Một số biện pháp tổ chức tốt hoạt động dạy học theo nhóm trong dạy học toán lớp 3 nhằm phát triển năng lực học sinh Biện pháp 5: Bồi dưỡng năng lực tổ chức, điều hành hoạt động nhóm ch
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
Trang 21.2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới 4
1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
2.1.1 Mục tiêu giáo dục thời kì mới – thời kì hội nhập 5
2.1.2 Mục tiêu giáo dục tiểu học nói chung và dạy học toán ở
tiểu học nói riêng
6
2.1.3 Một số phương pháp thường sử dụng trong dạy học
toán ở tiểu học hiện nay
7
2.1.4 Một số nét cơ bản về PPDH theo nhóm 8
2.1.5 Một số đặc điểm tâm lý của HS tiểu học nói chung và
tâm lý HS lớp 3 nói riêng
11
3 Chương trình môn toán lớp 3 và thực trạng sử dụng PPDH
theo nhóm trong dạy học toán lớp 3 ở trường TH An Hảo
12
3.1 Tổng quan về chương trình môn toán lớp 3 12
3.2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH và DHTN trong
dạy học toán lớp 3 ở trường TH An Hảo
14
3.3 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo giải pháp 17
3 Một số biện pháp tổ chức tốt hoạt động dạy học theo nhóm
trong dạy học toán lớp 3 nhằm phát triển năng lực học sinh
Biện pháp 5: Bồi dưỡng năng lực tổ chức, điều hành hoạt
động nhóm cho các nhóm trưởng và kĩ năng làm việc hợp tác cho HS
40
Trang 3Biện pháp 6: Tăng cường cơ sở vật chất 42Biện pháp 7: Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm lớp 44
4 Những bài học rút ra cho bản thân và đồng nghiệp sau quá trình nghiên cứu và thực hiện
52
Trang 4IX của Đảng đã chỉ rõ: “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực
là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo”
Cốt lõi của đổi giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theohướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS Trong số các
PPDH dạy học tích cực thì “Dạy học theo nhóm” (DHTN) đã được nhiều nhà
giáo dục quan tâm
Ở tiểu học, trong những năm gần đây, nhất là từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo
triển khai mô hình trường học mới thì “Dạy học theo nhóm”đã được hầu hết giáo
viên (GV) sử dụng trong các tiết dạy Tuy nhiên nhiều giờ học mới chỉ dừng lại ởviệc sắp xếp học sinh (HS) ngồi theo nhóm, trong một khoảng thời gian quy định,nhóm HS cũng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và đưa ra kết quả của nhóm.Song đó thực chất chỉ là kết quả của một hay một vài cá nhân chứ chưa phải là kếtquả chung của tất cả cá nhân trong nhóm Như vậy, hoạt động nhóm chỉ mang tínhhình thức Điều này thể hiện rất rõ trong dạy học môn Toán mà đặc biệt là Toán lớp
Trang 51.2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của “Dạy học theo nhóm” trong
dạy học Toán lớp 3 ở trường tiểu học An Hảo, đề xuất một số biện pháp chỉ đạogiáo viên nhằm giúp GV tổ chức tốt hoạt động theo nhóm trong dạy học toán phát
huy tính tích cực, tự giác của HS góp phần đáp ứng mục tiêu “Đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục” mà Đảng đã đề ra; Nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà
trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay
1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tổ chức tốt hoạt động theo nhóm
trong dạy học toán lớp 3 ở trường Tiểu học An Hảo
1.3.2 Khách thể nghiên cứu: Giáo viên và học sinh lớp 3 trường tiểu học An
Hảo
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hình thức tổ chức dạy học theo nhóm và tâm lý
của HS tiểu học, nhất là HS lớp 3 trong học toán và khi làm việc nhóm
- Tìm hiểu thực trạng tổ chức dạy học theo nhóm trong dạy toán lớp 3 ở
trường tiểu học An Hảo
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong dạy học
toán lớp 3 ở trường tiểu học
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả nghiên cứu và rút ra các bài học
kinh nghiệm để tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm thành công
1.5 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức tốt các hoạt động DHTN trong môn toán lớp 3 ở trường tiểu họcthì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng dạy học toán theo hướng tích cực hóahoạt động học ở HS, giúp HS nâng cao khả năng tự học, phát triển năng lực tư duy,phát hiện và giải quyết vấn đề, góp phần rèn luyện cho HS những kĩ năng cần thiếtcủa con người trong thế kỉ XXI
II Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu tìm giải pháp của đề tài
Trang 6II.1 Cơ sở lý luận
1 Mục tiêu giáo dục thời kì mới – thời kì hội nhập:
Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày nay đòi hỏi nguồnnhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng Nguồn nhânlực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của mỗi đơn vị, doanh nghiệpnói riêng và của đất nước nói chung Kiến thức và sự hiểu biết về nguyên tắc đảmbảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, logíc tất yếu đòi hỏi chất lượng đào tạongày càng phải tốt hơn Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáodục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sangmột nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủđộng, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là pháthuy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộngtác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cáchPPDH ở nhà trường
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bảnchất của đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực người học và một sốbiện pháp đổi mới PPDH theo hướng này
Đổi mới PPDH đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếpcận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đếnviệc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học
Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ PPDH theo lối "truyền thụ một
Trang 7chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thànhnăng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV-
HS, HS-HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực
xã hội
2 Mục tiêu giáo dục tiểu học nói chung và dạy học toán ở tiểu học nói riêng
Mục tiêu của giáo dục tiểu học được quy định tại Luật Giáo dục Việt
Nam năm 2010 như sau:“Trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản ban
đầu, hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản nền tảng, phát triển hứng thú học tập ở học sinh, thực hiện các mục tiêu giáo dục toàn diện đối với học sinh
tiểu học”
