1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan

109 51 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan.. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu, chữ viết tắt Chú thích

Trang 1

NHÂN UNG THƢ BIỂU MÔ

TẾ BÀO GAN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ

TẾ BÀO GAN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Người hướng dẫn:

1 ThS Dương Viết Tuấn

2 TS Đào Thị Thanh Hiền

Nơi thực hiện:

1 Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược

HÀ NỘI – 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, nhà trường, gia đình và bạn bè Đầu tiên, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi muốn được gửi lời cảm ơn chân thành tới những người Thầy của tôi:

ThS Dương Viết Tuấn- Giảng viên Bộ môn Quản lý & Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, người Thầy đầu tiên hướng dẫn tôi nghiên cứu khoa học, hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện, động viên tôi cố gắng trong học tập và hoàn thành khóa luận này

TS Đào Thị Thanh Hiền- Giảng viên Bộ môn Dược học Cổ truyền, Trường Đại học Dược Hà Nội, người Thầy hướng dẫn thứ hai của tôi, cô đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi học tập và hoàn thành khóa luận này

Tiếp theo, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Quản lý & Kinh tế Dược đã truyền cảm hứng và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện

đề tài tại bộ môn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo, các phòng ban khác và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã chỉ bảo, giúp

đỡ tôi suốt thời gian học tập tại trường

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, những người luôn cổ vũ, động viên tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập

và hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2021

Sinh viên Trần Văn Quý

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý thuyết 3

1.1.1 Khái quát về ung thư biểu mô tế bào gan 3

1.1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.1.2 Dịch tễ học 3

1.1.1.3 Các phương pháp điều trị 4

1.1.2 Khái quát về chất lượng cuộc sống 4

1.1.2.1 Chất lượng cuộc sống 4

1.1.2.2 Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe 5

1.1.2.3 Mô hình các khía cạnh chất lượng cuộc sống 6

1.1.2.4 Đo lường chất lượng cuộc sống 7

1.1.2.5 Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống 9

1.2 Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan 10

1.3 Đối tượng nghiên cứu 14

1.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 14

1.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ 14

1.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 14

1.4.1 Thiết lập câu hỏi nghiên cứu 15

1.4.2 Tìm kiếm tài liệu 15

1.4.2.1 Nguồn cơ sở dữ liệu 15

1.4.2.2 Chiến lược tìm kiếm 15

Trang 5

1.4.3 Lựa chọn nghiên cứu và thu thập số liệu 16

1.4.4 Đánh giá chất lượng bằng chứng 17

1.4.5 Phân tích và xử lý số liệu 18

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19

2.1 Lựa chọn nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống 19

2.2 Đánh giá chất lượng nghiên cứu 20

2.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG trong các nghiên cứu 21

2.3.1 Đặc điểm các nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống 21

2.3.2 Đặc điểm bệnh nhân UTBMTBG 22

2.3.3 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống 23

2.3.4 Các khía cạnh của chất lượng cuộc sống 24

2.4 Các yếu tổ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống bệnh nhân trong các nghiên cứu 25

2.4.1 Đặc điểm nhân khẩu học 26

2.4.2 Tình trạng lâm sàng 30

2.4.3 Chỉ số hóa sinh 33

2.4.4 Các yếu tố thuộc về tâm lý 38

2.4.5 Các can thiệp và điều trị 40

2.4.5.1 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân phẫu thuật cắt bỏ một phần gan 40

2.4.5.2 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân nút mạch gan 41

2.4.5.3 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân ghép gan 45

2.4.5.4 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân hủy u tại chỗ 46

2.4.5.5 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân sử dụng liệu pháp đích 47

2.4.5.6 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân xạ trị 49

2.4.5.7 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân trải qua can thiệp tâm lý 50

CHƯƠNG 3 BÀN LUẬN 53

Trang 6

3.1 Bàn luận về đặc điểm của các nghiên cứu đƣa vào tổng quan hệ thống 53

3.2 Bàn luận về CLCS bệnh nhân UTBMTBG và các yếu tố liên quan 55

3.3 Bàn luận về những hạn chế của nghiên cứu 58

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Chiến lược và kết quả tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu

Phụ lục 2: Nguyên nhân loại trừ bài báo

Phụ lục 3: Đặc điểm cơ bản của các nghiên cứu và bệnh nhân trong các nghiên cứu Phụ lục 4: Bảng mô tả và phân tích các công cụ đo lường CLCS được sử dụng trong

các nghiên cứu theo mô hình CLCS của Ferrell

Phụ lục 5: Định nghĩa chất lượng cuộc sống trong các nghiên cứu

Phụ lục 6: Các khía cạnh chất lượng cuộc sống trong các nghiên cứu

Phụ lục 7: Các điểm số được báo cáo trong nghiên cứu

Phụ lục 8: Kết quả đánh giá chất lượng các nghiên cứu

Phụ lục 9: Nội dung chi tiết các thang đánh giá chất lượng nghiên cứu

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu, chữ

viết tắt

Chú thích

APASL Asian Pacific Association for the Study of the Liver (Hiệp hội nghiên

cứu bệnh gan châu Á Thái Bình Dương) BCLC Barcelona Clinic Liver Cancer (Nhóm ung thư gan Barcelona)

