đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thấu đáo và thận trọng về hành vi phạm tội của bị cáo, để không chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà N
Trang 1KHOA LUẬT
HỌC PHẦN TƯ DUY PHÁP LÝ
KIỂM TRA GIỮA KỲ
Án lệ số 30/2020/AL
về hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi gây
tai nạn
Đề bài: Đọc bản án lệ số 30/2020/AL về hành vi cố ý điều khiển phương tiện
giao thông chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn
Tóm tắt vụ việc, xác định câu hỏi pháp lý kết luận, câu hỏi pháp lý mấu chốt và câu hỏi pháp lý phụ thuộc
BÀI LÀM
A PHẦN I: Tóm tắt sự việc
Chiều 31/05/2016, Phan Đình Q điều khiển ô tô tải, loại có trọng tải 6 tấn, lưu thông trên quốc lộ 1 Lúc này, đi cùng chiều với Q còn có em Hoàng Đức
P điều khiển xe máy điện trên phần đường dành cho người đi bộ và xe thô sơ Khi đang lưu thông trên đường thì Q bất ngờ chuyển hướng rẽ phải đi vào đường liên xã, cùng lúc này xe của em P cũng vừa đi đến Do chuyển hướng
Trang 2không quan sát kỹ nên ô tô của Q đã va chạm và gây tai nạn với xe máy điện của em P
Hậu quả: xe của em P bị cuốn vào gầm ô tô
Sau khi xảy ra va chạm, Q liền dừng xe, nhảy xuống khỏi xe để kiểm tra thì phát hiện em P nằm dưới gầm xe Bánh phía sau bên phụ của ôtô đè lên phần vai, gáy của em P Q đứng quan sát gần một phút rồi lên xe cài tiếp số 1 để cho
xe chạy tới Hậu quả: ô tô đè qua đầu em P làm nạn nhân vỡ sọ não và tử vong ngay tại chỗ
VKSND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố Phan Đình Q về tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" Tuy nhiên, căn cứ
vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, hội đồng xét xử TAND huyện Kỳ Anh cho
rằng hành vi của bị cáo Q là phạm vào tội "giết người" chứ không phải tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" Hồ sơ vụ án
được trả lại cho Viện kiểm sát và sau đó được chuyển lên cấp tỉnh để điều tra,
truy tố, xét xử bị cáo Q về tội “giết người”.
Xử sơ thẩm lần 2, TAND tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt bị cáo Q 12 năm tù về tội giết người, xử buộc bị cáo Q phải bồi thường cho gia đình người bị hại
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Bị cáo Q kháng cáo, cho rằng tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo tội “giết người”
là không đúng tội danh, mà bị cáo chỉ phạm tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo đề nghị xử tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo với lý do hình phạt còn quá nhẹ
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VC1-HS: đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội áp dụng
Trang 3tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93
BLHS 1999
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên lại đề nghị không áp dụng tình tiết côn đồ mà áp dụng điểm q
“phạm tội vì động cơ đê hèn” và tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo.
Bị cáo Phan Đình Q tiếp tục kêu oan về tội danh mà Tòa án đưa ra
Người bào chữa cho bị cáo Q đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thấu đáo và thận trọng về hành vi phạm tội của bị cáo, để không chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và quyết định bản án về tội danh của Tòa án cấp sơ thẩm, không kết án bị cáo Q về
tội “giết người”, mà kết án bị cáo về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm kết án bị cáo như bản án sơ thẩm và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội để xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo
B PHẦN II: Xác định câu hỏi pháp lý kết luận, câu hỏi pháp lý mấu chốt và câu hỏi pháp lý phụ thuộc
Yêu cầu của các bên trong phiên tòa phúc thẩm:
1 Về phía bên bị cáo
● Bị cáo kêu oan về tội danh, cho rằng mình không phạm tội giết người mà
chỉ phạm tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông”;
● Người bào chữa cho bị cáo đề nghị tòa phúc thẩm xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, để không chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát và bản án tòa sơ thẩm và kết luận bị cáo về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông”.
