH giúp giảng viên (nhất là giảng viên trẻ) trưởng thành nhanh, góp phần vào nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường và sự nghiệp GD-ĐT

Điều 18 của Luật Giáo dục 2005, đã nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện cho

nhà trường và cơ sở giáo dục khác tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học, công nghệ; kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước thực hiện vai trò trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của địa phương hoặc của cả nước”[51] Thêm nữa, NCKH đã và

đang ảnh hưởng rất lớn đến việc thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động ở từng quốc gia, làm thay đổi toàn bộ bộ mặt của đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu Một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế như Trung

Trang 10

2

Quốc có tốc độ tăng trưởng vào bậc nhất trên thế giới hiện nay, chính bởi Trung Quốc

đã và đang đẩy mạnh các hoạt động NCKH

Các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội có bề dày lịch sử, truyền thống đào tạo, đã và đang thực sự trở thành các trung tâm đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ; là những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, với cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực đào tạo đa dạng và hiện đại nhất cả nước Trong đó, nhiều trường đại học còn là trung tâm NCKH đầu ngành trong nhiều lĩnh vực Hoạt động NCKH gắn liền với hiệu quả của giáo dục và đào tạo, là điều kiện hình thành cơ chế chính sách quản lý thích hợp đối với trường đại học, tạo tiền đề để nhà trường phát huy tính sáng tạo trong việc tham gia một cách tích cực vào việc gắn kết chương trình giảng dạy với NCKH Có thể nói, NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy, quản lý

Trong những năm qua, ngành giáo dục và nền khoa học công nghệ nước ta đã đạt được thành tích đáng kể là nhờ có những đóng góp không nhỏ từ hoạt động NCKH của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các trường đại học Công tác NCKH là nhiệm vụ then chốt để phát triển nhà trường, đảm bảo cho sự thành công trong đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo Các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả từ việc tăng nhanh số lượng giảng viên có trình

độ sau đại học, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới phương pháp giảng dạy Tuy vậy, sự thay đổi này chỉ giúp giảng viên có tri thức mới thông qua môi trường học tập chứ không phải tri thức đó có được trong NCKH Vốn tri thức gia tăng đó sẽ lạc hậu nếu giảng viên không tiếp tục tự học và NCKH Do đó, đội ngũ giảng viên cần phải NCKH để nâng cao hiệu quả đào tạo và nghiên cứu giải quyết những vấn đề thuộc chuyên môn của xã hội đặt ra Mặt khác, thông qua NCKH, giảng viên có thể giúp sinh viên tham gia NCKH và tự học tốt hơn

Động lực nghiên cứu của giảng viên là: Niềm đam mê, ham nghiên cứu tìm tòi cái mới, khát vọng khẳng định bản thân, học hàm, học vị, lợi ích kinh tế Yêu

Trang 11

3

cầu tiếp tục đổi mới giáo dục, đào tạo đòi hỏi phải nâng cao năng lực NCKH của

đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Hà Nội Tuy nhiên, dưới tác

động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, thu nhập của giảng viên (nhất là giảng viên trẻ) thấp hơn rất nhiều so với thu nhập của nhiều ngành nghề khác, khiến họ không sống nổi bằng lương, phải xoay sang những việc khác

để kiếm kế sinh nhai Mặt khác, giảng viên phải giảng dạy rất nhiều để tăng thu nhập, lo cơm áo gạo tiền, đáp ứng nhu cầu của các đại học, các khoa mới mở thiếu giảng viên Từ đó, giảng viên không còn thời gian, tâm trí và sức lực NCKH Với những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản

lý Văn hóa, Giáo dục và Khoa học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến năng lực và năng lực của đội ngũ giảng viên

Giáo trình của TS Phạm Minh Hạc, “Nghiên cứu con người và nguồn nhân

lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (năm 2001) Công trình đã nghiên cứu

chủ yếu về sự phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn nhà nước ta đang tiến vào giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tác giả đã nghiên cứu phạm vi trên diện rộng các đối tượng là con người nhưng chủ yếu là ở các thành phố lớn hay các khu công nghiệp trên cả nước

GS,TS Phạm Tất Dong, “Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam

trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” (năm 2001), đã đi

sâu nghiên cứu phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam, trong đó có đội ngũ giáo viên, giảng viên về thực trạng và phát triển trong tương lai Công trình khoa học này nghiên cứu trên phạm vi cả nước và trên diện rộng các đối tượng khác nhau của đội ngũ tri thức của đất nước

Trang 12

4

Đề tài NCKH cấp bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2009, “Giải pháp phát

triển cán bộ quản lý và giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp giai đoạn 2014” Trong đề tài này tác giả đưa ra thực trang về cán bộ giảng viên trường đại

2007-học Đồng Tháp nhưng chủ yếu tác giả đưa ra các giải pháp nhằm phát triển cán bộ quản lý và giảng viên trường Đại học Đồng Tháp giai đoạn 2007-2014 Đề tài nghiên cứu ở phạm vi nhỏ hẹp là trường Đại học Đồng Tháp trong khoảng thời gian

từ năm 2007 đến 2014

Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Văn Đệ: “Phát triển đội ngũ giảng viên các

trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học” (2010) Tác giả đã đưa ra thực trạng về chất lượng đội ngũ giảng viên

của các trường Đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Từ đó, đề ra các giải pháp để phát triển đội ngũ giảng viên của các trường Đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trường Đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Luận án tiến sĩ của NCS Lại Văn Chính - “Nghiên cứu và dự đoán tiềm năng

phát triển của giảng viên dựa trên các đặc tính nghiệp vụ và hồ sơ cá nhân làm cơ

sở xây dựng chương trình phát triển đội ngũ giảng viên”(năm 2014) Tác giả đã

nghiên cứu và đưa ra dự đoán tiềm năng phát triển của giảng viên dựa trên các đặc tính nghiệp vụ và hồ sơ cá nhân làm cơ sở xây dựng chương trình phát triển đội ngũ giảng viên Phạm vi nghiên cứu rộng khắp trên cả nước Đây là một đề tài được đánh giá cao và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà

Nhìn chung, công trình trên nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên Vấn đề phát triển giảng viên tại các cơ sở giáo dục và đào tạo đã được nhắc đến ở nhiều đề tài khoa học khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại

Trang 13

5

các trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay là cấp thiết

cả về lý luận và thực tiễn

2.2 Các công trình nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học,

năng lực nghiên cứu khoa học

Trần Khánh Đức, Sư phạm kỹ thuật (năm 2002), tác giả đã chỉ rõ cơ sở

lý luận về NCKH sư phạm kỹ thuật như: các phương pháp luận, các phương pháp tiếp cận, các phương pháp sử dụng trong NCKH của sư phạm Công trình

là nền tảng khoa học cơ sở lý luận cho quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu thuộc sư phạm

Nguyễn Viết Sự, Giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên các

trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam (năm 2006): Tác giả đề cập đến

năng lực và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam Trong báo cáo tổng kết đề tài, tác giả phân tích khái quát về hệ thống sư phạm kỹ thuật và hoạt động NCKH của giảng viên trong hệ thống đó, đồng thời cũng nêu rõ các mối quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động giảng dạy và NCKH, các chính sách về NCKH trong hệ thống sư phạm kỹ thuật và thực trạng hoạt động NCKH của giảng viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam

Ngoài một số tác giả đề cập trên còn nhiều tác giả với các tác phẩm đề cập đến phương pháp NCKH nói chung và NCKH giáo dục nói riêng như: Trần