BP Bodily pain (Đau đớn thể xác)

CF Cognitive functioning (Chức năng nhận thức)

CI Confidence Interval (Khoảng tin cậy)

CLCS Chất lượng cuộc sống

CLCSLQSK Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe

cTACE conventional Transarterial chemoembolization (Nút mạch hóa chất

thường quy) DEB-TACE Drug-eluting bead Transarterial chemoembolization (Nút mạch sử

dụng hạt nhúng hóa chất)

EF Emotional functioning (Chức năng cảm xúc)

EORTC European Organisation for Research and Treatment of Cancer (Tổ

chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu) EWB Emotional well-being (Sức khỏe cảm xúc)

FACT Functional Assessment of Cancer Therapy

FWB Functional well-being (Sức khỏe chức năng)

GH General health (Sức khỏe tổng quát)

GHS/QoL Global health status/Quality of life (Tình trạng sức khỏe tổng

quát/Chất lượng cuộc sống) HBV Hepatitis B virus (Vi-rút viêm gan B)

HCC Hepatocellular carcinoma (Ung thư biểu mô tế bào gan)

HCS additional concerns for HCC scores (Điểm các mối quan tâm bổ sung

về UTBMTBG) HCV Hepatitis C virus (Vi-rút viêm gan C)

HKTMC Huyết khối tĩnh mạch cửa

Trang 9

INR International Normalized Ratio

MCS Mental component summary (Tổng kết cấu phần tâm thần)

MELD Model for End-stage Liver Disease (Mô hình bệnh gan giai đoạn cuối) MeSH Medical Subject Headings (Tiêu đề y khoa)

MH Mental health (Sức khỏe tâm thần)

MWA Microwave Ablation (Hủy u bằng vi sóng)

OR Odds ratio (Tỷ số chênh)

PCS Physical component summary (Tổng kết cấu phần thể chất)

PEI Percutaneous Ethanol Injection (Hủy u bằng cách tiêm cồn qua da)

PF Physical function/Physical functioning (Hoạt động thể chất/Chức năng

RE Role emotional (Vai trò cảm xúc)

RF Role functioning (Chức năng vai trò)

RFA Radiofrequency ablation (Đốt sóng cao tần)

RP Role physical (Vai trò thể chất)

SBRT Stereotactic Body Radiation Therapy (Xạ phẫu định vị thân)

SF Social function/Social functioning (Hoạt động xã hội/ Chức năng xã

hội)

SG Standard Gamble (Đặt cược chuẩn)

SIRT Selective internal radiation therapy (Xạ trị trong chọn lọc)

SWB Social/family well-being (Sức khỏe xã hội/gia đình)

TACE Transarterial chemoembolization (Nút mạch hóa chất)

TARE Transarterial radioembolization (Xạ trị tắc mạch qua đường động

mạch)

TE Transarterial embolization (Nút động mạch)

TOI Trial Outcome Index (Chỉ số kết quả thử nghiệm)

Trang 10

TTO Time Trade-off (Đánh đổi thời gian)

UTBMTBG Ung thư biểu mô tế bào gan

VAS Visual Analogue Scale (Thang đánh giá trực quan)

VT Vitality (Sức sống)

WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

WHO ICF The World Health Organization's International Classification of

Functioning, Disability and Health (Phân loại của tổ chức y tế thế giới

về hoạt động chức năng, giảm chức năng và sức khỏe)

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về cùng chủ đề đã được tiến hành 12

Bảng 1.2: Tiêu chí PICOT lựa chọn nghiên cứu 16

Bảng 2.1: Đặc điểm nhân khẩu học và chất lượng cuộc sống bệnh nhân 26

Bảng 2.2: Tình trạng lâm sàng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 30

Bảng 2.3: Chỉ số hóa sinh và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 33

Bảng 2.4: Các yếu tố thuộc về tâm lý và chất lượng cuộc sống bệnh nhân 38

Bảng 2.5: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân cắt bỏ một phần gan 40

Bảng 2.6: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân nút mạch gan 41

Bảng 2.7: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân ghép gan 45

Bảng 2.8: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân hủy u tại chỗ 46

Bảng 2.9: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân điều trị đích 47

