Lạm phát là gì ? - Lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi. Khi mức gia tăng lên được gọi là lạm phát, khi mức giá giảm xuống thì được gọi là giảm phát. Vậy, lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian. - Cố định lạm phát ở mức thấp là môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi để khuyến khích tiết kiệm, mở rộng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cả lạm phát quá cao và lạm phát quá thấp đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
Trang 1MỤC LỤC
I Lý luận chung về lạm phát và tăng trưởng kinh tế
1.1 Lạm phát và nguyên nhân gây ra lạm phát
1.1.1 Lạm phát
1.1.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2 Tăng trưởng kinh tẾ và các công cụ phản ánh
1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Các công cụ phản ánh
1.3 Mỗi quan hệ giữa lạm phat và tăng trưởng kinh tế
II Thực trạng lạm phát và môi quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua
2.1.1 Các nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam thời gian
qua
2.1.2 Các tác động của lạm phát
2.2 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
HI Giải pháp kiêm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay
3.1 Định hướng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới 3.2 Giải pháp kiễm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay
3.2.1 Giải pháp tình thế
3.2.2 Giải pháp chiến lược
3.2.3 Giải pháp chủ yếu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam 3.3 Lam phat va van đề xử lý lạm phát của một số nước trên thế
giới, học tập và úp dụng vào Việt Nam
3.4 Các biện pháp kiềm chế lam phát o Việt Nam năm 2010-2011
Trang 2
MƠ ĐAU
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai van dé co ban va lớn trong kinh tế
vĩ mô Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp
và không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế
Lạm phát là một van dé không phải xa lạ và là một đặc diễm của nền kinh
tế hàng hoá và ở mỗi thời kì kinh tế với các mức tăng trưởng kinh té khác nhau
sẽ có những mức lạm phát phù hợp
Do vậy van dé lam phat va anh huong cua lam phat toi tang truong kinh té
là một đề tài rất hap dan, đặc biỆt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay van đề này càng trở nên cân thiết Việc xác định mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã và đang thu hút sự chú
ý của nhiều nhà kinh tế Mục đích chính là phân tích để khẳng định và tiến tới
xác lập mối quan hệ định hướng giữa tăng trưởng kinh tế với lạm phát và có thể
sử dụng lạm phát là một trong các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô Đề thúc đây tăng trưởng kinh tế thì đương nhiên các giải pháp điều hành vĩ mô đưa ra là nhằm nâng cao lạm phát của nền kinh tế nếu như chúng có quan hệ thuận với nhau và do vậy các giải pháp như cung ứng tiền, phá giá đồng nội tệ sẽ được xem xét ở mức độ hợp lý Còn không, các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc các giải pháp vĩ mô để thúc đầy tăng trưởng kinh tế và yếu tô lạm phát trở thành thứ yêu Mặc dù vẫn phải duy trì mức độ kiểm soát Ở nước ta trong bối
cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, van đề lạm phát không những
là một tiêu thức kinh tế mà còn kiến mang ý nghĩa chính trị
Trang 3
L.Lý luận chung về lạm phát và tăng trưởng kinh tê
1.1 Lam phát, nguyên nhân gây ra lạm phat
1.1.1 Lam phat
