LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được luận văn ―Quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh‖ Khảo sát trên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
(Khảo sát trên dữ liệu năm 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
(Khảo sát trên dữ liệu năm 2019)
Chuyên ngành : Quản lý Báo chí Truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ NHÃ
HÀ NỘI – 2020
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Nguyễn Văn Dững
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn ―Quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh‖ (Khảo sát trên dữ liệu năm 2019), tác giả xin
trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo là giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là những thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy trong quá trình tác giả luận văn theo học tại lớp cao học Quản lý Báo chí Truyền thông K24.1-B Các thầy, cô giáo đã truyền đạt tri thức, kinh nghiệm và hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Trân trọng cảm ơn TS Lê Thị Nhã đã nhiệt tình truyền dạy kinh nghiệm, định hướng và chỉ bảo tận tình để tác giả hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương liên quan, đặc biệt là Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh đã giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu khoa học đầu tiên của tác giả Mặc dù đã cố gắng, song do trình độ và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết
Tác giả mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, nhà khoa học, chuyên môn để luận văn này có thể hoàn chỉnh hơn và đó cũng là kinh nghiệm để tác giả có thể triển khai những công trình nghiên cứu sau này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình do tác giả tự nghiên cứu Luận văn được hoàn thành dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của Tiến sĩ Lê Thị Nhã (Học viện Báo chí và Tuyên truyền); các số liệu trong luận văn là hoàn toàn khoa học, có
cơ sở rõ ràng và trung thực; kết luận của luận văn chưa từng
được công bố trong các công trình khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN QUẢNG BÁ DU LỊCH QUẢNG NINH TRÊN SẢN PHẨM BÁO CHÍ TIẾNG TRUNG QUỐC 17
1.1 Cơ sở lý luận 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 32
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG TIN QUẢNG BÁ DU LỊCH QUẢNG NINH TRÊN SẢN PHẨM BÁO CHÍ TIẾNG TRUNG QUỐC CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH 36
2.1 Giới thiệu sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc thuộc diện khảo sát 36
2.2 Quản lý về tần suất, mức độ thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh 39
2.3.Quản lý nội dung thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh 42 2.4.Quản lý hình thức thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc 56
2.5 Quản lý quy trình sản xuất 62
2.6 Đánh giá chung 66
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ THÔNG TIN QUẢNG BÁ DU LỊCH QUẢNG NINH TRÊN SẢN PHẨM BÁO CHÍ TIẾNG TRUNG QUỐC CỦA TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG TỈNH QUẢNG NINH 80
3.1.Những vấn đề đặt ra đối với quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh 80
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh thời gian tới 83
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 105
TÓM TẮT LUẬN VĂN 131
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ tin, bài về quảng bá du lịch Quảng Ninh so với các nội
dung khác trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc 40 Biểu đồ 2.2 Thống kê số lượng tin quảng bá du lịch Quảng Ninh theo nội
dung trên Bản tin TH tiếng Trung Quốc, Chuyên trang điện tử tiếng Trung Quốc, Đặc san Hoa Sen (từ tháng 1/2019 đến 12/2019) 42
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình ảnh 2.1.Nhu cầu của công chúng đối với thông tin quảng bá du lịch
Quảng Ninh 67 Hình ảnh 2.2.Đánh giá chất lượng thông tin du lịch Quảng Ninh trên sản
phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của TTTT Quảng Ninh 68 Hình ảnh 2.3.Đánh giá của công chúng về hình thức sản phẩm báo chí tiếng
Trung Quốc 69 Hình ảnh 2.4.Đánh giá của độc giả về ngôn ngữ thông tin du lịch Quảng Ninh
trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc 74
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TH Truyền hình PTV Phát thanh viên BDV Biên dịch viên PTTH Phát thanh Truyền hình UBND Ủy ban Nhân dân TTĐN Thông tin đối ngoại TTQT Truyền thông quốc tế
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của du lịch Việt Nam, du lịch Quảng Ninh đã và đang đóng một vai trò khá quan trọng trong ngành du lịch vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng du lịch Bắc Bộ, không chỉ thu hút được lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước mà còn mang lại một nguồn thu tương đối lớn Do đó, sự phát triển của du lịch tỉnh Quảng Ninh đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam nói chung và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng
Trong tất cả các yếu tố tạo nên sự phát triển của du lịch Quảng Ninh, không thể không nhắc đến vai trò của báo chí trong tuyên truyền, quảng bá, góp phần thu hút đầu tư phát triển dịch vụ, du lịch Đặc biệt, trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, những thông tin quan trọng về du lịch đăng tải trên các phương tiện truyền thông được xem như một kênh chính thức để người dân, du khách tham khảo, có thêm lựa chọn để trải nghiệm Các doanh nghiệp du lịch cũng dựa vào kênh thông tin báo chí để quảng bá, tuyên truyền các chính sách, hoạt động du lịch hay cơ hội đầu tư, khai thác thị trường du lịch
Trong thị trường du lịch Quảng Ninh, thị trường khách nói tiếng Hoa luôn là thị trường rất quan trọng Năm 2018, trong số 5,5 triệu khách quốc tế đến Quảng Ninh có tới 35% là khách đến từ thị trường các nước nói tiếng Hoa Thống kê của Sở Du lịch tỉnh cho thấy, 6 tháng đầu năm 2019, tổng số khách quốc tế đến Quảng Ninh ước đạt 3,5 triệu khách, trong đó có tới hơn 70% đến
từ thị trường các nước nói tiếng Hoa Do đó, việc đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch Quảng Ninh, trong đó có đẩy mạnh thông tin tuyên truyền du lịch bằng tiếng Trung Quốc trên báo chí là một cách làm hiệu quả
để có thể quảng bá du lịch đến thị trường tiềm năng này, thu hút ngày càng nhiều du khách thị trường Hoa ngữ và quốc tế đến với Quảng Ninh
Trang 10Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung, của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, đặc biệt là công tác thông tin đối ngoại có tác động rất lớn đến việc quảng bá du lịch Quảng Ninh, thu hút khách du lịch quốc tế, những năm qua, báo chí Quảng Ninh đã rất chú trọng sản xuất các chương trình thông tin quảng bá du lịch bằng tiếng nước ngoài để đưa hình ảnh du lịch của Quảng Ninh đến với bạn bè quốc tế, trong đó có mảng thông tin du lịch bằng Tiếng Trung Quốc Trước đây, các cơ quan báo chí cấp tỉnh của Quảng Ninh gồm có: Đài PT-TH Quảng Ninh, Báo Quảng Ninh, Báo Hạ Long trực thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, Cổng thông tin điện tử tỉnh Thực hiện quyết định số 1276-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, từ ngày 1/1/2019, các cơ quan này
đã sát nhập thành Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh, trực thuộc Tỉnh
