HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN QUỲNH THƯƠNG BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Khảo sát 3 trang báo điện
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN QUỲNH THƯƠNG
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
(Khảo sát 3 trang báo điện tử : www.baoyenbai.com.vn;
baokontum.com.vn; baosoctrang.org.vn )
Chuyên ngành: Quản lý Phát thanh – truyền hình và Báo mạng điện tử
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Hà Nội, ngày tháng năm 20
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 3thực hiện Luận văn được nghiên cứu một cách nghiêm túc, thực hiện và hoàn thiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang Tài liệu và số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể, tin cậy và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định Kết quả nghiên cứu trong luận văn không trùng lặp với những công trình khoa học đã được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Quỳnh Thương
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY 9
1.1 Những khái niệm cơ bản 9
1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số 21
1.3 Đặc điểm, nguyên tắc, vai trò của quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 39
2.1 Thực trạng việc truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số 39
2.2 Khái quát về những tờ báo chọn để khảo sát 45
2.3 Khảo sát vấn đề quản lý chất lượng truyền thông cho Đồng bào dân tộc thiểu số của 3 tờ báo mạng điện tử (Báo Sóc Trăng Online, Báo Yên Bái Online và báo Kon Tum Online từ tháng 1 đến tháng 6/2019) 50
2.4 Đánh giá về thành công và hạn chế của vấn đề quản lý chất lượng truyền thông cho Đồng bào dân tộc thiểu số 67
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG HIỆU QUẢ VIÊC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ THỜI GIAN TỚI 72
3.1 Những vấn đề đặt ra 72
3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử trong thời gian tới 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 99
TÓM TẮT LUẬN VĂN 119
Trang 5Ảnh 2.1: Giao diện báo Kon Tum Online 45
Ảnh 2.2: Giao diện báo Yên Bái Online 47
Ảnh 2.3: Giao diện báo Sóc Trăng Online 49
Bảng 2.1: Tỷ lệ tin bài có nội dung truyền thông cho đồng bào DTTS 55
Bảng 2.2: Tỷ lệ tin, bài có nội dung về văn hóa – xã hội 58
Trang 6Dân tộc thiểu số : DTTS Báo mạng điện tử: BMĐT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó các dân tộc
ít người chiếm khoảng 11% dân số nước ta Trong suốt quá trình đấu tranh cho hòa bình dân tộc thì lực lượng đến từ các dân tộc ít người đã góp vào
đó một phần không nhỏ Điều đó cho thấy được mối liên kết cộng đồng bền vững và sự đoàn kết của cả dân tộc ta
Hiện nay, cùng với hệ thống chính trị, các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và báo chí nói riêng đã làm tốt vai trò của mình trong việc làm “cầu nối”, cụ thể hóa các chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước đến với đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) Lượng thông tin trên báo chí trở thành cẩm nang, tài liệu truyền đạt những kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống, từng bước làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm; đóng góp tích cực vào việc ổn định đời sống, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào các DTTS
Tuy nhiên, truyền thông phục vụ cho đồng bào DTTS vẫn còn rất nhiều hạn chế Là kênh tuyên truyền, phục vụ cho đồng bào nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập, khó khăn chưa được khắc phục, vẫn chưa có được nhiều tác phẩm xuất sắc, mang hơi thở cuộc sống của đồng bào Những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào vẫn còn chưa được phát hiện kịp thời
và phản ánh thực sự chân thực Điều này đòi hỏi công tác truyền thông phải
có đổi mới nhằm phù hợp hơn, tác động tích cực hơn đến cuộc sống của đồng bào các DTTS
Hiện nay, chất lượng truyền thông cho người đồng bào DTTS vẫn còn khá nhiều những hạn chế, đặc biệt là hoạt động truyền thông trên một loại hình báo chí mới là BMĐT Cho đến nay, thì việc truyền thông cho
Trang 8đồng bào các DTTS trên BMĐT cũng đã có những hoạt động cụ thể nhất định Thông qua các tờ báo, đã có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, cũng như chương trình, dự án quốc gia về vấn đề phát triển cho các dân tộc đến được với đồng bào DTTS Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều rào cản khiến cho việc tiếp cận với truyền thông của đồng bào DTTS trở nên khó khăn hơn Tình trạng bất đồng về ngôn ngữ, tỷ lệ đọc thông viết thạo còn thấp, truyền thông vẫn chủ yếu bằng tiếng Việt hay thiếu phương tiện tiếp cận truyền thông đã khiến cho công tác này chưa mang lại được hiệu quả cao như mong muốn, hiệu quả truyền thông cho người DTTS vẫn chưa thực sự tốt
Bên cạnh đó, đằng sau mỗi một hoạt động truyền thông đều có dấu
ấn của hoạt động quản lý Từ sau khi hoạt động truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT được khởi động, việc quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên loại hình báo chí này cũng bắt đầu và cũng đã có được những thành công Tuy nhiên, việc quản lý chất lượng truyền thông trên BMĐT vốn là đã là việc làm khó thì ở đây, vấn đề quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT lại càng khó khăn hơn bao giờ hết, đó thực sự là một “vấn đề” hóc búa đối với những người làm công tác quản lý
Mặt khác, như đã nói ban đầu, nước ta có 54 dân tộc anh em, trong
đó có 53 dân tộc là DTTS sống rải rác khắp cả nước Xét về địa lí, nước ta được chia thành nhiều vùng nhỏ, nhưng nơi mà đồng bào dân tộc thiểu số tập trung sinh sống đông đúc hơn cả thì phải đề cập đến các vùng như Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ Tuy nhiên, do phạm vi khảo sát của cả 3 vùng địa lý này là khá rộng, nên ở luận văn này, tác giả chỉ xin được khảo sát tại 3 tờ báo điện tử của 3 tỉnh tiêu biểu là báo Kon Tum Online (Tây Nguyên), báo Yên Bái Online (Tây Bắc) và báo Sóc Trăng Online (Tây Nam Bộ)
Trang 9Với mong muốn đánh giá đúng thực trạng việc quản lý chất lượng truyền thông cho người DTTS, để tìm ra được những thuận lợi, những khó khăn của công tác này Từ đó có thể phát triển những thuận lợi và khắc phục những khó khăn, tìm ra những giải pháp khả thi nhất giúp mang lại hiệu quả cao cho công tác quản lý chất lượng truyền thông cũng như công tác truyền thông đến đồng
bào DTTS, góp phần phát triển đất nước Tôi quyết định chọn đề tài: “Báo mạng điện tử với vấn đề quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu
số (Khảo sát 3 tờ báo điện tử: www.baoyenbai.com.vn; baokontum.com.vn; baosoctrang.org.vn từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019)” cho Luận văn Thạc
sĩ Báo chí học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những đề tài về báo mạng điện tử không còn quá xa lạ, nhưng đề tài
“Báo mạng điện tử với vấn đề quản lý chất lượng truyền thông cho
đồng bào dân tộc thiểu số” thì lại là một đề tài còn khá mới mẻ Những tài
liệu có liên quan chủ yếu có nội dung tách rời giữa BMĐT và vấn đề truyền thông cho người DTTS
Trước đó, đã có khá nhiều tài liệu được nghiên cứu liên quan tới những vấn đề xung quanh đề tài ở báo mạng điện tử và cả những loại hình báo chí khác Phải kể đến như:
- Cuốn sách: “Truyền thông đại chúng” của tác giả GS.TS Tạ
Ngọc Tấn (Nxb Chính trị Quốc Gia, 2001) đã nêu được những vấn đề lí luận cơ bản của truyền thông nói chung và các loại hình truyền thông nói riêng, trong đó có Báo mạng điện tử
- Cuốn sách: “Báo mạng điện tử-những vấn đề cơ bản” của
PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang (Nxb Chính trị - Hành chính, 2011) đã đưa ra được những vấn đề lí luận cơ bản của thể loại báo mạng điện tử
- Cuốn sách: “Báo mạng điện tử- Đặc trưng và phương pháp sáng
tạo” do TS Đỗ Trí Nhiệm và TS Nguyễn Thị Trường Giang đồng chủ
Trang 10biên (Nxb Chính trị Quốc gia, 2014) đã cho thấy được những đặc trưng của thể loại báo mạng điện tử, cũng như cách thức, phương thức mà báo mạng điện tử sử dụng trong công tác truyền thông
