THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.. Những vấn đề đặt ra trong năng l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 3Luận văn đã đƣợc sửa chữa theo khuyến nghị của hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS PHẠM HUY KỲ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Quá trình học Cao học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của Ban Giám đốc, Khoa Tuyên truyền, Trung tâm Thông tin Khoa học, các Trung tâm, Ban, Phòng và các cá nhân liên quan khác Đội ngũ thầy, cô giảng dạy đã giúp đỡ tôi trưởng thành hơn rất nhiều so với hồi đầu mới vào Học viện Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này, tôi đã được hướng dẫn tận tình bởi PGS, TS Lương Khắc Hiếu trong suốt quá trình tư duy và viết Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy
Cuối cùng tôi xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong sự nghiệp cao quý
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Năng lực nghiên cứu
khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
TRƯƠNG THỊ MỸ LINH
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
01 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW
07 Xã hội chủ nghĩa XHCN
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 12 1.1 Năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học 12
1.2 Giảng viên đại học và năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học công lập ……… …15
1.3 Những yếu tố tác động đến năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng
viên các trường đại học 25
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG NĂNG
LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 38
2.1 Khái quát về các trường đại học công lập và hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học công lập được khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm qua 38 2.2 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguyên nhân 43
2.3 Những vấn đề đặt ra trong năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay 68
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG THỜI GIAN TỚI 76 3.1 Quan điểm về việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Hà Nội trong thời gian tới 76
3.2 Giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới 83
KẾT LUẬN 96
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Công tác tổ chức NCKH cho đội ngũ giảng viên nhà trường 43 Bảng 2.2: Đánh giá mức độ năng lực NCKH của đội ngũ giảng viêncác trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội 44 Bảng 2.3: Kiến thức giảng viên có trước khi tham gia NCKH 47 Bảng 2.4: Những khó khăn giảng viên gặp trong quá trình NCKH 57 Bảng 2.5: Đánh giá năng lực cần thiết bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên NCKH 61 Biểu đồ 2.1: Thái độ tham gia hoạt động NCKH của đội ngũ giảng viên 42 Biểu đồ 2.2: Thời gian NCKH của giảng viên ngoài giờ giảng dạy trong ngày… 67
Trang 9Mặt khác, NCKH giúp giảng viên nâng cao phong cách và phương pháp làm việc khoa học, đặt các vấn đề dưới tác động đa chiều với cách nhìn khách quan, chính xác Thông qua NCKH, giảng viên được rèn luyện khả năng tư duy,
kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng làm việc nhóm với nhiều hình thức nghiên cứu khác nhau như viết tham luận, viết bài đăng trên tạp chí chuyên ngành, cho trang website của trường, viết bài cho các hội thảo, viết bài Nội san (thông tin lý luận và thực tiễn) làm đề tài NCKH Đồng thời, giảng viên biết được những hạn chế, những "lỗ hổng" trong kiến thức của mình để kịp thời bổ sung, cập nhật NCKH giúp giảng viên (nhất là giảng viên trẻ) trưởng thành nhanh, góp phần vào nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường và sự nghiệp GD-ĐT
Điều 18 của Luật Giáo dục 2005, đã nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện cho
nhà trường và cơ sở giáo dục khác tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học, công nghệ; kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước thực hiện vai trò trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của địa phương hoặc của cả nước”[51] Thêm nữa, NCKH đã và
đang ảnh hưởng rất lớn đến việc thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động ở từng quốc gia, làm thay đổi toàn bộ bộ mặt của đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu Một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế như Trung
Trang 102
Quốc có tốc độ tăng trưởng vào bậc nhất trên thế giới hiện nay, chính bởi Trung Quốc
đã và đang đẩy mạnh các hoạt động NCKH
Các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội có bề dày lịch sử, truyền thống đào tạo, đã và đang thực sự trở thành các trung tâm đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ; là những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, với cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực đào tạo đa dạng và hiện đại nhất cả nước Trong đó, nhiều trường đại học còn là trung tâm NCKH đầu ngành trong nhiều lĩnh vực Hoạt động NCKH gắn liền với hiệu quả của giáo dục và đào tạo, là điều kiện hình thành cơ chế chính sách quản lý thích hợp đối với trường đại học, tạo tiền đề để nhà trường phát huy tính sáng tạo trong việc tham gia một cách tích cực vào việc gắn kết chương trình giảng dạy với NCKH Có thể nói, NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy, quản lý
Trong những năm qua, ngành giáo dục và nền khoa học công nghệ nước ta đã đạt được thành tích đáng kể là nhờ có những đóng góp không nhỏ từ hoạt động NCKH của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các trường đại học Công tác NCKH là nhiệm vụ then chốt để phát triển nhà trường, đảm bảo cho sự thành công trong đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo Các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả từ việc tăng nhanh số lượng giảng viên có trình
độ sau đại học, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới phương pháp giảng dạy Tuy vậy, sự thay đổi này chỉ giúp giảng viên có tri thức mới thông qua môi trường học tập chứ không phải tri thức đó có được trong NCKH Vốn tri thức gia tăng đó sẽ lạc hậu nếu giảng viên không tiếp tục tự học và NCKH Do đó, đội ngũ giảng viên cần phải NCKH để nâng cao hiệu quả đào tạo và nghiên cứu giải quyết những vấn đề thuộc chuyên môn của xã hội đặt ra Mặt khác, thông qua NCKH, giảng viên có thể giúp sinh viên tham gia NCKH và tự học tốt hơn
Động lực nghiên cứu của giảng viên là: Niềm đam mê, ham nghiên cứu tìm tòi cái mới, khát vọng khẳng định bản thân, học hàm, học vị, lợi ích kinh tế Yêu
Trang 113
cầu tiếp tục đổi mới giáo dục, đào tạo đòi hỏi phải nâng cao năng lực NCKH của
đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Hà Nội Tuy nhiên, dưới tác
động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, thu nhập của giảng viên (nhất là giảng viên trẻ) thấp hơn rất nhiều so với thu nhập của nhiều ngành nghề khác, khiến họ không sống nổi bằng lương, phải xoay sang những việc khác
để kiếm kế sinh nhai Mặt khác, giảng viên phải giảng dạy rất nhiều để tăng thu nhập, lo cơm áo gạo tiền, đáp ứng nhu cầu của các đại học, các khoa mới mở thiếu giảng viên Từ đó, giảng viên không còn thời gian, tâm trí và sức lực NCKH Với những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản
lý Văn hóa, Giáo dục và Khoa học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến năng lực và năng lực của đội ngũ giảng viên
Giáo trình của TS Phạm Minh Hạc, “Nghiên cứu con người và nguồn nhân
lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (năm 2001) Công trình đã nghiên cứu
chủ yếu về sự phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn nhà nước ta đang tiến vào giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tác giả đã nghiên cứu phạm vi trên diện rộng các đối tượng là con người nhưng chủ yếu là ở các thành phố lớn hay các khu công nghiệp trên cả nước
GS,TS Phạm Tất Dong, “Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam
trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” (năm 2001), đã đi
sâu nghiên cứu phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam, trong đó có đội ngũ giáo viên, giảng viên về thực trạng và phát triển trong tương lai Công trình khoa học này nghiên cứu trên phạm vi cả nước và trên diện rộng các đối tượng khác nhau của đội ngũ tri thức của đất nước
Trang 124
Đề tài NCKH cấp bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2009, “Giải pháp phát
triển cán bộ quản lý và giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp giai đoạn 2014” Trong đề tài này tác giả đưa ra thực trang về cán bộ giảng viên trường đại
2007-học Đồng Tháp nhưng chủ yếu tác giả đưa ra các giải pháp nhằm phát triển cán bộ quản lý và giảng viên trường Đại học Đồng Tháp giai đoạn 2007-2014 Đề tài nghiên cứu ở phạm vi nhỏ hẹp là trường Đại học Đồng Tháp trong khoảng thời gian
từ năm 2007 đến 2014
Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Văn Đệ: “Phát triển đội ngũ giảng viên các
trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học” (2010) Tác giả đã đưa ra thực trạng về chất lượng đội ngũ giảng viên
của các trường Đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Từ đó, đề ra các giải pháp để phát triển đội ngũ giảng viên của các trường Đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trường Đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Luận án tiến sĩ của NCS Lại Văn Chính - “Nghiên cứu và dự đoán tiềm năng
phát triển của giảng viên dựa trên các đặc tính nghiệp vụ và hồ sơ cá nhân làm cơ
sở xây dựng chương trình phát triển đội ngũ giảng viên”(năm 2014) Tác giả đã
nghiên cứu và đưa ra dự đoán tiềm năng phát triển của giảng viên dựa trên các đặc tính nghiệp vụ và hồ sơ cá nhân làm cơ sở xây dựng chương trình phát triển đội ngũ giảng viên Phạm vi nghiên cứu rộng khắp trên cả nước Đây là một đề tài được đánh giá cao và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà
Nhìn chung, công trình trên nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên Vấn đề phát triển giảng viên tại các cơ sở giáo dục và đào tạo đã được nhắc đến ở nhiều đề tài khoa học khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại
Trang 135
các trường đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay là cấp thiết
cả về lý luận và thực tiễn
2.2 Các công trình nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học,
năng lực nghiên cứu khoa học
Trần Khánh Đức, Sư phạm kỹ thuật (năm 2002), tác giả đã chỉ rõ cơ sở
lý luận về NCKH sư phạm kỹ thuật như: các phương pháp luận, các phương pháp tiếp cận, các phương pháp sử dụng trong NCKH của sư phạm Công trình
là nền tảng khoa học cơ sở lý luận cho quá trình thực hiện các công trình nghiên cứu thuộc sư phạm
Nguyễn Viết Sự, Giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên các
trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam (năm 2006): Tác giả đề cập đến
năng lực và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam Trong báo cáo tổng kết đề tài, tác giả phân tích khái quát về hệ thống sư phạm kỹ thuật và hoạt động NCKH của giảng viên trong hệ thống đó, đồng thời cũng nêu rõ các mối quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động giảng dạy và NCKH, các chính sách về NCKH trong hệ thống sư phạm kỹ thuật và thực trạng hoạt động NCKH của giảng viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam
Ngoài một số tác giả đề cập trên còn nhiều tác giả với các tác phẩm đề cập đến phương pháp NCKH nói chung và NCKH giáo dục nói riêng như: Trần
Thị Vân Anh, Luận văn thạc sĩ về „Ảnh hưởng của năng lực thông tin đến các chỉ số
nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ (Nghiên cứu một số trường trên địa bàn Hà Nội)” (năm 2018); Nguyễn Văn Đệ, Luận án Tiến sĩ, “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”(năm 2010); Nguyễn Chí Phương, Luận văn
thạc sĩ “ Nâng cao năng lực tổ chức nghiên cứu khoa học của trường Đại học
Mở thành phố Hồ Chí Minh” (năm 2011); Bùi Minh Đức, Luận văn thạc sĩ,
Trang 146
"Đánh giá tác động của nhóm nghiên cứu đến năng lực nghiên cứu khoa học
của nghiên cứu sinh (Nghiên cứu trường hợp tại trường Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội)”(năm 2020); Lưu Xuân Mới, phương pháp luận nghiên cứu khoa học (năm 2000); Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường kết quả học tập (năm 2005); Mai Ngọc Luông, Lý Minh Tiên, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục (năm 2007); Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (năm 2017); Vũ Cao Đàm, Đánh giá NCKH (năm 2004)
Nhìn chung các tác phẩm được tác giả đi sâu vào phân tích các nền tảng về NCKH như: xác định và đặt tên đề tài, nhận định các luận điểm khoa học, đặt giả thuyết, các phương pháp trong NCKH nói chung, NCKH giáo dục nói riêng
2.3 Các công trình nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học và năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học
Đề tài NCKH, chương trình khoa học cấp nhà nước của tác giả Nguyễn
Minh Ðường, “Bồi duỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện
mới”(năm 2005) Đề tài đưa ra được những luận điểm về bồi dưỡng và đào tạo
nguồn nhân lực trong điều kiện xã hội đổi mới Nhà nước căn cứ vào đó để thực hiện các nội dung về bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện mới Đề tài này đã nghiên cứu trên phạm vi rộng khắp cả nước và tất cả các đối tượng là nguồn nhân lực "Xây dựng, nâng cao chất luợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" Đề án nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của nước ta giai đoạn
2005 - 2010 Đề án nghiên cứu trên phạm vi cả nước về toàn bộ đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trên diện rộng
“Xây dựng và phát triển 16 ngành, 23 chuyên ngành khoa hoc cơ bản, công nghệ cao, kinh tế - xã hội mũi nhọn - Đại học Quốc gia Hà Nội” - Bộ Giáo dục và Đào tạo Đề án được xây dựng trên cơ sở tác giả nghiên cứu rất kỹ về nhu cầu các ngành học để từ đó xây dựng nên bản đề án phát triển 16 ngành, 23 chuyên ngành khoa hoc cơ bản, công nghệ cao, kinh tế - xã hội của trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Đề án nghiên cứu trên phạm vi trường Đại học Quốc Gia Hà Nội
Trang 157
Dự án Việt - Bỉ (2009) : Tài liệu về NCKH sư phạm ứng dụng, trong tài liệu này các tác giả đề cập đến các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của khoa học sư phạm ứng dụng Các tác giả nêu các bước và phân tích rõ quy trình tiến hành thực hiện đề tài NCKH sư phạm ứng dụng Đồng thời, tài liệu cũng hướng dẫn việc áp dụng NCKH sư phạm ứng dụng vào điều kiện thực tế tại Việt Nam Tài liệu này được sử dụng để đào tạo, bồi dưỡng giảng viên thuộc dự án Việt - Bỉ về “ Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”