1.1.1.1 Khải niệm lạm phát:
Lam phát đã được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế Trong mỗi công trình của mình các nhà kinh tế đã đưa ra các khái niệm về lạm phát
Theo Các Mác trong bộ tư bản: lạm phát là việc làm tràn day cac kénh, cac
luông lưu thông những tờ giấy bạc thừa dẫn đến giá cả tăng vọt
Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng: lạm phát là biêu thị một sự tăng lên
của mức giá chung Theo ông: “lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và
chi phí tăng — giá bánh mỳ, dầu xăng, xe ô tô; tiền lương, giá đất, tiền thuê tư
liệu sản xuất tăng”
Milton Friedmen thi quan niém: “ lam phat là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài” Ông cho rằng lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ” Ý
kiến đó của ông đã được đa số các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái
Lam phát xảy ra khi giá cả tăng tương đôi nhanh với 2 hoặc 3 con số một năm Ở mức phi mã lạm phát làm cho giá cả tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tẾ lúc này người dân tích trữ hàng hóa, vàng bạc và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất thông thường Loại này khi đã trở nên
vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng rất nhanh, tiên lương thực tế giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, các yếu tô thị trường
biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rỗi loạn
1.1.1.1.2 Căn cứ vào định tính::
Trang 4
e Lam phát cân băng và lạm phát không cân bằng :
* Lạm phát cân bằng : Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao
động ,tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dén nén kinh tế nói chung
* Lạm phát không cân bằng :Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra
Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường:
* Lạm phát dự đoán trước : là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ôn định đều đặn Loại lạm phát này có thé du
doan trudc dugc ty 1é ca no trong cdc nim tiép theo Vé mat tam ly ngudi
dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước.Do đó
không gây ảnh hưởng đến đời sống ,đến kinh tế
* Lam phat bat thường: xảy ra đột biến mà có thê tử trước chưa xuất hiện
.Loại lạm phát này ánh hưởng đến tâm lý ,đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghĩ Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế
và niêm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút
Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nước ta đang
phát triển thường diễn ra trong thời gian dài ,vì vậy hậu quả của nó phức tạp
và trầm trọng hơn Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ
khác nhau : lạm phát kinh liên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm ,lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trén 200%
một năm
1.1.2 Nguyên nhân gáy ra lạm phát:
Lạm phát khởi thuỷ từ nhiều nguyên nhân khác nhau
.Thứ nhất là lạm phát có thê xảy ra do tác động chủ quan của hệ thống tiền
té-tin dung-ngan hang,bat cứ một sự biến đôi nhỏ nào của hệ thống này đều có tác động hoặc tăng hoặc giảm tỉ lệ lạm phát
.Thứ hai là lạm phát cũng chịu ảnh hưởng củamột số điều kiện khách quan khác như chính trị xã hội,thiên tai bão lut,tinh trang thất nghiệp, nên sản