- Cuốn sách “Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam
hiện nay” của Hoàng Quốc Bảo, (Nxb Chính trị- Hành chính, 2010) không
chỉ cung cấp cho người học tri thức về lãnh đạo, quản lý báo chí mà còn góp phần quan trọng vào việc hình thành năng lực tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và năng lực tham gia vào việc tổ chức thực hiện sự quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí của người cán bộ văn hóa- tư tưởng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Công trình nghiên cứu: Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001
- Cuốn sách “Truyền thông phát triển – truyền thông dân tộc:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Nghiên cứu trường hợp vùng Tây Bắc Việt Nam)” của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương làm chủ biên (Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2018) cũng đã phần nào nói lên được thực trạng vấn đề truyền thông cho người DTTS ở vùng Tây Bắc nước ta, những thuận lợi, khó khăn trong công tác truyền thông cũng được thể hiện khá rõ ràng
Mặc dù đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài nhưng chưa có sự gắn kết nào giữa BMĐT với việc truyền thông cho
đồng bào DTTS Vì vậy, tác giả xin khẳng định, đề tài “Báo mạng điện tử
vấn đề quản lý chất lƣợng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số”
là một đề tài hoàn toàn mới chưa từng được nghiên cứu trước đây
Đề tài này có thể sẽ giúp ích rất nhiều cho việc giữ ổn định và phát triển công tác truyền thông, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội cho vùng các dân tộc tộc thiểu số
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa những vấn đề lý luận
và thực tiễn của đề tài, khảo sát vấn đề nghiên cứu vấn đề quản lý chất
Trang 11lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT, để từ đó đề xuất những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả về vấn đề này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, tác giả luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu chính sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo Yên Bái Online, báo Kon Tum Online và báo Sóc Trăng Online trong thời gian từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019, từ đó rút ra được những thành công và hạn chế trong công tác quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số
- Đề xuất những giải pháp phù hợp và kiến nghị nâng cao chất lượng vấn đề này trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề quản lý chất lượng truyền thông cho đông bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung khảo sát trên 3 tờ báo điện tử là báo Yên Bái Online (www.baoyenbai.com.vn); báo Kon Tum Online (www.baokontum.com.vn) và báo Sóc Trăng Online (www.baosoctrang.org.vn) trong thời gian từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019 Lí do tác giả chọn các cơ quan báo chí trên làm phạm
vi nghiên cứu đề tài của mình là do Yên Bái, Kon Tum và Sóc Trăng là các địa phương tiêu biểu cho các vùng địa lý Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Số lượng đồng bào dân tộc thiểu số tập trung ở những địa phương này cũng là đông đúc và đa dạng nhất Chính vì vậy mà công tác truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số ở những địa phương này luôn được chú trọng Hơn nữa, khoảng thời
Trang 12gian từ tháng 1 đến tháng 6 là nửa đầu năm, tập trung nhiều lễ hội của các dân tộc khác nhau, chính vì vậy mà công tác truyền thông, quảng bá cũng được nâng cao đặc biệt
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lí luận
Luận văn này dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lenin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý, về vấn đề truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số, những chính sách đối với người dân tộc thiểu số, cơ sở lí luận chung về báo mạng điện tử, những tài liệu có liên quan tới vấn đề báo mạng điện tử và người dân tộc thiểu số để nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả phải sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp luận: Dùng để luận giải, giải thích những vấn đề lí
luận của luận văn nhằm đưa ra cái nhìn chính xác, khoa học nhất cho những vấn đề đó
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng để phân tích tài liệu,
phân tích ví dụ, số liệu để từ đó tổng hợp lại thành nội dung cần thiết sử dụng cho luận văn
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dùng để nghiên cứu, tập hợp
những tài liệu liên quan đến việc truyền thông cho đồng bào DTTS, quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS, từ đó rút ra những luận điểm, luận cứ, luận chứng phục vụ cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp nội dung: Dùng để phân tích chất
lượng truyền thông, thực trạng việc quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT
Trang 13- Phương pháp phỏng vấn sâu: Dùng để phỏng vấn nhà báo, nhà
quản lý báo chí, người nghiên cứu báo chí về chất lượng truyền thông và vấn đề quản lý chất lượng truyền thông, nhằm thu thập những ý kiến và quan điểm của họ cũng như những giải pháp trong vấn đề này Cụ thể, luận văn sử dụng phương pháp này để phỏng vấn 3 trường hợp là nhà báo Nguyễn Thanh Chi (báo Yên Bái), nhà báo Đỗ Tuấn Anh (thường trú TTXVN tại Yên Bái) và nhà báo Tạ Đình Nghĩa (Phó Chủ tịch Hội nhà báo Sóc Trăng)
Ngoài các phương pháp chính, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp,….để thực hiện luận văn của mình
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã đóng góp những vấn đề lí luận và thực tiễn trong công tác quản lý báo chí nói chung cho khối kiến thức về báo chí truyền thông hiện nay
- Luận văn đã mang lại cái nhìn khái quát về công tác quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên báo chí nói chung và trên BMĐT nói riêng
- Luận văn cũng đã đưa ra được những giải pháp chung và cụ thể nhằm trả lời được câu hỏi: “Làm thế nào để tăng cường việc quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT ở nước ta hiện nay?”
7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lí luận
Luận văn sẽ đóng góp thêm lí luận về công tác quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS Cụ thể là sự ổn định trong các bài báo, trong từng nội dung truyền thông, cách đưa thông tin đến với đồng bào dân tộc và cách tiếp thu ý kiến từ họ để có được hiệu quả truyền thông cao nhất, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa vùng đồng bào các DTTS ở nước ta
Trang 14Bên cạnh đó, chất lượng nội dung truyền thông cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cũng được tiếp cận một cách tương đối chính xác
Từ đó, luận văn này sẽ giúp ích cho sự cải tiến và nâng cao hiệu quả, chất lượng truyền thông cho đồng bào người DTTS
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng truyền thông cho
đồng bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng báo mạng điện tử với vấn đề quản lý chất
lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm tăng hiệu quả
việc quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử thời gian tới
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Đồng bào dân tộc thiểu số
Khái niệm “đồng bào DTTS” là một khái niệm được tổng hợp lại từ hai khái niệm là “đồng bào” và “DTTS” Như vậy ở đây, ta cần bóc tách riêng hai khái niệm nêu trên để có được một cách nhìn hoàn chỉnh nhất
Ở một số những tài liệu chữ Hán không do người Việt biên soạn cũng có thể dễ dàng bắt gặp khái niệm này Chẳng hạn như Từ điển Hán-Việt do Hầu Hàn Giang và Mạch Vĩ Lương cùng chủ biên giảng đồng bào
là anh chị em ruột [3; tr, 663] Mặt khác, trang Chinese-English Dictionary Online (www.chinese-learner.com/dictionary) lại giảng là “fellow citizen
or countryman”, tức đồng bào là người dân cùng một nước [46]