Thị Vân Anh, Luận văn thạc sĩ về „Ảnh hưởng của năng lực thông tin đến các chỉ số

nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ (Nghiên cứu một số trường trên địa bàn Hà Nội)” (năm 2018); Nguyễn Văn Đệ, Luận án Tiến sĩ, “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”(năm 2010); Nguyễn Chí Phương, Luận văn

thạc sĩ “ Nâng cao năng lực tổ chức nghiên cứu khoa học của trường Đại học

Mở thành phố Hồ Chí Minh” (năm 2011); Bùi Minh Đức, Luận văn thạc sĩ,

Trang 14

6

"Đánh giá tác động của nhóm nghiên cứu đến năng lực nghiên cứu khoa học

của nghiên cứu sinh (Nghiên cứu trường hợp tại trường Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội)”(năm 2020); Lưu Xuân Mới, phương pháp luận nghiên cứu khoa học (năm 2000); Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường kết quả học tập (năm 2005); Mai Ngọc Luông, Lý Minh Tiên, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục (năm 2007); Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (năm 2017); Vũ Cao Đàm, Đánh giá NCKH (năm 2004)

Nhìn chung các tác phẩm được tác giả đi sâu vào phân tích các nền tảng về NCKH như: xác định và đặt tên đề tài, nhận định các luận điểm khoa học, đặt giả thuyết, các phương pháp trong NCKH nói chung, NCKH giáo dục nói riêng

2.3 Các công trình nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học và năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học

Đề tài NCKH, chương trình khoa học cấp nhà nước của tác giả Nguyễn

Minh Ðường, “Bồi duỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện

mới”(năm 2005) Đề tài đưa ra được những luận điểm về bồi dưỡng và đào tạo

nguồn nhân lực trong điều kiện xã hội đổi mới Nhà nước căn cứ vào đó để thực hiện các nội dung về bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện mới Đề tài này đã nghiên cứu trên phạm vi rộng khắp cả nước và tất cả các đối tượng là nguồn nhân lực "Xây dựng, nâng cao chất luợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" Đề án nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của nước ta giai đoạn

2005 - 2010 Đề án nghiên cứu trên phạm vi cả nước về toàn bộ đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trên diện rộng

“Xây dựng và phát triển 16 ngành, 23 chuyên ngành khoa hoc cơ bản, công nghệ cao, kinh tế - xã hội mũi nhọn - Đại học Quốc gia Hà Nội” - Bộ Giáo dục và Đào tạo Đề án được xây dựng trên cơ sở tác giả nghiên cứu rất kỹ về nhu cầu các ngành học để từ đó xây dựng nên bản đề án phát triển 16 ngành, 23 chuyên ngành khoa hoc cơ bản, công nghệ cao, kinh tế - xã hội của trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Đề án nghiên cứu trên phạm vi trường Đại học Quốc Gia Hà Nội

Trang 15

7

Dự án Việt - Bỉ (2009) : Tài liệu về NCKH sư phạm ứng dụng, trong tài liệu này các tác giả đề cập đến các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của khoa học sư phạm ứng dụng Các tác giả nêu các bước và phân tích rõ quy trình tiến hành thực hiện đề tài NCKH sư phạm ứng dụng Đồng thời, tài liệu cũng hướng dẫn việc áp dụng NCKH sư phạm ứng dụng vào điều kiện thực tế tại Việt Nam Tài liệu này được sử dụng để đào tạo, bồi dưỡng giảng viên thuộc dự án Việt - Bỉ về “ Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”

2.4 Khái quát kết quả của các công trình khoa học đã công bố có liên quan

và những vấn đề đặt ra luận văn tiếp tục tập trung nghiên cứu, giải quyết

* Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố

có liên quan đến luận văn

Một là, các công trình NCKH đã hệ thống hóa, phát triển một số vấn đề lý luận

tương đối hoàn chỉnh như: NCKH, năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên trong các nhà trường; vị trí, vai trò, các yếu

tố, hiệu quả và các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên

Hai là, các tác giả đều khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của NCKH Các

công trình đã đánh giá thực trạng công tác này; rút ra các bài học kinh nghiệm về hoạt động nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên Khẳng định những yêu cầu khách quan của nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên Các đề tài đều khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh việc quán triệt quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ, nội dung nâng cao năng lực NCKH đã được xác định trong các Nghị quyết, văn kiện của Đảng làm căn cứ xác định phương hướng, mục tiêu, chủ trương, giải pháp nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập đạt hiệu quả trong tình hình mới

Các công trình NCKH vừa nêu trên đã gợi mở cho tác giả lựa chọn và thực

hiện đề tài: “Năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công

lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” Cho đến nay chưa có công trình

Trang 16

8

nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về đề tài này trong những năm gần đây Vì thế, đề tài mà tác giả đã chọn nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học, các đề tài luận văn, luận án nào đã được công bố Tác giả trân trọng kế thừa và phát triển những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã

đề cập tới vấn đề nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, đồng thời cố gắng tìm tòi những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, trình bày có hệ thống các nội dung có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu, đi sâu vào một số vấn đề cấp bách thực tiễn đang đặt ra để góp phần làm sâu sắc hơn, toàn diện hơn trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

* Những vấn đề luận văn tiếp tục tập trung nghiên cứu, giải quyết

Một là, làm rõ khái niệm năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các

trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội; xây dựng phạm trù trung

tâm là năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập

trên địa bàn thành phố Hà Nội, làm cơ sở giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề

tài Trong đó, tập trung nghiên cứu làm rõ thực chất, nội dung, phương thức và chủ thể năng lực NCKH, năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường

đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội; đi sâu nghiên cứu, khái quát và

làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên

tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hai là, tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong

nghiên cứu thực trạng, tập trung làm rõ những ưu điểm, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của những ưu điểm, hạn chế đó; phát hiện và làm rõ những vấn đề đặt ra đối với năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại

học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay; khái quát một số kinh

nghiệm năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập

trên địa bàn thành phố Hà Nội

Ba là, dự báo những yếu tố tác động, xác định yêu cầu năng lực NCKH của đội

ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay;

Trang 17

9

đề xuất giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính khả thi nâng cao năng lực NCKH của đội

ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học

- Đánh giá đúng thực trạng; chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Xác định những vấn đề đặt ra, đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về

năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực NCKH của đội ngũ

giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay Trong đó, đề tài luận văn chọn các trường sau đây để nghiên cứu: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đây là các

Trang 18

10

trường đại diện cho khối các trường: Khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế và lực lượng vũ trang

- Về thời gian: Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát chủ yếu từ năm 2015

đến năm 2019 Các giải pháp có giá trị ứng dụng đến năm 2030

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của BCHTW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về năng lực NCKH của đội ngủ giảng viên, NCKH, đào tạo đại học và đội ngũ giảng viên ở các trường đại học

5.2 Cơ sở thực tiễn

Thực trạng năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của BCHTW,

Đảng ủy, ban giám đốc, ban giám hiệu các trường đại học công lập trên địa bàn

thành phố Hà Nội Kết quả thu thập số liệu, tài liệu, tư liệu tổng kết kinh nghiệm năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên và khảo sát của tác giả về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố

Hà Nội từ năm 2015 đến năm 2019

5.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp NCKH chuyên ngành và liên ngành, trong đó đặc biệt chú trọng các phương pháp: Lôgic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, điều tra, khảo sát, so sánh, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội và các yếu tố tác động đến năng lực NCKH của giảng viên các trường đại học Làm rõ cấu trúc năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên đại học

Trang 19

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn hành phố Hà Nội

- Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho các đảng ủy, ban giám đốc, ban giám hiệu trường đại học xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, phát triển năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên ở các trường đại học

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: Mở đầu; 3 chương (8 tiết); danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 20

12

Chương 1 NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HÀ NỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học