xuất Do chịu nhiều tác động của nhiều yếu tốtrong nên kinh tế như vậy nên hiện tượng lạm phát diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi trong quá trình tăng trưởng và chống lạm phát có chiến lược đúng đắn để lạm phát luôn nằm trong quỹ đạo mà nên kinh tế có thể kiểm soát được
Lạm phát xuất hiện cũng gây ra nhiều hậu quả đến kinh tế như bất kì một biến
cô hại nào khác:nạn thất nghiệp,nạn thiên tai Lạm phát tàn phákinh tế,nó
không những làm suy giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính mà còn
Trang 5
tác động trực tiếp đến đời sống chính trị ,văn hoá,xã hội và sinh hoạt bình
thường của người dân Bằng chứng là cuộc khủng hoảng ở Đức xảy ra đữ dội vào những năm đầu thế kỷ,ở các nước phát triển những năm 70 và mới đây là
ở Nga.Đặc biệt là hậu quả lạm phát rat tram trọng ở các nước đang phát triển
với nền kinh tế chưa đủ sức hạn chế có hiệu quả sự lây lan của lạm
phát Những điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia không chỉ riêng nước ta cần có
chính sách chong lạm phát để hạn chế bớt những thiệt hại do hiện tượng này gây ra cho nền kinh tế Vấn đề đặt ra một cách cấp thiết cần phải giải quyết khi nghiên cứu lạm phát là lý giải xác đáng lạm phát xảy ra và diễn biến như thé nào? và cần có những biện pháp gì để chong lam phat Nếu giải quyết tốt vẫn
đề đó thì chúng ta THỚI CÓ cơ Sở vững chắc hợp logic để tiến tới thành công trong việc phát triển kinh tế
Ngày nay khi đánh giá trình độ tăng trưởng của nền kinh tế của một quốc
gia một trong những tiêu chuẩn đầu tiên nguoi ta xet đến đó là tỉ lệ lạm phát như thế nào?Điều đó cũng nói lên một phần mối quan hệ chặt chẽ giữa lạm phát và tăng trưởng.Nếu tỉ lệ lạm phát đang ở mức thấp hoặc vừa phải điều
đó chứng tỏ nền kinh tế nước đó có sức mạnh điều tiết và quản lý kinh tế vĩ
mô có hiệu quả đã và đang tạo cơ hội thuận lợi để tăng trưởng.Xung quanh lạm phát có rất nhiều nảy sinh như cách phòng và chữa căn bệnh lạm phát
như thế nào?Nguyên nhân gây ra lạm phát và có nên duy trì tỉ lệ lạm phát
thấp hay chấm dứt lạm phát.Từ đó gây ra nhiều cuộc bản cãi,tranh luận
không chỉ giữa các nhà kinh tế mà còn xảy ra với các quốc gia,các tổ chức
tài chính quốc tế.Vởy hiểu lạm phát như thế nào?Có một câu hỏi nhưng rất nhiề câu trả lời,tuy nhiên người ta vẫn thường công nhận lạm phát là sự tăng lên của giá cả trung bình trong một thời kỳ “Sự tăng lên của giá” do có nhiều nguyên nhân hoặc do các yếu tố chủ quan của các cấp quản lý kinh tế hoặc
do những điều kiện chính trị,xã hội,thiên tai gây ra.Có thể giảI thích quy về
những cách đây:
1.Theo thuyết tiên tệ lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung tiền 2.Theo trường phái Keynes lạm phát có thể xảy ra là do dư cầu về hàng hoá trong nên kinh tế
3.Theo thuyết chỉ phí đây lạm phát xảy ra do tăng chỉ phí sản xuất.Tuy
nhiên đây cũng chỉ là những luận điểm lý thuyết mang tính tương đối còn
trong thực tế lạm phát xảy ra thường là kết qua tổng hợp của nhiêu yếu tô ở những khía cạnh khác nhau của nên kinh tế
Trang 6
1.2 Tăng trưởng kinh tẾ và các công cụ phản ánh
1.2.1.Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vẫn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiễn bộ mỗi giai đoạn của một quốc gia
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính cho toàn bộ nên kinh tế trong một thời kỳ nhất định( thường là một năm) Tăng trưởng kinh té có thê biểu thị bằng số tuyệt đối ( quy mô tăng trưởng) hoặc băng số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng) — đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc kỳ gốc