2.4 Khái quát kết quả của các công trình khoa học đã công bố có liên quan
và những vấn đề đặt ra luận văn tiếp tục tập trung nghiên cứu, giải quyết
* Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
có liên quan đến luận văn
Một là, các công trình NCKH đã hệ thống hóa, phát triển một số vấn đề lý luận
tương đối hoàn chỉnh như: NCKH, năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên trong các nhà trường; vị trí, vai trò, các yếu
tố, hiệu quả và các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên
Hai là, các tác giả đều khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của NCKH Các
công trình đã đánh giá thực trạng công tác này; rút ra các bài học kinh nghiệm về hoạt động nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên Khẳng định những yêu cầu khách quan của nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên Các đề tài đều khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh việc quán triệt quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ, nội dung nâng cao năng lực NCKH đã được xác định trong các Nghị quyết, văn kiện của Đảng làm căn cứ xác định phương hướng, mục tiêu, chủ trương, giải pháp nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập đạt hiệu quả trong tình hình mới
Các công trình NCKH vừa nêu trên đã gợi mở cho tác giả lựa chọn và thực
hiện đề tài: “Năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công
lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” Cho đến nay chưa có công trình
Trang 168
nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về đề tài này trong những năm gần đây Vì thế, đề tài mà tác giả đã chọn nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học, các đề tài luận văn, luận án nào đã được công bố Tác giả trân trọng kế thừa và phát triển những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã
đề cập tới vấn đề nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, đồng thời cố gắng tìm tòi những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, trình bày có hệ thống các nội dung có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu, đi sâu vào một số vấn đề cấp bách thực tiễn đang đặt ra để góp phần làm sâu sắc hơn, toàn diện hơn trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
* Những vấn đề luận văn tiếp tục tập trung nghiên cứu, giải quyết
Một là, làm rõ khái niệm năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các
trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội; xây dựng phạm trù trung
tâm là năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập
trên địa bàn thành phố Hà Nội, làm cơ sở giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề
tài Trong đó, tập trung nghiên cứu làm rõ thực chất, nội dung, phương thức và chủ thể năng lực NCKH, năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường
đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội; đi sâu nghiên cứu, khái quát và
làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên
tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hai là, tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong
nghiên cứu thực trạng, tập trung làm rõ những ưu điểm, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của những ưu điểm, hạn chế đó; phát hiện và làm rõ những vấn đề đặt ra đối với năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại
học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay; khái quát một số kinh
nghiệm năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Ba là, dự báo những yếu tố tác động, xác định yêu cầu năng lực NCKH của đội
ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay;
Trang 179
đề xuất giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính khả thi nâng cao năng lực NCKH của đội
ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học
- Đánh giá đúng thực trạng; chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Xác định những vấn đề đặt ra, đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về
năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực NCKH của đội ngũ
giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay Trong đó, đề tài luận văn chọn các trường sau đây để nghiên cứu: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đây là các
Trang 1810
trường đại diện cho khối các trường: Khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế và lực lượng vũ trang
- Về thời gian: Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát chủ yếu từ năm 2015
đến năm 2019 Các giải pháp có giá trị ứng dụng đến năm 2030
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của BCHTW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về năng lực NCKH của đội ngủ giảng viên, NCKH, đào tạo đại học và đội ngũ giảng viên ở các trường đại học
5.2 Cơ sở thực tiễn
Thực trạng năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của BCHTW,
Đảng ủy, ban giám đốc, ban giám hiệu các trường đại học công lập trên địa bàn
thành phố Hà Nội Kết quả thu thập số liệu, tài liệu, tư liệu tổng kết kinh nghiệm năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên và khảo sát của tác giả về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố
Hà Nội từ năm 2015 đến năm 2019
5.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp NCKH chuyên ngành và liên ngành, trong đó đặc biệt chú trọng các phương pháp: Lôgic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, điều tra, khảo sát, so sánh, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội và các yếu tố tác động đến năng lực NCKH của giảng viên các trường đại học Làm rõ cấu trúc năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên đại học
Trang 197 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn hành phố Hà Nội
- Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho các đảng ủy, ban giám đốc, ban giám hiệu trường đại học xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, phát triển năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên ở các trường đại học
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu; 3 chương (8 tiết); danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 2012
Chương 1 NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học
1.1.1 Năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực
Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực được cấu tạo bởi 03 từ Capability,
Attribute và Compentency Trong đó, Capability nghĩa là khả năng mà cá nhân thể
hiện khi tham gia một hoạt động nhất định (khả năng nói tiếng Anh, khả năng sử
dụng một phần mềm máy tính ), Attribute được hiểu là phẩm chất cá nhân, cá tính hay nhân cách (khả năng kiên trì theo đuổi và giải quyết vấn đề), Compentency nghĩa là năng lực hành động (có một số tác giả dịch là năng lực thực hiện): khả
năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất
định dựa trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và sự sẵn sàng hành động
Trong các lĩnh vực khác nhau, nhiều nhà khoa học nhận định:
Năng lực là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lí và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động Năng lực có cấu trúc phức tạp, song những thành tố cơ bản tạo nên cơ sở cấu trúc của nó gồm tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ) [46]