ủy Quảng Ninh Hiện nay, thông tin đối ngoại tiếng nước ngoài nói chung, thông tin quáng bá du lịch bằng tiếng Trung Quốc nói riêng trên báo chí Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh được thực hiện trên một số loại hình báo chí là truyền hình, báo mạng điện tử, báo in (ấn phẩm đặc san), vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị tỉnh giao Thời gian qua, trong xu thế phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ cũng như xu thế vận động của báo chí, Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh đã và đang nỗ lực không ngừng để đổi mới, nâng cao chất lượng các sản phẩm báo chí tiếng nước ngoài nói chung và sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc nói riêng Tuy nhiên, thực tế cho thấy, so với yêu cầu thực tiễn ngày càng phong phú, đa dạng và nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng, đặc biệt là nhóm công chúng mục tiêu của thông tin du lịch bằng tiếng Trung Quốc (người Việt Nam biết tiếng Trung sinh sống và làm việc tại Việt Nam, người Việt Nam và những người biết tiếng Trung Quốc trên toàn thế giới) thì chất lượng thông tin quảng bá du lịch bằng tiếng Trung Quốc trên các sản phẩm báo chí của Trung tâm vẫn còn nhiều hạn chế cả về nội dung
Trang 11lẫn hình thức, trong khi công tác quản lý thông tin này có nhiều đặc thù riêng
và đặt ra nhiều vấn đề đối với người làm công tác quản lý
Từ những lý do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh” nhằm khái quát thực trạng quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí
tiếng Trung Quốc của Trung tâm, từ đó đánh giá những thành công, hạn chế trong công tác quản lý và đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng công tác quản lý thông tin quảng bá du lịch trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Mặt khác, hiện nay, với vị trí Biên dịch viên Tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh, tôi được phân công trực tiếp tham gia sản xuất các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc Việc nghiên cứu đề tài này rất có ý nghĩa cho cho bản thân với mong muốn đóng góp kiến thức, kinh nghiệm sau quá trình học tập cao học ở chuyên ngành Quản lý Báo chí Truyền thông của Học viện Báo chí và Tuyên truyền để nâng cao chất lượng các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc mà cơ quan và cá nhân tôi đang thực hiện
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong quá trình khảo sát, tìm hiểu tài liệu để nghiên cứu về đề tài, việc nghiên cứu công tác quản lý thông tin báo chí thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên và sinh viên Tuy nhiên chưa thấy
có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu riêng, cụ thể về quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc Mặc dù vậy, cũng có một số công trình nghiên cứu khoa học như sách, luận văn, giáo trình, bài giảng liên quan gần với đề tài, có thể tham khảo, xin tóm lược như sau:
+Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về báo chí, truyền thông:
Cuốn sách Truyền thông đại chúng – Những kiến thức cơ bản, Nxb Thông tấn, là cuốn sách được chọn dịch và biên soạn lại từ cuốn ―ABC báo
chí‖ của tác giả người Đức - Claudia Mast (2004) Mặc dù đây là tài liệu đã
Trang 12được xuất bản từ năm 2004 nhưng vẫn mang ý nghĩa thực tiễn với công tác truyền thông đại chúng Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề hết sức
cơ bản đối với người làm công tác truyền thông đại chúng, trong đó có những nội dung liên quan đến luận văn này như những khái niệm về thông tin, các tiêu chí chọn thông tin, các phương tiện thông tin, hoạt động thông tin, đối tượng thông tin…
Tác giả Đinh Thị Thúy Hằng (2008) với kinh nghiệm nghiên cứu chuyên sâu về các lý luận phát triển và thực hành của báo chí thế giới đã xuất bản
cuốn sách Báo chí thế giới - xu hướng phát triển Nội dung cuốn sách nhằm giới thiệu những lý luận, khái niệm, phạm trù và hoạt động báo chí thế giới
đang được phổ biến tại các trường đại học trên thế giới và trong giới nghiên cứu báo chí để từ đó đưa ra xu hướng báo chí ở Việt Nam Theo tác giả, xu hướng phát triển mạnh mẽ của báo chí thế giới hiện nay là kết hợp nhiều loại hình báo chí, đó chính là sự hội tụ truyền thông và các cơ quan báo chí của Việt Nam sẽ theo huớng đa phương tiện
Lao động nhà báo là hoạt động đặc biệt mang tính chất chính trị, khoa học và nghệ thuật Do vậy, yêu cầu nhà báo phải có tri thức nhất định về nghề
nghiệp, có phương pháp lao động chuyên nghiệp Cuốn sách Lao động nhà
báo – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản của tác giả Lê Thị Nhã (2011) với những
đúc rút nền tảng, có hệ thống về lao động báo chí Cuốn sách cung cấp cho
người đọc những tri thức lý luận về nghề báo như: đặc thù nghề nghiệp; cơ cấu tổ chức của tòa soạn; vai trò, nhiệm vụ của Ban Biên tập, Ban Thư ký; phẩm chất, năng lực của nhà báo, phóng viên trong lao động và sáng tạo tác phẩm Bên cạnh những vấn đề lý luận được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, cuốn sách còn giới thiệu những kỹ năng cơ bản về phương pháp thu thập thông tin,
tư liệu và quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả Nguyễn Văn Dững (2012) với giáo trình Cơ sở lý luận báo chí
góp phần cung cấp cơ sở lý luận – thực tiễn báo chí – truyền thông hiện đại, nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận và ý thức tự giác về hoạt động nghề nghiệp báo chí Nội dung cuốn sách chủ yếu cung cấp những kiến thức cơ
Trang 13bản và hệ thống về hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, những về khái niệm và đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và
cơ chế tác động của báo chí, về các chức năng và nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, về các chức năng và nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, về chủ thể hoạt động báo chí, vấn đề tự do báo chí
Một cuốn sách khác do tác giả Nguyễn Văn Dững (2017) chủ biên là Báo
chí truyền thông – Những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 3) Cuốn sách tập hợp
các bài viết nghiên cứu lý luận chung và kinh nghiệm, thực tiễn về báo chí
truyền thông của những nhà nghiên cứu và nhà báo đang hoạt động báo chí ở Việt Nam và trên thế giới Trong cuốn sách này, tác giả Hà Huy Phượng có
bài viết “Các yếu tố hình thức của tác phẩm báo chí đa phương tiện”, đề cập
đến một số kỹ năng thể hiện các yếu tố cầu thành hình thức tác phẩm báo chí
đã phương tiện, gồm: các yếu tố văn bản và các yếu tố hình ảnh, âm thanh, tương tác Đây là một trong những kỹ năng tác nghiệp cụ thể của nhà báo khi sáng tạo sản phẩm báo chí trong môi trường truyền thông số, tích hợp đa phương tiện hiện nay
Đề cập đến vấn đề công nghệ số và mạng Internet đã khiến ―môi trường sinh thái‖ của các phương tiện truyền thông truyền thống thay đổi mạnh mẽ
và hội tụ truyền thông đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của báo chí,
truyền thông hiện đại, tác giả Nguyễn Thành Lợi đã có bài viết ―Một số vấn
đề đặt ra đối với báo chí trong môi trường hội tụ truyền thông‖ (2016) đăng
trên tạp chí Người làm báo (tháng 7/2016) Trong bài viết, tác giả đã nêu hàn
ý của hội tụ truyền thông, mô hình lý thuyết của hội tụ truyền thông, hội tụ kỹ thuật và hội tụ kinh tế Đây là những vấn đề có tác động to lớn đối với báo chí Việt Nam nói chung, Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh nói riêng, khiến công tác quản lý báo chí sẽ có nhiều thay đổi Nổi bật là khả năng tiếp cận thông tin của công chúng trở nên phong phú và đa dạng, MXH ra đời khiến con người dễ dàng tạo ra sự liên kết rộng rãi trên toàn cầu Các cơ quan báo chí truyền thông cần nắm bắt được xu thế này để không bỏ qua việc tiếp cận đối tượng công chúng của mình
Trang 14+ Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về khoa học quản lý và quản
lý báo chí truyền thông:
Cuốn Khoa học quản lý, tác giả Lê Văn Phùng (chủ biên) cung cấp
những nội dung và các khái niệm khoa học quản lý, vai trò, đặc điểm, nguyên tắc, phương pháp quản lý, các hoạt động quản lý…
Sách Quản lý Nhà nước về thông tin và truyền thông của tác giả Lê Minh
Toàn (Nxb Chính trị Quốc gia, 2009) đã khái quát chung về lịch sử phát triển ngành thông tin và truyền thông, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức
bộ máy của cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông, tác giả đã phân tích sâu về nội dung công tác quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông Cuốn sách này là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông đến các đối tượng là cán bộ quản lý, viên chức ngành văn hóa, thông tin và truyền thông của các tỉnh, thành phố trên cả nước, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền thông trong cả nước
Cuốn sách Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện
nay của tác giả Hoàng Quốc Bảo (Chủ biên) (Nxb Chính trị - Hành chính,
2010) Nội dung cuốn sách gồm 3 chương, ngoài những tri thức về lãnh đạo, quản lý báo chí thì tác giả nêu bật sự cần thiết khách quan phải lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay, ngoài ra còn đề cập đến vấn đề quản lý thông tin trong hoạt động báo chí (tr.82), những vấn đề đặt
ra đối với quản lý nội dung của báo chí (tr.139) Ngoài ra, cuốn giáo trình
―Lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí và xuất bản‖ năm 2014 của tác giả
đã nêu rõ nội dung sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí, thực trạng lãnh đạo, quan lý hoạt động báo chí, xuất bản ở nước ta trong thời kỳ đổi mới và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí, xuất bản ở nước ta hiện nay Đây là những vấn đề lý luận chung về quản lý báo chí rất cần thiết để củng cố lý luận cho luận văn của tác giả
Trang 15Sách Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam của tác giả Đỗ
Quý Doãn (2014) đã tập hợp một số bài viết, bài phát biểu trong quá trình công tác của tác giả, tập trung làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí ở Việt Nam; đồng thời đưa ra những giải pháp cơ bản tạo điều kiện để thông tin báo chí Việt Nam phát triển nhưng vẫn đảm bảo quản lý tốt
Cuốn sách ―Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại‖
của tác giả Nguyễn Thành Lợi (2014) đã giới thiệu những nét khái quát nhất
về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm – nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với ―nhà báo đa năng‖ trong môi trường truyền thông hội tụ Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, đồng thời làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng
đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại
Giáo trình Lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí của tác giả Trương Thị
Kiên (2014) phân tích vai trò của báo chí và tính tất yếu khách quan của việc lãnh đạo, quản lý báo chí; quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về hoạt động báo chí; nội dung và phương thức lãnh đạo và quản lý báo chí
Tác giả Đỗ Thị Thu Hằng (2018), trong bài báo khoa học Cách mạng
công nghiệp 4.0: Vấn đề đặt ra và giải pháp đối với công tác quản lý truyền thông ở Việt Nam hiện nay đã đề xuất 4 giải pháp và kiến nghị về quản lý báo
chí – truyền thông ở các cơ quan báo chí trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó nhấn mạnh việc ―đổi mới quy trình tổ chức sản xuất, nội dung và phương pháp quản lý nội dung… ở các cơ quan báo chí‖, ―đồng bộ hóa cơ sở vật chất – kỹ thuật, công nghệ, quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí – truyền thông, mô hình tòa soạn hội tụ, quản trị kinh doanh, phát hành, công tác xã hội trong cơ quan báo chí‖
Trang 16Cuốn sách ―Báo chí truyền thông – Những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 4)
do PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng (2019) chủ biên tập hợp các bài viết nghiên
cứu lý luận chung và kinh nghiệm, thực tiễn về công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí, về nội dung và phương thức lãnh đạo, quản lý báo chí truyền thông đương đại, về thực tiễn tác nghiệp báo chí của những nhà nghiên cứu và nhà báo đang hoạt động báo chí ở Việt Nam và trên thế giới Nghiên cứu cơ hội, thách thức, nội dung, phương thức lãnh đạo, quản lý báo chí truyền thông đương đại tác giả Đỗ Thị Thu Hằng, cuốn sách giới thiệu các bài viết tiêu
biểu: Giải pháp phát huy vai trò của báo chí – truyền thông đối với công tác
lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong thời kỳ mới của PGS,TS Lưu Văn An; Công tác quản lý báo chí truyền thông trong bối cảnh xã hội thông tin ở Việt Nam hiện nay của PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng; Lãnh đạo, quản lý báo chí truyền thông thời đại cách mạng 4.0 của PGS,TS Hà Huy Phượng
+ Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về thông tin đối ngoại trên báo chí
Về lý luận về thông tin đối ngoại và quản lý thông tin đối ngoại trên báo chí cũng đã có khá nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu ở nhiều cấp độ, có thể dẫn ra đây một số công trình nghiên cứu như:
Tác giả Dương Văn Quảng (2002) đã bàn đến những vấn đề trực tiếp về vai trò của báo chí đối với công tác ngoại giao và đề cập đến mối quan hệ giữa báo chí và ngoại giao và công tác thông tin đối ngoại của nước ta hiện
nay trong cuốn sách Báo chí và ngoại giao Bên cạnh đó, cuốn sách Truyền
thông và thông tin đối ngoại cũng của tác giả (2015) đã giúp người đọc phân
biệt các khái niệm thông tin, thông tin đối ngoại, hiểu được quá trình ra đời và
phát triển của công luận (dư luận), vai trò của công luận trong quan hệ quốc tế
và vai trò của ngoại giao công chúng trong thời đại thông tin kỹ thuật số Đặc biệt chương 4, tác giả đã tiếp cận các nội dung cụ thể của thông tin đối ngoại Việt Nam và báo chí nuớc ngoài ở Việt Nam
T rong cuốn Truyền thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại
của Việt Nam hiện nay của nhóm tác giả Phạm Minh Sơn và Nguyễn Thị Quế
Trang 17đã ra mắt độc giả năm 2009, các tác giả tập trung làm rõ thực trạng hoạt động truyền thông đại chúng trong công tác TTĐN hiện nay, đề xuất các biện pháp đẩy mạnh hoạt động và nâng cao hiệu quả thiết thực của truyền thông đại chúng trong công tác TTĐN, trong bối cảnh đất nước ta đang chủ động và tích cực hội nhập với khu vực và thế giới
Cuốn sách Thông tin đối ngoại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn được xuất bản năm 2011 do tác giả Phạm Minh Sơn (2011) chủ biên gồm
có 8 chương Đây có thể coi là công trình đầu tiên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thông tin đối ngoại một cách đầy đủ nhất Cuốn sách đã phân tích được những đặc điểm cơ bản về thông tin đối ngoại và công tác thông tin đối ngoại với các nhóm công chúng khác nhau như nhân dân, chính phủ các nước trên thế giới, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài ở Việt Nam Đồng thời cũng làm rõ những ưu điểm và hạn chế của các loại hình
truyền thông đại chúng trong hoạt động thông tin đối ngoại
Cuốn sách “Báo chí và thông tin đối ngoại” (2012) của tác giả Lê Thanh
Bình chủ biên Đây là sách chuyên khảo dành cho học viên, nhà quản lý về báo chí, quan hệ quốc tế, PR, chính trị… thông qua khảo sát báo Thế giới & Việt Nam của Bộ ngoại giao Việt Nam Các tác giả trình bày lý luận chung về lĩnh vực truyền thông đại chúng và thông tin đối ngoại, trong đó nêu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về thông tin đối ngoại, nêu bật vai trò của thông tin đối ngoại, thực trạng công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới Theo các tác giả, thông tin đối ngoại có vai trò: góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế, quảng bá hình ảnh, tiềm năng kinh tế của đất nước và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy hợp tác, mở rộng thị trường và giảm tranh chấp thương mại, góp phần vận động người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp, xây dựng đất nước, hỗ trợ lực lượng làm ngoại giao kinh tế thực hiện nhiệm vụ
Thông tin đối ngoại bằng tiếng nước ngoài là một trong những nội dung