Tăng trưởng kinh tế còn được xem xét dưới góc độ chất lượng chất lượng tăng trưởng kinh tế được thê hiện ở sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nên kinh tế, thể hiện qua các đặc điểm sau:
Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài
Phát triển có hiệu quả thê hiện qua năng suất lao động, năng suất tài sản cao và ồn định Hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) phù hợp, và đóng góp của nhân
tố năng suat tong hop (TFP) cao
Co cau chuyén dich kinh tễ theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp với thực tiễn nền kinh tế trong mỗi thời kỳ;
Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao;
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đám bảo hài hòa đời sống kinh tế xã hội;
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 7
1.3.Mỗi quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Lam phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội , là hai vẫn đề kinh tế
trong nên kinh tế Lạm phát có thé coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng nó lại là hai vẫn đề luôn tổn tại song song với nhau
Trong thực tế , không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không tránh khỏi lạm phát Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải qua các cuộc khủnh hỏang kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô khác nhau
Tỷ lệ lạmphát tăng cao sẽ đây giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lương danh nghĩa của cáccông nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ giảm đi
Đề tồn tại các công nhân sẽ tô chức đấu tranh , bãi công đòi tăng lương và cho sản xuất trì trệ , đình đốn khiến cho nên kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng
trưởng kinh tế giảm.Khi nềnkinh tế găp khó khăn , suy thoái sẽ làm thâm hụt
ngân sách và đó là điều kiện , nguyênnhân gây ra lạm phát Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ rất nhanh , khi đó người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tỆ lệ nạn tham nhũng tăng cao , nạn buôn lậu phát triển
mạnh , tinh trang dau cơ trái phép tăng nhanh, trỗn thuế và thuế khôngthu được
đã gây ra tình trạng nguôn thu của nhà nước bị tốn hại nặng nê càng làm cho
thâm hụt ngân sách trầm trọng dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao
I.Thực trang lam phát và mỗi quan hệ giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tê ở Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua
2.1.1.Các nguyên nhán gáy ra lạm phát ở Việt Nam
2.1.1.1 Thời kỳ 1987-1997:
Bang chi số lam phát và tăng trưởng kinh tế từ năm 1987-1997
Trang 8
Phân trước, chúng ta đã đề cập đến nguyên nhân lạm phát nói chung, phần này
ta xét đền nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam ở thời điêm cụ thê
Nguyên nhân dân đên lạm phát ở Việt Nam có nhiêu
- Thứ nhất : lạm phát nảy sinh từ trong chính các thê chế kinh tế quan liêu bao cấp, đóng cửa , hướng nên kinh tế Việt Nam phát triển các ngành có chỉ phí cao, tách rời câu thị trường, cô lập với thế giới bên ngoài dẫn đến
sự mất cân đối giữa cung và câu, thu với chỉ ngân sách thể hiện nền kinh tế kém hiệu quả, các xí nghiệp làm ăn thua lỗ Đó là những nguyên nhân dẫn đến lạm phát phi mã
- Thứ bai : do sự điều hành sai lầm của bộ máy nhà nước, như xác
định cơ câu không xuất phát từ hiệu quả Sự đổi tiền và tăng giá năm 1985 là
