Bài viết giúp người đọc thêm thông tin, một số phân tích, bình luận về Chế độ chính trị của nhà nước CHXHCN Việt Nam qua bản Hiến Pháp 2013. Đặc biệt phù hợp với các bạn sinh viên ngành Luật hoặc đang học môn Pháp luật đại cương.
Trang 1Chế độ chính trị của nhà nước CHXHCN Việt Nam qua bản
Hiến pháp 2013
Lịch sử lập hiến Việt Nam đã ghi nhận chế độ chính trị, theo xu hướng hoàn thiện và đầy đủ hơn các quy định Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013, các nguyên tắc
và quy phạm pháp luật về chế độ chính trị đã được tiếp thu, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn bản Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, góp phần bảo
vệ chế độ chính trị của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nội dung của chế độ chính trị tiếp tục được quy định ở chương đầu tiên (Chương 1) từ Điều
1 đến Điều 13 Một điểm đáng lưu ý là ở Hiến pháp năm 2013, từ “nhân dân” đã được viết thành “Nhân dân”, thể hiện sự đề cao vai trò, vị trí của Nhân dân hơn bao giờ hết Bên cạnh đó, ở bản Hiến pháp này, chương đầu tiên chỉ còn 13 Điều, so với 14 Điều ở bản Hiến pháp năm 1992 sửa đỏi, bổ sung năm 2001 Tuy nhiên, nội dung và ý nghĩa của chương lại ngày càng hoàn thiện hơn, bổ sung nhiều điểm mới đáng chú ý Cụ thể ở một số nội dung chính sau:
I Chính thể của nhà nước CHXHCN Việt Nam
Xét dưới góc độ luật Hiến pháp, chính thể của nhà nước là mô hình tổ chức tổng thể của bộ máy quyền lực nhà nước, thể hiện cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, xác lập các mối quan hệ cơ bản của các cơ quan nhà nước ở trung ương với nhau, giữa trung ương với địa phương, giữa nhà nước với xã hội và nhân dân Ở nước ta, theo Hiến pháp năm 2013, chính thể của nước Việt Nam là chính thể cộng hoà xã hội chủ nghĩa Theo đó, Hiến pháp năm 2013 đã có sự phát triển và bổ sung nhiều quy định mới như:
- Hiến pháp năm 2013 khẳng định nhất quán nguyên tắc mang tính xuyên suốt: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, đồng thời bổ sung quy định mới: “Nước CHXHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ” (khoản 2 Điều 2), thể hiện tính “dân chủ” trong tổ chức và hoạt động của nhà nước cũng như vai trò quan trọng của Nhân dân trong mối quan hệ với Nhà nước
- Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hoàn thiện nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở khoản 3, Điều 2 Theo đó đã quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sất nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toán nhà nước
- Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định vấn đề dân chủ trực tiếp, ở những bản hiến pháp trước chỉ quy định vấn đề dân chủ đại diện (gián tiếp) đó là Nhân
Trang 2dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Điều
6 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001) Hình thức dân chủ trực tiếp là hình thức mà nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và của địa phương; trực tiếp thể hiện ý kiến khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29 Hiến pháp 2013); Nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểu vào các cơ quan đại diện thay mặt cho mình thực hiện quyền lực và có quyền bãi nhiệm khi họ không còn được sự tín nhiệm của nhân dân (Điều 27 và Điều 7 Hiến pháp năm 2013);
- Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước ở trung ương với địa phương Theo đó, Hiến pháp đã ghi nhận chế định pháp lý với tên gọi
“Chính quyền địa phương”
II Bản chất và mục đích của nhà nước CHXHCN Việt Nam
1 Bản chất của nhà nước CHXHCN Việt Nam
Bản chất của nhà nước CHXHCNVN là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Theo khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013, “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”, có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 đã có điểm mới khi nhấn mạnh rằng Nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước, Nhân dân làm chủ đất nước Việc bổ sung ý “do Nhân dân làm chủ” đã khẳng định điều đó, cho thấy sự tiến bộ hơn so với Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
2 Mục đích của nhà nước CHXHCN Việt Nam
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận khái quát nhất tại Điều 3, Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống âm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” III Tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của nhà nước CHXHCN Việt Nam Hiến pháp năm 2013 kế thừa tinh thần của Hiến pháp trước và hoàn thiện hơn
về vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thể hiện chủ yếu qua các nội dung sau: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (khoản 3 Điều 3) và “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân
và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6)
Trang 3- Tính thống nhất của quyền lực nhà nước về phương diện chính trị và tổ chức pháp lý
Một điểm mới hết sức quan trọng theo Hiến pháp năm 2013 đó là đề cao vai trò của quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Hiến pháp năm 2013 bằng việc phân định rõ ràng các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, bằng việc đưa ra các cơ chế phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó đã thể hiện rõ nguyên tắc của thực hiện quyền lực nhà nước Việc thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước đều phải chịu sự kiểm soát lẫn nhau, đồng thời, mỗi cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện đúng phạm vi quyền lực của mình được trao, không vượt quá và không lạm dụng quyền lực
- Thực hiện quyền lực nhà nước từ phía các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân
Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện quyền lực nhà nước, thông qua việc thực hiện nhiệm vụ của mình bảo vệ
và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên, hội viên và quần chúng nhân dân Như Điều 9 Hiến pháp 2013, mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
IV Hệ thống chính trị của nước CHXHCN Việt Nam
Hệ thống chính trị bao gồm tổ chức chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị
- xã hội nhằm thực thi quyền lực trong xã hội
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa, khẳng định tính lịch sử, tất yếu khách quan về sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta Hiến pháp đã khẳng định và làm rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; quy định trách nhiệm của Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình
Trang 4Nhà nước luôn giữ vị trí trung tâm của hệ thống chính trị Ở Hiến pháp năm
2013 có sự nhấn mạnh Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 8)
Các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam được quy định tại Điều 9, Hiến pháp năm 2013 Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác tập hợp lại dưới hình thức tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 có một điểm mới đó là ở khoản 2 Điều 9
đã liệt kê đầy đủ các tổ chức chính trị - xã hội và xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức này: “Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.”
So với Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Hiến pháp 2013 đã bổ sung thêm một nhiệm vụ mới của tổ chức Công đoàn, đó là việc tham gia vào hoạt động quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của
cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động (Điều 10 Hiến pháp năm 2013)
V Chính sách dân tộc, chính sách đối ngoại của nhà nước CHXHCN Việt Nam
1 Chính sách dân tộc
Nhìn chung, Điều 5 Hiến pháp năm 2013 vẫn giữ nguyên các điểm cơ bản về chính sách dân tộc như Điều 5 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 Tuy nhiên có một điểm đó là ở khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung ý
“Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt” Đây là một điểm đáng lưu ý, thể hiện sự thống nhất về mặt ngôn ngữ của quốc gia nhưng các dân tộc vẫn có quyền dùng tiếng nói của dân tộc mình
2 Chính sách đối ngoại
So với những bản Hiến pháp trước, chính sách đối ngoại của nhà nước ta đã cụ thể và rõ nét hơn Nếu như trong Hiến pháp năm 1992 chỉ xác định nguyên tắc chung nhất là “tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước
xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, ” thì đến Hiến pháp năm 2013
đã cụ thể hơn khi xác định Việt Nam là bạn và đối tác tin cậy, thành viên có tracchs nhiệm trong cộng đồng quốc tế Trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt
Trang 5Nam, trong Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ nghĩa vụ phải tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Việt Nam có trách nhiệm phải thực hiện Những điểm mới trên là phụ hợp với xu thế hội nhập của Việt Nam với thế giới, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, cùng thế giới giải quyết những vấn đề toàn cầu như môi trường, biến đổi khí hậu, khủng bố,
Ngoài những nội dung chính ở trên, còn một điểm đáng chú ý trong chương 1
về chế độ chính trị của Hiến pháp năm 2013 đó là Điều 13 Đó là nội dung về quốc
kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thay vì nằm ở Chương XI như ở Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì những điều này được sắp ở chương 1 của Hiến pháp năm 2013, nhấn mạnh sự đổi mới, bổ sung về chế độ chính trị của nước CHXHCN Việt Nam