Để thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học nêu trên, đòi hỏi nội dung giáodục tiểu học phải mang tính toàn diện, cân đối giữa các mặt giáo dục: giáo dục trithức, với giáo dục kĩ năng và giáo dục ý thức thái độ Đồng thời phải đảm bảo tínhcân đối giữa dạy lý thuyết với dạy thực hành, quan tâm tới phát triển những kỹnăng có tính chất nền tảng cho HS tiểu học, làm cơ sở ban đầu cho sự phát triểnsau này Để thực hiện mục tiêu giáo dục trên, nhà trường tiểu học có thể tiến hànhbằng nhiều con đường khác nhau, trong đó con đường dạy học là con đường cơbản và quan trọng nhất
Dạy và học ở tiểu học là hai mặt hoạt động của một quá trình trong đó dướivai trò chủ đạo của GV, HS chủ động, tự giác, tích cực lĩnh hội tri thức, kĩ năng và
tự làm phong phú vốn hiểu biết của mình Do đó, trong quá trình học tập, HS phảikhông ngừng lĩnh hội những kiến thức do GV cung cấp mà còn phải tự tìm ra trithức mới, kỹ năng mới từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, từ sách vở, đài báo,mạng internet, từ sự trao đổi tương tác giữa bản thân mình với bạn bè, cộng đồng,
… Do đó trong dạy học tiểu học, GV cần phải trang bị cho HS những kĩ năng cơbản: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kĩ năng ứng xử, kĩnăng biết lắng nghe, … Những kĩ năng này được hình thành và phát triển thôngqua hoạt động nhóm
Trong các môn học ở tiểu học, Toán học là một môn học vô cùng quantrọng Mục tiêu dạy học môn toán tiểu học nhằm giúp học sinh có những kiến thức
Trang 8cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đại lượngthông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản; Hình thành các kỹ năngthực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống;Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạtchúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đề đơn giản, gầngũi trong cuộc sống; Kích thích trí tưởng tượng; Gây hứng thú học tập toán; Gópphần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học,chủ động, linh hoạt, sáng tạo
Như vậy, môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc hình thành và pháttriển nhân cách ban đầu cho học sinh Nó rèn luyện cho các em phương pháp suynghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề Nó góp phần pháttriển trí thông minh, giúp các em biết cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo.Ngoài ra môn học này còn góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết
và quan trọng của con người như: tính cần cù, cẩn thận trong mọi công việc, có ýchí vượt qua mọi khó khăn, cách làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phongkhoa học, Đó chính là phẩm chất của con người thời kì mới
3 Một số phương pháp thường sử dụng trong dạy học toán ở tiểu học hiện nay
PPDH là hệ thống những cách thức hoạt động (bao gồm các hành động vàthao tác) của GV và HS nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học xácđịnh Trong dạy học, có rất nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp có ưuđiểm và hạn chế riêng, mỗi PPDH lại phù hợp với đặc trưng của từng môn họckhác nhau Hiện nay, trong dạy học toán ở tiểu học, GV thường sử dụng một sốphương pháp như: Thuyết trình; Giảng giải minh hoạ; Gợi mở vấn đáp; Trực quan;Thực hành - luyện tập; Phát hiện và giải quyết vấn đề; Kiến tạo; Hợp tác theonhóm; Trò chơi
Trong các PPDH trên, các phương pháp Thuyết trình; Giảng giải minh hoạ;Gợi mở vấn đáp; Trực quan; Thực hành - luyện tập được coi là PPDH truyền thống.Trong PPDH truyền thống GV vẫn giữ vai trò trung tâm trong quá trình dạy học; HSphải tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chưa phát huy được tính tích cực nhận
Trang 9thức và GV không có điều kiện kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức của HS Cònnhững PPDH như Phát hiện và giải quyết vấn đề; Kiến tạo; Dạy học theo nhóm; Tổchức trò chơi là những PPDH phát huy tính tích cực của HS Với các PPDH này thìvai trò của HS hoàn toàn thay đổi HS vừa là mục tiêu của quá trình dạy học vừa làchủ thể của quá trình học tập Mọi biện pháp sư phạm đều hướng về HS, HS đượccuốn hút vào những hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tựlực khám phá những điều mình chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những trithức đã có theo cách nghĩ riêng của mình HS sẽ thông hiểu ghi nhớ những gì đãlĩnh hội được qua hoạt động học tập của chính mình Còn GV trở thành ngườitrọng tài và cố vấn cho HS trong quá trình nhận thức.
Trong các PPDH tích cực trên, phương pháp DHTN được GV sử dụngthường xuyên hơn cả Bởi trong học tập không phải mọi kiến thức, kỹ năng đềuđược hình thành bằng những hoạt động thuần túy cá nhân Lớp học là môi trườnggiao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
đi tới những tri thúc mới Thông qua sự hợp tác tìm tòi nghiên cứu, thảo luận trongtập thể ý kiến của cá nhân được bộc lộ, được điều chỉnh hay bác bỏ, qua đó ngườihọc nâng mình lên một trình độ mới, việc tiếp cận tri thức sẽ đạt được hiệu quả caohơn
4 Một số nét cơ bản về PPDH theo nhóm
* Khái niệm : “Dạy học theo nhóm” còn được gọi bằng những tên khác
nhau như: “Dạy học hợp tác”, “Dạy học theo nhóm nhỏ”, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.
DHTN là một trong những xu hướng mới có nhiều ưu điểm và hiệu quả cao
của giáo dục thế kỷ XXI Có thể coi DHTN là PPDH tích cực mang tính tập thể,trong đó có sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân và kết quả là người họctiếp thu được kiến thức thông qua các hoạt động tương tác khác nhau giữa ngườihọc với người học, giữa người học với người dạy, giữa người học và môi trường
Trang 10George Bernard Shaw, nhà soạn kịch nổi tiếng người Anh, từng đoạt giải NobelVăn học đã nói: “Bạn có một quả táo, tôi có một quả táo, chúng ta trao đổi vớinhau thì bạn và tôi mỗi người có một quả táo Nhưng nếu bạn có một ý tưởng, tôi
có một ý tưởng và chúng ta trao đổi ý tưởng cho nhau, thì tôi và bạn mỗi người cóhai ý tưởng” Phát triển tư tưởng của Bernard Shaw, DHTN đã và đang là mộttrong những xu hướng phát triển mới có nhiều ưu điểm và hiệu quả cao của giáodục thế kỷ XXI DHTN góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, nó khôngchỉ giúp cho người học nắm vững kiến thức mà còn phát triển năng lực giao tiếp vàkhả năng hợp tác – một trong những phẩm chất cần thiết quan trọng của con ngườimới trong giai đoạn hiện nay
* Mục đích, vai trò của DHTN ở tiểu học.