cơ bản của hoạt động truyền thông quốc tế Việc nghiên cứu toàn diện và tổng
Trang 18thể về truyền thông quốc tế sẽ giúp công tác thông tin đối ngoại bằng tiếng nước ngoài ngày càng phát triển nhanh chóng và vững chắc, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ đất nước trong giai đoạn mới Cuốn sách ―Tổng quan truyền thông
quốc tế - Dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại‖ (2012) là giáo
trình đầu tiên về TTQT, do PGS.TS Lê Thanh Bình - Trưởng Khoa Truyền thông và Văn hóa đối ngoại - Học viện Ngoại giao làm chủ biên Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản, gợi mở những ý tưởng mới về lý luận, thực tiễn cho các nhà nghiên cứu, các nhà báo, nhà hoạch định chính sách, cán bộ làm công tác truyền thông đối ngoại, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả, hiệu lực của TTQT đối với công chúng và xã hôi, xây dựng hệ thống tiệu chuẩn đối với nhà TTQT ―Tổng quan truyền thông quốc tế - Dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại‖ trở thành cẩm nang cho những người làm công tác truyền thông quốc tế, nhà báo quốc tế nói chung và công tác thông tin đối ngoại nói riêng
Năm 2010, Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương có đề tài
“Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong một số cơ quan thông tấn báo chí chủ lực ở nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp”
do tác giả Phạm Văn Linh – Ban Tuyên giáo Trung ương (2010) làm chủ nhiệm Đề tài đã đi sâu làm rõ cơ sở lý luận về vị trí, vai trò, các tiêu chí đánh giá hiệu quả của các cơ quan thông tấn, báo chí chủ lực trong hoạt động TTĐN, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động TTĐN của các cơ quan thông tấn, báo chí chủ lực, làm rõ thực trạng những vấn đề đặt ra trong hoạt động TTĐN của các cơ quan đó thời gian qua Trên cơ sở đó, đề tài đã nêu những yêu cầu mới là cơ sở để xác định phương hướng cơ bản và các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động TTĐN của các cơ quan thông tấn, báo chí chủ lực trong thời gian qua
Đề tài khoa học cấp cơ sở ―Lao động nhà báo trong hoạt động thông tin
đối ngoại‖ của TS.Nguyễn Ngọc Oanh (2014) đã nêu lên những hạn chế của
công tác thông tin đối ngoại trên báo chí trong cách thức thể hiện thông tin
Trang 19đối ngoại cũng như nội dung thông tin đối ngoại, từ đó đưa ra những khuyến nghị để thông tin đối ngoại đạt hiệu quả
Mỗi năm ngành truyền thông quốc tế và báo chí đối ngoại cần một lực lượng lớn những người có hiểu biết chuyên môn và năng lực làm nhiệm vụ về truyền thông quốc tế Trong kỷ yếu Hội thảo Quốc gia (2015) với chủ đề: "90 năm báo chí cách mạng Việt Nam: Truyền thống, bản lĩnh và trách nhiệm" do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 18/6/2015 tại Hà Nội, TS.Nguyễn Ngọc
Oanh có bài viết “Đào tạo nguồn nhân lực cho báo chí, truyền thông quốc tế
ở Việt Nam hiện nay” Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, bài viết này đề
cập vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho truyền thông quốc tế ở Việt Nam,
những thách thức mới cho các cơ sở đào tạo trong nước
―Chiến lược phát triển Thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 – 2020‖, đây
là đề án do Bộ Chính trị (Khóa X) giao Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan chủ lực về thông tin đối ngoại xây dựng, nêu rõ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu, tổ chức thực hiện công tác TTĐN, trở thành căn cứ quan trọng để triển khai công tác TTĐN trong toàn hệ thống chính trị
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu về chất lượng, quy trình tổ chức sản xuất thông tin đối ngoại, ví dụ như các luận văn thạc sĩ sau đây:
Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Trường Giang (2014) ―Tổ chức sản xuất
sản phẩm báo chí đối ngoại của Đài PTTH Quảng Ninh nhìn từ góc độ báo chí đa phương tiện‖ Luận văn đưa ra những vấn đề cơ bản nhất về hoạt động
tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí, sản phẩm báo chí đa phương tiện trong các cơ quan báo chí Đánh giá đúng thực trạng tổ chức sản xuất các sản phẩm báo chí đối ngoại của Đài PT-TH Quảng Ninh nhìn từ góc độ báo chí đa phương tiện trên cơ sở khảo sát các sản phẩm báo chí đối ngoại với Trung Quốc (bao gồm các tác phẩm truyền hình, phát thanh, báo điện tử, báo in) trong thời gian qua Xác định những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất
Trang 20lượng tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại với Trung Quốc trên các kênh truyền thông của Đài PT-TH Quảng Ninh trong thời gian tới
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh (2016) ―Chất lượng
bản tin truyền hình tiếng nước ngoài của Đài PT – TH Quảng Ninh‖ Luận văn
phân tích thực trạng chất lượng các chương trình bản tin truyền hình tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp của Đài PT-TH Quảng Ninh, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình này
Luận văn thạc sĩ Tổ chức thông tin đối ngoại trên các báo mạng điện tử của
Thông tấn xã Việt Nam của tác giả Lê Thị Thanh Huyền (2013), luận văn thạc sĩ:
Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn những vấn đề chủ yếu liên quan đến TTĐN và TTĐN trên báo điện tử, đề tài sẽ phân tích và làm rõ thực trạng tổ chức TTĐN trên các báo điện tử của TTXVN, đưa ra các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin trong thời gian tới
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền (2018) ―Quy trình
sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay‖ Trên cơ sở làm rõ
lý luận và thực tiễn những vấn đề chủ yếu liên quan đến TTĐN và TTĐN trên báo điện tử, đề tài sẽ phân tích và làm rõ thực trạng tổ chức TTĐN trên các báo điện tử của TTXVN, đưa ra các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin trong thời gian tới
+ Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về quản lý thông tin du lịch trên báo chí:
Các công trình nghiên cứu hiện nay chưa có đề tài nào tiếp cận dưới góc
độ báo chí về công tác thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng nước ngoài, tuy nhiên có một số đề tài liên quan đến quản lý thông tin và quảng bá du lịch trên báo chí có thể tham khảo như sau:
Luận văn thạc sĩ ―Báo chí Hưng Yên tuyên truyền, quảng bá du lịch của
tỉnh hiện nay‖ của tác giả Phạm Văn Giỏi (2014) nghiên cứu, hệ thống hóa
những cơ sở lý luận và thực tiễn báo chí, truyền thông về hoạt động du lịch nói chung, du lịch ở Hưng Yên nói riêng để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá - Nghiên cứu, khảo sát thực trạng nội dung và
Trang 21hình thức công tác tuyên truyền, quảng bá, phát triển du lịch trên báo chí Hưng Yên Phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế trong công tác này
và nguyên nhân của những thành công, hạn chế đó - Đề xuất một số giải pháp
có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, quảng bá phát triển du lịch trên báo chí Hưng Yên
Luận văn thạc sĩ Tổ chức thông tin tuyên truyền phát triển du lịch trên
báo chí Ninh Bình của tác giả Trần Thị Thảo (2011) Trên cơ sở nghiên cứu,
đánh giá đúng những ưu điểm và hạn chế của việc tổ chức thông tin tuyên truyền trên báo chí tỉnh Ninh Bình cùng với những nguyên nhân của thành công và hạn chế, luận văn đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tổ chức thông tin tuyên truyền phát triển du lịch trên báo chí Ninh Bình, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời kỳ hội nhập kinh tế
Ngoài ra tác giả luận văn cũng tham khảo một số công trình nghiên cứu
liên quan đến lĩnh vực quản lý thông tin như luận văn thạc sĩ Quản lý thông
tin khoa học công nghệ trên truyền hình của tác giả Nguyễn Kim Bách (2019),
luận văn thạc sĩ Quản lý thông tin báo chí về chủ quyền biển đảo Việt Nam