1.1.1 Năng lực

1.1.1.1 Khái niệm năng lực

Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực được cấu tạo bởi 03 từ Capability,

Attribute và Compentency Trong đó, Capability nghĩa là khả năng mà cá nhân thể

hiện khi tham gia một hoạt động nhất định (khả năng nói tiếng Anh, khả năng sử

dụng một phần mềm máy tính ), Attribute được hiểu là phẩm chất cá nhân, cá tính hay nhân cách (khả năng kiên trì theo đuổi và giải quyết vấn đề), Compentency nghĩa là năng lực hành động (có một số tác giả dịch là năng lực thực hiện): khả

năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất

định dựa trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và sự sẵn sàng hành động

Trong các lĩnh vực khác nhau, nhiều nhà khoa học nhận định:

Năng lực là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lí và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động Năng lực có cấu trúc phức tạp, song những thành tố cơ bản tạo nên cơ sở cấu trúc của nó gồm tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ) [46]

Năng lực là trình độ thành thạo nhiều hay ít trong việc vận dụng các hiểu biết để giải quyết những vấn đề thực tế [38]

Năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển, cho phép một người đạt thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ năng

Trang 21

13

lực có thể bẩm sinh hoặc do rèn luyện mà chiếm lĩnh được Nó phát triển bởi kinh nghiệm hoặc bởi việc học tập phù hợp với tính riêng biệt của cá nhân [40]

Có thể hiểu, năng lực là sự kết hợp các kiến thức tổng hợp, kỹ năng, thái

độ đúng đắn của một cá nhân để thực hiện hoạt động có kết quả tốt, theo mục tiêu đã xác định

1.1.1.2 Các loại năng lực

Có thể chia năng lực thành hai loại: Năng lực chung và năng lực chuyên biệt

- Năng lực chung: Là năng lực có ở mọi người bình thường thông qua quá trình học tập, rèn luyện và công việc thực tiễn Đó là năng lực trí tuệ (trí năng, trí thông minh) Năng lực chung là nền tảng để xây dựng, phát triển năng lực chuyên biệt Đây là luận điểm quan trọng có tác dụng chỉ đạo việc xây dựng chương trình và phương pháp giảng dạy ở nhà trường năng lực chung càng phát triển sớm càng tốt

- Năng lực chuyên biệt: Là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt,

có tính kỹ thuật chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực hoạt động chuyên biệt có kết quả cao Chẳng hạn như: Công nhân có năng lực kỹ thuật, giáo viên có năng lực sư phạm và nghiên cứu, người lãnh đạo có năng lực tổ chức, quản lý Trong lĩnh vực kỹ thuật, năng lực chuyên biệt còn được gọi là năng lực chuyên môn kỹ thuật để phân biệt với các năng lực chuyên môn của các nghề phi vật chất như du lịch, nghệ thuật, văn hóa

Để đạt được kết quả tốt, mục tiêu đã đề ra, chúng ta cần có năng lực thực hiện, cơ bản bao gồm: Các kỹ năng giao tiếp, thực hành, giải quyết vấn đề và các

kỹ năng trí tuệ; thể hiện đạo đức nghề nghiệp; khả năng thích ứng để thay đổi; khả năng áp dụng kiến thức của mình vào công việc; khả năng làm việc nhóm…

1.1.2 Năng lực nghiên cứu khoa học

1.1.2.1 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học

Trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong hoạt động nghề nghiệp, ai cũng đều đã có nhiều lần nghiên cứu cái gì đó, để tìm giải pháp cho các vấn đề

Trang 22

14

và khó khăn mà họ gặp phải Theo cách hiểu này, “nghiên cứu” là một quá trình suy nghĩ để tạo ra cái mình cần Mục tiêu của nó là giải quyết những việc trong cuộc sống hằng ngày chứ không có khả năng xây dựng kiến thức mới

Bên cạnh đó, NCKH là một quy trình chặt chẽ, bao gồm nhiều công đoạn, thao tác và nhiều yêu cầu khác nhau Trong từ điển Nghiên cứu khoa học Lefrancis R., (1991) trang 147 định nghĩa hoạt động này như sau: NCKH là

“mọi hoạt động có hệ thống chặt chẽ bao hàm một phương pháp luận nghiên cứu phù hợp với một hệ vấn đề nhằm tìm hiểu một hiện tượng, giải thích một hiện tượng và khám phá một quy luật NCKH là nơi đối chiếu giữa những tiền giả định lý thuyết và thực tế như nó được cảm nhận”

NCKH nhằm khám phá đặc trưng, bản chất, quy luật của các sự vật và hiện tượng và tìm kiếm các giải pháp giải quyết vấn đề Nghiên cứu là một khâu, một hình thức cơ bản trong hoạt động NCKH Có thể nói, NCKH là hoạt động có chủ đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan về các sự vật, hiện tượng, các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy

NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của

sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn [69]

Do đó, NCKH là sự phát hiện bản chất sự vật, hiện tượng, sự phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc đổi mới, sáng tạo các phương pháp,

phương tiện kỹ thuật để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu đã đề ra

Có thể hiểu, năng lực NCKH là sự kết hợp các kiến thức đa lĩnh vực khác

nhau, kỹ năng và thái độ của chủ thể nghiên cứu để thực hiện có hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học về các đề tài ứng dụng và triển khai như nghiên cứu về việc áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới của máy móc, thiết bị, quy trình sản xuất, công nghệ thông tin, xây dựng quy trình làm việc trong đời sống thực tiễn

1.1.2.2 Cấu trúc khung năng lực nghiên cứu khoa học

Về phương diện nghiên cứu, cấu trúc khung năng lực NCKH được hình thành từ 04 thành tố chủ yếu là thái độ, kỹ năng, kiến thức và chuyển hóa vào thực tiễn:

Trang 23

15

- Thái độ: Đó là lòng nhiệt tình, sự đam mê khoa học; tính nhạy bén với các sự kiện xảy ra (hiện tượng khoa học); khách quan, trung thực, nghiêm túc; tính kiên trì, cẩn thận khi làm việc; tinh thần hợp tác, chia sẻ khoa học vì kiến thức khoa học mới

- Kỹ năng: Gồm có kỹ năng xây dựng đề tài khoa học; kỹ năng thu thập, xử lý

dữ liệu; kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu, sử dụng công cụ phân tích; kỹ năng phản biện khoa học; kỹ năng lập luận khoa học; kỹ năng viết báo cáo khoa học

- Kiến thức: Về cơ bản có kiến thức về chuyên ngành và kiến thức về phương pháp NCKH

- Chuyển hóa vào thực tiễn: Bao gồm cách thức tiến hành áp dụng NCKH; năng lực truyền đạt cho thế hệ sau kế thừa; năng lực tư duy đối với tiến trình phát triển những kết quả NCKH

1.2 Giảng viên đại học và năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học công lập

1.2.1 Giảng viên các trường đại học

1.2.1.1 Khái niệm giảng viên

Có thể nói, giảng viên là khái niệm dùng để chỉ tất cả những người đã

được tri thức hóa đạt trình độ đại học trở lên ở một lĩnh vực khoa học nhất định;

có đủ khả năng giảng dạy những đối tượng người khác nhận thức hệ thống tri thức đó; hoạt động giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học bởi sự cho phép bằng tuyển dụng làm giảng dạy của nhà trường và sự cho phép của nhà nước

Luật Viên chức năm 2010 quy định: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Theo đó, giảng viên đại học công lập là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và NCKH ở bậc đại học, sau đại học thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học công lập Trong các trường đại học, giảng viên còn là nhà khoa học, nắm vững các phương pháp khoa học về giảng dạy và

Trang 24

16

giáo dục, biết sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật trong giảng dạy, thường xuyên rèn luyện để nâng cao nghiệp vụ giảng dạy của mình, tham gia tích cực vào NCKH và đời sống xã hội