Thực tế cho thấy, đồng bào đơn giản chỉ có nghĩa là người dân có cùng quốc tịch, là công dân của cùng một nước, cùng chung sống ở một quốc gia, vùng lãnh thổ Những người có cùng quốc tịch nhưng sinh sống ở vùng lãnh thổ, quốc gia khác được gọi là “kiều bào” Ở đây, khái niệm đồng bào hoàn toàn có thể được sử dụng cho 54 dân tộc anh em ở nước ta,
và đây cũng là thuật ngữ được sử dụng thường xuyên nhất khi nhắc đến các DTTS ở nước ta
Tiếp đến, DTTS là cách gọi nhằm phân biệt phân biệt giữa các dân tộc ít người với các dân tộc đa số mà tiêu chí phổ biến là xem xét tỉ lệ dân
số của dân tộc đó trong tỷ lệ dân số quốc gia Thuật ngữ “thiểu số” hay “ít người” cũng đều mang hàm nghĩa giống nhau, tuy nhiên thuật ngữ “thiều số” được sử dụng nhiều và rộng rãi hơn
Trang 16Theo đó, khái niệm DTTS dùng để chỉ những dân tộc có số người ít, chiếm tỉ lệ thấp trong lượng dân số của một quốc gia đa dân tộc Khái niệm DTTS không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về DTTS giữa các quốc gia trong khu vực và trên Thế giới
Trong Từ điển Bách khoa 1995 có ý kiến cho rằng: DTTS là dân tộc có số dân ít cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có 1 dân tộc đa số) sống ở vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế, xã hội [39; tr520]
Bên cạnh đó, DTTS có thể coi là một khái niệm dùng để chỉ sự tương quan về số dân giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc DTTS không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của mỗi dân tộc bị chi phối bởi những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử của từng dân tộc chứ không phải do số dân
ít hay nhiều quy định
Ở Việt Nam, DTTS được hiểu là những dân tộc có số dân chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan dân số Nước ta có hơn 90 triệu dân, trong đó, dân tộc Kinh chiếm gần 90% dân số, hơn 10% còn lại là số dân của 53 dân tộc anh em, được coi là DTTS trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Như vậy, khái niệm “đồng bào DTTS” ở đây được hiểu là cộng đồng
những dân tộc ít người sống trong cùng một đất nước, một vùng lãnh thổ
Ở nước ta, thuật ngữ “đồng bào DTTS” được sử dụng để gọi tên 53 dân tộc anh em (trừ dân tộc Kinh) Thuật ngữ này tạo nên sự gần gũi, gắn kết các dân tộc trên cả nước với nhau, hàm ý rằng tuy mỗi dân tộc có sự khác biệt nhất định nhưng cũng đều là người trong cùng một đất nước
1.1.2 Báo mạng điện tử
Năm 1997, sự ra đời của Tạp chí Quê hương có địa chỉ là Quehuongonline.vn đã đánh đấu sự ra đời của BMĐT tại Việt Nam Sự kiện có ý nghĩa mở đường này đã vạch ra một bước tiến quan trọng cho
Trang 17lịch sử báo chí nước nhà, ghi thêm tên một thành viên mới vào danh sách các loại hình báo chí ở nước ta
Nhận thấy thế mạnh đặc biệt của BMĐT, hàng loạt cơ quan báo chí cũng đã tiến hành thử nghiệm và lần lượt xuất bản ấn phẩm của mình trên mạng Internet Cùng với đó, những tờ BMĐT độc lập cũng bắt đầu xuất hiện Tuy nhiên, vì còn rất mới nên BMĐT vẫn còn gặp phải rất nhiều những khó khăn Bên cạnh đó, khái niệm về loại hình báo chí này vẫn còn khá mơ hồ, dễ gây nhầm lẫn
Trên thế giới, cũng như ở Việt Nam đang tồn tại rất nhiều những cách gọi khác nhau đối với loại hình này như: Báo điện tử, báo trực tuyến, báo mạng, báo chí Internet và BMĐT Hiện nay, BMĐT đang là loại hình báo chí được sử dụng nhiều và rộng rãi nhất, nhắm đến hầu hết mọi đối tượng công chúng Thông điệp truyền thông trên BMĐT được phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung, hình thức và được truyền tải thông qua BMĐT dành cho một hoặc một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông
Theo mục 6, điều 3, chương I Luật Báo chí 2016, khái niệm báo điện tử được hiểu là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử [22]
Hiện nay ở Việt Nam có 2 mô hình tờ báo điện tử Thứ nhất, những
tờ báo điện tử có bản in, đài phát thanh, đài truyền hình tương ứng Theo
mô hình này, tờ báo điện tử chỉ là một ấn phẩm của cơ quan báo chí, ví như Tuổi trẻ Online là một ấn phẩm của báo Tuổi trẻ Công việc chính của phóng viên, biên tập viên là lựa chọn, biên tập lại những tin bài, ảnh từ các nguồn thông tin khác nhau Thứ hai, những tờ báo điện tử chỉ phát hành trên mạng (chẳng hạn như Vnexress.net) Những tờ báo điện tử theo mô hình này có xu hướng chuyên nghiệp cao, mang tính độc lập, được tổ chức theo mô hình mục lục và chuyên mục, kết hợp với các bình luận, đưa ra các
Trang 18cây thư mục, các chuyên đề thông tin về mọi mặt của đời sống Nó cung cấp cho người đọc lượng thông tin lớn đã được viết, tập hợp, tuyển chọn, biên tập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang (Học viên Báo chí & Tuyên truyền), khái niệm BMĐT là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện
và tương tác cao Đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, tuy nhiên, thuật ngữ BMĐT lại được sử dụng rộng rãi và hạn chế được sự nhầm lẫn với các loại hình khác [14; tr66]
Như vậy, ở luận văn này, khái niệm BMĐT được hiểu là một loại
hình báo chí mới, được phát hành trên mạng internet, mang lại lượng thông tin lớn, chuyển tải thông tin nhanh chóng và có tính tương tác cao
Là loại hình báo chí ra đời muộn, BMĐT lại gặt hái được những thành công lớn là nhờ có nhiều điểm, phù hợp với nhu cầu của công chúng Theo chỉ thị số 52-CT/TW ngày 22/07/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay thì “Báo điện
tử có tác dụng và tiện ích hơn hẳn các loại hình báo chí truyền thông khác, dung lượng thông tin rất lớn, tương tác thông tin nhanh, phát hành không bị trở ngại về không gian và thời gian Từ khi ra đời, báo điện tử nước ta đã góp phần quan trọng vào việc phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, mở rộng hiệu quả thông tin đối ngoại, nâng cao dân trí và thỏa mãn nhu cầu thông tin, hưởng thụ văn hóa của nhân dân, ”[7] Từ đó, có thể nhận định một số ưu điểm của BMĐT như sau:
Thứ nhất, BMĐT có những lợi thế về dung lượng truyền tải mà báo in,
phát thanh hay truyền hình không có được BMĐT không bị giới hạn về
Trang 19khuôn khổ hay số trang nên nó có thể truyền tải thông tin không giới hạn Vì vậy, nó có thể cung cấp một lượng thông tin rất lớn, phong phú và chi tiết
Thứ hai, BMĐT không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên
thông tin có thể được chuyển tải đến mọi nơi trên toàn cầu Nó có thế tiếp cận với độc giả ở khắp mọi nơi, miễn là nơi đó có đường dây điện thoại, có
di động hay phủ sóng vệ tinh
Thứ ba, BMĐT đã tạo ra bước ngoặt về quy trình sản xuất thông tin
Thông tin từ khi thu nhận đến khi phát hành đều được xử lý rất nhanh chóng với những thao tác hết sức đơn giản Tất cả các bước trong một công đoạn và tất cả công đoạn trong một quy trình sản xuất thông tin trên BMĐT có thể chỉ cần 1 người cũng có thể hoàn thành Do vậy mà chi phí cho cả người sản xuất
và công chúng đều sẽ tiết kiệm hơn các loại hình báo chí khác
Thứ tư, BMĐT là sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện Nó
không chỉ chuyển tải văn bản, hình ảnh như báo in mà còn có cả âm thanh, video như phát thanh, truyền hình Thậm chí còn có cả những chương trình tương tác Điều này khiến BMĐT có khả năng tạo nên một sức mạnh truyền thông mới
Thứ năm, tốc độ truyền thông tin cực nhanh và tần suất truyền tin
lớn Bất cứ khi nào có thông tin mới, BMĐT cũng có thể đưa lên Do vậy
mà thông tin trên BMĐT có thể được cập nhật từng giờ, từng phút, tức thời
và ngay lập tức mà không cần phải đợi đến giờ ra báo, phát sóng như các loại hình báo chí khác Đây cũng là loại hình báo chí luôn sống 24/7 Nhờ vậy mà nó có thể tiếp cận được với hầu hết các đối tượng công chúng Có thể nói, BMĐT chính là sự nối dài cánh tay của các loại hình báo chí khác
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang nhận định thì “BMĐT đã
và đang có một vị thế xứng đáng, một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống người dân bởi sức mạnh thực sự của nó”[14; tr96]
Trang 20Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì loại hình báo chí này cũng