của tác giả Lê Thị Minh Lệ (2019)
Những tài liệu, công trình nghiên cứu trên có vai trò rất quan trọng, giúp tác giả có thêm những kiến thức về quản lý thông tin trên sản phẩm báo chí tiếng nước ngoài trong quá trình làm luận văn, đồng thời thấy rõ được thực trạng nghiên cứu khoa học về đề tài này Theo quan sát của tác giả, cho đến nay chưa có những công trình nghiên cứu nào của Việt Nam có tính chất chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn về quản lý thông tin quảng bá du lịch trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh Vì vậy, việc nghiên cứu quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh hiện nay là một vấn đề còn mới, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trước đây
Trang 223 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn trên cơ sở hệ thống hóa vấn đề lý luận liên quan, bước đầu hình thành khung lý thuyết cho vấn đề nghuên cứu, thông qua việc khảo sát, phân tích thực trạng quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh, đánh giá ưu điểm và hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên và nâng cao hiệu quả khóa luận, đề tài
đi vào giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận – thực tiễn cơ bản liên quan đến quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc, vai trò của công tác quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
- Hai là, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, những thành công và hạn chế công tác quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
- Ba là, đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề quản lý thông tin báo chí quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Trang 234.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu bản tin thời sự
truyền hình tiếng Trung Quốc, chuyên trang điện tử tiếng Trung Quốc, Đặc san Hoa Sen của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Phạm vi thời gian: Từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở quán triệt các văn kiện của Đảng Cộn sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội gần đây, các chủ trương của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hoạt động thông tin đối ngoại nói chung, thông tin đối ngoại bằng tiếng Trung Quốc nói riêng, và
hệ thống lý luận về báo chí, quản lý nói chung, quản lý thông tin báo chí bằng tiếng Trung Quốc nói riêng
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiếp cận các giáo trình, tài liệu để đúc kết ra những vấn đề cơ bản về lý luận cũng như thực tiễn báo chí – truyền thông, nắm được các phương pháp nghiên cứu đã thực hiện trước đây
- Phương pháp phân tích nội dung: Thông qua phân tích các thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh, từ đó cho thấy thực trạng công tác quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm, chỉ ra được những ưu, nhược điểm, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý
- Phương pháp phỏng vấn anket: Khảo sát công chúng là người Trung Quốc tại Quảng Ninh, người Việt Nam biết tiếng Trung Quốc tại Quảng Ninh bằng hình thức gửi phiếu qua mạng và trực tiếp, số lượng 200 phiếu
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu với 04 đối tượng là Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Thị Thiện, Phó Trưởng Phòng Quốc tế Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Trang 24Vũ Thị Minh Thảo, Chuyên gia hiệu đính tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Đại Cồ Việt và Biên dịch viên Tiếng Trung Quốc Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Minh Tiến Phương pháp này nhằm thu thập những đánh giá khách quan về thực trạng vấn
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến thông tin đối ngoại tiếng nước ngoài nói chung và thông tin quảng bá du lịch bằng tiếng Trung Quốc nói riêng
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp kết quả khảo sát, đánh giá, giải pháp cụ thể để các cấp lãnh đạo quản lý có chủ trương, chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu báo chí nói chung, nhất là đối với báo chí Quảng Ninh Đồng thời, luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ công tác tổ chức, quản lý tại các cơ quan báo chí, hoặc phục vụ công tác giảng dạy
7.Kết cấu của luận văn
Trong luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính, luận văn bao gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 25Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN QUẢNG BÁ DU LỊCH QUẢNG NINH
TRÊN SẢN PHẨM BÁO CHÍ TIẾNG TRUNG QUỐC
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Báo chí và sản phẩm báo chí
Báo chí
Theo cách gọi truyền thống, báo chí xuất phát từ hai từ chữ Hán là
―báo‖ (thông báo) và ―chí‖ (giấy), đầu tiên dùng để chỉ báo in Theo từ điển
tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), báo chí là “báo và tạp chí xuất bản định kỳ;
xuất bản phẩm định kỳ”[48]
Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Do đó trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng trước hết phải nói đến báo chí
Theo điều 3 Luật Báo chí năm 2016, ― Báo chí là sản phẩm thông tin về
các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.‖
Theo cuốn ―Cơ sở lý luận báo chí‖ của tác giả Nguyễn Văn Dững, ở góc tiếp cận từ lý thuyết, báo chí được coi là: “Những tư liệu sinh hoạt tinh
thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định
kỳ, đều đặn” [16, tr.54]
Tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn ―Xã hội học truyền thông đại
chúng‖ của NXB Trẻ đã khẳng định: ―Báo chí truyền thông là một quá trình
Trang 26truyền đạt; tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người‖ Theo đó, tác giả định nghĩa, ―truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình‖ [50, tr.3]
Tóm lại, báo chí là một phương tiện truyền thông đại chúng, có nhiệm
vụ thông tin nhanh nhất những vấn đề về sự kiện thời sự đã, đang và sẽ diễn
ra cho công chúng được biết, và báo chí còn là nơi thể hiện tiếng nói của nhân dân, là cầu nối của nhân dân với Đảng và Nhà nước
Sản phẩm báo chí
Theo Đại từ điển tiếng Việt, sản phẩm có nghĩa là ―cái do con người
lao động sáng tạo ra” Như vậy, nói đến sản phẩm tức là đề cập đến một vật,
một việc đã trải qua một quá trình biến đổi, vận động hoặc dao động nhất định để trở thành một thứ hoàn chỉnh
Trong lĩnh vực báo chí, người ta thường dùng khái niệm sản phẩm báo chí để chỉ những tác phẩm báo chí đã được hoàn thiện của các kênh truyền thông đại chúng, sau đó đưa đi in (đối với báo in), phát sóng (đối với phát thanh, truyền hình) và đưa lên mạng internet (báo điện tử)
Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: ―Sản phẩm báo chí là sản phẩm tổng hợp hoàn chỉnh (số báo, chương
trình phát thanh, truyền hình) để có thể phát hành, phát sóng (với báo in, phát thanh, truyền hình) Sản phẩm đơn lẻ chủ yếu do phóng viên, biên tập viên chịu trách nhiệm trước tổng biên tập; tổng biên tập chịu trách nhiệm trước pháp luật và dư luận xã hội (và người đứng đầu cơ quan chủ quản cơ quan báo chí) về sản phẩm tổng hợp – số báo, chương trình phát thanh, truyền hình [16, tr.63]
Trong giáo trình ―Lao động nhà báo – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản ‖
của TS Lê Thị Nhã, sản phẩm báo chí nói đến ở đây là tờ báo hoặc chương trình phát thanh, chương trình truyền hình [46, tr.129]
Trang 27Theo quan niệm của tác giả Tạ Ngọc Tấn: “Trong thông tin báo chí,
sản phẩm báo chí hoàn chỉnh (tờ báo, bản tin, chương trình phát thành, truyền hình) giữ vai trò phương tiện giao tiếp giữa chủ thể và khách thể thông tin.” [57, tr7]
Tóm lại, sản phẩm báo chí được hiểu là ấn phẩm, phụ trương của báo
in, nội dung hoàn chỉnh của báo điện tử, bản tin thông tấn, kênh phát thanh, truyền hình, chuyên trang của báo điện tử