Chúng ta đều biết mỗi PPDH đều có một lợi thế nhất định Việc DHTN chophép HS có nhiều cơ hội hơn để diễn đạt và khám phá ý tưởng của mình, mở rộngsuy nghĩ, rèn luyện một số kĩ năng như: Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng hoạt động hợptác giữa các cá nhân trong một nhóm làm việc; Kĩ năng trao đổi thông tin, trìnhbày và tiếp nhận thông tin; Kĩ năng tìm kiếm thông tin; Kĩ năng làm việc trong môitrường hợp tác; Khả năng phối hợp với người khác cùng hoàn thành công việc.Đồng thời DHTN còn giúp HS có ý thức hợp tác trong công việc; Ý thức tự chịutrách nhiệm trong nhóm; Ý thức tôn trọng thành quả lao động của người khác; Ýthức cùng người khác hướng tới một mục đích hoạt động chung Cũng từ đó, HSphát huy được vai trò trách nhiệm cá nhân vừa có cơ hội để học tập từ các bạn quacách làm việc hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Như vậy, tổ chức cho HSlàm việc theo nhóm chính là đã tạo điều kiện cho tất cả HS tham gia vào bài họcmột cách chủ động và tạo được một môi trường xã hội thuận lợi để trẻ hình thànhtính cách đồng thời phát triển kĩ năng sống của mình Hình thành cho các em tinhthần tự chủ, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ nhau Song song đó học tập theo nhóm còngiúp HS phát triển năng lực xã hội, phát triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năngthảo luận, kỹ năng bảo vệ ý kiến, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, Giúp những
HS nhút nhát, thiếu tự tin có cơ hội phát biểu, trình bày ý kiến của mình và từ đótrở nên tự tin, năng động, mạnh dạn hơn trước tập thể HS có cơ hội phát huy kỹ
Trang 11năng sáng tạo, đánh giá, tổng hợp, phân tích, so sánh, biết giải quyết các vấn để vàtình huống, trong học tập một cách phù hợp, hiệu quả và sáng tạo và từ những vấn
đề, tình huống đó HS sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý giá cho bản thân
* Quy trình và cách thức dạy học theo nhóm
Theo tài liệu Dự án phát triển Giáo viên Tiểu học – đổi mới phương phápdạy học ở Tiểu học, quy trình tổ chức DHTN gồm 5 bước:
Hình thức giao nhiệm vụ: GV có thể dùng lời trực tiếp hoặc dùng phiếu giaoviệc Để HS thảo luận tốt, nhiệm vụ GV đưa ra không được quá khó hoặc quá dễ,phải đảm bảo tính rõ ràng và chính xác
Bước 3: GV tổ chức cho các nhóm thảo luận nhiệm vụ.
GV phải kiểm tra các nhóm xem đã nắm được nhiệm vụ thảo luận của nhómmình hay chưa, sau đó, GV giám sát theo dõi các nhóm làm việc để có thể giúp cácnhóm hoàn thành nhiệm vụ
Bước 4: Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả thảo luận, nhận xét, bổ sung
đánh giá, đưa ra kết luận Đại diện các nhóm báo cáo kết quả làm việc của nhómmình Hình thức báo cáo kết quả:
- Hình thức dùng lời: HS trực tiếp báo cáo kết quả bằng lời nói Yêu cầu cácnhóm khác chú ý lắng nghe, chất vấn, bổ sung để hoàn thành nhiệm vụ chung
- Hình thức dùng kiểu bảng: HS được làm việc ghi kết quả thảo luận vàophiếu thảo luận, kết quả khác được gắn lên bảng Các nhóm cùng nhậnxét để đưa ra kết luận đúng Qua quá trình đó, HS được hình thành khả năng đánhgiá, nhận xét
Trang 12Bước 5: Hoạt động chung cả lớp ( nếu cần thiết)
GV tổ chức chốt lại các kiến thức mới xuất hiện, đánh giá hoạt động học tậpcủa nhóm
5 Một số đặc điểm tâm lý của HS tiểu học
Học sinh tiểu học (HSTH) thường là những trẻ có tuổi từ 6 đến 11, 12 tuổi.Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường, các em thực hiện bước chuyển từ hoạt độngvui chơi là chủ đạo (ở mầm non) sang hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo HĐhọc tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm sinh lícủa trẻ Về chế độ học tập, trẻ phải thức dậy đúng giờ, không được bỏ học, phảingồi yên lặng, phải thực hiện đúng hạn bài tập ở nhà, Tính chất quan hệ qua lạigiữa GV với trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với gia đình cũng thay đổi Do trẻ chỉhứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng thú đó dễ mất đi.Cho nên cần làm cho trẻ hứng thú với chính quá trình học tập, với sự hấp dẫn củanội dung tri thức
Về sự phát triển của trí nhớ, ghi nhớ có chủ định được hình thành và pháttriển dần trong quá trình học tập và được hình thành rõ nét ở trẻ lớp 3 Hai hìnhthức ghi nhớ chủ định và ghi nhớ không chủ định tồn tại song song chuyển hoá, bổsung cho nhau Ở những năm cuối của giai đoạn này, trí nhớ có sự tham gia tíchcực của ngôn ngữ
Sự phát triển của tưởng tượng chủ yếu là phát triển tưởng tượng tái tạo cụthể Tưởng tượng của trẻ ở giai đoạn này phát triển theo xu hướng rút gọn và kháiquát hơn Đặc điểm này phát triển song song với ghi nhớ có ý nghĩa Điểm khácnhau căn bản về tưởng tượng của trẻ Tưởng tượng sáng tạo bắt đầu hình thành ởthời gian cuối của giai đoạn
Nhân cách của trẻ chủ yếu diễn ra và bị chi phối bởi hoạt động chủ đạo vàhoạt động học tập Trẻ tự điều khiển mình tuân theo những điều “cần phải” chứkhông phải theo ý muốn chủ quan Nhờ có tính chủ định đối với mọi hành vi, trẻdần dần nắm được những chuẩn mực đạo đức, những quy tắc hành vi Cuối tuổinày, hành vi, lời đánh giá của bạn bè có ý nghĩa rất lớn trong việc nhìn nhận và
Trang 13đánh giá bản thân của trẻ làm cơ sở cho tính tự đánh giá trẻ Hình ảnh người lớnđặc biệt là GV có ý nghĩa rất to lớn trong việc giáo dục trẻ.