Năng lực là trình độ thành thạo nhiều hay ít trong việc vận dụng các hiểu biết để giải quyết những vấn đề thực tế [38]
Năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển, cho phép một người đạt thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ năng
Trang 2113
lực có thể bẩm sinh hoặc do rèn luyện mà chiếm lĩnh được Nó phát triển bởi kinh nghiệm hoặc bởi việc học tập phù hợp với tính riêng biệt của cá nhân [40]
Có thể hiểu, năng lực là sự kết hợp các kiến thức tổng hợp, kỹ năng, thái
độ đúng đắn của một cá nhân để thực hiện hoạt động có kết quả tốt, theo mục tiêu đã xác định
1.1.1.2 Các loại năng lực
Có thể chia năng lực thành hai loại: Năng lực chung và năng lực chuyên biệt
- Năng lực chung: Là năng lực có ở mọi người bình thường thông qua quá trình học tập, rèn luyện và công việc thực tiễn Đó là năng lực trí tuệ (trí năng, trí thông minh) Năng lực chung là nền tảng để xây dựng, phát triển năng lực chuyên biệt Đây là luận điểm quan trọng có tác dụng chỉ đạo việc xây dựng chương trình và phương pháp giảng dạy ở nhà trường năng lực chung càng phát triển sớm càng tốt
- Năng lực chuyên biệt: Là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt,
có tính kỹ thuật chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực hoạt động chuyên biệt có kết quả cao Chẳng hạn như: Công nhân có năng lực kỹ thuật, giáo viên có năng lực sư phạm và nghiên cứu, người lãnh đạo có năng lực tổ chức, quản lý Trong lĩnh vực kỹ thuật, năng lực chuyên biệt còn được gọi là năng lực chuyên môn kỹ thuật để phân biệt với các năng lực chuyên môn của các nghề phi vật chất như du lịch, nghệ thuật, văn hóa
Để đạt được kết quả tốt, mục tiêu đã đề ra, chúng ta cần có năng lực thực hiện, cơ bản bao gồm: Các kỹ năng giao tiếp, thực hành, giải quyết vấn đề và các
kỹ năng trí tuệ; thể hiện đạo đức nghề nghiệp; khả năng thích ứng để thay đổi; khả năng áp dụng kiến thức của mình vào công việc; khả năng làm việc nhóm…
1.1.2 Năng lực nghiên cứu khoa học
1.1.2.1 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học
Trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong hoạt động nghề nghiệp, ai cũng đều đã có nhiều lần nghiên cứu cái gì đó, để tìm giải pháp cho các vấn đề
Trang 2214
và khó khăn mà họ gặp phải Theo cách hiểu này, “nghiên cứu” là một quá trình suy nghĩ để tạo ra cái mình cần Mục tiêu của nó là giải quyết những việc trong cuộc sống hằng ngày chứ không có khả năng xây dựng kiến thức mới
Bên cạnh đó, NCKH là một quy trình chặt chẽ, bao gồm nhiều công đoạn, thao tác và nhiều yêu cầu khác nhau Trong từ điển Nghiên cứu khoa học Lefrancis R., (1991) trang 147 định nghĩa hoạt động này như sau: NCKH là
“mọi hoạt động có hệ thống chặt chẽ bao hàm một phương pháp luận nghiên cứu phù hợp với một hệ vấn đề nhằm tìm hiểu một hiện tượng, giải thích một hiện tượng và khám phá một quy luật NCKH là nơi đối chiếu giữa những tiền giả định lý thuyết và thực tế như nó được cảm nhận”
NCKH nhằm khám phá đặc trưng, bản chất, quy luật của các sự vật và hiện tượng và tìm kiếm các giải pháp giải quyết vấn đề Nghiên cứu là một khâu, một hình thức cơ bản trong hoạt động NCKH Có thể nói, NCKH là hoạt động có chủ đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan về các sự vật, hiện tượng, các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của
sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn [69]
Do đó, NCKH là sự phát hiện bản chất sự vật, hiện tượng, sự phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc đổi mới, sáng tạo các phương pháp,
phương tiện kỹ thuật để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu đã đề ra
Có thể hiểu, năng lực NCKH là sự kết hợp các kiến thức đa lĩnh vực khác
nhau, kỹ năng và thái độ của chủ thể nghiên cứu để thực hiện có hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học về các đề tài ứng dụng và triển khai như nghiên cứu về việc áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới của máy móc, thiết bị, quy trình sản xuất, công nghệ thông tin, xây dựng quy trình làm việc trong đời sống thực tiễn
1.1.2.2 Cấu trúc khung năng lực nghiên cứu khoa học
Về phương diện nghiên cứu, cấu trúc khung năng lực NCKH được hình thành từ 04 thành tố chủ yếu là thái độ, kỹ năng, kiến thức và chuyển hóa vào thực tiễn:
Trang 2315
- Thái độ: Đó là lòng nhiệt tình, sự đam mê khoa học; tính nhạy bén với các sự kiện xảy ra (hiện tượng khoa học); khách quan, trung thực, nghiêm túc; tính kiên trì, cẩn thận khi làm việc; tinh thần hợp tác, chia sẻ khoa học vì kiến thức khoa học mới
- Kỹ năng: Gồm có kỹ năng xây dựng đề tài khoa học; kỹ năng thu thập, xử lý
dữ liệu; kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu, sử dụng công cụ phân tích; kỹ năng phản biện khoa học; kỹ năng lập luận khoa học; kỹ năng viết báo cáo khoa học
- Kiến thức: Về cơ bản có kiến thức về chuyên ngành và kiến thức về phương pháp NCKH
- Chuyển hóa vào thực tiễn: Bao gồm cách thức tiến hành áp dụng NCKH; năng lực truyền đạt cho thế hệ sau kế thừa; năng lực tư duy đối với tiến trình phát triển những kết quả NCKH
1.2 Giảng viên đại học và năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học công lập
1.2.1 Giảng viên các trường đại học
1.2.1.1 Khái niệm giảng viên
Có thể nói, giảng viên là khái niệm dùng để chỉ tất cả những người đã
được tri thức hóa đạt trình độ đại học trở lên ở một lĩnh vực khoa học nhất định;
có đủ khả năng giảng dạy những đối tượng người khác nhận thức hệ thống tri thức đó; hoạt động giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học bởi sự cho phép bằng tuyển dụng làm giảng dạy của nhà trường và sự cho phép của nhà nước
Luật Viên chức năm 2010 quy định: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Theo đó, giảng viên đại học công lập là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và NCKH ở bậc đại học, sau đại học thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học công lập Trong các trường đại học, giảng viên còn là nhà khoa học, nắm vững các phương pháp khoa học về giảng dạy và
Trang 2416
giáo dục, biết sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật trong giảng dạy, thường xuyên rèn luyện để nâng cao nghiệp vụ giảng dạy của mình, tham gia tích cực vào NCKH và đời sống xã hội
1.2.1.2 Giảng viên các trường đại học công lập
- Trường đại học (tiếng Anh: University) là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề Các trường đại học
có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học
Theo định nghĩa của từ điển Bách khoa toàn thư:
Đại học công lập là trường đại học do nhà nước (Trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, khác với đại học dân lập hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng
Đại học dân lập hay đại học tư thục là một cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, về tuyển sinh, đào tạo thì tuân theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, văn bằng có giá trị tương đương như văn bằng công lập Là trường
tư do cá nhân hoặc tổ chức trong một nước xin phép thành lập và tự đầu tư
- Giảng viên đại học là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy
và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng Có thể hiểu, giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học công lập là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, làm việc theo chế độ hợp đồng, có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe; có năng lực, kỹ năng chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, đảm nhiệm công tác giảng dạy, NCKH và các hoạt động khác thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học công lập (khái niệm này không áp dụng đối với giảng viên thỉnh giảng)
Trang 2517
Do đó, đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập là những người làm
nghề học thuật (academic profession), là viên chức làm nghề dạy học từ bậc cao đẳng, đại học trở lên, làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục tại các trường đại học công lập, hưởng lương và các chế độ khác từ ngân sách nhà nước; được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung nhiệm vụ, thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó Họ được tổ chức thành một lực lượng xã hội có cùng chung chức năng chủ yếu là truyền đạt tri thức; bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp; hình thành và phát triển nhân cách cho người học Họ làm việc có kế hoạch, gắn bó với nhau thông qua môi trường giáo dục, qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ pháp luật
Khoản 3 Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005 quy định: Nhà giáo giảng dạy
ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên Điều 54 Luật Giáo dục đại học năm
2012 quy định: giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình
độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật Giáo dục; chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư; trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên
Theo Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập, chức danh nghề nghiệp của giảng viên gồm: giảng viên, giảng viên chính và giảng viên cao cấp
Như vậy, đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam bao
gồm những người đủ tiêu chuẩn giảng viên, không phân biệt quốc tịch, được ký hợp đồng dạy học từ bậc đại học trở lên, tổ chức thành một đội ngũ, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý… theo kế hoạch Họ
Trang 26Đội ngũ giảng viên có cơ cấu rất đa dạng, không đồng nhất về chức danh, chuyên môn, trình độ đào tạo, độ tuổi, giới tính… Do đó, đảm bảo tính đồng thuận, thống nhất trong toàn bộ đội ngũ là vấn đề tương đối khó khăn
Mỗi giảng viên đóng nhiều vai trò, có nhiều chức năng: Là nhà quản lý, là cán bộ giảng dạy hay cán bộ NCKH, thậm chí còn là nhà chính trị Dù ở chức danh nào cũng đòi hỏi phải có chuyên môn giỏi, gắn với tiêu chí trực tiếp tham gia giảng dạy, NCKH Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, vốn kiến thức sống là trách nhiệm của mỗi giảng viên
Đội ngũ giảng viên tham gia hoạt động lao động sáng tạo với đa dạng các đối tượng khác nhau như sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Đó là những người đã bắt đầu hoặc đã trưởng thành về tư duy khoa học có khả năng
so sánh, bình luận, đánh giá, tự lựa chọn và có trình độ nhận thức nhất định Vì thế, giảng viên cần có phương pháp giảng dạy tích cực Đội ngũ giảng viên cũng cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, không ngừng trau dồi kiến thức chuyên sâu, rộng và tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện bản lĩnh khoa học (gồm trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tư duy khoa học…) Đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết, lâu dài biểu hiện thành thói quen, thành nhu cầu học tập suốt đời của đội ngũ giảng viên
Nắm vững kiến thức chuyên môn, biết truyền thụ nó cho người học với hai nhiệm vụ tham gia giảng dạy và NCKH song hành, gắn liền mật thiết có quan hệ biện chứng với nhau trong hoạt động lao động của đội ngũ giảng viên
Trang 271.2.2 Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học
1.2.2.1 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên các trường đại học
Từ khái niệm năng lực, năng lực NCKH, giảng viên các trường đại học có
thể hiểu, năng lực NCKH của giảng viên các trường đại học là sự tổng hợp kiến
thức, kỹ năng và thái độ của chủ thể nghiên cứu để thực hiện có hiệu quả các công việc của hoạt động NCKH về các đề tài nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai bao gồm: Nghiên cứu về chính trị, văn hóa, kinh tế, y tế, xã hội; việc áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới của máy móc, thiết
bị, quy trình sản xuất, công nghệ thông tin, xây dựng chương trình đào tạo và phương pháp dạy học (đặc biệt nghiên cứu phương pháp dạy học tích hợp và phương pháp dạy thực hành) vào công tác giảng dạy chuyên môn
1.2.2.2 Cấu trúc năng lực giảng viên các trường đại học
- Năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu
Đây là năng lực quan trọng không thể thiếu đối với người làm công tác
nghiên cứu nói chung và giảng viên thực hiện quá trình NCKH nói riêng, năng lực phát hiện các vấn đề có mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn đó, đưa những vấn đề có mâu thuẫn trở thành các đề tài nghiên cứu là một năng lực hết sức cần thiết Đây là năng lực bước đầu của toàn bộ quá trình nghiên cứu
- Năng lực xây dựng đề cương nghiên cứu
Xây dựng đề cương chi tiết cho đề tài nghiên cứu là một khâu vô cùng
quan trọng trong quá trình thực hiện nghiên cứu Vì đề cương nghiên cứu cho
Trang 2820
thấy toàn cảnh tổng thể của nội dung và định hướng các bước cần làm để thực hiện một đề tài NCKH Do đó, năng lực xây dựng đề cương nghiên cứu rất quan trọng, năng lực này giúp xác định mục đích nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu,
kế hoạch và tổng quát nhất toàn bộ lộ trình cần thực hiện của đề tài
- Năng lực triển khai nghiên cứu đề tài khoa học
Triển khai nghiên cứu một đề tài khoa học có nhiều bước, nhiều công đoạn, nhiều hoạt động Theo đó, năng lực triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cũng có nhiều nội dung Đó là:
+ Năng lực tổ chức lực lượng nghiên cứu
Năng lực tổ chức lực lượng nghiên cứu giúp cho giảng viên khi thực hiện
đề tài biết chọn lọc, phân tích nội dung trong các tài liệu, tìm ra những nội dung phù hợp làm cơ sở, nền tảng cho đề tài nghiên cứu của mình Các nguồn tài liệu tham khảo rất phong phú và đa dạng, nếu thiếu năng lực này thì giảng viên đại học khi thực hiện đề tài sẽ khó nắm bắt các vấn đề cốt lõi cần thiết của đề tài, những cơ sở lý luận mà các nhà nghiên cứu trước đó thực hiện, bản thân kế thừa những kiến thức này, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình Đây là năng lực trọng yếu giúp giảng viên đại học có cái nhìn sáng tỏ hơn về
vấn đề cần nghiên cứu
+ Năng lực điều tra, khảo sát, xử lý tài liệu phục vụ hoạt động nghiên cứu và tổng kết thực tiễn
Trong các đề tài nghiên cứu với nội dung về các phương pháp dạy học
nghề, tâm lý nghề nghiệp, tìm hiểu về mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo nghề rất cần có năng lực thiết kế bộ công cụ điều tra khảo sát và xử lý số liệu
để tìm hiểu và làm rõ thực trạng đã và đang diễn ra của bản chất, hiện tượng vấn
đề cần nghiên cứu Có năng lực này, giảng viên sẽ xác định và phân tích, xử lý, xem xét các khía cạnh, các yếu tố của vấn đề nghiên cứu từ các số liệu được điều tra, khảo sát Nó sẽ là cơ sở thực tiễn làm nền tảng khoa học cho việc đề
xuất các định hướng giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài
+ Năng lực sử dụng phương pháp, công cụ nghiên cứu