1.2.1.2 Giảng viên các trường đại học công lập

- Trường đại học (tiếng Anh: University) là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề Các trường đại học

có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học

Theo định nghĩa của từ điển Bách khoa toàn thư:

Đại học công lập là trường đại học do nhà nước (Trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, khác với đại học dân lập hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng

Đại học dân lập hay đại học tư thục là một cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, về tuyển sinh, đào tạo thì tuân theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, văn bằng có giá trị tương đương như văn bằng công lập Là trường

tư do cá nhân hoặc tổ chức trong một nước xin phép thành lập và tự đầu tư

- Giảng viên đại học là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy

và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng Có thể hiểu, giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học công lập là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, làm việc theo chế độ hợp đồng, có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe; có năng lực, kỹ năng chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, đảm nhiệm công tác giảng dạy, NCKH và các hoạt động khác thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học công lập (khái niệm này không áp dụng đối với giảng viên thỉnh giảng)

Trang 25

17

Do đó, đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập là những người làm

nghề học thuật (academic profession), là viên chức làm nghề dạy học từ bậc cao đẳng, đại học trở lên, làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục tại các trường đại học công lập, hưởng lương và các chế độ khác từ ngân sách nhà nước; được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung nhiệm vụ, thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó Họ được tổ chức thành một lực lượng xã hội có cùng chung chức năng chủ yếu là truyền đạt tri thức; bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp; hình thành và phát triển nhân cách cho người học Họ làm việc có kế hoạch, gắn bó với nhau thông qua môi trường giáo dục, qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ pháp luật

Khoản 3 Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005 quy định: Nhà giáo giảng dạy

ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên Điều 54 Luật Giáo dục đại học năm

2012 quy định: giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình

độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật Giáo dục; chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư; trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên

Theo Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập, chức danh nghề nghiệp của giảng viên gồm: giảng viên, giảng viên chính và giảng viên cao cấp

Như vậy, đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam bao

gồm những người đủ tiêu chuẩn giảng viên, không phân biệt quốc tịch, được ký hợp đồng dạy học từ bậc đại học trở lên, tổ chức thành một đội ngũ, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý… theo kế hoạch Họ

Trang 26

Đội ngũ giảng viên có cơ cấu rất đa dạng, không đồng nhất về chức danh, chuyên môn, trình độ đào tạo, độ tuổi, giới tính… Do đó, đảm bảo tính đồng thuận, thống nhất trong toàn bộ đội ngũ là vấn đề tương đối khó khăn

Mỗi giảng viên đóng nhiều vai trò, có nhiều chức năng: Là nhà quản lý, là cán bộ giảng dạy hay cán bộ NCKH, thậm chí còn là nhà chính trị Dù ở chức danh nào cũng đòi hỏi phải có chuyên môn giỏi, gắn với tiêu chí trực tiếp tham gia giảng dạy, NCKH Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, vốn kiến thức sống là trách nhiệm của mỗi giảng viên

Đội ngũ giảng viên tham gia hoạt động lao động sáng tạo với đa dạng các đối tượng khác nhau như sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Đó là những người đã bắt đầu hoặc đã trưởng thành về tư duy khoa học có khả năng

so sánh, bình luận, đánh giá, tự lựa chọn và có trình độ nhận thức nhất định Vì thế, giảng viên cần có phương pháp giảng dạy tích cực Đội ngũ giảng viên cũng cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, không ngừng trau dồi kiến thức chuyên sâu, rộng và tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện bản lĩnh khoa học (gồm trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tư duy khoa học…) Đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết, lâu dài biểu hiện thành thói quen, thành nhu cầu học tập suốt đời của đội ngũ giảng viên

Nắm vững kiến thức chuyên môn, biết truyền thụ nó cho người học với hai nhiệm vụ tham gia giảng dạy và NCKH song hành, gắn liền mật thiết có quan hệ biện chứng với nhau trong hoạt động lao động của đội ngũ giảng viên

Trang 27

1.2.2 Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học

1.2.2.1 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học

Từ khái niệm năng lực, năng lực NCKH, giảng viên các trường đại học có

thể hiểu, năng lực NCKH của giảng viên các trường đại học là sự tổng hợp kiến

thức, kỹ năng và thái độ của chủ thể nghiên cứu để thực hiện có hiệu quả các công việc của hoạt động NCKH về các đề tài nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai bao gồm: Nghiên cứu về chính trị, văn hóa, kinh tế, y tế, xã hội; việc áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới của máy móc, thiết

bị, quy trình sản xuất, công nghệ thông tin, xây dựng chương trình đào tạo và phương pháp dạy học (đặc biệt nghiên cứu phương pháp dạy học tích hợp và phương pháp dạy thực hành) vào công tác giảng dạy chuyên môn

1.2.2.2 Cấu trúc năng lực giảng viên các trường đại học

- Năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu

Đây là năng lực quan trọng không thể thiếu đối với người làm công tác

nghiên cứu nói chung và giảng viên thực hiện quá trình NCKH nói riêng, năng lực phát hiện các vấn đề có mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn đó, đưa những vấn đề có mâu thuẫn trở thành các đề tài nghiên cứu là một năng lực hết sức cần thiết Đây là năng lực bước đầu của toàn bộ quá trình nghiên cứu

- Năng lực xây dựng đề cương nghiên cứu

Xây dựng đề cương chi tiết cho đề tài nghiên cứu là một khâu vô cùng

quan trọng trong quá trình thực hiện nghiên cứu Vì đề cương nghiên cứu cho

Trang 28

20

thấy toàn cảnh tổng thể của nội dung và định hướng các bước cần làm để thực hiện một đề tài NCKH Do đó, năng lực xây dựng đề cương nghiên cứu rất quan trọng, năng lực này giúp xác định mục đích nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu,

kế hoạch và tổng quát nhất toàn bộ lộ trình cần thực hiện của đề tài

- Năng lực triển khai nghiên cứu đề tài khoa học

Triển khai nghiên cứu một đề tài khoa học có nhiều bước, nhiều công đoạn, nhiều hoạt động Theo đó, năng lực triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cũng có nhiều nội dung Đó là:

+ Năng lực tổ chức lực lượng nghiên cứu

Năng lực tổ chức lực lượng nghiên cứu giúp cho giảng viên khi thực hiện

đề tài biết chọn lọc, phân tích nội dung trong các tài liệu, tìm ra những nội dung phù hợp làm cơ sở, nền tảng cho đề tài nghiên cứu của mình Các nguồn tài liệu tham khảo rất phong phú và đa dạng, nếu thiếu năng lực này thì giảng viên đại học khi thực hiện đề tài sẽ khó nắm bắt các vấn đề cốt lõi cần thiết của đề tài, những cơ sở lý luận mà các nhà nghiên cứu trước đó thực hiện, bản thân kế thừa những kiến thức này, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình Đây là năng lực trọng yếu giúp giảng viên đại học có cái nhìn sáng tỏ hơn về

vấn đề cần nghiên cứu

+ Năng lực điều tra, khảo sát, xử lý tài liệu phục vụ hoạt động nghiên cứu và tổng kết thực tiễn

Trong các đề tài nghiên cứu với nội dung về các phương pháp dạy học

nghề, tâm lý nghề nghiệp, tìm hiểu về mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo nghề rất cần có năng lực thiết kế bộ công cụ điều tra khảo sát và xử lý số liệu