có khá nhiều những khuyết điểm lớn có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, độ chính xác về thông tin trên BMĐT không cao so với
các loại hình báo chí khác Bởi thông tin trên BMĐT được đưa rất nhanh,
và nhanh thì thường ẩu Với đặc thù trong quy trình sản xuất thông tin trên BMĐT, phóng viên có thể kiêm luôn vai trò của biên tập viên, thậm chí là Tổng biên tập, vừa viết bài, vừa đưa tin lên mạng thì việc sai sót là không thể tránh khỏi Mặt khác, BMĐT khi đã phát hành vẫn có thể sửa được, điều đó phần nào đã tạo nên sự cẩu thả trong một bộ phận nhà báo
Thứ hai là độ an toàn của thông tin trên BMĐT do phụ thuộc quá
nhiều vào công nghệ Do BMĐT chỉ phát hành 1 bản duy nhất nên khi gặp phải những sự cố như cháy, hỏng, vi rút hay tin tặc… thì nội dung lưu trữ
có thể bị chỉnh sửa, làm sai lệch hay thậm chí là bị phá bỏ hoàn toàn mà khó khôi phục lại
Thứ ba, lượng thông tin được đăng tải trên BMĐT quá lớn, gây nên
tình trạng nhiễu loạn thông tin Điều này khiến công chúng đôi khi bị choáng ngợp, mất tập trung và không có khả năng sàng lọc thông tin đáng tin cậy, phù hợp với bản thân Thêm vào đó, rất nhiều những thông tin trên BMĐT lại được đưa quá chi tiết, tủn mủn, sa đà vào việc giật gân, câu khách như moi móc đời tư cá nhân, hay những thông tin đi ngược lại với xu hướng phát triển của xã hội
Thứ tư, công chúng có thể có tâm lý không thư giãn, thoải mái khi
tiếp nhận thông tin từ báo mạng điện tử do phải dùng máy tính có kết nối mạng Internet hoặc trong vùng phủ sóng đối với Internet không dây, nên không dễ dàng để đọc BMĐT mọi lúc mọi nơi Chất lượng âm thanh và hình ảnh của BMĐT cũng kém hơn so với phát thanh, truyền hình, và bị phụ thuộc rất nhiều vào đường truyền Thời gian đọc trên môi trường máy tính chậm hơn 25 % so với trên bản in Đặc biệt những bài mang tính chuyên sâu thì tiếp nhận trên tờ BMĐT sẽ khó khăn hơn nhiều
Trang 21Thứ năm, BMĐT mang tính cá nhân hóa nên khó có thể chia sẻ cho
người khác cùng xem, cùng đọc BMĐT không có khả năng tập hợp công chúng trong cùng một thời điểm như phát thanh và truyền hình
Thứ sáu, việc quản lý thông tin trên BMĐT cũng vấp phải nhiều
khó khăn hơn các loại hình báo chí khác Các diễn đàn nếu tổ chức không tốt, rất dễ dẫn đến sa đà vào những vấn đề mang tính giật gân và câu khách
Nhận định về những hạn chế, yếu kém của báo mạng điện tử, Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 22/07/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Tính tư tưởng, tính định hướng chính trị, tính chiến đấu, tính khoa học, tính chuyên nghiệp ở một số tờ báo điện tử chưa cao Một số báo thiếu cân nhắc khi đưa tin, bài về các vấn đề trong nước và thiếu chọn lọc khi khai thác tư liệu, bài viết ở bên ngoài, một số tin, bài chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách Ở một số cơ sở dịch vụ Interne , còn để xãy ra tình trạng lưu hành, phát tán các thông tin phản động, đồi trụy, vu khống, bôi nhọ danh dự cá nhân, gây bất bình trong nhân dân Chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước lợi dụng mạng Internet và báo điện tử để chống phá cách mạng nước ta"[7]
Cũng theo nhận xét của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang thì
“Trong tương lai, BMĐT sẽ tiếp tục phát triển mạnh, song song cùng tồn tại với các loại hình bảo chỉ khác, bổ sung những điểm khiếm khuyết mà các loại hình báo chí truyền thống không thể đạt được, và đương nhiên cũng phải tính đến cách khắc phục những hạn chế của mình”[14; tr108]
1.1.3 Truyền thông và quản lý chất lượng truyền thông
1.1.3.1 Khái niệm truyền thông
Loài người tồn tại trong cùng một cộng đồng với tổng thể những mối quan hệ đa dạng, phức tạp Từ khi sinh ra cho đến khi kết thúc cuộc đời, con người không thể chỉ tồn tại như những cá thể riêng biệt mà luôn là một thành
Trang 22phần của gia đình, tổ chức, xã hội, Để xây dựng và duy trì các mối quan hệ
đó, con người cần có giao tiếp, mà cụ thể hơn là việc trao đổi thông tin Thông qua trao đổi thông tin giúp con người chia sẻ với nhau những kinh nghiệm, hiểu biết của mình đến đồng loại để hỗ trợ nhau cùng phát triển Đến một thời điểm nhất định, hoạt động giao tiếp không chỉ còn là bản năng mà còn được nâng lên một nấc thang mới được gọi là truyền thông
Truyền thông theo tiếng Anh là communication có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi,… Thuật ngữ “truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latin với nghĩa là “chung” hay “cộng đồng” Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến
sự hiểu biết lẫn nhau giữa những cá nhân với cá nhân và cá nhân với cộng đồng xã hội
Con người có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào các hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ thái
độ, cảm xúc) Qua quá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có được sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi về nhận thức, hành vi Chính
vì vậy, truyền thông được xem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, là nền tảng hình thành nên cộng đồng, xã hội Nói theo cách khác thì truyền thông là một trong những hoạt động căn bản của bất kỳ một tổ chức xã hội nào
Theo định nghĩa của một số nhà khoa học, lý thuyết truyền thông thể hiện mối quan hệ giữa các dữ kiện truyền thông trong hành vi của con người,
và truyền thông là một quá trình có liên quan đến nhận thức hoặc hành vi Thực tế, nhận thức và hành vi của con người bao giờ cũng có khoảng cách
Và truyền thông chính là phương tiện được sử dụng để rút ngắn khoảng cách
đó, hay thậm chí có thể là đồng nhất các yếu tố đó với nhau
Trang 23Hiện nay trên thế giới, tùy vào các góc độ nghiên cứu khác nhau
mà người ta cũng có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về truyền thông Chẳng hạn như trong Công trình nghiên cứu “Khái niệm cơ bản về truyền thông” năm 1970, Frank Dance đã nêu ra 15 định nghĩa về truyền thông của các tác giả trên nhiều góc độ khác nhau [13]
Theo từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2008, truyền thông được hiểu dưới góc độ động từ: Truyền thông là truyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định như mở rộng mạng lưới truyền thông đến từng cơ sở [40; tr206]
Mặt khác, PGS.TS Nguyễn Văn Dững lại cho rằng: Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm một cách liên tục, chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm giữa người với người hoặc nhóm người nhằm làm thay đổi nhận thức, mở rộng hiểu biết, từ đó tiến tới thay đổi về hành vi của công chúng theo hướng tích cực Bản chất của xã hội truyền thông là tương tác và chia sẻ, thực hiện những cuộc vận động xã hội trên cơ sở tương tác bình đẳng giữa chủ thể và khách thể nhằm hướng đến một mục tiêu chung Do vậy, nguyên lý quan trọng của truyền thông chính là tần suất tương tác càng cao, càng nhiều người tham gia bao nhiêu thì năng lực
và hiệu quả truyền thông đạt được càng cao bấy nhiêu [12; tr113]
Trong cuốn “Giáo trình Lý thuyết truyền thông”, tác giả Dương Xuân Sơn cũng lưu ý rằng “truyền thông là một quá trình – có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khoảng thời gian lớn Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diễn ngay sau đó Đấy là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này đặc biệt quan trọng với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại được sự thay đổi trong nhận thức và hành vi” [30; tr9]
Trang 24Như vậy, từ những khái niệm trên, truyền thông có thể được hiểu là
quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm mục đích tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức Khái niệm truyền thông còn được hiểu là sản phẩm của con người, là động lực kích thích sự phát triển của xã hội
1.1.3.2 Khái niệm quản lý chất lượng truyền thông
Chất lượng truyền thông luôn luôn là một trong những mối quan tâm đặc biệt hàng đầu đối với những người làm công tác truyền thông Để hiều
rõ hơn về khái niệm chất lượng truyền thông, trước hết, cần phải hiều được khái niệm “chất lượng” là như thế nào?