Bất kỳ công việc nào muốn đạt hiệu quả cao đều cần có những phương
pháp thực hiện mang tính logic khoa học Hoạt động NCKH là một trong những
Trang 2921
hoạt động cấp cao đối với con người Vì vậy, để có thể thực hiện các đề tài nghiên cứu hợp lý, hiệu quả rất cần có năng lực lựa chọn và sử dụng phương pháp NCKH phù hợp với mục đích, nội dung của đề tài nghiên cứu
+ Năng lực viết báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu và xã hội hóa sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy
Năng lực này giúp giảng viên tổng hợp toàn bộ quá trình nghiên cứu và
trình bày một cách logic khoa học các vấn đề của đề tài nghiên cứu Việc đưa
các sản phẩm từ các đề tài NCKH vào thực tế là một việc rất quan trọng và có ý
nghĩa lớn về mặt khoa học Năng lực triển khai đề tài nghiên cứu sẽ giúp giảng viên đại học có khả năng thực hiện các công việc như: Lựa chọn địa điểm triển khai, lập kế hoạch triển khai các sản phẩm của đề tài nghiên cứu một cách hợp
lý, ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu vào thực tiễn và mang lại hiệu quả cao trong công việc thực tế Với năng lực sẽ đánh giá được năng lực NCKH của giảng viên thông qua tính hiệu quả và khả thi của các sản phẩm nghiên cứu mang lại trong công việc thực tế
- Năng lực hướng dẫn NCKH cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh
Truyền đạt cái nhìn tổng quan về NCKH cho sinh viên Các câu hỏi tình huống thực tế được đưa ra và thảo luận sôi nổi để giúp sinh viên nhận thức đầy
đủ hơn về tính cấp thiết của hoạt động NCKH, đồng thời hiểu rõ được đối tượng của NCKH cũng như nắm bắt được các bước chính trong quy trình thực hiện NCKH một cách dễ dàng và đầy thú vị Đồng thời, định hướng cho sinh viên ngay trong quá trình giảng dạy thông qua nội dung môn học, bằng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, bằng các hoạt động khoa học trong và ngoài trường, giảng viên có thể giúp sinh viên tiếp cận với NCKH và sử dụng công nghệ thông tin vào nghiên cứu; định hướng sinh viên nghiên cứu những đề tài mang tính chất liên ngành
Thông báo cho sinh viên về chương trình và nội dung thời lượng môn học, hình thức kiểm tra đánh giá, các phần bài tập bắt buộc, bài tập nhóm, thời
Trang 30Sinh viên sẽ học được rất nhiều từ việc thực hiện các tiểu luận, học cách tìm, đọc và tổng kết tài liệu, xác định vấn đề, phương pháp thực hiện, làm việc nhóm, trình bày và bảo vệ, định hướng sinh viên viết bài đăng tạp chí quốc tế và chuyển giao những giá trị nghiên cứu vào thực tiễn
Giảng viên cần yêu cầu nhóm, sinh viên NCKH tìm tòi, tổng hợp và đưa
ra ý kiến quan điểm của mình, trình bày trước cả lớp, nghe phản biện từ các nhóm khác để trả lời những câu hỏi đặt ra Biện pháp tích cực này sẽ giúp sinh viên chủ động và tự giác trong học tập, dần dần làm quen với NCKH
Giúp sinh viên tập và hình thành thói quen suy nghĩ, tích cực trao đổi về các vấn đề kinh tế - xã hội đang diễn ra Từ đó, các ý tưởng nghiên cứu và phương pháp giải quyết câu hỏi nghiên cứu dựa vào quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu một cách hệ thống, chặt chẽ được hình thành
- Năng lực tham gia nghiên cứu các đề tài, các hội thảo khoa học
Quá trình thực hiện các hoạt động NCKH là cơ hội tốt để giảng viên có môi trường, cơ hội bồi dưỡng năng lực NCKH Đây cũng là cơ sở cần thiết để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Trong quá trình tham gia NCKH, nếu đạt kết quả tốt, sẽ
là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế và uy tín của chính bản thân giảng viên, đồng thời khẳng định vị thế và uy tín của trường với xã hội Hoạt động
Trang 31- Năng lực tham gia tổ chức, quản lý các hoạt động NCKH
Tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực tham gia NCKH cũng là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên ở các trường đại học công lập Việc học tập bồi dưỡng năng lực NCKH cho giảng viên cần phải tổ chức liên tục và thường xuyên, với nhiều hình thức bồi dưỡng khác nhau (đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng), có như vậy mới có thể đảm bảo bồi dưỡng đầy đủ các yếu tố của năng lực NCKH
Vì vậy, ngoài việc tổ chức bồi dưỡng theo hình thức học tập, nghiên cứu trên lớp, được tổ chức theo một chương trình bồi dưỡng cụ thể thì cần có những hình thức tổ chức bồi dưỡng khác như: (1)Tổ chức tiếp cận nghiên cứu và giải quyết vấn đề ở một số trường hợp cụ thể; (2) Tổ chức các chuyến đi dã ngoại; tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học; tham gia các hội chợ về khoa học - kỹ thuật, triển lãm khoa học; (3) Tổ chức các tọa đàm, liên kết trong hoạt động nghiên cứu nhằm trao đổi kinh nghiệm thực tiễn ở các nơi như: Các trường, cơ
sở đào tạo nghề, các viện khoa học, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ (4) Làm quen với hình thức tự học, tự nghiên cứu thông qua các nguồn học liệu, tài liệu làm việc tại các phòng thí nghiệm (5) Tổ chức nghiên cứu và học tập ở các môi trường tại các địa phương khác nhau
Kiểm tra, đánh giá là khâu cần thiết đối với quá trình quản lý các hoạt động NCKH Nó là thang đo mức độ tiến bộ sau khi được bồi dưỡng Kiểm tra
Trang 3224
để thu nhận thông tin, căn cứ vào thông tin thu được và đối chiếu với tiêu chí, tiêu chuẩn để đánh giá nhằm khẳng định mức độ đạt được về năng lực NCKH của giảng viên Có kiểm tra, đánh giá đầu vào; kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ chức thực hiện (kiểm tra, đánh giá thường xuyên); kiểm tra, đánh giá kết thúc Thêm nữa, kiểm tra, đánh giá đầu vào trước khi tiến hành bồi dưỡng sẽ xác định được năng lực NCKH của giảng viên các trường đại học công lập đạt ở mức độ nào Việc kiểm tra, đánh giá này có thể do giảng viên hướng dẫn bồi dưỡng trực tiếp thực hiện hoặc phối hợp với giảng viên chuyên môn khác có đủ năng lực và kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong NCKH cùng thực hiện đánh giá đầu vào trước khi bồi dưỡng của giảng viên
Bên cạnh đó, kiểm tra, đánh giá thường xuyên là nhiệm vụ của giảng viên trực tiếp hướng dẫn bồi dưỡng Qua đó, giảng viên có thể xác định được mức độ thành thạo về năng lực NCKH của giảng viên tham gia học tập bồi dưỡng đạt được cũng như những tồn tại chưa được giải quyết, đây là căn cứ để giảng viên hướng dẫn kịp thời điều chỉnh, thay đổi phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng nhằm tăng hiệu quả cho toàn bộ quá trình bồi dưỡng của giảng viên
Đối với những năng lực chuyên sâu vào chuyên môn kỹ thuật, giảng viên hướng dẫn căn cứ theo sản phẩm nghiên cứu của giảng viên báo cáo để nhận xét, đánh giá Quá trình rèn luyện các năng lực thuộc công việc thiết kế, vận hành các sản phẩm NCKH, giảng viên hướng dẫn áp dụng hình thức quan sát
có hệ thống một cách thường xuyên để có căn cứ cho đánh giá và có thể điều chỉnh về hướng nghiên cứu trong các phần hướng dẫn tiếp theo
Ngoài ra, kiểm tra, đánh giá kết thúc đối với bồi dưỡng năng lực NCKH cho giảng viên sẽ do giảng viên hướng dẫn bồi dưỡng trực tiếp tiến hành Do đặc thù NCKH của từng ngành nghề khác nhau trong lớp bồi dưỡng nên có những năng lực có thể căn cứ theo sản phẩm của giảng viên báo cáo để đánh giá Đồng thời, có thể mời những thành viên trong hội đồng khoa học trường hoặc giảng viên có kinh nghiệm nghiên cứu, có năng lực, trình độ trong các lĩnh
Trang 3325