để tìm hiểu và làm rõ thực trạng đã và đang diễn ra của bản chất, hiện tượng vấn

đề cần nghiên cứu Có năng lực này, giảng viên sẽ xác định và phân tích, xử lý, xem xét các khía cạnh, các yếu tố của vấn đề nghiên cứu từ các số liệu được điều tra, khảo sát Nó sẽ là cơ sở thực tiễn làm nền tảng khoa học cho việc đề

xuất các định hướng giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài

+ Năng lực sử dụng phương pháp, công cụ nghiên cứu

Bất kỳ công việc nào muốn đạt hiệu quả cao đều cần có những phương

pháp thực hiện mang tính logic khoa học Hoạt động NCKH là một trong những

Trang 29

21

hoạt động cấp cao đối với con người Vì vậy, để có thể thực hiện các đề tài nghiên cứu hợp lý, hiệu quả rất cần có năng lực lựa chọn và sử dụng phương pháp NCKH phù hợp với mục đích, nội dung của đề tài nghiên cứu

+ Năng lực viết báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu và xã hội hóa sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy

Năng lực này giúp giảng viên tổng hợp toàn bộ quá trình nghiên cứu và

trình bày một cách logic khoa học các vấn đề của đề tài nghiên cứu Việc đưa

các sản phẩm từ các đề tài NCKH vào thực tế là một việc rất quan trọng và có ý

nghĩa lớn về mặt khoa học Năng lực triển khai đề tài nghiên cứu sẽ giúp giảng viên đại học có khả năng thực hiện các công việc như: Lựa chọn địa điểm triển khai, lập kế hoạch triển khai các sản phẩm của đề tài nghiên cứu một cách hợp

lý, ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu vào thực tiễn và mang lại hiệu quả cao trong công việc thực tế Với năng lực sẽ đánh giá được năng lực NCKH của giảng viên thông qua tính hiệu quả và khả thi của các sản phẩm nghiên cứu mang lại trong công việc thực tế

- Năng lực hướng dẫn NCKH cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh

Truyền đạt cái nhìn tổng quan về NCKH cho sinh viên Các câu hỏi tình huống thực tế được đưa ra và thảo luận sôi nổi để giúp sinh viên nhận thức đầy

đủ hơn về tính cấp thiết của hoạt động NCKH, đồng thời hiểu rõ được đối tượng của NCKH cũng như nắm bắt được các bước chính trong quy trình thực hiện NCKH một cách dễ dàng và đầy thú vị Đồng thời, định hướng cho sinh viên ngay trong quá trình giảng dạy thông qua nội dung môn học, bằng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, bằng các hoạt động khoa học trong và ngoài trường, giảng viên có thể giúp sinh viên tiếp cận với NCKH và sử dụng công nghệ thông tin vào nghiên cứu; định hướng sinh viên nghiên cứu những đề tài mang tính chất liên ngành

Thông báo cho sinh viên về chương trình và nội dung thời lượng môn học, hình thức kiểm tra đánh giá, các phần bài tập bắt buộc, bài tập nhóm, thời

Trang 30

Sinh viên sẽ học được rất nhiều từ việc thực hiện các tiểu luận, học cách tìm, đọc và tổng kết tài liệu, xác định vấn đề, phương pháp thực hiện, làm việc nhóm, trình bày và bảo vệ, định hướng sinh viên viết bài đăng tạp chí quốc tế và chuyển giao những giá trị nghiên cứu vào thực tiễn

Giảng viên cần yêu cầu nhóm, sinh viên NCKH tìm tòi, tổng hợp và đưa

ra ý kiến quan điểm của mình, trình bày trước cả lớp, nghe phản biện từ các nhóm khác để trả lời những câu hỏi đặt ra Biện pháp tích cực này sẽ giúp sinh viên chủ động và tự giác trong học tập, dần dần làm quen với NCKH

Giúp sinh viên tập và hình thành thói quen suy nghĩ, tích cực trao đổi về các vấn đề kinh tế - xã hội đang diễn ra Từ đó, các ý tưởng nghiên cứu và phương pháp giải quyết câu hỏi nghiên cứu dựa vào quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu một cách hệ thống, chặt chẽ được hình thành

- Năng lực tham gia nghiên cứu các đề tài, các hội thảo khoa học

Quá trình thực hiện các hoạt động NCKH là cơ hội tốt để giảng viên có môi trường, cơ hội bồi dưỡng năng lực NCKH Đây cũng là cơ sở cần thiết để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Trong quá trình tham gia NCKH, nếu đạt kết quả tốt, sẽ

là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế và uy tín của chính bản thân giảng viên, đồng thời khẳng định vị thế và uy tín của trường với xã hội Hoạt động

Trang 31

- Năng lực tham gia tổ chức, quản lý các hoạt động NCKH

Tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực tham gia NCKH cũng là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên ở các trường đại học công lập Việc học tập bồi dưỡng năng lực NCKH cho giảng viên cần phải tổ chức liên tục và thường xuyên, với nhiều hình thức bồi dưỡng khác nhau (đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng), có như vậy mới có thể đảm bảo bồi dưỡng đầy đủ các yếu tố của năng lực NCKH

Vì vậy, ngoài việc tổ chức bồi dưỡng theo hình thức học tập, nghiên cứu trên lớp, được tổ chức theo một chương trình bồi dưỡng cụ thể thì cần có những hình thức tổ chức bồi dưỡng khác như: (1)Tổ chức tiếp cận nghiên cứu và giải quyết vấn đề ở một số trường hợp cụ thể; (2) Tổ chức các chuyến đi dã ngoại; tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học; tham gia các hội chợ về khoa học - kỹ thuật, triển lãm khoa học; (3) Tổ chức các tọa đàm, liên kết trong hoạt động nghiên cứu nhằm trao đổi kinh nghiệm thực tiễn ở các nơi như: Các trường, cơ

sở đào tạo nghề, các viện khoa học, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ (4) Làm quen với hình thức tự học, tự nghiên cứu thông qua các nguồn học liệu, tài liệu làm việc tại các phòng thí nghiệm (5) Tổ chức nghiên cứu và học tập ở các môi trường tại các địa phương khác nhau

Kiểm tra, đánh giá là khâu cần thiết đối với quá trình quản lý các hoạt động NCKH Nó là thang đo mức độ tiến bộ sau khi được bồi dưỡng Kiểm tra

Trang 32

24

để thu nhận thông tin, căn cứ vào thông tin thu được và đối chiếu với tiêu chí, tiêu chuẩn để đánh giá nhằm khẳng định mức độ đạt được về năng lực NCKH của giảng viên Có kiểm tra, đánh giá đầu vào; kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ chức thực hiện (kiểm tra, đánh giá thường xuyên); kiểm tra, đánh giá kết thúc Thêm nữa, kiểm tra, đánh giá đầu vào trước khi tiến hành bồi dưỡng sẽ xác định được năng lực NCKH của giảng viên các trường đại học công lập đạt ở mức độ nào Việc kiểm tra, đánh giá này có thể do giảng viên hướng dẫn bồi dưỡng trực tiếp thực hiện hoặc phối hợp với giảng viên chuyên môn khác có đủ năng lực và kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong NCKH cùng thực hiện đánh giá đầu vào trước khi bồi dưỡng của giảng viên

Bên cạnh đó, kiểm tra, đánh giá thường xuyên là nhiệm vụ của giảng viên trực tiếp hướng dẫn bồi dưỡng Qua đó, giảng viên có thể xác định được mức độ thành thạo về năng lực NCKH của giảng viên tham gia học tập bồi dưỡng đạt được cũng như những tồn tại chưa được giải quyết, đây là căn cứ để giảng viên hướng dẫn kịp thời điều chỉnh, thay đổi phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng nhằm tăng hiệu quả cho toàn bộ quá trình bồi dưỡng của giảng viên