Về bản chất, khái niệm chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối Với mỗi người, quan niệm về chất lượng khác nhau và vì thế chúng ta thường đặt ra câu hỏi “chất lượng của ai, của cái gì” Ở mỗi một vị trí, người ta nhìn nhận về chất lượng ở những khía cạnh khác nhau Người làm truyền thông, người quản lý hoạt động truyền thông, công chúng hay các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng Hiện nay cũng đã có một số định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng đưa ra
Theo Juran – một Giáo sư người Mỹ thì “chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” Một ý kiến khác cũng khá tương đồng nhưng có chút phát triển hơn cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định”
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là: "Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có"
Trang 25Từ những ý kiến trên, khái niệm “chất lượng” có thể được hiểu là sự
phù hợp, mức độ đáp ứng yêu cầu đối với một tập hợp có đặc tính nhất định Khái niệm này cũng thường được sử dụng như một hành động đánh
giá một quá trình hoạt động
Sau khi bóc tách khái niệm “chất lượng” thì khái niệm “chất lượng truyền thông” cũng có thể được hiểu dễ dàng hơn Chất lượng truyền thông
ở đây có thể hiểu được chính là hiệu quả truyền thông, là kết quả mà quá trình hoạt động truyền thông đạt được Hiệu quả truyền thông được đánh giá dựa trên độ phủ sóng của hoạt động truyền thông đó, càng nhiều người biết đến, nhiều người tham gia thì hiệu quả truyền thông đạt được càng cao Bên cạnh đó, hiệu quả truyền thông còn cần đánh giá dựa trên mức độ tương tác giữa người làm truyền thông với đối tượng mà truyền thông nhắm đến, khi tính tương tác giữa hai chủ thể này cao , dẫn tới thay đổi hành vi, nhận thức theo hướng mà hoạt động truyền thông hướng đến thì lúc này, hiệu quả truyền thông mới thực sự đạt được kết quả tốt
Như vậy, chất lượng truyền thông có thể được hiểu là từ ngữ biểu đạt
hiệu quả đạt được trong quá trình truyền thông, làm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu và theo dõi thông tin của công chúng, đáp ứng được các yêu cầu từ công chúng Tùy vào từng đối tượng công chúng khác nhau, có những nhu cầu tiếp nhận thông tin khác nhau mà chất lượng truyền thông của mỗi hoạt động có thể sẽ khác nhau Một hoạt động truyền thông được coi là có chất lượng truyền thông tốt khi hiệu quả truyền thông của nó cao và ngược lại Mặt khác, chất lượng truyền thông cũng có thể được hiểu là thuật ngữ được sử dụng để đánh giá hiệu quả của một quá trình truyền thông
Mặt khác, khái niệm “Quản lý” cũng cần được hiểu một cách cụ thể Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, là một quá trình do một người hay nhiều người thực hiện hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên và sử dụng tất cả các nguồn lực
Trang 26khác nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra Quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực lại phân tích cụ thể theo nhiều nghĩa khác nhau
Trên góc độ quản lý nhà nước về báo chí, theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Vấn đề hàng đầu để quản lý tốt hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng là hình thành tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này trên cơ sở một quy mô thích hợp, một cơ chế vận hành hợp lý Cùng với tổ chức bộ máy là bồi dưỡng, lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ có chất lượng đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả của bộ máy Một khi tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ không tương xứng về số lượng, quy mô và trình độ, năng lực thì không thể quản lý tốt một hệ thống truyền thông đại chúng rộng lớn, hoạt động năng động và liên tục phát triển Quản lý tốt các phương tiện truyền thông đại chúng không tách rời điều kiện quan trọng là xây dựng và hoàn thiện một hành lang pháp lý” [34; tr.258]
Xét về phương diện từ ngữ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Quản lý là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ và là công việc mà họ phải học suốt đời Các yếu tố trong hoạt động quản lý bao gồm: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, thường hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý)
Quản lý cũng có thể phân tích dưới góc độ chức năng của Báo chí Báo chí tham gia hoạt động quản lý bằng dòng chảy của thông tin 2 chiều- thuận và ngược Quản lý thông điệp truyền thông tức là quản lý dòng chảy liên tục, xuyên suốt từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự
điều hành, chỉ đạo có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra”
Như vậy, khái niệm “Quản lý chất lượng truyền thông có thể được
hiểu là một hoạt động điều hành, chỉ đạo có tổ chức của một tổ chức, cơ
Trang 27quan báo chí lên quá trình truyền thông nhằm thỏa mãn được nhu cầu thông tin của công chúng và giữ cho hiệu quả truyền thông luôn ở mức tốt nhất Việc quản lý chất lượng truyền thông cũng phụ thuộc và cả chủ thể
và khách thể quản lý”
1.1.4 Quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu
số trên báo mạng điện tử
Truyền thông cho đồng bào DTTS có thể được hiểu là một quá trình truyền tải thông tin đến đối tượng công chúng là người DTTS
1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.1 Chủ thể quản lý
Trong hoạt động quản lý chất lượng truyển thông cho đồng bào DTTS trên báo chí nói chung và trên BMĐT nói riêng thì chủ thể quản lý ở đây được xác định gồm các cá nhân, cơ quan quản lý báo chí từ Trung ương đến địa phương Có thể kể đến như:
Ở cấp Trung ương là Bộ Thông tin & Truyền thông: Bộ có trách nhiệm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đã quy định tại Luật Báo chí 2016 Cụ thể như: Chú trọng xây dựng các chiến lược quy hoạch, kế hoạch, phát triển sự nghiệp báo chí truyền thông và giám sát những hoạt động đó; Ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí truyền thông; Thanh tra, kiểm tra và xử lý
vi phạm các hoạt động báo chí truyền thông
Quản lý nhà nước về truyền thông cho đồng bào DTTS tại cơ quan ngang Bộ, mà cụ thể ở đây là Ủy ban Dân tộc: cơ quan này đóng vai trò như
cơ quan chủ quản báo chí, thực hiện công tác chỉ đạo quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền trong việc thực hiện phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch, tổ chức
bộ máy xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí đảm bảo các tiêu chuẩn về chính trị, nghiệp vụ với hoạt động truyền thông cho đồng bào DTTS
Trang 28Cơ quan quản lý nhà nước về báo chí địa phương: Đây là cơ quan quản lý báo chí trực tiếp, các Sở thông tin và truyền thông có nhiệm vụ phối hợp cùng Tỉnh uỷ, Thành uỷ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện các hoạt động về quản lý các đơn vị báo chí, các văn phòng đại diện, phóng viên thường trú của báo chí trung ương trên địa bàn, đồng thời thực hiện chủ trương quy hoạch báo chí; soạn thảo mới, cụ thể hoá, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp quy về báo chí trên cơ sở nội dung của Luật Báo chí
Các cá nhân chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp trong tòa soạn BMĐT như Tổng biên tập, các Phó Tổng biên tập, các Trưởng Ban, Trường phòng
và cả đội ngũ biên tập đều là những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT Đây
là những người trực tiếp đưa ra, xây dựng các kế hoạch truyền thông, và cũng là những người tham gia thẩm định, đánh giá và duyệt nội dung truyền thông
1.2.2 Đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý ở đây chính là hoạt động truyền thông và chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT Cụ thể là toàn bộ quy trình sản xuất, xét duyệt, đăng tải, nội dung, hình thức thể hiện, các trang thiết
bị kỹ thuật, công nghệ, nguồn nhân lực, tài chính bảo đảm cho hoạt động truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT đạt được chất lượng tốt nhất cả