Trong một sản phẩm báo chí có sự góp mặt của nhiều tác phẩm báo chí Mỗi tác phẩm báo chí ra đời là sự sáng tạo của nhà báo Tác phẩm báo chí là những tin, bài độc lập về chủ đề, có nội dung và hình thức phù hợp với chương trình, sản phẩm Sáng tạo tác phẩm báo chí là một phần trong quy trình sản xuất ra sản phẩm báo chí kể trên
Các loại sản phẩm báo chí hiện nay ngày càng đa dạng và phong phú Thực tế việc quản lý các sản phẩm báo chí hiện nay đang đặt ra yêu cầu phải được tiếp cận toàn diện, đầy đủ hơn về vấn đề này
Sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
*Khái niệm
Sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc là một trong những sản phẩm báo chí đối ngoại của nhiều cơ quan báo chí Việt Nam, trong đó có Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Theo tác giả, dựa theo nội dung và tầm ảnh hưởng, sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc có thể chia thành hai cấp độ sau:
- Cấp độ quốc tế: Nội dung cung cấp thông tin về tình hình Trung Quốc, các khu vực, các nước trên thế giới, dành cho đối tượng công chúng biết tiếng Trung trên toàn cầu
- Cấp độ địa phương: Nội dung chủ yếu là thông tin về một địa phương cụ thể, phục vụ nhu cầu thông tin của nhóm công chúng người Trung Quốc sống tại địa phương đó, hoặc hướng đến công chúng biết tiếng Trung Quốc tại Trung Quốc và các nước khác trên thế giới
Ở Việt Nam, sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc chủ yếu thuộc về nhóm cấp độ thứ hai trong hai nhóm nêu trên, được tác giả luận văn xác
Trang 28định: Là sản phẩm báo chí đối ngoại được thể hiện bằng ngôn ngữ tiếng Trung Quốc
Sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc cũng là một sản phẩm hoàn chỉnh được tạo nên bởi con người, thông qua các quy trình, dựa trên những yêu cầu
và điều kiện để tạo ra sản phẩm đó Sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc không nằm ngoài 4 loại hình cơ bản: báo in – ấn phẩm in, truyền hình, phát thanh, báo điện tử
*Đặc trưng về ngôn ngữ của sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
Tiếng Trung Quốc (中文 hay tiếng Hoa 华语/華語) là tên gọi chung của tiếng Phổ thông Trung Quốc Tiếng Trung Quốc lấy ngôn ngữ của người Hán – dân tộc đa số của Trung Quốc làm chuẩn, vì thế nó còn có tên gọi khác
là tiếng Hán hay Hán ngữ (汉语/漢語) Tiếng Trung Quốc được sử dụng nhiều nhất triên thế giới không chỉ bởi 1/5 dân số thế giới lấy tiếng Trung Quốc làm tiếng mẹ đẻ, ngoài ra, Tiếng Trung Quốc cũng là một trong sáu ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên Hợp Quốc Theo thống kê, có hơn 1 tỷ
600 triệu người sử dụng tiếng Hoa trong đó có khoảng 1 tỷ 400 triệu người ở đại lục Trung Quốc và 200 triệu người ở những nơi khác trên thế giới
Tiếng Trung Quốc có rất nhiều phương ngôn, như tiếng Choang, tiếng Mẫn Nam, tiếng Hakka, tiếng Quan thoại, tiếng Quảng Đông…Nhưng đa số người sử dụng tiếng Trung Quốc đều dùng tiếng Phổ thông để giao tiếp và truyền đạt thông tin Tiếng Phổ thông là ngôn ngữ thông dụng của Trung Quốc, là tiếng Hán tiêu chuẩn hiện đại, cách phát âm tiếng phổ thông lấy tiếng Bắc Kinh làm chuẩn
Tiếng Trung được tạo thành bởi chữ Hán Chữ Hán là hệ thống chữ tượng hình được tạo nên bởi các nét chữ Chữ Hán có hai loại là chữ Giản thể
và chữ phồn thể Chữ Phồn thể là loại chữ truyền thống, hiện đang được sử dụng phổ biến ở Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao Chữ Phồn thể khó viết và khó nhớ hơn do nhiều nét Sau Cách mạng văn hóa, Trung Quốc tiến hành cải cách chữ viết thành chữ Giản thể hiện nay Chữ Giản Thể là loại chữ hiện
Trang 29đang được sử dụng chính thức tại Trung Quốc đại lục, Singapore và là loại ký
tự được dùng nhiều nhất trong các tài liệu giảng dạy tiếng Phổ thông Trung Quốc cho người nước ngoài
Tại Việt Nam, tiếng Trung Quốc được sử dụng trong các sản phẩm báo chí là tiếng Phổ thông, chữ thể hiện là chữ Giản thể
Những năm gần đây, các kênh truyền thông bằng tiếng Trung Quốc của Việt Nam như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, ấn phẩm báo in tăng về mặt số lượng, đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều trang báo mạng điện
tử tiếng Trung Quốc mở ra những cách tiếp cận mới cho công chúng sử dụng tiếng Trung Quốc
1.1.1.2 Khái niệm “Du lịch” và “quảng bá du lịch”
Du lịch
Khái niệm ―du lịch‖ trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với nghĩa là đi một vòng Khái niệm này được Latin hóa thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh)…
Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán Du có
nghĩa là đi chơi và lịch có nghĩa là từng trải Tuy nhiên, người Trung Quốc dịch
tourism là ―lữ du‖ với ý nghĩa là đi lang thang, ngao du Theo từ điển Tiếng Việt,
―du lịch’ được giải thích là đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở
Năm 1944, Tổ chức du lịch thế giới đưa ra khái niệm: ―Du lịch’ là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức…
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: ―Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Trang 30Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của cong người ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật,…
Nghĩa thứ 2 (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiểu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), ―du lịch là đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình đang sống‖ [48]
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 của Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam (điều 4, chương 1), ―Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”
Theo Pháp lệnh du lịch (do Ủy ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam công bố ngày 8/2/1999): Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Khái niệm quảng bá và quảng bá du lịch
Theo Từ điển tiếng Việt, ―quảng bá là phổ biến rộng rãi bằng các
phương tiện thông tin‖ Quảng bá cũng được hiểu là “những hoạt động nhằm
Trang 31tạo ra hoặc thúc đẩy lợi ích, lợi nhuận cho một cá nhân, một sản phẩm, một
tổ chức” [48]
Một cách khái quát, quảng bá có thể hiểu là hoạt động truyền bá rộng rãi hình ảnh của một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia bằng các phương tiện truyền tải thông tin tới một đối tượng nào đó nhằm đạt được một mục đích cụ thể mà chủ thể quảng bá mong muốn
Hoạt động quảng bá là cách thức của một doanh nghiệp, một địa phương, một vùng, miền hay ngành kinh tế, một quốc gia nhằm tạo ra và duy trì một hình ảnh sản phẩm trước công chúng, có lợi cho việc kinh doanh trên thị trường
Quảng bá du lịch chính là hoạt động truyền bá rộng rãi hình ảnh của đất nước, điểm đến, sản phẩm và dịch vụ du lịch bằng các phương tiện thông tin
để thúc đẩy và phát triển ngành du lịch của đất nước
Trong các kênh quảng bá du lịch thì báo chí có vai trò vô cùng quan trọng Báo chí trong những năm vừa qua thực sự là cầu nối thông tin giữa du khách và doanh nghiệp kinh doanh du lịch, hỗ trợ các doanh nghiệp thúc đẩy quá trình quảng bá và xúc tiến du lịch Báo chí đã góp phần định hướng, nâng cao nhận thức của cộng đồng về du lịch, bao gồm nhận thức của nhân dân, doanh nghiệp và nhận thức của cơ quan quản lý, chính quyền các cấp Thông qua báo chí, các chủ trương chính sách phát triển du lịch, những mô hình, kinh nghiệm phát triển du lịch tốt và cả những mặt chưa tốt, được tuyên truyền công khai rộng rãi, từ đó góp phần điều chỉnh hành vi của cộng đồng đối với hoạt động du lịch Báo chí còn là một kênh thông tin quan trọng và hữu hiệu để quảng bá hình ảnh điểm đến, sản phẩm và dịch vụ du lịch Đồng thời, cũng đã kịp thời phát hiện những cái mới, góp phần quan trọng đối với công tác quản lý, xây dựng môi trường du lịch lành mạnh, văn minh Mặt khác, những tồn tại, hạn chế của ngành Du lịch, như tình trạng chèo kéo, ép khách, tình trạng mất vệ sinh môi trường… cũng được báo chí phản ánh kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng để các cơ quan chức năng có