Bảng 2.10: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân trải qua xạ trị 50

Bảng 2.11: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân trải qua các can thiệp tâm lý 50

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư 7Hình 1.2: Mô hình Ferrell bổ sung về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư 10Hình 1.3: Sơ đồ quy trình lựa chọn nghiên cứu 17 Hình 2.1: Kết quả tìm kiếm và sàng lọc 20Hình 2.2: Đánh giá chất lượng nghiên cứu đưa vào tổng quan 21Hình 2.3: Tổng số các nghiên cứu và số nghiên cứu ở mỗi châu lục theo năm công bố 22 Hình 2.4: Tỷ lệ sử dụng bộ công cụ chung trong các nghiên cứu 24 Hình 2.5: Tỷ lệ sử dụng bộ công cụ riêng trong các nghiên cứu 24

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc ung thư trên thế giới có xu hướng tăng nhanh và đáng báo động, ung thư trở thành nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trên thế giới [72] Theo báo cáo của Globocan 2020, ung thư gan là một trong hai loại ung thư gây tử vong hàng đầu trên thế giới, chỉ đứng sau ung thư phổi [72] Năm 2020, có khoảng 830.180 ca tử vong do ung thư gan, chiếm 8,3% tổng số ca tử vong do ung thư gây ra [72] Tại Việt Nam, ung thư gan là loại ung thư phổ biến nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư [40] Chỉ riêng năm 2020, Việt Nam ghi nhận 26.418 ca mắc mới và 25.272 ca tử vong do ung thư gan [40]

Ung thư gan gồm nhiều loại, bao gồm ung thư gan nguyên phát (ung thư biểu

mô tế bào gan, ung thư tế bào ống mật hoặc ung thư mạch máu trong gan) và ung thư gan thứ phát [3] Trong đó, ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là loại ung thư gan phổ biến nhất, chiếm tới khoảng 90% tổng số ca ung thư gan [71, 74]

Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) là mục tiêu quan trọng trong điều trị và chăm sóc người bệnh ung thư, đặc biệt là trong bệnh ung thư biểu mô tế bào gan Nhìn chung, ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan, cả bệnh ung thư và phương pháp điều trị bệnh đều ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống bệnh nhân [21, 27, 44, 53] Một số triệu chứng bệnh nghiêm trọng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được báo cáo như: rối loạn giấc ngủ, cổ trướng, đau đớn, mệt mỏi,… [27, 44] Bên cạnh đó, phương pháp điều trị UTBMTBG ngày càng đa dạng với sự xuất hiện của các liệu pháp điều trị mới và các ứng dụng của các liệu pháp trước đây được mở rộng [44, 66]

Trong bối cảnh trên, nhiều nghiên cứu được tiến hành để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG Hơn nữa, nhiều tác giả đã tiến hành các nghiên cứu tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG Trước năm 2015, có hai nghiên cứu của tác giả Sheng-Yu Fan [21] và tác giả Shipra Gandhi [27] thực hiện tổng quan hệ thống về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG Tuy nhiên, hạn chế của hai nghiên cứu này là thiếu tính cập nhật, nên không phản ánh được các chiến lược mới trong kiểm soát bệnh UTBMTBG và tác động của các chiến lược đó lên CLCS bệnh nhân Từ năm 2015 đến nay, có ba nghiên cứu của tác giả Leung Li [52], tác giả Danbee Kang [44] và tác giả Jenny L.Firkins [26] thực hiện tổng quan hệ thống về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

Trang 14

UTBMTBG Tuy nhiên, hạn chế chung của các nghiên cứu này là không tập trung vào đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân dẫn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG chưa được nhìn nhận một cách đầy đủ và có hệ thống

Để góp phần vào việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư

biểu mô tế bào gan, chúng tôi tiến hành đề tài: “Tổng quan hệ thống về đánh giá

chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân ung thƣ biểu mô tế bào gan” với hai mục

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Khái quát về ung thư biểu mô tế bào gan

1.1.1.1 Định nghĩa

Ung thư biểu mô tế bào gan là sự tăng sinh tế bào biểu mô gan một cách vô hạn

độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [3, 4] UTBMTBG là bệnh có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài qua từng giai đoạn, trong đó ở giai đoạn đầu, bệnh thường không biểu hiện triệu chứng Ngược lại, ở những giai đoạn sau của quá trình ung thư, các triệu chứng bệnh mới biểu hiện rõ ràng [3, 4]

1.1.1.2 Dịch tễ học

Ung thư biểu mô tế bào gan là loại mô học phổ biến nhất của ung thư gan [2, 3,

11, 47, 56] Cùng với sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư gan, tỷ lệ mắc UTBMTBG đã tăng lên trong 30 năm vừa qua và xu hướng này dự kiến sẽ duy trì đến năm 2030 [55]