về nội dung và hình thức thể hiện
Ở luận văn này, đối tượng quản lý cụ thể là hoạt động truyền thông cho đồng bào DTTS trên các tờ báo thuộc diện khảo sát như: báo Yên Bái Online; báo Sóc Trăng Online và báo Kon Tum Online
Để quản lý tốt chất lượng hoạt động truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT, các hoạt động của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, toàn diện, không ngừng nghỉ, không
Trang 29tách rời, với mục tiêu: bảo đảm cho các hoạt động truyền thông được thực hiện một cách hiệu quả, chất lượng tốt nhất, đáp ứng nhu cầu của công chúng Việc quản lý các đối tượng này được nhà quản lý thực hiện thông qua các tổ chức, nguồn nhân lực, hệ thống pháp luật, quy chế, quy định cùng nhiều biện pháp sáng tạo khác nhau
1.2.3 Nội dung quản lý
1.2.3.1 Quản lý về nội dung
Đối với việc quản lý nội dung truyền thông, có thể thấy truyền thông cho đồng bào DTTS đã được quan tâm từ khá lâu với những nội dung đa dang trên mọi lĩnh vực Nội dung truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT phải đảm bảo được các yếu tố sau đây:
Thứ nhất thông tin phải phải là vấn đề thời sự, nhanh nhạy, kịp thời:
đây là yếu tố quan trọng hàng đầu, và là yêu cầu bắt buộc của các chương trình thời sự của các đài truyền hình địa phương Tâm lý, nhu cầu của công chúng khi xem chương trình thời sự đó là họ muốn được xem các vấn đề mang tính thời sự của địa phương, những vấn đề mới xuất hiện, vấn đề nóng trong đời sống, xã hội, những vấn đề thời sự ngoài ranh giới địa phương nhưng có ảnh hưởng lớn đến địa phương mình Nếu chương trình thời sự, không đáp ứng được yêu cầu này sẽ không đáp ứng được yêu cầu của công chúng, và như vậy hiệu quả của chương trình thời sự mang lại sẽ không cao
Thứ hai, thông tin phải chính xác, đảm bảo tính định hướng: đây là
yếu tố hết sức quan trọng đối với tất cả các cơ quan báo chí, nhất là đối với những cơ quan ngôn luận của Đảng, nhà nước, diễn đàn của quần chúng nhân dân Sự xác thực của thông tin là yêu cầu mang tính bắt buộc, bên cạnh đó thông tin này cũng phải mang tính định hướng dư luận, định hướng công chúng báo chí Trên sóng thời sự truyền hình các tỉnh tuyệt đối không đưa những thông tin mang tính giật gân, câu khách theo kiểu của một số
Trang 30báo mạng điện tử Mà phải đưa thông tin một cách khách quan, mang định hướng chính trị Hiện nay có rất nhiều vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, nếu thông tin đưa một cách không chính xác, thiếu tính định hướng sẽ dẫn đến những hệ lụy rất lớn
Thứ ba, thông tin phải thiết thực, bổ ích với công chúng: Chương
trình truyền hình nói chung, bản tin thời sự nói riêng là tiếng nói của Đảng
bộ, chính quyền, là diễn đàn của nhân dân các tỉnh, chính vì vậy yêu cầu hàng đầu về mặt nội dung đó là đưa tin các sự kiện, hiện tượng diễn ra trên địa bàn của tỉnh Bên cạnh đó, đài cũng cũng cần đưa các thông tin ngoài tỉnh nhưng có liên quan, tác động đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân trong tỉnh Nội dung thông tin vừa phải phù hợp với đường lối, chủ trương, tinh thần của vừa theo quy định của một cơ quan báo chí
Thứ tư, thông tin phải phong phú, đa dạng: Trong một chương trình
thời sự nếu chỉ đề cập đến một vấn đề, hoặc một nhóm nhỏ vấn đề sẽ dẫn đến
sự nhàm chán Tâm lý chung của công chúng truyền hình đó là muốn nắm bắt được nhiều sự kiện, nhiều vấn đề khác nhau Chính vì vậy, thông tin trên chương trình thời sự phải đảm bảo cân đối giữa thông tin chính trị, kinh tế, xã hội, đảm bảo thông tin giữa các địa phương, vùng miền trong tỉnh
Thứ năm, thông tin phải gọn gàng, súc tích, dễ hiểu: Đặc thù của báo
truyền hình là phát sóng một lần, vì vậy nếu không kịp theo dõi sát người xem rất khó có thể hình dung được nội dung của thông tin Nếu tin tức quá dài, không chỉ làm đối tượng tiếp nhận khó nắm bắt được nội dung, mà nó còn chiếm thời lượng của các tin tức khác
1.2.3.2 Quản lý phương thức truyền thông
Đối với việc quản lý phương thức truyền thông, truyền thông cho Đồng bào DTTS được sử dụng nhiều phương thức truyền thông khác nhau Tùy vào tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội, trình độ nhận thức, dân trí của đồng bào nơi tiếp nhận truyền thông mà người làm truyền thông lựa chọn
Trang 31được phương thức cụ thể, hiệu quả nhất cho quá trình truyền thông đó Chẳng hạn như ở một địa phương có nền kinh tế - xã hội phát triển, công tác truyền thông lúc này cũng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn do đồng bào tại đây được tiếp xúc với nhiều loại hình, phương tiện truyền thông hơn (cả Phát thanh – truyền hình, báo in, báo mạng điện tử hay cả mạng xã hội) Tuy nhiên ở những địa phương có nền kinh tế - xã hội kém phát triển, đồng bào ít được tiếp xúc với các phương tiện truyền thông thì việc lựa chọn phương thức truyền thông phù hợp cũng sẽ trở nên khó khăn hơn Cá biệt
có những nơi đồng bào có nhiều người vẫn chưa biết tiếng Việt ( tiếng dân tộc Kinh) thì hoạt động truyền thông sẽ càng trở nên khó khăn Điều này đòi hỏi người làm công tác quản lý cần có được cái nhìn khái quát, đánh giá chính xác và lựa chọn phương thức truyền thông phù hợp để đạt được hiệu quả truyền thông cao nhất
Để đạt được mục tiêu, cần thực hiện tốt 7 nội dung: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng
về chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới và hải đảo…; tuyên truyền khoa học kỹ thuật, mô hình phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả, xây dựng nông thôn mới; tăng cường thông tin đối ngoại, nhân quyền; tuyên truyền các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS…; đổi mới nội dung
và phương thức lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, công tác viên các cấp, mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn, thường xuyên cung cấp thông tin; tăng cường đầu tư và hỗ trợ trang thiết bị hiện đại để phục vụ tuyên truyền, vận động
1.2.3.3 Các nội dung quản lý khác
Bên cạnh việc quản lý về nội dung và phương thức truyền thông, việc quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS còn có nhiều yếu
tố khác cần chú ý Chẳng hạn:
Trang 32Quản lý nhân sự: Việc quản lý đội ngũ phóng viên, biên tập viên cũng là một trong những vấn đề quan trọng Cần có những hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên Bên cạnh đó, người quản lý cũng cần liên tục đưa ra các chỉ đạo, định hướng truyền thông cho đội ngũ phóng viên thực hiện theo đó
Quản lý về quy trình sản xuất thông tin Quy trình diễn ra đúng, nội dung truyền thông hay thì hoạt động truyền thông cũng có thể có tỷ lệ thành công cao Việc giám sát quy trình sản xuất thông tin cho hoạt động truyền thông cho đồng bào DTTS cũng vây, chỉ cần làm đúng thì chất lượng cũng sẽ theo đó mà được nâng cao, hoạt động quản lý cũng từ đó mà thành công hơn
1.2.4 Phương thức quản lý
Để việc quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT đạt được hiệu quả cao, các cá nhân, cơ quan quản lý sử dụng các phương thức quản lý sau đây:
Thứ nhất, quản lý theo luật báo chí và các văn bản dưới luật: tức là
thông qua các văn bản quy phạm pháp luật sẽ đảm bảo cho việc truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT luôn phát triển theo đúng định hướng, phù hợp với sự phát triển báo chí cả nước nói chung Đồng thời đây cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp, những sai phạm trong hoạt động báo chí truyền thông
Thứ hai, quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên
BMĐT thông qua cơ quan chủ quản, nhằm định hướng truyền thông theo đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Ngoài ra, việc quản lý còn đảm bảo sự tự do trong các hoạt động thông tin, tự do ngôn luận trên báo chí trong khuôn khổ pháp luật cho phép
Thứ ba, quản lý theo chuẩn mực đạo đức báo chí Đây chính là những
nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi đối với người làm công tác báo chí, truyền thông trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, có những quy tắc đạo