chính sách phá giá đồng tiền, làm giảm niềm tin của dân vào đồng tiền của nhà nước, chính sách lãi xuất thấp so với mức trượt giá làm cho người dân
không muốn gửi tiết kiệm Sự mất cân đối tài chính gây lạm phát qua kênh tín dụng, ngân hàng nhà nước luôn phải phát hành tiên để cân đối các nguồn vốn cho vay của ngân hàng, đáp ứng yêu cầu của các nghành kinh tế và xây dựng cơ bản ngày càng tăng Nhà nước lại không chủ động trong việc cân
băng cung câu hàng hoá, gây ra sự rôi loạn trên thị trường, giá cả thay đôi
một cách bất hợp lý so với giá quốc tế Mặt hàng giá cả bị nhích lên do cơn sốt xi măng, thép, xăng dầu và ngoại tỆ
- Thứ ba : cho đến nay, xương sông của nền kinh tế Việt Nam vẫn là
các doanh nghiệp những doanh nghiệp này dong gop 37% vào ngân sách
nhà nước Việc làm ăn của nhiều công ty xuất nhập khẩu hàng năm nhà
nước phải bủ lỗ, bù giá qua lớn chiếm gần 40% tông số thu chi cho ngân
sách
- Thứ tư : môi trường đầu tư chậm cải tiền, tích luỹ ở trong nước còn
ở mức thấp Đầu tư những công trình có vốn lớn, thời gian thi công kéo dải qua sức chịu đựng của nên kinh té trong khi đó nguôn thu hạn hẹp, thất thu lớn Tình hình đó làm cho nguồn tài chính quốc gia bi thâm hụt, không còn cách nào khác nhà nước buộc phải in tiền giây bủ dap va da gay ra lam phat
- Thứ năm : nguyên nhân từ cơ chế kinh tế độc quyên, cơ chế quan liêu bao cấp nặng né Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nên kinh tế Các quan hệ tiền tệ không phát huy một cách đây đủ tác dụng kích thích, thúc đây nên kinh tế phát triển
Cùng với những yếu kém của nên kinh tế, chúng ta còn đứng trước tác động
mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đang lan rộng trong khu vực
Trang 9
2.1.1.2 Thời kỳ 1998-2008:
Bảng chỉ số lạm phát và tăng trưởng kinh tế từ năm 1998-2008:
Nam | 1998 | 1999 | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 | 2008 Tang | 5.8 48) 68) 68] 7.0) 7.3] 7.6} 85] 8.17 8.5 | 6.36 truon
phát
Nguồn ADB Thời kỳ 1229-2002: là thời ky lạm phát ở mức rất thấp thậm chí là thiêu phát
Thời kỳ này tốc độ tăng trưởng cũng rất thấp Năm 1998-1999 tốc độ tăng
trưởng giảm xuống mức dưới 6% là mức đáng lo ngại đối với một nền kinh tế
có tốc độ tăng dân số 2% một năm, tỷ lệ tăng năng suất lao động 5-7% và tỷ lệ
thất nghiệp là 7% Nguyên nhân chủ yếu của thời kỳ này là do chính sách thắt
chặt tiền tệ và cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực
Từ năm 2004 lạm phát đột ngột tăng tốc Chỉ số giá tiêu dùng tăng 9.5%(2004);
8.4%(2005);6.6%(2006) Đề tránh tác động của khủng hoảng Việt Nam đã thực hiện chính sách kích cầu đi liên với việc gia tăng tín dụng và cuôi cùng 1a in
tiền Do vậy đây là nguyên nhân gây ra sự gia tăng đến mức báo động giá vào
năm 2003 và tăng trên 103% vào năm 2004
Ngoài ra, những nguyên nhân gây ra lạm phát ở VN không năm ngoài khuôn
khổ lý thuyết Tuy nhiên, nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở VN thời gian
qua được cho là do cung tiền và do chi phí đây
a)Lam phat do chi phi day
Day là nguyên nhân dễ nhận thấy đối với lạm phát của Việt Nam trong thời
gian qua Với một nền kinh tế khá mở, kim ngạch nhập khâu lên đến 90% GDP (2008), sự biến động của giá cả trên thế giới tác động ngay đến giá cả trong
nước Năm 2007 và nửa đầu năm 2008, giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giới biến động mạnh, đặc biệt là giá dầu thô, lương thực, thực phẩm va các
nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp Sự tăng giá của hầu hết các hàng hóa
trong nước góp phan lam cho lam phát ở Việt Nam bùng phát
Trang 10
Pood Index: Cereals, vegetable oils, protein meals, meats, Seatood, sugar, bananas and oranges
—— CPI (vietnam)
Index of Industrial Inputs (2005=100%
Indes of Sgricutural Raw Materials (2005=1 00%) Metals index
Tuy nhiên, nguyên nhân do chỉ phí tăng lên của hầu hết các hàng hóa trên thế giới không thể giải thích hoàn toàn cho lạm phát ở Việt Nam Quan sát bảng sau chúng ta thấy cùng chịu một sự tăng giá như nhau nhưng hâu hết các hàng hóa
trên thế gi01 déu không chịu mức lạm phát cao như Việt Nam Như vậy ngoài
nguyên nhân do sự tăng giá của các hàng hóa (lạm phát do chỉ phí đây) nguyên nhân rất quan trọng gây nên bùng nỗ lạm phát ở Việt Nam chính là lạm phát do nguyên nhân cung tiên
Trang 11
Ngudn: Vietstock tang hop ti tradingeconomy
(Chịu sự tăng giả của hàng hóa trên thể giới như nhau nhưng lam phát ở Việt
Nam cao hơn nhiêu so với các quốc gia khác) b)Lạm phát do cung tiên ở Việt Nam
Trên đây chúng ta xét đến yếu tố chỉ phí đây dù yếu tố này không giải thích được hoản toàn nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam Trong thời gian qua, cung tiền được mọi người xem là nguyên nhân căn bản gây nên lạm phát ở Việt Nam, sau đây chúng ta xem xét yếu tô này
Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về tiềm năng phát triển Vốn đầu tư nước ngoài đỗ vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng Năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp (FDI) giải
ngân lên tới 8 tỷ USD, năm 2008 lên tới 11.7 tỷ USD, chiếm gần 1/3 lượng vốn
dau tư trong nên kinh tế Dòng vốn đầu tư gián tiếp (FPI) cũng tăng lên nhanh
chóng, trong năm 2007 ước tính có trên 7 tỷ USD từ dòng vốn gián tiếp đồ vào
Việt Nam Vốn viện trợ phát triển (ODA) hàng năm Việt Nam nhận được
khoảng 2 tỷ USD (năm 2007 là 2 tỷ USD, 2008 2.2 tỷ USD) Kiều hối chuyển
về Việt Nam hàng năm từ 5-7 ty USD Mặc dù, Việt Nam luôn bị thâm hụt
thương mại cao nhưng khoản thâm hụt này ít hơn các dòng tiên chuyển vào
Việt Nam dẫn đến cán cân tài khoản vãng lai vẫn thặng dư Dự trữ ngoại tệ của
ngần hàng thương mại liên tục tăng cao (năm 2006 tăng 4.6 tỷ USD, năm 2007 tăng 10.6 tỷ USD, năm 2008 2.4 tỷ USD) Dự trữ ngoại tệ của NHNN tăng đồng nghĩa với một lượng tiền tương ứng VND được bơm vào nền kinh tế, mặt
Trang 12
khác NHNN không thực hiện biện pháp Vô hiệu hóa lượng tiền bơm vào nền
kinh tê do vậy tiên trong nên kinh tê tăng lên
Ngoài ra, năm 2006 và 2007 đánh dấu năm phát triển mạnh mẽ của hệ thống
ngân hàng, tăng trưởng tín dụng năm 2006 dat 50.18%, nam 2007 dat 49.1% Như vậy tăng trưởng tín dụng cao và dòng tiền mua ngoại tệ của NHNN đã làm cho cung tiền tăng mạnh dẫn đến lạm phát
c)Lạm phát do nguyên nhân tiền tệ trên thực tế
Lạm phát cao của Việt Nam trong thời gian qua được cho là nguyên nhân tiền tệ Thực tế quan sát biểu đồ hình dưới giữa tăng trưởng cung tiền và lạm phát không
có một mối quan hệ chặt với nhau rõ ràng Các kiểm định thống kê cũng không
thấy có tương quan đáng tin cậy giữa tăng trưởng M2 và lạm phát
OC Seo See ec (a=) m [mi D12 5=) b1 co mam © © © O Oo © Co ¬ Co co © a o
Thứ nhất: Số liệu thống kê về lạm phát và cung tiền ở Việt Nam không đủ lớn,