Trẻ chịu ảnh hưởng của hoạt động lao động Những công việc tự phục vụbản thân và giúp đỡ gia đình đã làm hình thành những kĩ năng lao động, kỹ năngvạch kế hoạch, mục tiêu cho hành động và tạo điều kiện cho những rung cảm, tìnhcảm tốt đẹp đối với lao động
Trong hoạt động đội nhóm, dưới ảnh hưởng của tiêu chuẩn, nội quy, quyềnlợi chung của tập thể trẻ phát triển được: Tính tự lập, tình cảm trách nhiệm, mốiquan tâm, đồng cảm với người khác, rèn luyện kỹ năng giao tiếp Phát huy tính tíchcực xã hội , điều kiện hình thành nhân cách mang đậm nét xã hội nơi trẻ
Việc hiểu đặc điểm tâm lí HS giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học.Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí của chúng thì cũng như
ta đập búa trên một thanh sắt nguội Chính vì vậy, trong quá trình dạy học GV cầnphải dựa vào những đặc điểm tâm lí đối tượng để lựa chọn và xây dựng nhữngphương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp, có như thế đổi mớiPPDH mới mang lại hiệu quả như mong muốn
II.B:Cơ sở thực tiễn.
Chương trình môn toán lớp 3 và thực trạng sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm trong dạy học toán lớp 3 ở trường tiểu học An Hảo
1 Tổng quan về chương trình môn toán lớp 3
Ở lớp 3 các em được học 5 tiết/ tuần Tổng số tiết toán được học trong năm
là 175 tiết Nội dung bao gồm các phần sau:
Thứ nhất: Số học
* Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 (tiếp):
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) và các bảng chiacho 2, 3, 4, 5 (số bị chia không quá 50) Bổ sung cộng, trừ các số có 3 chữ số cónhớ không quá 1 lần)
- Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9, 10 (tích không quá 100) và các bảng chiavới 6, 7, 8, 9, 10 (số bị chia không quá 100)
- Hoàn thiện các bảng nhân và bảng chia
Trang 14- Nhân, chia ngoài bảng trong phạm vi 1000: nhân số có 2, 3 chữ số với số
có 1 chữ số có nhớ không quá 1 lần, chia số có 2, 3 chữ số cho số có 1 chữ số Chiahết và chia có dư
- Thực hành tính: tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân nhẩm số có 2chữ số với số có 1 chữ số không nhớ; chia nhẩm số có 2 chữ số với số có 1 chữ sốkhông có số dư ở từng bước chia Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi
1000 theo các mức độ đã xác định
- Làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức
- Giới thiệu thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 2 dấuphép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
- Giải các bài tập dạng:
- “ Tìm x biết: a : x = b (với a, b là số trong phạm vi đã học)”
* Giới thiệu các số trong phạm vi 100 000 Giới thiệu hàng nghìn, hàng vạn, hàng chục vạn.
- Phép cộng và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá 2 lần, trong phạm
vi 100 000 Phép chia số có đến 5 chữ số có 1 chữ số (chia hết và chia có dư)
- Tính giá trị các biểu thức số có đến 3 dấu phép tính, có hoặc không có dấungoặc
- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị (dạng 1n, với n là số tự nhiên từ
2 đến 10 và n = 100, n = 1000) Thực hành so sánh các phần bằng nhau của đơn vịtrên hình vẽ và trong trường hợp đơn giản
- Giới thiệu bước đầu về chữ số La Mã
Thứ hai: Đại lượng và đo đại lượng:
- Bổ sung và lập bảng các đơn vị đo độ dài từ milimet đến kilomet Nêu mốiquan hệ giữa hai đơn vị tiếp liền nhau, giữa met và ki - lô - mét, giữa met vàxangtimet, milimet Thực hành đo và ước lượng độ dài
- Giới thiệu đơn vị đo diện tích: xăng- ti - mét vuông
- Giới thiệu gam Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị gam Giớithiệu 1kg = 1000g
- Ngày, tháng, năm Thực hành xem lịch
Trang 15- Phút, giờ Thực hành xem đồng hồ, chính xác đến phút Tập ước lượngkhoảng thời gian trong phạm vi một phút.
- Giới thiệu tiếp về tiền Việt Nam Tập đổi tiền với các trường hợp đơn giản
Thứ tư: Yếu tố thống kê
- Giới thiệu bảng số liệu đơn giản
- Tập sắp xếp lại các số liệu của bảng theo mục đích, yêu cầu cho trước
Thứ năm: Giải bài toán
- Giải các bài toán có đến 2 bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơngiản
2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH và DHTN trong dạy học toán lớp 3 ở trường Tiểu học An Hảo
Qua dự giờ thăm lớp, phỏng vấn các GV dạy lớp 3 ở trường Tiểu học AnHảo tôi thấy, trong dạy học toán lớp 3, mặc dù GV đã có những thành tựu đáng kểtrong việc đổi mới PPDH, song hiệu quả chưa cao
* Đối với GV:
Trong các giờ học, hầu hết GV vẫn sử dụng những PPDH truyền thống như:Thuyết trình; Giảng giải minh hoạ; Gợi mở vấn đáp; Trực quan; Thực hành - luyệntập, … Hình thức dạy học mà các GV sử dụng chủ yếu là dạng toàn lớp và dạng cánhân Các PPDH tích cực như: PP nêu và giải quyết vấn đề ; PP tổ chức trò chơi; PPkiến tạo và nhất là PP dạy học theo nhóm được GV sử dụng ít hơn và thường chỉ sử
Trang 16dụng ở những giờ thao giảng, trong các hội thi GV giỏi Song một số tiết dạy chưathật sự thành công khi vận dụng các PP này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế.