Tỷ lệ bệnh nhân UTBMTBG nhiều nhất ở các nước Đông Á (cao nhất là ở Trung Quốc), Đông Nam Á và châu Phi cận Sahara [20, 68, 73] Người ta ước tính rằng UTBMTBG xảy ra nhiều nhất ở châu Á với 72%, tiếp theo là 10% ở châu Âu, 7,8% ở châu Phi, 5,1% ở Bắc Mỹ, 4,6% ở châu Mỹ La-tinh và 0,5% ở châu Đại Dương [71]

Ở hầu hết các quốc gia, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới được báo cáo cao hơn ở nữ giới [28] Độ tuổi khởi phát bệnh ung thư biểu mô tế bào gan thay đổi theo từng vùng địa lý [81] Bệnh thường khởi phát muộn, ở độ tuổi trung bình cao hơn 60 tuổi ở các quốc gia như Nhật Bản, các nước Bắc Mỹ và Châu Âu [62] Tuy nhiên, ở các nước châu Á và châu Phi, bệnh nhân thường được chẩn đoán ở độ tuổi trung bình khá trẻ từ 30-60 tuổi [62, 80]

Tại Việt Nam, chưa có số liệu quốc gia được công bố chính thức về số người mới mắc UTBMTBG hàng năm Mới chỉ có một nghiên cứu ghi nhận số liệu UTBMTBG tại miền Trung và miền Nam Việt Nam và số liệu được ghi nhận là 24.091 trường hợp mắc UTBMTBG trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2016 tại miền Trung và miền Nam Việt Nam [60]

Trang 16

1.1.1.3 Các phương pháp điều trị

Người ta căn cứ vào thể trạng và chức năng gan của bệnh nhân để lựa chọn phương pháp điều trị cho từng trường hợp cụ thể [66] Nhìn chung, các phương pháp điều trị có thể là các can thiệp ngoại khoa hoặc liệu pháp sử dụng thuốc

Hiện nay, phẫu thuật cắt gan được áp dụng phổ biến nhất cho các bệnh nhân phát hiện ung thư giai đoạn sớm Tuy nhiên, UTBMTBG thường xảy ra ở những bệnh nhân mắc bệnh gan mãn tính, nên việc cắt bỏ gan ở những bệnh nhân này có thể làm giảm CLCS do đã làm ảnh hưởng đến chức năng gan [18]

Phẫu thuật ghép gan là một liệu pháp có hiệu quả cao đối với ung thư biểu mô

tế bào gan giai đoạn đầu [2, 5] Tuy nhiên, do sự thiếu hụt nội tạng nghiêm trọng, các

hệ thống phân bổ nội tạng đã phát triển các tiêu chí ưu tiên nhằm cân bằng giữa lợi ích

và nguy cơ Đó là hệ thống phân bổ MELD, được áp dụng tại Mỹ vào năm 2002 [69]

Hủy u tại chỗ có thể thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như hủy u tại chỗ bằng sóng cao tần (RFA), bằng vi sóng (MWA), bằng cách tiêm cồn vào khối u (PEI) hay bằng đốt lạnh (cryoablation) trên bệnh nhân

Nút mạch (TE) là thủ thuật y tế làm suy yếu khối u bằng cách hạn chế việc cấp máu cho khối u Nút mạch có các hình thức sau: Nút mạch hóa chất thường quy (cTACE), nút mạch sử dụng hạt nhúng hóa chất (DEB-TACE), xạ trị tắc mạch qua đường động mạch gan (TARE, có tên gọi khác là xạ trị trong chọn lọc-SIRT [1, 76])

Xạ trị là phương pháp ứng dụng tác động của tia xạ để điều trị ung thư, gồm các hình thức: xạ trị chiếu ngoài, xạ phẫu, xạ phẫu định vị thân (SBRT), cấy hạt phóng xạ

Đối với liệu pháp dùng thuốc hay được gọi là điều trị đích, sorafenib được coi

là điều trị bước một chuẩn [2] Tuy nhiên, bệnh nhân sẽ gặp phải một số tác dụng không mong muốn phổ biến như: xuất huyết, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, phát ban, rụng tóc, hội chứng bàn tay chân, ngứa, mệt mỏi và đau đớn [34] Các thuốc như là regorafenib, pembrolizumab, ramucirumab,…cũng có thể được lựa chọn thay thế sorafenib Bên cạnh đó, hóa trị toàn thân cũng có thể được lựa chọn để điều trị cho bệnh nhân nhưng hiệu quả rất hạn chế