số liệu tính theo năm đáng tin cậy mà chúng tôi có được từ năm 1992 đến nay Với chuỗi số liệu như vậy không đủ lớn cho việc làm các kiểm định thống kê cho kết quả có ý nghĩa
Thứ hai: Một biến số rất khó đo lường hiện nay là thay đôi trong vòng quay tiền (AV) Trong các mô hình lý thuyết giả định AV =0, tuy nhiên thực tế vòng quay
Trang 13
tiền tệ biến động khá lớn qua các thời điểm khác nhau Tốc độ lưu thông tiền tệ
sẽ bị giám mạnh khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn khó khăn Lúc này người dân
mất lòng tin vào sự phục hồi kinh tế do đó họ hạn chế chỉ tiêu làm cho vòng quay
tiền giảm Chắng hạn vào năm 2000 vòng quay tiền tệ là 1.95, năm 2002 chỉ còn 1.53 giảm 21.5% Dù cho cung tiền tăng cao hơn bình thường nhưng không gây
ra lạm phát Khi đó lượng tăng trưởng cung tiền sẽ chuyển tác động đến việc gia tang mirc gia trong dai han cé thé tir 8 dén 12 tháng trong một sô giai đoạn có thể cao hơn Chính vì những lý do này chúng ta thấy trong thực tế có giai đoạn mặc
du tăng trưởng tín dụng và cung tiền M2 khá cao nhưng lại không gây ra lạm phát tức thời
Đề làm sáng tỏ thêm một số luận điểm nêu trên, sau đây chúng ta xem xét quan
hệ giữa cung tiên và lạm phát Chúng ta xét tang trưởng tín dụng và lạm phát trong khoảng thời gian ngăn hơn:
10% -
ee ee
Seta te FS SEa SSE 2 £
—e= Tin dung =s— Cung tien We —a— CP |
Nguon: IFM va VietstoctFinanc
Biểu đồ cho chúng ta thấy giữa 3 yếu tô này có một sự tương quan khá chặt chẽ nhưng thường có độ trễ nhất định Lạm phát thường tăng hay giảm sau khi cung
tiền tăng giảm từ 3-5 Các kiểm định thông kê chúng tôi thực hiện cũng cho thẫy
lạm phát và độ trễ tăng trưởng tín dụng 4-7 tháng có quan hệ khá chặt Đây là
một minh chứng cho quan điểm cung tiền gây nên lạm phát cao ở Việt Nam Vậy tại sao có kết quả khác nhau khi xem xét mối quan hệ cung tiền và lạm phát theo tháng và năm? Nguyên nhân xuất phát từ sự khác biệt giữa biễn vòng quay tiền Khi xét trong một khoảng thời gian dài vòng quay tiền g1ữa các năm có thé rất khác nhau đặc biệt là trong giai đoạn kinh tế có nhiều biến động Đối với dữ
Trang 14
liệu tháng chúng ta có thê có một số lượng quan sát đủ lớn chỉ trong thời gian ngăn, trong giai đoạn ngăn sự thay đổi vòng quay tiền rất nhỏ nên sự thay đổi cung tiền sẽ phản ánh vào biến động giá trên thị trường
d) Những yễu tổ khác
Về mặt lý thuyết có rất nhiều yếu tố gây nên lạm phát, tùy từng giai đoạn mả một nguyên nhân nào đó có the dong vai tro chinh Nhiều khi các nguyên
nhân có thể đan xen lẫn nhau rất khó tách các yếu một cách rạch ròi Theo
quan điểm của chúng tôi một số nguyên nhân sâu xa gây nên lạm phát ở Việt
Nam đó là sự thiếu hiệu quả trong đầu tư, và tình trạng thâm hụt ngân sách
cao thường xuyên
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ đầu tư/GDP cao nhất thế giới Trong những năm gần đây tỷ lệ đầu tư/GDP luôn lớn hơn 40% trong khi đó tốc độ tăng trưởng chỉ đạt ở trung bình chưa đến 8% ICOR của Việt Nam lớn hơn 5 lần, cao hơn nhiều so với các nước Đông Á, và các quốc gia khác củng trình độ phát triển như Việt Nam hiện nay Trong một nghiên cứu trước đây của chúng tôi có tựa đề “Các van đề tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” chúng tôi đã nêu ra các nguyên nhân yếu kém trong cơ cầu nên kinh tế Chính những yếu kém này là những nguyên nhân sâu xa cho bất ồn vĩ mô và lạm phát cao
Tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài trong nhiều năm qua, áp lực in tiền tài trợ cho thâm hụt ngân sách cũng gây nên áp lực cho lạm phát Ngoài ra, việc kiểm soát giá hàng hóa và neo tỷ giá ngoại tỆ một cách khá cứng nhắc cũng gây ra những xáo trộn kéo đài cho nền kinh tế Tỷ giá hay giá hàng hóa không phản ánh giá thị trường do kiểm soát hoặc độc quyên đêu ân chứa khả năng
lạm phát tiềm tàng trong tương lai
2.1.1.3 Thời kỳ 2009-2010:
Tăng trưởng kinh tế khả quan trong năm 2010 Đáng lưu ý là ngành công nghiệp
phục hồi ẫn tượng, tăng trưởng gân 14% Mặc dù chịu tác động mạnh bởi khủng
hoảng kinh tế toàn cầu nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc
độ khá cao và cải thiện dần qua các quý
Trang 15
Cụ thể, tăng trưởng GDP quý 3 đã đạt 7.2%, cao hơn nhiêu so với mức 5.83 và
6.4% của quý 1 và quý 2 Như vậy, năm 2010 tăng trưởng GDP của Việt Nam đã được cải thiện khá nhiều so với mức 5.3% của năm 2009 Tăng trưởng GDP của
Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á nhưng thấp
hơn so với Trung Quốc và Ấn Độ
Điểm đáng lưu ý là ngành công nghiệp phục hồi ẫn tượng Khu vực công nghiệp
và xây dựng 9 tháng năm 2010 tăng 7.29%, cao hơn mức 4.64%% của cùng kỳ năm trước Trong đó, Trong 11 tháng đầu năm 2010, sản xuất công nghiệp tăng trưởng
13.8%, gần gấp đôi so với mức tăng 7.3% cùng kỳ năm 2009
Đà phục hồi cũng có thê nhận thấy ở ngành dịch vụ, với mức tăng trưởng trong 9 tháng đạt 7.24%, cao hơn nhiều so với mức 5.9% của cùng kỳ năm 2009 Đáng
chú ý là doanh số bán lẻ 11 tháng tăng đến 14.7%, sau khi loại trừ tăng giá Sự
phục hồi mạnh mẽ của ngành dịch vụ còn nhờ vào kết quả khả quan của ngành du
lịch, thương mại và dịch vụ tài chính
Trong khi đó, tăng trưởng khu vực nông nghiệp 9 tháng năm 2010 đạt 2.89%, so voi muc 1.58% cua cung ky nam trước
Tăng trương GDP của Việt Nam
oD tr WH oT MU) (CƠ P-¬ C- LÔ CD c (CHỊ () lo {- P- C1 CC! 5
¬ =ma: CC CC, mma a CC & = = Co coco fF 8c Gc —= a &
anarnrnrmnm mma mm — — — — — — — — — & =
Se oe =— =— = ®= ®= ®= e= = EM: PM: CN EM DEN LỆ SEN (EM TÔ
——~—Täng trưởng GDP —e— Nang nghiép
——w— Cũng nghiệp —e— Dich vu Ngudn: ADB wa Du bao cia vietstock
Trang 16
Mặc dù tăng trưởng GDP cao nhưng chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam lại rât thâp
Trong 9 tháng đầu năm tông đầu tư tăng 19.8%, tỷ lệ Đầu tư/GDP lên tới 44% và
ước tính khoảng 42-43% trong năm 2010 Tỷ lệ đầu tư này cao hơn nhiêu so với
các nước Đông Nam A khác, hiện chỉ ở 15-20%
Đầu tư của khu vực nhà nước trong 9 tháng tăng đến 30.2% so với năm 2009, chiếm 37.6% tổng đầu tư của nên kinh tế Trong khi đó, vốn đầu tư khu vực
ngoài nhà nước tăng 17%, chiếm 36.8%; khu vực đầu tư nước ngoài tăng 10.7%,
chiếm 25.6%
Như vậy, việc đầu tư khu vực nhà nước tăng mạnh đóng góp một phần quan
trọng đê duy trì đà tăng trưởng trong năm 2010
Thâm hụt thương mại cao và mât cân đôi cán cân thanh toán khiên
cân băng nên kinh tê thâp
Thâm hụt thương mại của Việt Nam luôn ở mức rât cao và là một
trong những yêu tô gây nên những bât ôn vĩ mô
Năm 2008, thâm hụt thương mại lên tới đỉnh điểm 18 tỷ USD,
bằng gần 20% giá trị GDP Trong năm 2009 và 11 tháng đầu năm
2010, thâm hụt thương mại giảm xuống còn 12.84 tỷ USD và 10.5
tỷ USD
Như vậy, tuy thâm hụt thương mại năm đã giảm xuống so với các
năm 2007 và 2008 nhưng đây vẫn là mức rất cao so với quy mô
của nền kinh tế Việt Nam