Thứ nhất: Lựa chọn nội dung DHTN chưa mang tính chất tranh luận, hấp
dẫn nên chưa khơi dậy tính tích cực của học sinh Việc lựa chọn nội dung là khâuthen chốt quyết định sự thành bại của phương pháp này Vấn đề không hay, quá dễhoặc quá khó không phù hợp với trình độ HS sẽ không huy động, thu hút được HStập trung, nếu có thì cũng chỉ mang tính chất đối phó
Thứ hai: Chia nhóm quá lớn hoặc quá nhỏ không phù hợp với nội dung và
đặc điểm của lớp học Việc chia nhóm còn đơn điệu, chủ yếu là nhóm cố định đượcchia theo bàn (2 bàn/nhóm)
Thứ ba: Việc chọn nhóm trưởng trong các hoạt động không do nhóm tự bầu
hoặc luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm mà do GV chọn cố định một HSkhá trong nhóm chuyên trách Điều này khiến cho các HS khác trong nhóm mất đi
cơ hội thể hiện mình cũng như cơ hội rèn luyện năng lực trình bày vấn đề trướcnhóm và tập thể lớp
Thứ tư: Việc quan sát, hỗ trợ HS khi gặp khó khăn không được nhiều GV
quan tâm Một số giáo viên khi giao nhiệm vụ xong thường ngồi tại chỗ nên khôngquan sát, bao quát hết được HS trong lớp làm gì trong thời gian học theo nhóm,
GV cũng không nắm bắt được những khó khăn, lúng túng của HS trong quá trìnhhoạt động để có sự gợi ý, hỗ trợ kịp thời dẫn tới tình trạng có HS làm việc riêng,nói chuyện trong thời gian này
Thứ năm: Tổng kết đánh giá hoạt động chưa thu hút sự tập trung chú ý của
HS Hầu hết GV đều làm như sau: Hết thời gian thảo luận, nhóm trưởng các nhómlần lượt báo cáo, gọi HS nhóm khác nhận xét bổ sung Thao tác này được lặp đi lặplại khá đơn điệu, nhàm chán
* Đối với HS:
Quen với lối học truyền thụ một chiều, thụ động trong việc lĩnh hội kiếnthức từ GV, chưa tự giác, tích cực trong việc tìm tòi, khám phá kiến thức Tronghoạt động theo nhóm, HS còn những hạn chế sau:
Trang 17Thứ nhất: Trong thời gian làm việc nhóm, chỉ có số ít HS làm việc thật sự
(nhóm trưởng và HS khá, giỏi trong nhóm), còn lại các em thường ngồi chơi, nóichuyện, làm việc riêng Một số HS không ý thức được sự cần thiết phải hợp tác đểchiếm lĩnh tri thức nên nhiều khi các em biến hoạt động thảo luận thành cơ hội đểtán gẫu, lãng phí thời gian, gây ồn ào, ảnh hưởng tới lớp khác
Thứ hai: Kết quả làm việc nhóm của HS thường lặp lại những kiến thức
trong sách giáo khoa, thiếu sự sáng tạo
Vì những hạn chế trên mà phương pháp thảo luận nhóm thường được vậndụng mang tính hình thức, đối phó, chủ yếu trong các giờ hội giảng, hầu như rất ítđược vận dụng trong những giờ học bình thường
* Nguyên nhâncủa những hạn chế trên:
- Hầu hết GV đã quen thuộc với PPDH truyền thống, chưa hiểu đúng bảnchất và cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động theo nhóm, chưa có kinh nghiệmtrong DHTN
- GV sử dụng thời gian cho một hoạt động nhóm quá dài làm cho lớp dễ ồn
3 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo giải pháp
3.1 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổng hợp và hệ thống hoá các
tài liệu, văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, phỏng vấn, quan sát thực
tiễn, đánh giá thực trạng tổ chức DHTN trong dạy học môn Toán cho HS lớp 3hiện nay
Trang 183.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để
đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất
3.3 Thời gian tạo ra giải pháp
Năm học 2016-2017: Nghiên cứu lý luận, quan sát thực trạng và hệ thốngnhững tồn tại hạn chế của GV và HS trong quá trình tổ chức hoạt động dạy họctheo nhóm
Năm học 2017-2018: Đề xuất và áp dụng các biện pháp vào thực tế dạy họctoán lớp 3 của lớp 3/3 trường tiểu học An Hảo
Trang 19III Tổ chức các giải pháp
1 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu liên quan đến DHTN; Tìm hiểu tâm lýhọc sinh tiểu học, nhất là HS lớp 3 trong hoạt động nhóm; Tìm hiểu thực trạngcách tổ chức hoạt động DHTN môn toán của GV lớp 3 trường tiểu học An Hảo đề
ra những biện pháp thiết thực giúp GV tổ chức tốt hoạt động DHTN trong môntoán lớp 3 nhằm góp phần nâng cao chất lương giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mớitrong giai đoạn hiện nay
2 Một số nguyên tắc để đề xuất các biện pháp
2.1.Đảm bảo tính cấp thiết
Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục đòi hỏi phải thực hiện tốt yêu cầu “Đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục ”, đổi mới PP và hình thức tổ chức dạy học
theo hướng phát huy năng lực HS là yêu cầu cấp thiết Vì vậy, một số biện pháp chỉđạo GV tổ chức tốt hoạt động DHTN góp phần giải quyết những khó khăn vướngmắc của GV trong quá trình tổ chức DHTN trong giai đoạn hiện nay
2.2 Đảm bảo tính thực tiễn
Các biện pháp đưa ra phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và yêu cầu của GV lớp 3 trường tiểu học An Hảo cũng như các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Biên Hòa, Đồng Nai
2.3 Đảm bảo tính khả thi
Các biện pháp được đề xuất dễ áp dụng và có khả năng áp dụng vào thựctiễn công tác giảng dạy của giáo viên trong các nhà trường tiểu học thành phố BiênHòa nói riêng và giáo viên cả nược nói chung một cách thuận lợi và đem lại hiệuquả cao
3 Một số biện pháp tổ chức tốt hoạt động dạy học theo nhóm trong dạy học toán lớp 3 ở trường Tiểu học An Hảo.
3.1 Biện pháp 1: Lựa chọn nội dung DHTN phù hợp
Trang 20Tổ chức DHTN trong môn Toán cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻbăn khoăn, suy nghĩ, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thứcmới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độhiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy được mình cần học hỏi thêm những gì.Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụđộng từ GV Vì vậy việc lựa chọn nội dung hay tình huống sư phạm phù hợp trongDHTN môn toán lớp 3 là bước đầu tiên và cũng là nội dung quan trọng trong việc
tổ chức DHTN
Việc lựa chọn nội dung hay tình huống sư phạm trong môn toán lớp 3 rấtquan trọng, nếu nội dung DHTN không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tậpcủa HS Nếu quá khó hoặc quá dễ đối với HS đều ảnh hưởng đến hoạt động nhómcủa HS Vì vậy, khi thiết kế hoạt động DHTN, GV cần lựa chọn nội dung hay tìnhhuống sư phạm đảm bảo các tiêu chí sau:
Thứ nhất: Nội dung phải là vấn đề chính của bài học.