Trang 33đức sẽ giúp cho phóng viên định hướng được những hành động của mình theo một mục đích chung có thể đem lại nhiều lợi ích cho đồng bào
Thứ tư, quản lý chặt chẽ, định hướng kế hoạch truyền thông cho
đồng bảo DTTS Việc lên kế hoạch và định hướng trước hoạt động truyền thông rồi sau đó mới chỉ đạo cho đội ngũ phóng viên là một việc làm cần phải có Hoạt động này giúp công tác truyền thông cho đồng bào DTTS được diễn ra theo đúng hướng, đúng quy trình và truyền thông đến đúng đối tượng
Thứ năm, quản lý trong hoạt động kiểm soát thông tin và biên tập
thông tin Thông tin truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT phải là những thông tin chính xác, hữu ích đối với đồng bào, do vậy, việc kiểm soát và sàng lọc thông tin là vô cùng quan trọng Chỉ cần một thông tin sai lệch cũng có thể gây ảnh hưởng rất xấu đề đời sống của đồng bào Các thông tin trước khi đăng tải trên BMĐT đều phải được biên tập, kiểm định
sự chính xác, đảm bảo nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy, thông tin có nhạy cảm hay không, phải nhận định được thông tin có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến đời sống xã hội Đặc biệt những thông tin ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của đồng bào địa phương Bên cạnh đó, thông tin truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT cần có phương pháp truyền tải để tránh sự khô khan khi chuyển đến đồng bào
1.3 Đặc điểm, nguyên tắc, vai trò của quản lý chất lƣợng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Đặc điểm và nguyên tắc của quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử
1.3.1.1 Đặc điểm
Cũng giống như các hoạt động quản lý về báo chí nói chung, việc quản
lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT cũng có 2 đặc điểm chính sau đây:
Trang 34Thứ nhất, hoạt động quản lý có sự phối hợp trong hoạt động giữa lãnh đạo, quản lý các cơ quan báo chí với Đảng và Nhà nước Nhìn chung, các cơ quan BMĐT địa phương hiện nay vẫn là cơ quan ngôn luận của địa phương
đó Vì thế, mọi hoạt động quản lý truyền thông tại đây cũng có sự góp mặt của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương Do đó mà hoạt động quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT các địa phương cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa những người đứng đầu cơ quan báo chí với Đảng, Nhà nước và chính quyền các địa phương
Thứ hai, hoạt động quản lý dựa trên Luật Báo chí Mọi hoạt động quản
lý đều dựa trên hệ thống văn bản, luật pháp hiện hành mà cụ thể hiện nay là Luật Báo chí 2016 Trong Luật Báo chí cũng đã quy định rõ những vấn đề trong hoạt động quản lý BMĐT ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, người làm công tác quản lý có đủ căn cứ pháp lý để thực thi nhiệm vụ quản lý của mình
Ngoài ra, hoạt động quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào DTTS trên BMĐT cũng có những đặc điểm riêng phù hợp nhằm mang lại hiệu quả quản lý tốt nhất
1.3.1.2 Nguyên tắc quản lý
Các hoạt động báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng xét trên nhiều góc độ có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội Vì vậy, để các hoạt động này phát triển đúng định hướng và đi vào khuôn khổ thì phải đặt nó dưới sự điều chỉnh của pháp luật, đồng thời cũng cần phải xây dựng nên những nguyên tắc quản lý phù hợp Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý đối với báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng bao gồm:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền tự do báo chí,
tự do ngôn luận của công dân: Báo điện tử thực chất là một loại hình báo chí,
do đó,việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo điện tử cũng được bảo đảm như quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo chí nói chung Quyền tự do ngôn luận – quyền được trình bày, bộc lộ
Trang 35quan điểm, nói lên tiếng nói của bản thân là quyền thiêng liêng của mỗi con người, sự hình thành của tiếng nói và chữ viết song hành với nhau ghi lại quá trình lịch sử cũng như văn hóa của nhân loại Con người được hợp thành bởi phần con và phần người cũng giống như việc phải ăn uống để tồn tại đúng phần con thì việc được giao tiếp được tự do nói lên tiếng nói của bản thân là
cơ sở quan trọng để con người sống đúng nghĩa với phần người trong bản thân mình Việc dùng lời nói, đôi khi còn dùng đến cả hành động hay bất cứ công cụ phương tiện nào để tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin đảm bảo cho mọi vấn đề trong xã hội luôn được phổ biến, luôn được phản bác để tìm
ra chuẩn chung nhất Đây là một nguyên tắc hiến định đã được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sau đây gọi
là Hiến pháp năm 2013) Để nguyên tắc này được thực hiện, trên thực tế, Nhà nước đã xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp để điều chỉnh hoạt động của loại hình báo điện tử nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của đông đảo bạn đọc Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đề ra các phương thức quản lý nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan chức năng thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng
Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả hoạt động báo điện tử một cách bình đẳng của tất cả công dân, đặc biệt là người DTTS:
Bằng hoạt động của mình, báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng đã góp phần đáng kể vào việc ổn định tình hình kinh tế chính trị và định hướng dư luận xã hội một cách tích cực Nhiều nước trên thế giới đã khai thác triệt để hiệu quả hoạt động của báo điện tử dưới sự điều tiết của pháp luật nhằm phục
vụ cho mục tiêu xây dựng xã hội thịnh vượng, công bằng, dân chủ và văn minh Riêng ở nước ta, pháp luật là một công cụ rất quan trọng trong quản lý hoạt động của báo điện tử, một loại hình báo chí khá mới mẻ, hiện đại và ứng dụng những tiến bộ về khoa học, công nghệ của nhân loại, đảm bảo cho quá
Trang 36trình hội nhập môi trường thông tin, báo chí toàn cầu được nhanh chóng và thành công Hoạt động báo điện tử ngày nay có những tiến bộ rõ rệt, phạm vi phủ sóng rộng khắp nhờ có sự đầu tư về cơ sở hạ tầng mạng lưới internet ở khắp các vùng miền, qua đó đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của độc giả Đây được xem như một nguyên tắc biểu hiện tính nhân văn sâu sắc với mục tiêu nâng cao chất lượng dân trí Với nguyên tắc này, Nhà nước cần có chính sách để người dân dễ dàng tiếp cận được các ấn phẩm của loại hình báo điện
tử Đồng thời, huy động các nguồn lực để đảm bảo sự hoạt động của các cơ quan báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng với nhiều tôn chỉ mục đích khác nhau nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu về thông tin và nâng cao trình độ dân trí của các tầng lớp khác nhau trong xã hội Bên cạnh đó, Nhà nước cần
có chính sách đẩy mạnh sự phát triển và khả năng sẵn sàng phục vụ của các
cơ quan báo điện tử đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
và đặc biệt khó khăn nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng các tiện ích mà báo điện tử mang lại, đồng thời góp phần nâng cao dân trí thông qua việc truyền bá thông tin rộng khắp trên mạng lưới báo điện tử
Thứ ba, nguyên tắc xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng việc tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để làm trái pháp luật: Một trong những
đặc điểm của báo chí nói chung trong đó có báo điện tử là tính quần chúng, do vậy những thông tin trên báo điện tử luôn có những ảnh hưởng nhất định đến tình hình an ninh, chính trị của một quốc gia và định hướng dư luận rõ rệt Hiện nay, vấn đề tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí luôn được quan tâm và là quyền cơ bản của con người mà các thể chế chính trị và hình thức nhà nước buộc phải tôn trọng Lợi dụng được các quy định này trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách lợi dụng báo điện tử và các diễn đàn mạng để làm công cụ cho việc chống phá Nhà nước, chống phá sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Đây là những hành vi nguy hiểm làm thiệt