vực của ngành nghề được nghiên cứu tham gia vào quá trình đánh giá sản phẩm NCKH của giảng viên sau bồi dưỡng Kiểm tra, đánh giá kết thúc để xác nhận kết quả cuối cùng về năng lực NCKH của giảng viên đã đạt được, thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá kết thúc bồi dưỡng giúp giảng viên đánh giá đúng đắn mức độ thông thạo về năng lực NCKH của bản thân, từ đó giảng viên có kế hoạch tự nghiên cứu, tự rèn luyện để phát triển năng lực NCKH cho bản thân, giúp bản thân phát triển tốt trong hoạt động NCKH của mình
1.3 Những yếu tố tác động đến năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường đại học
1.3.1 Sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ
Hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi, hình thức khác nhau Chủ thể chính của hội nhập quốc tế là các quốc gia có đủ năng lực và thẩm quyền đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế đã ký tham gia Ở nước ta, hội nhập quốc tế được Đảng và Nhà nước coi là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược để phát triển đất nước
Tại Đại hội VI (1986) của Đảng đã bước đầu nhận thức về hội nhập quốc
tế, Đảng cho rằng: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công của lao động quốc tế” [Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr 81] Đại hội VIII (1996), thuật ngữ “Hội nhập” được chính thức đưa và trong Văn kiện của Đảng, đó là: “Xây dựng một nền kinh tế
mở, hội nhập với khu vực và thế giới” [Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật,
tr 84-85] Đại hội IX của Đảng, tư duy về hội nhập được Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh hơn “Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập quốc tế” [Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr 166]
Trang 3426
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong đường lối đối ngoại và hợp tác quốc tế trong thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở các cấp, các ngành, các địa phương đã có chuyển biến tích cực, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức (nhất là cán bộ chủ chốt) ở các cơ quan, đơn vị, địa phương có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng động và sáng tạo; tích cực thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Trình độ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao, thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Đội ngũ cán bộ, công chức
có đóng góp quan trọng trong việc đạt được những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đưa nước ta gia nhập các nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng
Quá trình hội nhập quốc tế mang lại một số những thời cơ và thách thức sau: Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, làm gia tăng xuất khẩu và thu hút đầu tư nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ta tham gia vào thị trường xuất khẩu và tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, tạo điều kiện cho xuất khẩu nguồn nhân lực Vì vậy, giảng viên cần nhận thức được sâu sắc điều kiện thuận lợi để có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ngành phù hợp với hoàn cảnh đặt ra ở trong nước và thế giới
Hội nhập quốc tế mở ra triển vọng nhanh, mạnh mẽ cho các lĩnh vực GD-ĐT, khoa học công nghệ, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, Vì vậy, giảng viên phải có sức khỏe tốt, tri thức chuyên môn tốt và trình độ công nghệ cao để chất lượng giảng dạy phù hợp với kinh nghiệm và tri thức thế giới
Hội nhập quốc tế là cơ hội để giảng viên xây dựng và hoàn thiện trình độ theo tiêu chuẩn chung của thế giới, đáp ứng quá trình phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay
Tuy nhiên,thách thức về năng lực cạnh tranh giữa các trường đại học trong việc thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 35Hội nhập quốc tế đặt ra cho công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên về chất lượng nguồn nhân lực Giảng viên đang thiếu về những kiến thức mới, hiện đại, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực hội nhập, năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ quốc tế Vì vậy, cần phải đào tạo, bồi dưỡng
họ những kiến thức về hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng được vị trí việc làm và phát triển ngành trong bối cảnh hiện nay
1.3.2 Môi trường sống và công tác
Một trong những trở ngại lớn của hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học hiện nay là còn thiếu “không khí tự do học thuật” (nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn) Trong giáo dục nên có sự quan tâm và phân biệt giáo dục phổ thông và giáo dục đại học Khác với giáo dục phổ thông, giáo dục đại học không chỉ có mục tiêu là truyền đạt tri thức có sẵn mà quan trọng hơn là tìm ra chân lý thông qua việc phát triển tri thức mới Để thực hiện mục tiêu này, tự do học thuật được hiểu chính là giảng viên được trao quyền tự
do giảng dạy, tự do nghiên cứu và thảo luận khoa học, tự do công bố kết quả nghiên cứu ở trong nước và quốc tế và tự do phát biểu ý kiến cho các vấn đề thuộc về khoa học và công nghệ, đời sống kinh tế - xã hội trên tinh thần khoa học
Nội dung của tự do học thuật trùng khớp với quan điểm “Giảng dạy tự do, trao quyền cho giáo viên” là ưu tiên khi Liên Hợp quốc thông qua mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 về giáo dục Tự do học thuật luôn đi đôi với trách nhiệm học thuật, trong đó quan trọng nhất là sự khách quan và trung thành với chân lý, sự tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức và chuyên môn, sự tôn trọng
Trang 36Nhiều lãnh đạo trường đại học chưa xác định được vai trò, nhiệm vụ cụ thể mà các nhà trường, đơn vị, cá nhân cần thực hiện trên các góc độ nhận thức, thái độ, phương hướng, mục tiêu và hành động đối với hoạt động NCKH Nhiều trường đại học chưa có các chính sách cụ thể trong hợp tác NCKH cũng như danh mục sản phẩm NCKH dự kiến phù hợp mục tiêu phát triển nhà trường trong cả ngắn và dài hạn Nhiều nhà trường chưa có các biện pháp để gắn nhà khoa học với nhiệm vụ công bố chất lượng cao hay các sáng chế, giải pháp hữu ích… Thực trạng này khiến cho niềm tin của xã hội vào trường đại học nói chung ngày càng giảm sút Thậm chí, có ý kiến cho rằng, hoạt động NCKH ở một số trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội mới dừng ở hoạt động bề nổi, trang trí và nếu xét cả từ “đầu vào” đến “đầu ra” của hoạt động NCKH đều chưa đạt theo một chuẩn mực cần thiết
Xây dựng Nhà trường thực sự là môi trường sư phạm mẫu mực, là không gian khoa học, là nơi tạo điều kiện cho sự phát triển văn hoá, tri thức, khoa học bằng cách gắn chính sách đãi ngộ trong NCKH đối với giảng viên đi kèm với
Trang 37đề trong NCKH Mặt khác, trong thời gian tới Nhà trường có thể lên kế hoạch, hợp tác cùng các trường khác để bàn cách tổ chức và mở ra các hội thảo, toạ đàm
về NCKH để lực lượng giảng viên, nhất là đội ngũ giảng viên trẻ có thể tham gia, qua đó có cơ hội trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu trong mỗi người trẻ Xây dựng chính sách khen thưởng kịp thời để ghi nhận các giảng viên trẻ có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH
Một trong những chính sách phổ biến ở các trường đại học Việt Nam là
“tạo nguồn” Các sinh viên giỏi được giữ lại trường, trong nhiều trường hợp