1.1.2 Khái quát về chất lượng cuộc sống

1.1.2.1 Chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống được giới thiệu như một từ khóa trong cơ sở dữ liệu y khoa từ rất sớm và thuật ngữ “chất lượng cuộc sống” ngày càng trở nên phổ biến trong

Trang 17

những thập kỷ gần đây [63] Chất lượng cuộc sống (CLCS) có thể được định nghĩa theo nhiều cách, điều này làm cho việc đo lường và tiến hành nghiên cứu khoa học về chủ đề này trở nên khó khăn [32] Nhiều nhà nghiên cứu có cùng quan điểm rằng có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng cuộc sống do các cá nhân cảm thấy khác nhau về những gì họ thấy là quan trọng [22, 23]

Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa chất lượng cuộc sống là: Chất lượng cuộc sống là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ [77]

Một định nghĩa khác được Ferrell đề cập trong nghiên cứu của mình, trong đó: Chất lượng cuộc sống là cảm giác khỏe mạnh của cá nhân trong khía cạnh thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần [24] Để làm rõ hơn các khía cạnh chất lượng cuộc sống được nhắc đến trong định nghĩa của Ferrell, thì tác giả Bloom và các cộng sự đã đưa ra định nghĩa về các khía cạnh này cho bệnh nhân ung thư như sau:

1 Khỏe mạnh về thể chất (physical well-being) là việc kiểm soát hoặc giảm bớt các triệu chứng, duy trì các chức năng và sự độc lập [10]

2 Khỏe mạnh về tâm lý (psychological well-being) là nỗ lực duy trì cảm giác kiểm soát khi đối mặt với căn bệnh đe dọa tính mạng, đặc trưng bởi cảm xúc đau khổ, thay đổi ưu tiên trong cuộc sống, và sự hãi trước những điều chưa biết cũng như những thay đổi tích cực trong cuộc sống [10]

3 Khỏe mạnh về xã hội (social well-being) là nỗ lực đối phó với tác động của bệnh ung thư đối với cá nhân, các vai trò và các mối quan hệ của họ [10]

4 Khỏe mạnh về tinh thần (spiritual well-being) là khả năng duy trì hy vọng và tìm thấy ý nghĩa từ trải nghiệm bệnh ung thư- điều được đặc trưng bởi sự không chắc chắn [10]

1.1.2.2 Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe

Sau sự ra đời của thuật ngữ “chất lượng cuộc sống”, thuật ngữ “chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe” (CLCSLQSK) cũng đã được đề cập đến trong nhiều bài báo khoa học [63]

Một định nghĩa khá toàn diện đã được Revicki đề cập như sau: “Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là một khái niệm rộng, đa chiều bao gồm các triệu

Trang 18

chứng của bệnh tật hoặc tình trạng sức khỏe, tác dụng phụ của điều trị và tình trạng chức năng trên các lĩnh vực sức khỏe thể chất, xã hội và tinh thần.” [65]

Trong các nghiên cứu và bài báo liên quan đến sức khỏe, thuật ngữ CLCS thường được sử dụng thay thế cho thuật ngữ CLCSLQSK, và cả hai có thể được sử dụng để chỉ định nghĩa hẹp hơn liên quan đến sức khỏe của một người [64]

1.1.2.3 Mô hình các khía cạnh chất lượng cuộc sống

Do các khía cạnh đa chiều của CLCS và việc sử dụng thuật ngữ này đa dạng trên nhiều tình trạng sức khỏe và bệnh tật khác nhau, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều mô hình CLCS khác nhau trong nghiên cứu của họ [7]

Mô hình là một sơ đồ biểu diễn của lý thuyết để cung cấp sự hiểu biết tốt hơn

về một hiện tượng (ở đây là CLCS) bằng cách mô tả mối quan hệ qua lại giữa các khái niệm trong mô hình [7] Cũng giống như định nghĩa về CLCS, có nhiều mô hình CLCS được áp dụng cho các tình trạng sức khỏe và bệnh tật khác nhau [7] Mặc dù cơ

sở lý thuyết của CLCS có thể nhất quán giữa các mô hình, nhưng các biến thể trong thuật ngữ làm cho việc so sánh giữa các nghiên cứu trở nên rất khó khăn [7]

Có thể kể tên một số mô hình CLCS như:

1 Mô hình CLCS của Wilson & Cleary được giới thiệu năm 1995

2 Mô hình CLCS của Ferrans và cộng sự được giới thiệu năm 2005

3 Mô hình của tổ chức y tế thế giới World Health Organization International Classification of Functioning Disability and Health (WHO ICF) được giới thiệu năm 2007