Trang 42 Về phía bên bị hại
● Đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị tăng mức xử phạt tù đối với
bị cáo;
● Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm kết án bị cáo như bản án sơ thẩm và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội để xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo
3 Về phía Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội
● Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VC1-HS: Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm n
khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 và xử tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo
→ Câu hỏi kết luận của vụ việc: Bị cáo Phan Đình Q có phạm tội giết
người hay không?
Khái quát các sự việc xảy ra:
● Q điều khiển ô tô tải đi trên đường cùng chiều với P;
● Q chuyển hướng rẽ phải, không quan sát, va chạm và gây tai nạn với P.;
● Q xuống xe kiểm tra thì phát hiện P nằm dưới gầm ô tô;
● Q quan sát xung quanh rồi lên xe, cho xe chạy tới đè qua đầu em P làm nạn nhân vỡ hộp sọ và tử vong
→ Sự kiện mấu chốt: Q quan sát xung quanh rồi lên xe, cho xe chạy tới
đè qua đầu em P làm nạn nhân vỡ hộp sọ và tử vong
→ Câu hỏi mấu chốt: Việc chạy xe đè qua đầu gây cái chết cho P có
phải là hành vi gây ra tội giết người hay không?
→ Các câu hỏi phụ thuộc:
● Cấu thành tội phạm “Giết người” là gì?
● Hành vi của bị cáo có xâm phạm khách thể nào không?
Trang 5● Vào thời điểm xảy ra hành vi đó, bị cáo có đủ năng lực pháp luật hình sự hay không?
● Hành vi của bị cáo có xâm phạm khách thể nào không? Có lỗi hay không?
● Khi xuống kiểm tra xe và phát hiện bị hại cùng phương tiện giao thông là chiếc xe máy điện đang nằm kẹt trong gầm xe, tại sao bị cáo không xác định xem bị hại đang trong tình trạng nào mà đã tiếp tục điều khiển xe cán qua người bị hại?
-Tư duy pháp lý
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh
Đề bài: Đọc bản án lệ số 30/2020/al và trình bày các lập luận để buộc tội Q với tội danh giết người - với tư cách đại diện Viện Kiểm Sát.
Án lệ: https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/an-le/27588/an-le-so-30-2020- al-ve-hanh-vi-co-y-dieu-khien-phuong-tien-giao-thong-chen-len-bi-hai-sau-khi-gay-tai-nan?
fbclid=IwAR15B3qlW6e8MTRSniA4bUqpxQRaKPb4QLkreLEYyTAnoN Uo2uENXkUWZ1c
I Issue - Vấn đề cần giải quyết
a Vấn đề cần giải quyết:
- Sau khi gây ra tai nạn giao thông, bị cáo dừng xe xuống kiểm tra thấy bị
hại nằm dưới gầm xe tải, không xác định được bị hại còn sống hay đã chết, bị cáo tiếp tục điều khiển xe chèn lên người bị hại, dẫn đến hậu quả
là bị hại chết
Trang 6- Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết
người”
b Tóm tắt vụ án:
- Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 31-5-2016, Phan Đình Q có giấy phép lái xe
hạng C điều khiển xe ô tô tải (BKS 38C-073.05) loại xe có trọng tải 06 tấn đi trên đường quốc lộ 1A, theo hướng từ xã Đ đến xã T, đi cùng chiều với Q có xe máy điện (BKS 38MĐ1-218.54) do em Hoàng Đức P điều khiển đang đi trên phần đường dành cho người đi bộ và xe thô sơ Khi Q điều khiển xe ô tô đi đến Km 584 Quốc lộ 1A thuộc xã T, huyện A (đoạn giao nhau với xã T) thì bất ngờ Q điều khiển xe ôtô chuyển hướng rẽ phải
đi vào đường liên xã theo hướng đến Ủy ban nhân dân xã T, cùng lúc này