Thứ hai: Là câu hỏi mở hay vấn đề có thể có nhiều hướng khai thác khác
nhau, nhiều cấp độ nhận thức khác nhau Hoặc khi phải tiến hành một công việcphức tạp gồm nhiều vấn đề nhỏ hơn, một người không làm được hết trong khoảngthời gian ngắn
Thứ ba: Nội dung phải hấp dẫn, có tính chất kích thích tính tích cực chủ
- Phân tích nội dung bài học thành những đơn vị kiến thức độc lập Xác định
rõ các kiến thức chính và kiến thức phụ trong bài học Kiến thức nào đã rõ ràng,kiến thức nào còn cần thảo luận, tranh luận xem hiểu (khái niệm, qui tắc) vấn đềnhư thế nào là đúng, sai Tìm ra mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức mới với kiếnthức đã học theo một trình tự hợp lý
Trang 21- Xây dựng tình huống DHTN phải là tình huống có vấn đề Trên cơ sở trình
độ nhận thức của HS trong lớp, GV thiết kế vật cản, mâu thuẫn giữa cái đã biết vàcái chưa biết nằm trong tình huống có vấn đề là những mâu thuẫn về nhận thức.Khi thiết kế vật cản cần quan tâm đến mức độ từ thấp đến cao, giúp cho tư duy HSthích ứng với cách giải quyết vấn đề GV thiết kế vật cản nên biết rõ những khókhăn mà HS phải vượt qua
Tóm lại, DHTN chỉ đạt hiệu quả khi GV biết lựa chọn nội dung phù hợp,vừa sức với khả năng, trình độ học sinh Với nội dung phù hợp sẽ có tác dụng hìnhthành nhu cầu hợp tác, đòi hỏi sức mạnh trí tuệ tập thể, kích thích sự tranh luận,tìm tòi, khám phá của HS
Nhìn chung trong chương trình môn toán lớp 3, nếu GV chịu khó đầu tư suynghĩ, thiết kế thì với mỗi bài trong chương trình đều có thể chọn được ít nhất mộtnội dung hay tình huống sư phạm để tổ chức hoạt động DHTN
+ Đối với những dạng bài hình thành kiến thức mới:
Trong chương trình toán lớp 3 có 80 bài mới bao gồm 5 mạch nội dung kiếnthức về số học, về hình học, đại lượng, yếu tổ thống kê và giải toán Con đường hìnhthành kiến thức mới (khái niệm, quy tắc, công thức, ) ở tiểu học chủ yếu bằng conđường quy nạp Tức là, xuất phát từ những đối tượng riêng lẻ như vật thật, mô hình,hình vẽ, hay kiến thức có sẵn của HS, GV dẫn dắt HS phân tích, so sánh, trừu tượnghoá, khái quát hóa để tìm ra dấu hiệu đặc trưng của một kiến thức mới
Vì vậy, khi xây dựng tình huống DHTN, GV cần căn cứ vào trình độ nhậnthức của HS trong lớp, căn cứ vào những kiến thức các em đã được học ở các lớpdưới, và dự đoán được những kinh nghiệm các em đã có để xây dựng và thiết kếcho phù hợp
Ví dụ : Dạy bài “Chu vi hình chữ nhật” trang 87 – SGK toán 3.
Kiến thức mới HS cần tiếp cận là cách tính chu vi hình chữ nhật: “Muốn
tính chu vi hình chữ nhật ta lấy số đo chiều dài cộng với số đo chiều rộng (cùng đơn vị đo) rồi nhân với 2”
Trang 22Trên cơ sở HS đã biết cách tính chu vi tam giác, chu vi tứ giác (Đã học ở lớp2), GV xây dựng tình huống YC thao tác trên đồ dùng trực quan, thảo luận tìmcách tính chu vi hình chữ nhật như sau:
Tình huống như sau: Hãy vẽ 1 hình chữ nhật có chiều dài 4cm, chiều rộng3cm rồi tính chu vi hình chữ nhật đó bằng cách nhanh nhất
Với tình huống trên, HS thảo luận theo nhóm và giải quyết theo các bướcsau:
Bước 1: Vẽ hình chữ nhật có chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm.