Tuy các mô hình ở trên đã được phát triển tập trung hướng đến người bệnh, nhưng không có mô hình nào trong số chúng tập trung đến những người trưởng thành đang đối mặt với bệnh ung thư Trong đó, mô hình CLCS của Ferrell (1995) được phát triển để đánh giá CLCS trong quần thể bệnh nhân ung thư [25, 57] Trong nghiên cứu ung thư, mô hình CLCS của Ferrell (1995) xác định bốn khía cạnh: thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần có tác động đến CLCS Mỗi khía cạnh đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định CLCS tổng thể và sức khỏe của người trưởng thành mắc bệnh ung thư, bao gồm cả ung thư biểu mô tế bào gan

Trang 19

Hình 1.1: Mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư

1.1.2.4 Đo lường chất lượng cuộc sống

Để đo lường CLCS của bệnh nhân, về cơ bản nhà nghiên cứu cần trả lời câu hỏi: "Chất lượng cuộc sống của người bệnh như thế nào ?" Nhà nghiên cứu có thể sử dụng các phương pháp trực quan hoặc bộ công cụ để khai thác thông tin về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Thông thường, người ta sử dụng các công cụ đo lường CLCS là các bộ câu hỏi bao gồm nhiều hạng mục hoặc câu hỏi [32], trong đó có thể chia thành bộ câu hỏi chung và bộ câu hỏi riêng cho bệnh nhân

Các bộ công cụ khác nhau có chỉ số đầu ra được tính toán khác nhau Một số bộ công cụ cho kết quả là các điểm số CLCS trong khi một số bộ công cụ cho phép ta đo lường trực tiếp giá trị thỏa dụng Ngoài ra khi thực hiện một đánh giá về chất lượng cuộc sống, nhà nghiên cứu có thể lựa chọn sử dụng một bộ công cụ chung dành cho nhiều đối tượng để đánh giá chất lượng cuộc sống, hoặc sử dụng bộ công cụ riêng để đánh giá CLCS trên một vấn đề cụ thể

Bộ công cụ chung đánh giá chất lƣợng cuộc sống

Các bộ công cụ chung đo lường CLCS được sử dụng trong các trường hợp: đánh giá các bệnh khác nhau, điều kiện khác nhau, để mở rộng kết quả hoặc khi chưa

Trang 20

có các công cụ riêng cho vấn đề quan tâm [12] Nhìn chung, người ta phân chia thành hai loại công cụ khác nhau trong bộ công cụ chung, đó là: hồ sơ sức khỏe và các thước

đo thỏa dụng [37] Đôi khi, kết quả về chất lượng cuộc sống từ các bộ công cụ trên là một chỉ số hoặc một điểm tổng hợp được báo cáo, nhưng phép đo lường chất lượng cuộc sống có ý nghĩa hơn cả khi đề cập tới nhiều khía cạnh riêng biệt [37]

Có thể kể tên một số bộ công cụ là hồ sơ sức khỏe như:

1 Bộ câu hỏi SF-36 (36-Item Short Form survey) do tổ chức RAND (Mỹ) xây dựng

2 Bộ câu hỏi SF-12 (12-Item Short Form survey) được phát triển bởi Ware và cộng sự, xuất bản năm 1996

3 Nottingham Health Profile (NHP) được phát triển bởi Hunt và cộng sự, xuất bản năm 1981

Trong số các bộ công cụ trên, SF-36 là bộ công cụ được sử dụng rộng rãi nhất [27] SF-12 được phát triển như một phiên bản rút gọn của SF-36 để sử dụng trong các cuộc điều tra lớn về các quần thể nói chung cũng như các nghiên cứu dọc lớn về kết quả sức khỏe [27]

Bên cạnh đó, các bộ công cụ đo lường thỏa dụng cũng được sử dụng nhiều trong những năm gần đây, và ứng dụng tốt trong lĩnh vực kinh tế y tế để đo lường thỏa dụng, cũng như đánh giá chi phí thỏa dụng Có thể kể tên một số bộ công cụ đo lường thỏa dụng như:

1 EuroQol Instrument (EQ5D) được tổ chức EuroQoL Group xây dựng

2 The SF-6D (Short-Form Six-Dimension) được giới thiệu bởi Brazier và cộng sự năm 2002

3 The Health Utilities Index (HUI) được tổ chức Health Utilities Inc (Canada) xây dựng

Các công cụ trên dùng để đánh giá CLCS dựa trên một thang điểm nhất định Các câu trả lời sẽ mô tả tình trạng sức khỏe của bệnh nhân Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân được quy đổi trên thang 0-1, trong đó giá trị 0 biểu thị tử vong và giá trị 1 biểu hiện tình trạng sức khỏe hoàn hảo Một công cụ có thể cho ra kết quả thấp hơn 0, tức là giá trị cho thấy tình trạng sức khỏe tồi tệ hơn sự tử vong