em Hoàng Đức P cũng vừa đi đến Do Q điều khiển xe chuyển hướng, nhưng lại không quan sát kỹ nên xe ô tô của Q đã va chạm gây ra tai nạn đối với xe máy điện do em P điều khiển, làm phần khung kim loại bảo vệ bình hơi phía bên phải xe ô tô va chạm với xe máy điện của em P, làm xe máy điện của em P bị cuốn vào gầm xe ô tô Sau khi xảy ra va chạm thì Q liền dừng xe lại, nhảy xuống khỏi xe rồi đi vòng ra sau phía bên phụ xe ô
tô để kiểm tra thì nhìn thấy có một người nằm dưới gầm xe ô tô, đầu hướng về cổng chào xã T, còn chân thì hướng quốc lộ 1A, tay phải nằm vắt ra ngoài, bánh phía sau bên phụ của ô tô đè lên phần vai, gáy của em
P, phần mặt bên trái của P tiếp xúc với mặt đường Sau Khi thấy em P bị tai nạn nằm ở tư thế bị chèn ở phía trước của hàng bánh sau xe ô tô, Q đứng quan sát được khoảng gần một phút, rồi lên xe cài số 1 để tiếp tục cho xe chạy tiến lên và xe ô tô của Q đè qua đầu nạn nhân, làm cho nạn nhân bị vỡ sọ não và tử vong
c Sự kiện mấu chốt:
- Trong khi đang điều khiển xe ô tô phát hiện có việc va chạm, xảy ra tai
nạn giao thông thì Q đã dừng xe lại để xuống kiểm tra, Khi Q nhìn thấy
có một nạn nhân (sau này biết đó là em Hoàng Đức P) đang nằm ở phía
Trang 7trước hàng bánh phía sau xe ô tô về phía bên phải thì Q đã lên xe, điều khiển cho xe ô tô đi thẳng, nên hàng bánh sau xe ô tô của Q đã đè lên đầu, hậu quả là em Hoàng Đức P bị vỡ hộp sọ và chết ngay tại chỗ
d Câu hỏi mấu chốt: Hành vi lái xe cán qua người em P dù đã biết em nằm
dưới gầm xe có là hành vi khách quan cấu thành tội “Giết người” được quy định tại điều 123 BLHS 2015 hay không?
e Câu hỏi phụ thuộc:
(1)Anh Q có đủ năng lực TNHS không?
(2) Hành vi của Q cấu thành cụ thể tội giết người nào? Được quy định ở đâu?
(3)Tại sao sau khi kiểm tra xong anh Q lại không tìm sự giúp đỡ hoặc cách giải quyết khác?
(4) Anh Q có biết việc cho xe tiến lên trước cán qua đầu em P sẽ làm em
P tử vong hay không?
Câu hỏi kết luận: Bị cáo Q có phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh giết
người hay không?
II Relevant - luật liên quan
Các điều 93, 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với các điều 123, 260
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Điều 93 Tội giết người
1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù
từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết nhiều người;
b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
Trang 8c) Giết trẻ em;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn
2 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm
3 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm
Điều 202 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Trang 91 Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định
về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù
từ sáu tháng đến năm năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;
b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng
3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm
4 Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm
5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
III Application - phân tích vụ án
Trang 10- Để trả lời cho câu hỏi kết luận Bị cáo Q có phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh giết người hay không? Trước hết ta phải tính đến hành vi
Hành vi lái xe cán qua người em P dù đã biết em nằm dưới gầm xe có là hành vi khách quan cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS hay không? Theo các tình tiết vụ án đã được tóm lược ở trên, cũng như các bằng chứng, vật chứng và lời khai, ta có:
- Dựa theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 31-5-2016 và lời khai thừa nhận tội danh của bị cáo, có thể nhận thấy rõ ràng bị cáo đã vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, cụ thể là điều khiển xe chuyển hướng bất ngờ mà không quan sát kỹ càng, không thực hiện đúng luật, nên đã đâm vào xe máy điện do em P điều khiển đang đi đúng phần đường của mình, làm em P bị cuốn vào gầm xe Tuy nhiên,
- Dựa theo lời khai của bị cáo, sau khi nhận biết được va chạm, bị cáo đã
xuống xe quan sát “Khi xuống kiểm tra tôi thấy nạn nhân nằm sát về phía trước của hàng bánh sau xe ô tô, bánh xe ô tô chưa đè hẳn lên đầu người đó, bị cáo mới chỉ nhìn thấy nạn nhân đó nằm bất động về phía trước bánh xe ô tô ở hàng bánh sau phía bên phải” (Bút lục 61, 68, 85,
354, 356) “Khi xuống kiểm tra thì tôi không chắc chắn nạn nhân đang nằm dưới gầm xe ô tô là còn sống, hay đã chết, vì thực tế lúc đó tôi cũng chưa có căn cứ để xác định được là nạn nhân đã chết, hay còn sống” Từ
đó cho thấy, Q không biết và cũng không quan tâm rằng nạn nhân còn sống hay đã chết, đồng thời rất rõ ràng rằng nạn nhân đang ở trong tình trạng nguy hiểm Nhưng hắn lại không hề có hành động đưa người ra khỏi gầm xe hay gọi người để cứu nạn nhân, chứng tỏ bị cáo không hề có
ý định cứu nạn nhân
- Theo tình tiết của vụ án, sau đó bị cáo lên xe cài số 1 để tiếp tục cho xe chạy tiến lên và xe ô tô của Q đè qua đầu nạn nhân, làm cho nạn nhân bị
vỡ sọ não và tử vong Theo lời khai của bị cáo, “mặc dù bị cáo nhận thức được lúc đó cho xe ô tô lùi lại, hay tiến lên thì cũng đều đè qua người
Trang 11nạn nhân và tôi nhận thức được như vậy, nhưng tôi vẫn chấp nhận cứ cho xe đè qua người nạn nhân” (Bút lục 58, 61, 64, 65, 69) Nghĩa là bị
cáo hoàn toàn có ý thức về hành vi của mình, Q cố ý thực hiện hành vi cán xe qua người nạn nhân với mục đích làm cho nạn nhân chết
- Mặc dù bị cáo khai “Tuy bị cáo là người lái xe ô tô đè qua đầu cháu P, nhưng do bị cáo luống cuống, đã cài nhầm số mà lẽ ra bị cáo lùi xe, thì
bị cáo lại cho xe đi thẳng, bị cáo không muốn nạn nhân chết.” Nhưng
như trên đã phân tích, thực tế tình hình là dù cho xe di chuyển như thế nào cũng sẽ chèn lên người nạn nhân gây nguy hiểm tính mạng của nạn nhân và bị cáo nhận thức rõ điều đó mà vẫn làm, chứng tỏ lời khai trên bị
cáo muốn chối bỏ mục đích của hành vi cố ý giết người Hơn nữa, sau khi
xuống xe quan sát nạn nhân tính từ thời điểm xuống xe cho đến khi lên xe
là tầm 1 phút cũng là thời gian để bị cáo bình tĩnh và tính toán xem mình
sẽ phải làm gì nên việc luống cuống cài số nhầm lùi thành tiến khó có khả năng xảy ra
- Xét về năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo Q hoàn toàn đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật chịu trách nhiệm hình sự về tội danh giết người (anh Q hoàn toàn tỉnh táo và đủ tuổi để tham gia giao thông)
- Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn đủ CTTP của tội phạm cố ý giết người, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng con người, nạn nhân là người đang trong hoàn cảnh đặc biệt, nguy hiểm Bị cáo nhận thức rõ được hành
vi của mình là trái pháp luật và hậu quả chết người cho nạn nhân và vẫn
cố ý thực hiện hành vi thay vì cứu giúp người bị hại và đưa đến cơ sở y tế gần nhất
- Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, động cơ đê hèn, vì bị cáo muốn nạn nhân chết hẳn để không phải chịu trách nhiệm đền bù Vì vậy hành vi phạm tội có thêm tình tiết tăng nặng theo điểm q khoản 1 điều 123 BLHS
IV Conclusion - Kết luận