Đối với những năng lực chuyên sâu vào chuyên môn kỹ thuật, giảng viên hướng dẫn căn cứ theo sản phẩm nghiên cứu của giảng viên báo cáo để nhận xét, đánh giá Quá trình rèn luyện các năng lực thuộc công việc thiết kế, vận hành các sản phẩm NCKH, giảng viên hướng dẫn áp dụng hình thức quan sát

có hệ thống một cách thường xuyên để có căn cứ cho đánh giá và có thể điều chỉnh về hướng nghiên cứu trong các phần hướng dẫn tiếp theo

Ngoài ra, kiểm tra, đánh giá kết thúc đối với bồi dưỡng năng lực NCKH cho giảng viên sẽ do giảng viên hướng dẫn bồi dưỡng trực tiếp tiến hành Do đặc thù NCKH của từng ngành nghề khác nhau trong lớp bồi dưỡng nên có những năng lực có thể căn cứ theo sản phẩm của giảng viên báo cáo để đánh giá Đồng thời, có thể mời những thành viên trong hội đồng khoa học trường hoặc giảng viên có kinh nghiệm nghiên cứu, có năng lực, trình độ trong các lĩnh

Trang 33

25

vực của ngành nghề được nghiên cứu tham gia vào quá trình đánh giá sản phẩm NCKH của giảng viên sau bồi dưỡng Kiểm tra, đánh giá kết thúc để xác nhận kết quả cuối cùng về năng lực NCKH của giảng viên đã đạt được, thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá kết thúc bồi dưỡng giúp giảng viên đánh giá đúng đắn mức độ thông thạo về năng lực NCKH của bản thân, từ đó giảng viên có kế hoạch tự nghiên cứu, tự rèn luyện để phát triển năng lực NCKH cho bản thân, giúp bản thân phát triển tốt trong hoạt động NCKH của mình

1.3 Những yếu tố tác động đến năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học

1.3.1 Sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ

Hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi, hình thức khác nhau Chủ thể chính của hội nhập quốc tế là các quốc gia có đủ năng lực và thẩm quyền đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế đã ký tham gia Ở nước ta, hội nhập quốc tế được Đảng và Nhà nước coi là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược để phát triển đất nước

Tại Đại hội VI (1986) của Đảng đã bước đầu nhận thức về hội nhập quốc

tế, Đảng cho rằng: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công của lao động quốc tế” [Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr 81] Đại hội VIII (1996), thuật ngữ “Hội nhập” được chính thức đưa và trong Văn kiện của Đảng, đó là: “Xây dựng một nền kinh tế

mở, hội nhập với khu vực và thế giới” [Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật,

tr 84-85] Đại hội IX của Đảng, tư duy về hội nhập được Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh hơn “Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập quốc tế” [Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr 166]

Trang 34

26

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong đường lối đối ngoại và hợp tác quốc tế trong thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở các cấp, các ngành, các địa phương đã có chuyển biến tích cực, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức (nhất là cán bộ chủ chốt) ở các cơ quan, đơn vị, địa phương có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng động và sáng tạo; tích cực thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Trình độ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao, thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Đội ngũ cán bộ, công chức

có đóng góp quan trọng trong việc đạt được những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đưa nước ta gia nhập các nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng

Quá trình hội nhập quốc tế mang lại một số những thời cơ và thách thức sau: Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, làm gia tăng xuất khẩu và thu hút đầu tư nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ta tham gia vào thị trường xuất khẩu và tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, tạo điều kiện cho xuất khẩu nguồn nhân lực Vì vậy, giảng viên cần nhận thức được sâu sắc điều kiện thuận lợi để có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ngành phù hợp với hoàn cảnh đặt ra ở trong nước và thế giới

Hội nhập quốc tế mở ra triển vọng nhanh, mạnh mẽ cho các lĩnh vực GD-ĐT, khoa học công nghệ, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, Vì vậy, giảng viên phải có sức khỏe tốt, tri thức chuyên môn tốt và trình độ công nghệ cao để chất lượng giảng dạy phù hợp với kinh nghiệm và tri thức thế giới

Hội nhập quốc tế là cơ hội để giảng viên xây dựng và hoàn thiện trình độ theo tiêu chuẩn chung của thế giới, đáp ứng quá trình phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay

Tuy nhiên,thách thức về năng lực cạnh tranh giữa các trường đại học trong việc thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 35

Hội nhập quốc tế đặt ra cho công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên về chất lượng nguồn nhân lực Giảng viên đang thiếu về những kiến thức mới, hiện đại, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực hội nhập, năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ quốc tế Vì vậy, cần phải đào tạo, bồi dưỡng

họ những kiến thức về hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng được vị trí việc làm và phát triển ngành trong bối cảnh hiện nay

1.3.2 Môi trường sống và công tác

Một trong những trở ngại lớn của hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học hiện nay là còn thiếu “không khí tự do học thuật” (nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn) Trong giáo dục nên có sự quan tâm và phân biệt giáo dục phổ thông và giáo dục đại học Khác với giáo dục phổ thông, giáo dục đại học không chỉ có mục tiêu là truyền đạt tri thức có sẵn mà quan trọng hơn là tìm ra chân lý thông qua việc phát triển tri thức mới Để thực hiện mục tiêu này, tự do học thuật được hiểu chính là giảng viên được trao quyền tự

do giảng dạy, tự do nghiên cứu và thảo luận khoa học, tự do công bố kết quả nghiên cứu ở trong nước và quốc tế và tự do phát biểu ý kiến cho các vấn đề thuộc về khoa học và công nghệ, đời sống kinh tế - xã hội trên tinh thần khoa học

Nội dung của tự do học thuật trùng khớp với quan điểm “Giảng dạy tự do, trao quyền cho giáo viên” là ưu tiên khi Liên Hợp quốc thông qua mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 về giáo dục Tự do học thuật luôn đi đôi với trách nhiệm học thuật, trong đó quan trọng nhất là sự khách quan và trung thành với chân lý, sự tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức và chuyên môn, sự tôn trọng

Trang 36

Nhiều lãnh đạo trường đại học chưa xác định được vai trò, nhiệm vụ cụ thể mà các nhà trường, đơn vị, cá nhân cần thực hiện trên các góc độ nhận thức, thái độ, phương hướng, mục tiêu và hành động đối với hoạt động NCKH Nhiều trường đại học chưa có các chính sách cụ thể trong hợp tác NCKH cũng như danh mục sản phẩm NCKH dự kiến phù hợp mục tiêu phát triển nhà trường trong cả ngắn và dài hạn Nhiều nhà trường chưa có các biện pháp để gắn nhà khoa học với nhiệm vụ công bố chất lượng cao hay các sáng chế, giải pháp hữu ích… Thực trạng này khiến cho niềm tin của xã hội vào trường đại học nói chung ngày càng giảm sút Thậm chí, có ý kiến cho rằng, hoạt động NCKH ở một số trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội mới dừng ở hoạt động bề nổi, trang trí và nếu xét cả từ “đầu vào” đến “đầu ra” của hoạt động NCKH đều chưa đạt theo một chuẩn mực cần thiết

Xây dựng Nhà trường thực sự là môi trường sư phạm mẫu mực, là không gian khoa học, là nơi tạo điều kiện cho sự phát triển văn hoá, tri thức, khoa học bằng cách gắn chính sách đãi ngộ trong NCKH đối với giảng viên đi kèm với

Trang 37

đề trong NCKH Mặt khác, trong thời gian tới Nhà trường có thể lên kế hoạch, hợp tác cùng các trường khác để bàn cách tổ chức và mở ra các hội thảo, toạ đàm

về NCKH để lực lượng giảng viên, nhất là đội ngũ giảng viên trẻ có thể tham gia, qua đó có cơ hội trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu trong mỗi người trẻ Xây dựng chính sách khen thưởng kịp thời để ghi nhận các giảng viên trẻ có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH

Một trong những chính sách phổ biến ở các trường đại học Việt Nam là

“tạo nguồn” Các sinh viên giỏi được giữ lại trường, trong nhiều trường hợp

được hỗ trợ để tiếp tục du học, làm luận văn tiến sĩ ở nước ngoài Những người này bị ràng buộc bởi một lời hứa sau khi học xong sẽ quay trở lại làm việc cho trường Trong một số trường hợp, họ bị ràng buộc bởi một cam kết với chính phủ Việt Nam khi nhận học bổng từ Chính phủ

Bỏ qua một số tiêu cực ắt có trong việc lựa chọn những sinh viên được ưu tiên đi học nước ngoài, biện pháp tạo nguồn đó đang là biện pháp mang lại hiệu quả tích cực nhất trong bối cảnh hiện tại Nhờ cơ chế tạo nguồn mà nhiều trường đại học còn duy trì được việc trẻ hóa đội ngũ với những nhà khoa học trẻ

có ít nhiều trải nghiệm trong môi trường quốc tế

Tiêu chí hàng đầu cho việc tuyển dụng giảng viên và giáo sư đại học phải

là khả năng NCKH Chỉ có những người “sống và thở” ở tiền tuyến của tri thức nhân loại mới có khả năng hiểu và truyền tải những kiến thức nền tảng và những phát kiến tiên tiến nhất cho lực lượng lao động trí não tương lai Hệ quả tất yếu của tiêu chí trên là tiếng nói tối cao trong việc tuyển chọn phải thuộc về những

Trang 38

30

người có khả năng đánh giá trình độ, khả năng, và tiềm năng NCKH của ứng viên Cấu trúc của Hội đồng tuyển chọn phải khác với hiện nay, nó phải bao gồm những giáo sư giảng dạy tại khoa, có uy tín về khoa học, và không thể bao gồm nhân viên của các phòng ban, ví dụ như phòng tổ chức cán bộ

Quyền lực của hệ thống quan liêu thể hiện ở quy trình tuyển chọn rắc rối

và không đồng nhất Quy trình đủ rắc rối để cho khoa chuyên môn không có khả năng thực hiện vai trò quyết định của mình nếu không có sự hỗ trợ của các phòng ban Đối với các ứng viên, tình hình còn khó khăn hơn nữa Nếu không

có quen biết, họ không có khả năng vượt qua những rào cản mang tính chất hành chính Quy trình tuyển chọn cần phải được minh bạch hóa: tuyển ứng viên với một quy trình mở, ai được nộp đơn, ai được tuyển, dựa trên tiêu chí gì, kết quả như thế nào Trong tuyển chọn phải ưu tiên hàng đầu tiêu chí khoa học và trả quyền quyết định về cho những người có thẩm quyền khoa học

Bên cạnh việc quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ nghiên cứu giản dạy

cơ hữu, cũng cần chú ý đến việc “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”

Chế độ thu nhập cứng nhắc hiện tại là một trong những ràng buộc lớn nhất cho mọi chính sách nhân sự đại học - và có lẽ là yếu tố chủ đạo làm các vị trí hàn lâm thiếu tính hấp dẫn các cá nhân xuất sắc Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy đại học là công chức hoặc viên chức nhà nước, chế độ thu nhập của họ được điều chỉnh bởi những quy định chung về thang lương của công/viên chức nhà nước Với thang lương hiện tại, mức lương cơ bản của giảng viên đại học không đảm bảo cho họ một mức sống trung lưu cao trong xã hội Trong mọi hệ thống

xã hội, mức sống trung lưu cao cho cán bộ giảng viên nghiên cứu luôn là điều kiện cần cho một hệ thống giáo dục tốt vì: (1) nó thể hiện mức độ ưu tiên của xã hội đối với giáo dục đại học, (2) để nghiên cứu tốt thì ứng viên tuyệt đối cần thời gian tư duy tự do, không bị ràng buộc bởi cơm gạo

Để khắc phục thang lương bất hợp lý hiện tại, Nhà nước đã có một số chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học thông qua các quỹ như Nafosted Các đề

Trang 39

31

tài khoa học đã trở thành một nguồn tăng thu nhập đáng kể cho cán bộ nghiên cứu Bên cạnh ý nghĩa tích cực, chúng ta thấy việc này thực chất phản ánh khó khăn của Việt Nam trong việc cải cách hệ thống tiền lương Việc cải cách chế

độ thu nhập cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy ở đại học là một việc hệ trọng

1.3.3 Xu hướng phát triển của nền giáo dục

Bối cảnh không thuận lợi làm ảnh hưởng tới mục tiêu hội nhập và phát triển trong khoa học, đào tạo trình độ cao của các trường đại học trong nước còn ít chú ý tính liên ngành, việc đánh giá các công trình nghiên cứu còn thiếu các tiêu chí quốc

tế, mối quan hệ giữa nghiên cứu và đào tạo trình độ cao chưa được coi trọng, chú ý nhiều hơn tới hình thức, bằng cấp mà ít coi trọng thực chất Ở không ít lĩnh vực khoa học, đội ngũ đông nhưng chưa mạnh, chưa tạo dựng được một đội ngũ nhà khoa học đầu ngành có thể kết nối và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng khu vực và quốc tế để xin tài trợ và làm chủ trong hợp tác quốc tế

Trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học phát triển với tốc độ “vũ bão”,

kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nếu người cán bộ giảng dạy đại học không chú trọng tới công tác này rất dễ lạc hậu, lạc hậu một cách hồn nhiên Nghĩa là lạc hậu mà không biết rằng mình lạc hậu Nhiều trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn còn những giảng viên sử dụng các giáo trình viết từ thập niên 80 của thế kỷ trước để giảng dạy - những kiến thức đã lạc hậu gần 30 năm so với Việt Nam và hàng thế kỷ so với thế giới Chỉ trong vòng

5 - 10 năm qua, các chuyên ngành sư phạm về cơ bản đã có nhiều thay đổi, nhiều kiến thức mới mẻ mà nếu không nghiên cứu, học hỏi, người cán bộ giảng dạy sẽ không thể tiếp thu và theo kịp

1.3.4 Hoạt động thực tiễn

NCKH là phương thức quan trọng nhất giúp cho đội ngũ giảng viên, nhất là các giảng viên trẻ ở các trường đại học bổ sung kiến thức thực tiễn, gắn kết hơn giữa lý luận và thực tiễn thông qua đó chất lượng bài giảng được nâng lên và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của người học Cùng với hoạt động giảng dạy, NCKH giúp

Trang 40

32

những giảng viên đại học thể hiện được năng lực của bản thân, khẳng định được

uy tín và vị thế của mình trước đồng nghiệp và học viên

Đối với người giảng viên, thì học tập, NCKH trước hết là do quyền lợi bản thân, học là học cho mình Nhưng cũng không hoàn toàn chỉ vì thế Công việc mang tính tự nguyện tự giác này không chỉ xuất phát từ quyền lợi, mà còn

do danh dự - danh dự của bản thân và cũng là danh dự của đơn vị, của nhà trường Sự thành đạt của mỗi cá nhân trên bước đường học tập và nghiên cứu cũng là niềm tự hào, là cơ sở tồn tại của mỗi đơn vị

Việc đầu tư cho hôm nay là cơ sở góp phần vào sự tồn tại và vị trí của nhà trường ngày mai Trong một đơn vị, nếu một vài giảng viên chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, có thể chưa ảnh hưởng nhiều tới chất lượng chuyên môn của đơn vị ấy, nhưng nếu đa số cán bộ giảng viên vì không được khuyến khích, động viên thoả đáng, tạo điều kiện thuận lợi, thì sau 5 năm,

10 năm, chắc rằng đơn vị đó không thể nói là có đội ngũ giảng dạy đáp ứng kịp thời với sự phát triển của khoa học