Việc đo lường mức độ thỏa dụng của chất lượng cuộc sống được rút ra từ lý thuyết kinh tế và quyết định, nó phản ánh sở thích của bệnh nhân đối với quá trình và

Trang 21

kết quả điều trị Việc đo lường thỏa dụng thường nhằm mục đích phân tích chi phí- thỏa dụng trong các nghiên cứu y học [32] Ở các nghiên cứu này, việc đánh giá thỏa dụng không nhằm mục đích chính là đo lường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nên chúng tôi đã không đưa chúng vào phân tích tổng quan hệ thống

Không có bộ công cụ nào được đánh giá là tốt nhất hoặc kém nhất Nhà nghiên cứu lựa chọn một bộ công cụ hoặc kết hợp giữa nhiều bộ công cụ khác nhau dựa trên

cơ sở mục đích nghiên cứu Thêm vào đó, sự lựa chọn này sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu

tố gồm đặc điểm của mẫu nghiên cứu (ví dụ như độ tuổi, tình trạng sức khỏe, ngôn ngữ/ văn hóa,…) và môi trường đo lường được thực hiện (ví dụ như thử nghiệm lâm sàng, thăm khám bác sĩ định kỳ,…) [13]

Tuy nhiên, các công cụ đánh giá chung thường không đi sâu vào bất kỳ vấn đề

cụ thể nào nên không khai thác hết được các khía cạnh của vấn đề mà nhà nghiên cứu quan tâm trên đối tượng bệnh nhân

Bộ công cụ riêng đánh giá chất lƣợng cuộc sống

Các công cụ riêng được ra đời nhằm đánh giá một cách đặc hiệu và chuyên sâu hơn đối với một số đối tượng, vấn đề cụ thể Công cụ này có thể dành riêng cho từng loại bệnh (chẳng hạn như suy tim, hen suyễn hoặc ung thư), hoặc cho một số đối tượng bệnh nhân (chẳng hạn như người già yếu hoặc trẻ nhỏ), hoặc cho một chức năng nhất định (chẳng hạn như giấc ngủ hoặc chức năng tình dục) hoặc cho một triệu chứng (chẳng hạn như đau đớn, dị ứng da) [32]

Các bộ công cụ đo lường cụ thể có lợi thế là liên quan chặt chẽ đến các khía cạnh mà bác sĩ lâm sàng cũng như nhà nghiên cứu quan tâm [32] Ngoài ra, việc sử dụng các bộ công cụ đo lường cụ thể có thể đánh giá chính xác hơn tác động của bệnh tật tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cũng như phản ánh rõ hơn hiệu quả của can thiệp [64]

1.1.2.5 Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống

Ferrell định nghĩa chất lượng cuộc sống là “cảm giác hạnh phúc của các cá nhân trong khía cạnh thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần” [25] Và cũng theo mô hình CLCS dành cho bệnh ung thư của Ferrell, CLCS của bệnh nhân ung thư có thể được nhìn nhận trong 4 khía cạnh: thể chất, tâm lý, xã hội, tinh thần

Trang 22

Năm 2021, Firkins và cộng sự đã đưa ra một mô hình kết hợp giữa mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống và một số bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân [26] Mô hình kết hợp giữa mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống và một

số bộ câu hỏi đánh giá CLCS (sau đây gọi tắt là mô hình Ferrell bổ sung) đưa ra một cách tiếp cận cho từng khía cạnh của CLCS qua các thang đo chi tiết được sử dụng phổ biến và được xác thực rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới hiện nay Mô hình Ferrell bổ sung về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư được trình bày ở dưới đây

Trong nghiên cứu này, dựa trên mô hình của Ferrell năm 1995 và mô hình Ferrell bổ sung của Firkins năm 2021, chúng tôi sẽ tổng quan các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan

Hình 1.2: Mô hình Ferrell bổ sung về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư

1.2 Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về đánh giá chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân ung thƣ biểu mô tế bào gan

Bảng 1.2 tổng hợp một số nghiên cứu tổng quan hệ thống đã được tiến hành cùng chủ đề với nghiên cứu này Các nghiên cứu tổng quan hệ thống được đề cập trong bảng 1.2 đều có những hạn chế nhất định Hai nghiên cứu của Sheng-Yu Fan [21] và Shipra Gandhi [27] đã được công bố từ nhiều năm trước Hai nghiên cứu này không bao gồm các bài báo trong những năm gần đây, nên không phản ánh được các

Trang 23

chiến lược mới trong kiểm soát bệnh UTBMTBG và tác động của các chiến lược đó lên CLCS bệnh nhân