được hỗ trợ để tiếp tục du học, làm luận văn tiến sĩ ở nước ngoài Những người này bị ràng buộc bởi một lời hứa sau khi học xong sẽ quay trở lại làm việc cho trường Trong một số trường hợp, họ bị ràng buộc bởi một cam kết với chính phủ Việt Nam khi nhận học bổng từ Chính phủ
Bỏ qua một số tiêu cực ắt có trong việc lựa chọn những sinh viên được ưu tiên đi học nước ngoài, biện pháp tạo nguồn đó đang là biện pháp mang lại hiệu quả tích cực nhất trong bối cảnh hiện tại Nhờ cơ chế tạo nguồn mà nhiều trường đại học còn duy trì được việc trẻ hóa đội ngũ với những nhà khoa học trẻ
có ít nhiều trải nghiệm trong môi trường quốc tế
Tiêu chí hàng đầu cho việc tuyển dụng giảng viên và giáo sư đại học phải
là khả năng NCKH Chỉ có những người “sống và thở” ở tiền tuyến của tri thức nhân loại mới có khả năng hiểu và truyền tải những kiến thức nền tảng và những phát kiến tiên tiến nhất cho lực lượng lao động trí não tương lai Hệ quả tất yếu của tiêu chí trên là tiếng nói tối cao trong việc tuyển chọn phải thuộc về những
Trang 3830
người có khả năng đánh giá trình độ, khả năng, và tiềm năng NCKH của ứng viên Cấu trúc của Hội đồng tuyển chọn phải khác với hiện nay, nó phải bao gồm những giáo sư giảng dạy tại khoa, có uy tín về khoa học, và không thể bao gồm nhân viên của các phòng ban, ví dụ như phòng tổ chức cán bộ
Quyền lực của hệ thống quan liêu thể hiện ở quy trình tuyển chọn rắc rối
và không đồng nhất Quy trình đủ rắc rối để cho khoa chuyên môn không có khả năng thực hiện vai trò quyết định của mình nếu không có sự hỗ trợ của các phòng ban Đối với các ứng viên, tình hình còn khó khăn hơn nữa Nếu không
có quen biết, họ không có khả năng vượt qua những rào cản mang tính chất hành chính Quy trình tuyển chọn cần phải được minh bạch hóa: tuyển ứng viên với một quy trình mở, ai được nộp đơn, ai được tuyển, dựa trên tiêu chí gì, kết quả như thế nào Trong tuyển chọn phải ưu tiên hàng đầu tiêu chí khoa học và trả quyền quyết định về cho những người có thẩm quyền khoa học
Bên cạnh việc quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ nghiên cứu giản dạy
cơ hữu, cũng cần chú ý đến việc “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”
Chế độ thu nhập cứng nhắc hiện tại là một trong những ràng buộc lớn nhất cho mọi chính sách nhân sự đại học - và có lẽ là yếu tố chủ đạo làm các vị trí hàn lâm thiếu tính hấp dẫn các cá nhân xuất sắc Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy đại học là công chức hoặc viên chức nhà nước, chế độ thu nhập của họ được điều chỉnh bởi những quy định chung về thang lương của công/viên chức nhà nước Với thang lương hiện tại, mức lương cơ bản của giảng viên đại học không đảm bảo cho họ một mức sống trung lưu cao trong xã hội Trong mọi hệ thống
xã hội, mức sống trung lưu cao cho cán bộ giảng viên nghiên cứu luôn là điều kiện cần cho một hệ thống giáo dục tốt vì: (1) nó thể hiện mức độ ưu tiên của xã hội đối với giáo dục đại học, (2) để nghiên cứu tốt thì ứng viên tuyệt đối cần thời gian tư duy tự do, không bị ràng buộc bởi cơm gạo
Để khắc phục thang lương bất hợp lý hiện tại, Nhà nước đã có một số chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học thông qua các quỹ như Nafosted Các đề
Trang 3931
tài khoa học đã trở thành một nguồn tăng thu nhập đáng kể cho cán bộ nghiên cứu Bên cạnh ý nghĩa tích cực, chúng ta thấy việc này thực chất phản ánh khó khăn của Việt Nam trong việc cải cách hệ thống tiền lương Việc cải cách chế
độ thu nhập cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy ở đại học là một việc hệ trọng
1.3.3 Xu hướng phát triển của nền giáo dục
Bối cảnh không thuận lợi làm ảnh hưởng tới mục tiêu hội nhập và phát triển trong khoa học, đào tạo trình độ cao của các trường đại học trong nước còn ít chú ý tính liên ngành, việc đánh giá các công trình nghiên cứu còn thiếu các tiêu chí quốc
tế, mối quan hệ giữa nghiên cứu và đào tạo trình độ cao chưa được coi trọng, chú ý nhiều hơn tới hình thức, bằng cấp mà ít coi trọng thực chất Ở không ít lĩnh vực khoa học, đội ngũ đông nhưng chưa mạnh, chưa tạo dựng được một đội ngũ nhà khoa học đầu ngành có thể kết nối và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng khu vực và quốc tế để xin tài trợ và làm chủ trong hợp tác quốc tế
Trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học phát triển với tốc độ “vũ bão”,
kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nếu người cán bộ giảng dạy đại học không chú trọng tới công tác này rất dễ lạc hậu, lạc hậu một cách hồn nhiên Nghĩa là lạc hậu mà không biết rằng mình lạc hậu Nhiều trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn còn những giảng viên sử dụng các giáo trình viết từ thập niên 80 của thế kỷ trước để giảng dạy - những kiến thức đã lạc hậu gần 30 năm so với Việt Nam và hàng thế kỷ so với thế giới Chỉ trong vòng
5 - 10 năm qua, các chuyên ngành sư phạm về cơ bản đã có nhiều thay đổi, nhiều kiến thức mới mẻ mà nếu không nghiên cứu, học hỏi, người cán bộ giảng dạy sẽ không thể tiếp thu và theo kịp
1.3.4 Hoạt động thực tiễn
NCKH là phương thức quan trọng nhất giúp cho đội ngũ giảng viên, nhất là các giảng viên trẻ ở các trường đại học bổ sung kiến thức thực tiễn, gắn kết hơn giữa lý luận và thực tiễn thông qua đó chất lượng bài giảng được nâng lên và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của người học Cùng với hoạt động giảng dạy, NCKH giúp
Trang 4032
những giảng viên đại học thể hiện được năng lực của bản thân, khẳng định được
uy tín và vị thế của mình trước đồng nghiệp và học viên
Đối với người giảng viên, thì học tập, NCKH trước hết là do quyền lợi bản thân, học là học cho mình Nhưng cũng không hoàn toàn chỉ vì thế Công việc mang tính tự nguyện tự giác này không chỉ xuất phát từ quyền lợi, mà còn
do danh dự - danh dự của bản thân và cũng là danh dự của đơn vị, của nhà trường Sự thành đạt của mỗi cá nhân trên bước đường học tập và nghiên cứu cũng là niềm tự hào, là cơ sở tồn tại của mỗi đơn vị
Việc đầu tư cho hôm nay là cơ sở góp phần vào sự tồn tại và vị trí của nhà trường ngày mai Trong một đơn vị, nếu một vài giảng viên chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, có thể chưa ảnh hưởng nhiều tới chất lượng chuyên môn của đơn vị ấy, nhưng nếu đa số cán bộ giảng viên vì không được khuyến khích, động viên thoả đáng, tạo điều kiện thuận lợi, thì sau 5 năm,
10 năm, chắc rằng đơn vị đó không thể nói là có đội ngũ giảng dạy đáp ứng kịp thời với sự phát triển của khoa học
Lực lượng giảng viên trẻ ở các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay đang có những “lợi thế” nhất định, có thể phát huy mạnh
mẽ trong công tác NCKH Chúng ta thường nói tuổi trẻ gắn liền với sức trẻ, sự năng động, nhạy bén và khả năng tiếp cận với cái mới Họ có tinh thần không ngại khó khăn, dám chấp nhận thử thách Họ có nền tảng tri thức tốt, đặc biệt là tri thức về ngoại ngữ, tin học và cả phương pháp luận NCKH Đó là những nền tảng quan trọng giúp họ có thể phát huy tốt khả năng và lợi thế trong nghiên cứu
và giảng dạy
Tổ chức, chỉ đạo một cách quyết liệt, sát sao và có hiệu quả hoạt động NCKH, kịp thời định hướng, lựa chọn đề tài nghiên cứu, xuất phát trên cơ sở thực tiễn trong các hoạt động chuyên môn của Nhà trường, các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong và ngoài nước đặt ra Tránh cách làm hình thức, phô trương, chạy theo số lượng mà nên đi vào chiều sâu, gắn hoạt động nghiên cứu