Lực lượng giảng viên trẻ ở các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay đang có những “lợi thế” nhất định, có thể phát huy mạnh

mẽ trong công tác NCKH Chúng ta thường nói tuổi trẻ gắn liền với sức trẻ, sự năng động, nhạy bén và khả năng tiếp cận với cái mới Họ có tinh thần không ngại khó khăn, dám chấp nhận thử thách Họ có nền tảng tri thức tốt, đặc biệt là tri thức về ngoại ngữ, tin học và cả phương pháp luận NCKH Đó là những nền tảng quan trọng giúp họ có thể phát huy tốt khả năng và lợi thế trong nghiên cứu

và giảng dạy

Tổ chức, chỉ đạo một cách quyết liệt, sát sao và có hiệu quả hoạt động NCKH, kịp thời định hướng, lựa chọn đề tài nghiên cứu, xuất phát trên cơ sở thực tiễn trong các hoạt động chuyên môn của Nhà trường, các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong và ngoài nước đặt ra Tránh cách làm hình thức, phô trương, chạy theo số lượng mà nên đi vào chiều sâu, gắn hoạt động nghiên cứu

Ngày đăng: 11/11/2021, 00:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2016), Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tạp chí lý luận chính trị, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2016
3. Nguyễn Ngọc Ân (2012), Tăng cường năng lực NCKH của giáo viên (tiểu học), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực NCKH của giáo viên (tiểu học)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
9. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
10. Hoàng Chí Bảo (2006), Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
11. Nguyễn Duy Bảo (2007), Phương pháp luận NCKH và thực hiện đề tài NCKH, Nxb Bưu Điện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận NCKH và thực hiện đề tài NCKH
Tác giả: Nguyễn Duy Bảo
Nhà XB: Nxb Bưu Điện
Năm: 2007
12. Bộ GD&ĐT (2007), Tài liệu Hội thảo “Tiếp tục nâng cao năng lực đổi mới phương pháp dạy học cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo “Tiếp tục nâng cao năng lực đổi mới phương pháp dạy học cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm”
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2007
13. Bộ GD&ĐT, Dự án Việt Bỉ (2009), NCKH sư phạm ứng dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: NCKH sư phạm ứng dụng
Tác giả: Bộ GD&ĐT, Dự án Việt Bỉ
Năm: 2009
14. Bộ GD&ĐT (2006), Kỷ yếu hội thảo “Cơ sở khoa học và giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho giáo viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo “Cơ sở khoa học và giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho giáo viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam”
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2006
15. Bộ GD&ĐT (2010), Kỷ yếu hội thảo “Nâng cao năng lực đào tạo giáo viên kỹ thuật tại các trường, khoa sư phạm kỹ thuật đáp ứng nhu cầu xã hội”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo “Nâng cao năng lực đào tạo giáo viên kỹ thuật tại các trường, khoa sư phạm kỹ thuật đáp ứng nhu cầu xã hội
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2010
16. Bộ GD&ĐT (2011), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Khoa học sư phạm trong chiến lược phát triển giảng viên, yếu tố căn bản đổi mới giáo dục Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khoa học sư phạm trong chiến lược phát triển giảng viên, yếu tố căn bản đổi mới giáo dục Việt Nam
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2011
17. Lê Thị Bừng (chủ biên) (2004), Mỗi người tiềm ẩn một tài năng, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỗi người tiềm ẩn một tài năng
Tác giả: Lê Thị Bừng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
18. Lại Văn Chính (2014), Luận án Tiến sĩ, “Nghiên cứu và dự đoán tiềm năng phát triển của giảng viên dựa trên các đặc tính nghiệp vụ và hồ sơ cá nhân làm cơ sở xây dựng chương trình phát triển đội ngũ giảng viên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu và dự đoán tiềm năng phát triển của giảng viên dựa trên các đặc tính nghiệp vụ và hồ sơ cá nhân làm cơ sở xây dựng chương trình phát triển đội ngũ giảng viên
Tác giả: Lại Văn Chính
Năm: 2014
19. Nguyễn Ngọc Cường (2018), Bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viên trẻ ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay, Tạp chí Quản lý chính sách khoa học và công nghệ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viên trẻ ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cường
Năm: 2018
20. Phạm Tất Dong (2001), Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước , Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
21. Phan Xuân Dũng (2012), Một số biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viên ở trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 2, tạp chí Khoa học ĐH QGHN, Khoa học xã hội và nhân văn, số 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viên ở trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 2
Tác giả: Phan Xuân Dũng
Năm: 2012
22. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục (2007), Hội thảo quốc gia đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên, Ninh Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc gia đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục
Năm: 2007
23. Vũ Cao Đàm (2017), Phương pháp luận NCKH, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận NCKH
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2017
24. Vũ Cao Đàm (2011), Đánh giá NCKH, Nxb Khoa Học và Kỹ Thuật HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá NCKH
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa Học và Kỹ Thuật HN
Năm: 2011
25. Nguyễn Văn Đệ (2010), Luận án Tiến sĩ, “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Đệ
Năm: 2010
26. Bùi Minh Đức (2012), Đổi mới mô hình đào tạo giảng viên trong các trường đại học sư phạm theo hướng tiếp cận năng lực, Tạp chí Giáo dục số 277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới mô hình đào tạo giảng viên trong các trường đại học sư phạm theo hướng tiếp cận năng lực
Tác giả: Bùi Minh Đức
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trƣờng đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguyên nhân  - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
2.2 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trƣờng đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguyên nhân (Trang 51)
Bảng 2.1: Công tác tổ chức NCKH cho đội ngũ giảng viên nhà trường - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.1 Công tác tổ chức NCKH cho đội ngũ giảng viên nhà trường (Trang 51)
Bảng 2.2: Đánh giá mức độ năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.2 Đánh giá mức độ năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên (Trang 52)
Bảng 2.3: Kiến thức giảng viên có trước khi tham gia NCKH - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.3 Kiến thức giảng viên có trước khi tham gia NCKH (Trang 55)
Bảng 2.4: Những khó khăn giảng viên gặp trong quá trình NCKH - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.4 Những khó khăn giảng viên gặp trong quá trình NCKH (Trang 65)
NCKH (Bảng 2.4), có đến 86,97% số giảng viên cho rằng phát hiện vấn đề nghiên cứu rất khó khăn và khó khăn (trong đó, rất khó khăn chiếm 66,96%),  chỉ có 12,94% cho rằng ít khó khăn và 0,09% thấy không khó khăn - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.4 , có đến 86,97% số giảng viên cho rằng phát hiện vấn đề nghiên cứu rất khó khăn và khó khăn (trong đó, rất khó khăn chiếm 66,96%), chỉ có 12,94% cho rằng ít khó khăn và 0,09% thấy không khó khăn (Trang 65)
Bảng 2.5: Đánh giá năng lực cần thiết bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên NCKH - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
Bảng 2.5 Đánh giá năng lực cần thiết bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên NCKH (Trang 69)
Câu 9: Hình thức bồi dưỡng năng lực NCKH nào sau đầy cần thiết cho đội ngũ giảng viên nhà trường:  - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
u 9: Hình thức bồi dưỡng năng lực NCKH nào sau đầy cần thiết cho đội ngũ giảng viên nhà trường: (Trang 116)
STT Hình thức bồi dƣỡng - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
Hình th ức bồi dƣỡng (Trang 120)
Câu 9: Hình thức bồi dưỡng năng lực NCKH nào sau đầy cần thiết cho đội ngũ giảng viên nhà trường:  - Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay
u 9: Hình thức bồi dưỡng năng lực NCKH nào sau đầy cần thiết cho đội ngũ giảng viên nhà trường: (Trang 120)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w