Trang 37hại đến lợi ích của một quốc gia, một dân tộc, làm suy giảm uy tín của Đảng
và Nhà nước trong nhân dân Do vậy, Đảng và Nhà nước cần kiên quyết đấu tranh để chống lại các hành vi, mưu đồ này Nhằm pháp điển hóa nguyên tắc trên, biến nó thành công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ xã hội, Đảng
và Nhà nước đã ghi nhận nguyên tắc này qua các bản Hiến pháp và các văn bản pháp luật chuyên ngành
1.3.3 Vai trò của quản lý chất lượng truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay
1.3.3.1 Vai trò của truyền thông đối với đồng bào DTTS
Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội Nó có khả năng tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành vi và ứng xử của công chúng Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội Nhờ đến truyền thông mà những vấn đề này được xã hội chấp nhận và lan truyền nhanh trong công chúng Đối tượng mà truyền thông tác động đến gồm nhiều nhóm đối tượng, nhưng nhìn chung, đối tượng cụ thể và chủ yếu nhất của truyền thông vẫn là công chúng
Vai trò của truyền thông đối với công chúng có thể kể đến như: Giúp cho người dân cập nhật thông tin kinh tế - văn hóa - xã hội, pháp luật trong và ngoài nước Giúp người dân giải trí và học tập về phong cách sống những người xung quanh Truyền thông ủng hộ cái đẹp và bài trừ cái xấu Truyền thông đóng vai trò trong việc tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa, thời trang,…Ngoài ra truyền thông còn giúp cho người dân phản hồi, nói lên tiếng nói của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình
Đối với công chúng là đồng bào DTTS, truyển thông đóng vai trò như người chỉ đường, giáo dục, định hướng văn hóa xã hội… Truyền thông cho đồng bào DTTS góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp, đồng thời tuyên truyền phổ biến pháp luật, lối sống hiện
Trang 38đại, bài trừ cái xấu, xóa bỏ hủ tục lạc hậu Bên cạnh đó, truyền thông còn
có vai trò phổ biến những chính sách, đường lối, pháp luật của nhà nước đến đồng bào, đấu tranh chống luận điệu sai trái, chống các thế lực thù địch; tuyên truyền những chính sách phát triển kinh tế, giúp người dân xóa đói giảm nghèo Hơn thế nữa, khi được tiếp cận với truyền thông thì nhận thức, hành vi của đồng bào DTTS cũng sẽ được thay đổi ít nhiều, trình độ dân trí cũng từ đó mà cao hơn
Truyền thông cũng là giúp cho công chúng đồng bào DTTS nói lên tiếng nói riêng của mình, khiến cho công chúng cả nước hiểu được cuộc sống và con người vùng miền, những giá trị cuộc sống đẹp đẽ của dân tộc mình, hay cả những khó khăn đang mắc phải Từ đó, thông điệp truyền thông được lan tỏa và được nhiều người biết đến Truyền thông mang lại những giá trị tích cực cho cuộc sống của đồng bào DTTS
1.3.3.2 Vai trò của báo chí nói chung với vấn đề truyền thông cho đồng bào DTTS
*Báo chí tham gia hoạch định chính sách về DTTS và khuyến khích, động viên nhân dân thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước
Với vai trò của mình, báo chí đã và đang tham gia tích cực vào việc hoạch định chính sách, trong đó có vấn đề văn hóa các DTTS Bên cạnh việc phản ánh chân thực, khách quan các vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội; những chính sách, quy định đang phát huy hiệu quả, báo chí còn kịp thời phát hiện và phản hồi về những chính sách đã không còn phù hợp với thực tiễn, thậm chí kéo lùi sự phát triển Cùng với phản ánh là những đề xuất cụ thể giúp các cơ quan hoạch định chính sách có sự điều hành, bổ sung cho phù hợp Hay trước thời điểm chính sách mới ban hành, báo chí vừa làm nhiệm vụ truyền tải, vừa là kênh tiếp nhận và phản hồi lại ý kiến của công chúng (đối tượng chịu tác động của chính sách) với các cơ quan ban hành chính sách những điểm, điều luật chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống cần điều chỉnh, sửa chữa hoặc bãi bỏ
Trang 39Báo chí còn phản ánh chân thực, có chiều sâu nét đẹp văn hóa trong các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống; các làn điệu dân ca, dân vũ đặc sắc; các ngành nghề cổ truyền, các nghi thức, nghi lễ truyền thống; hương ước, quy ước của bản làng, dòng họ gắn liền với tín ngưỡng, tâm linh trong đời sống hàng ngày, mang đặc trưng riêng của từng dân tộc, từng dòng họ Qua đó góp phần khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy vai trò của đồng bào các DTTS trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, làm tăng các nét đẹp, dần loại bỏ những hủ tục, văn hóa lạc hậu, động viên nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực văn hóa
* Báo chí góp phần bảo tồn hệ giá trị văn hóa các DTTS thông qua giáo dục truyền thống
Với mỗi quốc gia, văn hóa truyền thống dân tộc luôn là linh hồn, sức sống và mục tiêu phát triển Trong bối cảnh sự giao thoa về văn hóa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc phát huy giá trị văn hóa dân tộc, nhất là văn hóa các DTTS trở thành vấn đề cấp thiết, trong đó báo chí càng thể hiện rõ vai trò, vị thế đặc biệt của mình đối với công chúng Trên thực tế, báo chí đã và đang đóng góp tích cực vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS
Ở nước ta, báo chí là công cụ của Đảng, Nhà nước, là diễn đàn của quần chúng nhân dân Đồng thời, báo chí cũng góp phần nâng cao trình độ hiểu biết chung của nhân dân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp Trong những năm qua,với vai trò là phương tiện thông tin nhanh nhạy, kịp thời và rộng khắp, công tác thông tin tuyên truyền, quảng
bá, giới thiệu về các đề tài liên quan đến DTTS được đẩy mạnh ở tất cả các loại hình báo chí từ Trung ương đến địa phương; bám sát đời sống văn hóa của đất nước, phản ánh tích cực, sinh động nền văn hóa các dân tộc Báo chí trở thành “cầu nối” đưa văn hóa nước ta ra toàn thế giới
Trang 40* Báo chí tuyên truyền chính sách phát triển kinh tế
Thông qua việc truyền tải thông tin rộng rãi, báo chí đã tuyên truyền cho người DTTS những chính sách về phát triển kinh tế, những cách làm hay trong phát triển kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng đồng bào các DTTS
Báo chí cũng góp phần tôn vinh những tổ chức, cá nhân nổi bật trong việc phát triển kinh tế tại mỗi địa phương, từ đó làm tấm gương giúp những
cá nhân, tổ chức còn lại học tập giúp thoát nghèo, đi lên ổn định, bền vững
* Báo chí giúp cân bằng, phát triển đời sống xã hội
Với vai trò định hướng xã hội của mình, báo chí có khả năng định hướng đời sống xã hội cho người DTTS theo hướng đúng đắn nhất Chẳng hạn như tuyên truyền, hướng dẫn về kế hoạch hóa gia đình, bình đẳng giới hay về hôn nhân cận huyết Điều này đã giúp làm thay đổi bộ mặt cuộc sống cho vùng các DTTS ở nước ta
Khi đời sống xã hội đã được thay đổi, báo chí có nhiệm vụ cân bằng đời sống đó, duy trì và giữ vững những gì đã đạt được bằng cách tuyên truyền đến lớp trẻ- lớp người có tác động trực tiếp đến tương lai của đời sống xã hội của đồng bào DTTS
Ngoài ra, nhờ vào tính năng truyền tải thông tin rộng rãi của mình, báo chí còn có thể đưa những mô hình đời sống xã hội đã có sự phát triển rõ rệt ở điạ phương này, mang đến quảng bá, giới thiệu ở địa phương khác nhằm giúp địa phương đó dựa theo mô hình đã có sẵn mà phát triển đúng hướng
* Báo chí có vai trò phổ biến giáo dục pháp luật
Một trong những vai trò đặc biệt quan trọng của báo chí trong công tác truyền thông cho đồng bào DTTS là vấn đề tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật Trước kia, đại bộ phận người DTTS còn có dân trí thấp, việc nhận biết những việc làm trái pháp luật còn hạn chế, do đó, lượng tội phạm
là người DTTS thường xuyên ở mức cao Mặt khác, người DTTS lại dễ bị