Bước 2: Tính chu vi hình chữ nhật dựa vào cách tính chu vi tứ giác bằng
cách cộng tổng độ dài 4 cạnh của hình chữ nhật đó
4 + 3 + 4 + 3 = 14 (cm)
Bước 3: Thảo luận cách tính nhanh chu vi hình chữ nhật từ đó rút ra quy tắc
tính chu vi hình chữ nhật
Trong quá trình HS thảo luận nhóm, GV có thể gợi ý HS: Nhận xét tổng 4 +
3 + 4 + 3 có mấy số hạng? Các số hạng như thế nào? Chuyển phép cộng các sốhạng bằng nhau thành phép nhân sau đó đưa về dạng một số nhân với một tổng
HS có thể thảo luận và nêu từng bước như sau:
4 + 3 + 4 + 3 = (4 + 4) + (3 + 3) = 4 x 2 + 3 x 2 = (4 + 3) x 2
Yêu cầu HS nhận xét các thành phần trong phép tính: (4 + 3) x 2 = 14 (cm)
- 4 là số đo chiều dài hình chữ nhật
- 3 là số đo chiều rộng hình chữ nhật
Từ đó rút ra quy tắc tính chu vi hình chữ nhật
Tương tự, với các nội dung hình thành kiến thức mới khác Trên cơ sởnhững kiến thức liên quan, GV xây dựng các tình huống, yêu cầu HS làm việctrong nhóm để tìm ra kiến thức mới
+ Đối với các bài thực hành, luyện tập, luyện tập chung, ôn tập
Ngoài phần thực hành luyện tập trong các tiết bài mới, sách giáo khoa Toán
3 có tới 95 tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập, thực hành (gọi chung là các bàiluyện tập thực hành) Mục tiêu chung của các bài luyện tập thực hành là củng cốcác kiến thức đã được học trước đó
Trang 23Trong mỗi bài luyện tập thực hành đó có thể có từ 3 đến 5 bài tập Có nhữngbài tập vận dụng kiến thức bài mới, nhưng cũng có những bài yêu cầu vận dụngtổng hợp nhiều phần kiến thức cũ đã học thì mới có thể giải được Đứng trướcnhững bài tập toán đó, tạo ra nhu cầu để HS cần sự giúp đỡ của GV và sự hợp tácvới các bạn Vì vậy, DHTN có tác dụng tăng cường hoạt động học tập cho HS (baogồm hoạt động trí tuệ, hoạt động ngôn ngữ và trình bày lời giải) Ngoài ra, DHTNcòn giúp HS huy động được kiến thức tập thể, nhiều cách suy nghĩ khác nhau.Trong quá trình luyện tập, sau khi HS thực hành giải các bài tập được giao, thaycho việc chữa bài và đưa ra đáp án, GV có thể hướng dẫn HS cùng nhau thảo luận
về những kết quả của bài làm hoặc về các cách giải khác nhau, từ đó giúp HS tìm
ra đáp án hay nhất Điều này thực sự bổ ích vì có nhiều bài tập HS làm đúng đáp sốnhưng chưa thực sự hiểu hết ý nghĩa của bài toán và các bước giải
Ví dụ: Bài luyện tập chung – Trang 83 – SGK Toán 3
Mục tiêu của tiết học: Củng cố về thứ tự thực hiện các phép tính trong biểuthức (Ở cả 3 dạng: Biểu thức chỉ có các phép tính cộng và trừ hoặc nhân và chia;Biểu thức có các phép tính cộng, trừ, nhân và chia; Biểu thức có chưa ngoặc đơn)
Nội dung gồm có 5 bài tập Yêu cầu HS làm bài cá nhân vào vở, chia sẻ cặpđôi trao đổi thống nhất kết quả
Đối với các bài 1,2,3,4 học sinh tính giá trị các biểu thức theo quy tắc,phỏng vấn nhau để kiểm tra kết quả và khắc sâu kiến thức Riêng bài tập số 5, HSchia sẻ các cách làm khác nhau Vì vậy, bài tập số 5 là tình huống để GV tổ chứccho HS thảo luận theo nhóm
Cụ thể:
Bài 5: Người ta xếp 800 cái bánh vào các hộp, mỗi hộp có 4 cái Sau đó xếpcác hộp vào các thùng, mỗi thùng có 5 hộp Hỏi có bao nhiêu thùng bánh?
Đối với bài toán này, thông thường HS giải như sau:
800 cái bánh xếp được vào số hộp là:
800 : 4 = 200 (hộp)
200 hộp bánh xếp được vào số thùng là:
200 : 5 = 40 (thùng)
Trang 24Đáp số: 40 thùng bánhNếu tổ chức cho HS học theo nhóm, các em không chỉ tìm ra các câu trả lời khác mà với những HS năng khiếu các em sẽ tìm ra cách giải khác bằng cách tính xem mỗi thùng có bao nhiêu cái bánh rồi lấy số bánh đã có chia cho số bánh trong
số có 2 chữ số ở đây là số tròn chục Với HS năng khiếu, GV có thể hướng dẫn HS chia nhẩm một số tròn chục cho số tròn chục bằng cách cùng gạch đi 1 chữ số 0 ở bên phải của số bị chia và số chia rồi thực hiện chia cho số có 1 chữ số
Qua hoạt động chia sẻ tương tác giữa GV với HS hay HS với HS, những HSnăng khiếu có điều kiện phát triển tốt năng lực học toán của mình
3.2 Biện pháp 2: Lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động nhóm phù hợp với nội dung DHTN
Sau khi xác định được nội dung DHTN, GV cần thiết kế hình thức tổ chứchoạt động nhóm cho phù hợp với mỗi nội dung đưa ra Trong mỗi hoạt động, saocho GV có thể theo dõi, đánh giá hoạt động nhóm nhưng đồng thời cũng đảm bảophát huy tính tích cực của mỗi HS Khi chia nhóm, GV cần quan tâm đến kích cỡcũng như trình độ HS trong mỗi nhóm Đồng thời GV cũng cần có kĩ thuật chianhóm thích hợp sao cho kích thích tính tự giác, tích cực của HS
Trang 25+ Về hình thức chia nhóm: Chia nhóm ngẫu nhiên và chia nhóm có chủ
định
- Chia nhóm ngẫu nhiên là sắp xếp HS vào các nhóm theo một quy địnhhoặc hình thức ngẫu nhiên nào đó Có nhiều cách chia nhóm loại này, như: Nhómchọn ngẫu nhiên qua trò chơi; Chọn nhóm qua đánh số thứ tự; Nhóm các bạn cùngbàn hoặc những bàn gần nhau; … Nhóm này thường có HS đủ các trình độ, giớitính Hay gọi là nhóm hỗn hợp
- Chia nhóm có chủ định là sắp xếp các thành viên trong nhóm nhằm phục
vụ một chủ đích, ý đồ nào đó của GV Ví dụ nhóm cùng trình độ, bao gồm: Nhóm