Trang 32những biện pháp chấn chỉnh, khắc phục, xây dựng điểm đến du lịch hoàn thiện, lịch sự, văn minh, có sức cuốn hút du khách hơn
1.1.1.3 Khái niệm Quản lý và Quản lý thông tin
Quản lý
Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý Khái niệm ―quản lý‖ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học, với tầm quan trọng như vậy nên đã hình thành nên cả một ngành khoa học – Khoa học quản lý Do vậy, có nhiều cách định nghĩa về ―quản lý‖ Các nhà nghiên cứu định nghĩa ―quản lý‖ theo nhiều góc độ tiếp cận khác nhau
Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn ―Quản lý nguồn nhân lực‖
khi đề cập đến vai trò của quản lý trong xã hội cho rằng: ―Quản lý là một quá
trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người vị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của các nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [69, tr.19]
Theo nhà Khoa học Mỹ Haror Koontz, “quản lý là một hoạt động thiết
yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [68, tr.33]
Trong cuốn ―Giáo trình tâm lý học quản lý‖, tác giả Vũ Dũng đã nêu
khái niệm quản lý của Fredrich Winslow Taylor (1856-1915), cha đẻ của
thuyết ―Quản lý theo khoa học” khi ông tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế -
kỹ thuật: ―Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác
và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất‖ [19, tr.22]
Trong cuốn ―Khoa học Tổ chức và Quản lý‖, tác giả Đặng Quốc Bảo
quan niệm: ―Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và
kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” [1, tr.176]
Trang 33Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã
đề ra” [64, tr.11]
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng : ―Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12,
tr.16]
Từ các quan niệm, cách hiểu trên, có thể hiểu về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường
1.1.1.4.Thông tin
―Thông tin‖ xuất phát từ tiếng La tinh ―information‖: được hiểu là thông báo, giải thích, tóm tắt Thông tin có thể là những thông báo về đối tượng xảy ra xung quanh chúng ta, về những thông số, bản chất của chúng, những điều mà hệ thống thông tin (máy móc, con người) đã truyền tải lại trong quá trình công việc và cuộc sống
Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa ―thông tin‖ với ý
nghĩa: ―là động từ được hiểu là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết, danh từ nghĩa là tin tức được truyền đi cho biết‖ [63, tr.17]
Trong cuốn ―Cơ sở lý luận của báo chí‖ của tác giả E.P Prô-khô-rốp lại cho rằng, thông tin trong báo chí từ lâu thường được dùng trong ba nghĩa
có quan hệ mật thiết với nhau: là các thông báo ngăn không bình chú về các tin tức nóng hổi của đời sống trong nước và quốc tế; Là danh mục nhóm các thể loại tin tức (các loại hình thông tin: tin ngắn, báo cáo, tường thuật, phỏng vấn); cuối cùng thông tin đôi khi được hiểu là thể loại tin ngắn [67, tr 25,26]
Trang 34Theo quan niệm của nhóm tác giả trong cuốn sách ―Cơ sở lý luận báo
chí” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền do PGS.TS Tạ Ngọc Tấn chủ
biên năm 1999, từ ―thông tin‖ cũng được sử dụng với những ý nghĩa khác nhau trong các tình huống cụ thể:
- Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người Ngay trong thiên nhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loài động vật khác nhau
- Thông tin được dùng để chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung Trong trường hợp này, người ta xem xét chất lượng nội dung thông báo bằng lượng thông tin được chuyển đến đối tượng tiếp nhận [57]
Từ các khái niệm khác nhau về thông tin nêu trên, có thể rút ra và thống nhất sử dụng khái niệm mang tính phổ biến và phù hợp nhất đối với khuôn khổ của luận văn này là: Thông tin là tin tức, thông báo, đưa tin một sự vật hay hiện tượng được chứa đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng qua các phương thức thích hợp
Trong luận văn này, thông tin nói đến là thông tin báo chí, không bao gồm thông tin quảng cáo
1.1.1.5.Quản lý thông tin
Quản lý thông tin là sự tác động có định hướng, có chủ đích, theo quy trình của chủ thể quản lý thông tin tới khách thể quản lý với những nội dung
và phương thức cụ thể, nhằm thực hiện mục tiêu đề ra
Theo đó, quản lý thông tin báo chí là cách một tổ chức/ cơ quan báo chí
sử dụng các phương thức để lập kế hoạch, tập hợp, sáng tạo và phổ biến một cách hiệu quả một loại thông tin nào đó, để đảm bảo giá trị của thông tin được xác lập và sử dụng tối đa, nhằm phục vụ cho mục tiêu, tôn chỉ của tổ chức/cơ quan báo chí
Quản lý thông tin thường được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 35+ Quản lý tần suất xuất hiện thông tin: các cơ quan báo chí cần phải quản lý để liều lượng, mật độ thông tin về các lĩnh vực quan trọng được thể hiện phù hợp trên báo chí
+ Quản lý về nội dung thông tin để đảm bảo thông tin được phản ánh chính xác, khách quan, đầy đủ
+ Quản lý về hình thức chuyển tải thông tin để đảm bảo thông tin được thể hiện hấp dẫn, dễ hiểu
+ Quản lý quy trình sản xuất thông tin: Việc quản lý quy trình sản xuất tin, bài của cơ quan báo chí phải được đảm bảo để thông tin đáp ứng các yêu cầu về tính chính xác, khách quan, trung thực, cân bằng, đồng thời đáp ứng yêu cầu về tính nhanh nhạy, hợp thời, kịp thời của thông tin báo chí
1.1.1.6.Quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
Căn cứ các khái niệm công cụ đã phân tích ở trên, tác giả đưa ra một định nghĩa: Quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý cơ quan báo chí lên khách thể quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của cơ quan báo chí để đạt được mục tiêu đã đặt ra về xây dựng thông tin chuyên sâu về lĩnh vực du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
Chủ thể quản lý được phân theo nhiều cấp, cụ thể, quản lý trực tiếp là lãnh đạo cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí, lãnh đạo phòng; quản lý gián tiếp ở các cấp cao hơn như quản lý Nhà nước là Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam; cấp địa phương
là Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy…Trong phạm
vi luận văn, chúng tôi đề cập tới các chủ thể quản lý trực tiếp đó là lãnh đạo
cơ quan báo chí, lãnh đạo phòng
Khách thể quản lý là kế hoạch sản xuất, sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, tài chính, nguồn nhân lực là đội ngũ
Trang 36Phóng viên, BTV, BDV, kỹ thuật viên của cơ quan báo chí và các đối tác tham gia vào hoạt động sản xuất các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
1.1.2 Sự cần thiết phải quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Việc quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh là đòi hỏi khách quan xuất phát từ thực tiễn và vai trò hoạt động của báo chí nói chung, từ vai trò của thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh nói riêng, cũng như xuất phát
từ yêu cầu trong quá trình xây dựng, phát triển ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh Thứ nhất, cần phải quản lý để đảm bảo khách thể quản lý hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đúng pháp luật
Ở Việt Nam, tất cả các hoạt động trong lĩnh vực truyền thông đều nằm dưới sự quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý trong lĩnh vực báo chí, truyền thông bằng các quy định và
hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền tự do báo chí Có thể nói rằng, báo chí
là một công cụ xã hội sắc bén, phực tạp, có thể ví nó như con dao hai lưỡi, nếu biết sử dụng thì công năng sẽ đặc biệt hữu dụng, nếu không sẽ gây hậu quả khôn lường Quản lý báo chí truyền thông là đòi hỏi tất yếu khách quan,