HS khá giỏi; Nhóm HS trung bình; Nhóm HS yếu; Nhóm HS cùng giới tính; Cùngtháng sinh; Nhóm đủ 4 trình độ; …
+ Cách lựa chọn hình thức tổ chức nhóm phù hợp với nội dung DHTN:
Về lý thuyết, một nhóm lý tưởng nhất gồm 4 - 6 HS Nhưng trong thực tế,tùy theo nội dung thảo luận, quỹ thời gian tiết học và quy mô lớp học, GV có thểthay đổi linh hoạt
Cùng
tênconvật
Cùngtênđịa danh
Cùngtênđịa danh
…
Cùngtrìnhđộ
Cùngtrìnhđộ
Đủbốntrìnhđộ
Đủbốntrìnhđộ
Cùng giớitính
Cùng giới
Trang 26Nhiệm vụ của cặp: Làm bài tập cá nhân, kiểm tra kết quả làm bài của nhau,phát hiện và chữa chỗ sai của bạn, trong trường hợp cần thiết hai bạn sẽ tranh luận.Thông thường các cặp bạn kiểm tra bài làm của nhau thường là các bạn ngồi cạnhnhau trong lớp Nhưng để tạo điều kiện phát triển năng lực HS, cũng có nhiều khi
GV yêu cầu HS đã làm xong hết các bài tập mà bạn bên cạnh chưa xong, cần quansát toàn lớp tìm bạn làm xong để cùng bạn tạo thành cặp trao đổi bài làm để thờigian còn lại sẽ được làm thêm các bài tập chờ với mức cao hơn
- Nhóm ngẫu nhiên nhiều HS (Nhóm hỗn hợp): thường sử dụng trong các tiết
dạy bài mới hay khi phải tiến hành một công việc phức tạp gồm nhiều vấn đề nhỏhơn, một người không làm được hết trong khoảng thời gian ngắn Loại nhóm nàyphù hợp với những nội dung HS cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau để hoàn thànhnhiệm vụ
- Nhóm có chủ định: Trong dạy học toán, GV thường có chủ định chia nhóm
HS có cùng trình độ năng lực, như: nhóm HS khá giỏi; nhóm HS trung bình; nhóm
HS yếu Loại nhóm này cũng thường sử dụng trong các tiết luyện tập,thực hành.Nhưng nhiệm vụ giao cho các nhóm loại này là những bài tập nhằm mục đích ôntập củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng Các loại bài tập dành cho các nhóm sẽ cómức độ khó, dễ khác nhau giúp HS phát triển năng lực Đồng thời khi DHTN vớicách chia này, GV cũng rất thuận lợi trong việc giúp đỡ HS khi gặp khó khăn vàphát triển HS năng khiếu
Như vậy, ta thấy có rất nhiều cách tổ chức nhóm khác nhau, GV cần căn cứvào nội dung, tình huống sư phạm cụ thể để tổ chức cho phù hợp Việc chia nhómnếu không có kinh nghiệm sẽ tốn khá nhiều thời gian Khi chia nhóm hỗn hợp, GVcần chú ý đến số lượng và trình độ, năng lực của các HS Không chia nhóm nàyquá đông, nhóm kia quá ít, không nên nhóm này tập trung nhiều HS giỏi, nhóm kiaphần đông kém hơn, rụt rè, im lặng
Khi tổ chức hoạt động nhóm, GV có thể giao cho tất cả các nhóm trong lớpcùng một nhiệm vụ hay mỗi nhóm một nhiệm vụ khác nhau tuỳ nội dung bài họchay tình huống sư phạm cụ thể
+ Một số ví dụ về tổ chức hoạt động nhóm trong dạy toán lớp 3:
Trang 27- Nhóm hỗn hợp gồm 4 đến 6 HS, loại nhóm này thường sử dụng trong các
tình huống sau:
Tình huống thứ nhất: Hình thành kiến thức mới
Đối với những nội dung hình thành kiến thức mới, nhiệm vụ tất cả các nhómtrong lớp như nhau:
Ví dụ: Bài “Chu vi hình vuông” (trang 88 – SGK toán 3)
Yêu cầu đặt ra là tìm cách tính chu vi hình vuông
GV xây dựng tình huống như sau:
- GV phát cho mỗi nhóm một tấm bìa cứng, 1 thước kẻ và 1 bút dạ
- Yêu cầu các nhóm: Vẽ 1 hình vuông có cạnh 3 cm rồi tính chu vi hình vuông đó
Với tình huống trên, HS có rất nhiều cách giải quyết khác nhau Ví dụ như sau:
Cách 1: Học sinh vận dụng cách tính chu vi tứ giác đã học ở lớp 2, tính chu
vi hình vuông bằng cách cộng tổng độ dài 4 cạnh hình vuông đó
Cách 2: Vận dụng cách tính diện tích hình chữ nhật bằng cách lấy (3 + 3) x
2 Hình vuông là hình chữ nhật đặc biệt có chiều dài bằng chiều rộng
Cách 3: Những em có năng khiếu có thể tính được ngay chu vi hình vuông
bằng cách lấy số đo 1 cạnh nhân với 4
Với các cách làm, HS tìm ra được kết quả chu vi hình vuông là 12 cm Từ đó
GV yêu cầu HS thảo luận xem cách nào nhanh nhất rồi rút ra quy tắc
Tình huống thứ hai: Với công việc phức tạp gồm nhiều vấn đề nhỏ hơn, một
người không làm được hết trong khoảng thời gian ngắn
+ Đối với những bài luyện tập thực hành,
Ví dụ: Bài Luyện tập chung (Trang 83 – Toán 3)
Mục tiêu tiết học là giúp HS củng cố cách tính giá trị biểu thức ở 3 dạng.Bài học gồm 5 bài toán Bài 1,2,3 theo Chuẩn kiến thức HS phải thực hiện tính giá trị 6 biểu thức, riêng bài 4 có 5 biểu thức và bài 5 là giải toán có lời văn Đối với HS đại trà, các em chỉ làm bài 1,2,3 đã mất 20 đến 30 phút Còn bài 4,5 các em khó có thể hoàn thành Vì vậy, đối với bài tập số 4, GV nên GV chia lớp
Trang 28thành các nhóm 5 HS (Nhóm hỗ hợp), yêu cầu HS hỗ trợ nhau để hoàn thành bài tập bằng cách mỗi em thực hiện tính giá trị 1 biểu thức, sau đó em khác kiểm tra lại, nhóm thống nhất kết quả rồi làm vào phiếu.
Bài 4 Mỗi số trong ô vuông là giá trị của biểu thức nào?
Như vậy, trong một thời gian ngắn (5 phút) nếu chỉ 1 HS thì không thể hoàn thành bài tập này được mà cần phải có sự cộng tác của các thành viên trong nhóm
+ Một số hình ảnh học theo nhóm trong học toán lớp 3 ở trường tiểu học Nghĩa Dân
86 - (81 -
31)
90 + 70 x 2
142 - 42 : 2
56 x (17
23