là phương thức bắt buộc để huy động tối đa năng lực tác động của báo chí vào mục đích phát triển đất nước, hạn chế đến mức thấp nhất những hiệu ứng ngoài mong đợi
Thứ hai, cần phải quản lý để thông tin du lịch Quảng Ninh được truyền tải chính xác, hiệu quả trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
Trên cơ sở ý thức ngày càng rõ về tầm quan trọng của truyền thông đại chúng trong đó có công tác thông tin đối ngoại, Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao vai trò của thông tin đối ngoại và ngày càng nhận thức, làm rõ hơn quan điểm, chủ trương về việc quản lý lĩnh vực này Nhìn từ góc độ cơ quan báo chí hay cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí thì việc thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng
Trang 37Ninh là hoạt động thông tin đối ngoại bằng tiếng nước ngoài, yêu cầu về tính chính xác càng cao, vì thông tin vừa quảng bá về du lịch, nhưng lại phải đảm bảo không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, uy tín, hình ảnh, quan hệ ngoại giao, hợp tác của Việt Nam, bảo vệ bí mật của nhà nước, do đó đều cần tuân thủ theo quy định quản lý báo chí nói chung, quản lý thông tin đối ngoại nói riêng, không thể đăng tải hay phát sóng một cách tùy ý
Thứ ba, quản lý để đảm bảo thông tin du lịch Quảng Ninh đúng mục tiêu, thực hiện nhiệm vụ quảng bá hình ảnh vùng đất, con người Quảng Ninh đến với công chúng mục tiêu, đồng thời tuyên truyền, nâng cao nhận thức để bảo đảm môi trường du lịch bền vững
Nhìn chung, dưới sự quản lý của lãnh đạo các cấp của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh, thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm bảo đảm theo đúng định hướng thông tin, tuyên truyền đối ngoại của Đảng, Nhà nước, của tỉnh trong từng thời kỳ cũng như các chương trình, kế hoạch thông tin đối ngoại đã được phê duyệt; không đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, uy tín, nhân phẩm của công dân, hoàn thành nhiệm vụ chính trị quan trọng là thông tin đầy đủ, kịp thời về chủ trương, chính sách của tỉnh Quảng Ninh về phát triển du lịch, quảng bá mạnh mẽ và thường xuyên với thế giới hình ảnh Quảng Ninh với nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc, môi trường chính trị và an ninh ổn định, một điểm đến du lịch
an toàn và thân thiện
Tuy nhiên, công tác thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh còn nhiều hạn chế: việc tuyên truyền chưa đi sâu vào thực chất, còn hời hợt, tuyên truyền cho có Thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc đã đến được với số lượng độc giả đông đảo hơn, nhưng hiệu quả thông tin chưa được như mong muốn Lý do, như TS Nguyễn Ngọc
Oanh trong cuốn ―Lao động nhà báo trong hoạt động thông tin đối ngoại‖ có
viết: ―Là do chúng ta vẫn đang nói theo cách của mình…Thông tin đối ngọai
Trang 38chỉ được coi là trúng và đúng nếu nó chuyển được đi thông điệp mà Đảng và Chính phủ Việt Nam mong muốn theo đúng cách thức diễn đạt của người nước ngoài và người Việt sống lâu năm ở các nước đó.‖
Hơn nữa, hoạt động thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc là hoạt động báo chí đối ngoại, nó có những đặc điểm khá riêng biệt so với hoạt động báo chí nói chung, cả về quy trình sản xuất, đối tượng tác động, phạm vi ảnh hưởng cho đến phương pháp, cách thức quản lý Trên thực tế, công tác tuyên truyền thông tin quảng bá du lịch trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề về quản lý quy trình sản xuất, quản lý nội dung và hình thức của thông tin, sự tham gia của các biên dịch viên, các chuyên gia đối ngoại; về giải pháp phát huy lợi thế và khắc phục những tồn tại trong công tác tổ chức sản xuất để đáp ứng được yêu cầu của sản phẩm báo chí đối ngoại với công chúng nhóm đối tượng đích Do đó, việc quản lý thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh cần được nghiên cứu một cách bài bản, có hệ thống để đưa ra mô hình quản lý hiệu quả trong xu thế bùng nổ thông tin hiện nay
1.1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Chất lượng quản lý thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh có thể đánh giá qua tiêu chí sau:
*Về quản lý tần suất đăng tải thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
Thông tin chỉ có thể tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, đi sâu, tác động, làm thay đổi nhận thức, hành vi của công chúng khi thông tin ấy được cung cấp đến công chúng thường xuyên, đáp ứng nhu cầu thông tin kịp thời cho công chúng Do đó, việc đảm bảo tần suất thường xuyên, liên tục, đồng đều ở mọi phương diện của thông tin quảng bá du lịch Quảng Ninh trên các sản
Trang 39phẩm báo chí tiếng Trung Quốc là việc làm cần thiết trong quá trình quản lý thông tin của Trung tâm Truyền thông tỉnh Để làm tốt việc đảm bảo tần suất
và tính định kỳ của thông tin thì Trung tâm phải xây dựng kế hoạch tuyên truyền về du lịch Quảng Ninh cụ thể trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc theo từng giai đoạn cụ thể
*Về quản lý nội dung thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
Việc quản lý nội dung dung thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc phải đảm bảo thông tin chính xác, khách quan, cập nhật; đảm báo đúng chủ trương, đường lối, chính sách về thông tin đối ngoại của Đảng và nhà nước, đúng định hướng về lĩnh vực du lịch theo chiến lược của tỉnh và quốc gia cũng như các cấp quản lý Nhà nước, quản lý báo chí; các nhóm nội dung đầy đủ; thông tin dễ hiểu, dễ nắm bắt, thiết thực Do đó, chủ thể quản lý cần xây dựng kế hoạch tuyên truyền, sản xuất, định hướng nội dung thông tin du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
*Về quản lý hình thức thông tin quảng bá du lịch trên sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc
Chủ thể quản lý khi xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phát sóng cũng cần đảm bảo yêu cầu về hình thức của chương trình, thông tin chuyên sâu về
du lịch Quảng Ninh trên các sản phẩm báo chí tiếng Trung Quốc như: ngôn ngữ văn bản chính xác, hình ảnh đẹp, phong phú, trình bày hấp dẫn, kết hợp nhiều thể loại, ứng dụng đa phương tiện trong sản phẩm báo chí (infographics, video, đồ họa, box thông tin…)
*Về quản lý quy trình sản xuất sản phẩm báo chí
Việc quản lý quy trình sản xuất sản phẩm báo chí phải đảm bảo theo luồng công việc một cách khoa học, logic Dựa trên cơ sở quyết định do chủ thể quản lý đưa ra, các khách thể quản lý sẽ thực hiện các khâu một cách hiệu quả từ tổ chức sản xuất, truyền tải thông tin, vận hành sản xuất chương trình Các khâu, bộ phận cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhau để tránh xảy ra sai phạm, bất cập
Trang 40Không chỉ là tỉnh động lực trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Quảng Ninh cũng được coi là trung tâm du lịch của khu vực và quốc tế với Vịnh Hạ Long và nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng khác Hàng năm Quảng Ninh thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, trong đó khách nước ngoài phần đông là người Trung Quốc
Với những đặc thù trên, hoạt động thông tin đối ngoại với Trung Quốc luôn được tỉnh Quảng Ninh quan tâm, xác định là một trong những mũi nhọn thông tin về quan điểm đường lối của Đảng, là phương thức hiệu quả để quảng bá hình ảnh, vùng đất và con người Quảng Ninh Mục tiêu của hoạt động này là nhằm đưa thông tin tới công chúng nói tiếng Trung Quốc, thu hút đầu tư, quảng
bá tiềm năng về thương mại du lịch của tỉnh Quảng Ninh
Hiện nay, hoạt động thông tin quảng bá di lịch Quảng Ninh bằng tiếng Trung Quốc được thực hiện trên ba sản phẩm báo chí của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh gồm: Bản tin thời sự tiếng Trung Quốc, chuyên trang điện