Một số bài báo được công bố với thời gian cập nhật hơn, trong đó bao gồm: nghiên cứu của Leung Li [52] được công bố năm 2017, nghiên cứu của Danbee Kang [44] được công bố năm 2020 và nghiên cứu của Jenny L.Firkins [26] công bố năm

2021 Tuy nhiên, cả ba nghiên cứu trên đều không tổng quan các bài báo mới nhất được công bố về chủ đề CLCS của bệnh nhân UTBMTBG Bên cạnh đó, nghiên cứu của Leung Li và nghiên cứu của Jenny L.Firkins có mục tiêu tổng quan các công cụ đo lường CLCS của bệnh nhân UTBMTBG, chứ không tổng quan các kết quả liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Còn nghiên cứu của của Danbee Kang có mục tiêu nghiên cứu rộng, bao gồm các bài báo đề cập tới CLCS của bệnh nhân UTBMTBG, điều này làm cho kết quả chưa được chi tiết đầy đủ, tác giả cũng không

sử dụng mô hình CLCS trong nghiên cứu của mình dẫn đến kết quả báo cáo chưa có tính tổng hợp Chính vì thế, nghiên cứu tổng quan hệ thống này là cần thiết để khắc phục một số hạn chế và cập nhật thông tin so với các nghiên cứu đã thực hiện

Trang 24

Bảng 1.1: Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về cùng chủ đề đã được tiến hành

Cumulative Index

to Nursing and Allied Health Literature, Cochrane library, PsychoINFO, Pubmed

Các nghiên cứu định lượng tập chung vào CLCS và mối quan hệ giữa CLCS và các yếu tố thể chất hoặc tâm lý

36 NC Bệnh nhân UTBTBG có CLCS thể chất, cảm xúc và chức năng

kém hơn, nhưng CLCS xã hội/gia đình tốt hơn so với dân số chung

CLCS được cải thiện sau phẫu thuật gan, điều trị bằng máy xuyên động mạch gan và xạ trị

Chức năng gan tốt hơn, giai đoạn đầu của bệnh và bệnh không tái phát, sự hài lòng với các dịch vụ y tế có tương quan thuận với CLCS tốt hơn

Đau, mệt mỏi, buồn nôn và chứng trầm cảm, sự không chắc chắn

có tương quan thuận với CLCS kém hơn

Các can thiệp tâm lý xã hội có thể làm giảm cảm giác tiêu cực và tăng cường CLCS

45 NC

4 phân tích gộp

Công cụ thường được sử dụng nhiều nhất là FACT-Hep

Trong số 45 nghiên cứu, chỉ có 24 là thử nghiệm lâm sàng 17/24 nghiên cứu đánh giá các liệu pháp toàn thân trong khi 7/24 đánh giá các liệu pháp tác động đến gan

Trang 25

đầu vào của nghiên cứu

Phần lớn các bài báo (thử nghiệm + đánh giá hồi cứu) có CLCS là kết quả cuối ở bệnh nhân UTBMTBG là các nghiên cứu đánh giá các liệu pháp điều trị lên gan (23/45)

3 Leung Li

(2017)

[52]

Web of Science, Scopus, PubMed

Không đề cập 61 NC Các công cụ đánh giá CLCS trong các nghiên cứu là 36,

SF-12, EQ-5D, WHOQOL-100, WHOQOL-BREF, EORTC C30, FACT-G, chỉ số Spitzer QoL, EORTC QLQ-HCC18, FACT-HEP, FHSI-8, TOI

Các nghiên cứu đề cập đến CLCS như là một biến đầu vào hoặc là kết quả của nghiên cứu

45 NC Bệnh nhân UTBMTBG có CLCS thấp hơn dân số chung Bệnh

nhân thường xuyên chịu đựng đau đớn, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, lo âu, chán ăn, và những triệu chứng này vẫn xuất hiện trong vài năm sau khi đã điều trị

Phân loại khối u ác tính theo TNM, giai đoạn sau của khối u, sự xuất hiện cổ trướng, giới tính nữ, sống một mình, đang thất nghiệp có liên quan đến CLCS thấp ở bệnh nhân

Các nghiên cứu định lượng có kết quả CLCS của bệnh nhân UTBMTBG được báo cáo độc lập

30 NC 10% các bài báo đưa ra định nghĩa về chất lượng cuộc sống và

3% bài báo đề cập tới khía cạnh tinh thần của CLCS

Đa phần người tham gia vào nghiên cứu ở giai đoạn đầu của ung thư và chỉ có 3% bài báo bao gồm trên 22% bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan ở giai đoạn tiến triển

Trang 26

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan bằng tiếng Anh được tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu điện tử Pubmed/Medline và Cochrane Library từ năm 2015 đến hết năm 2020

1.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

(1) Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán UTBMTBG

(2) Đối tượng bệnh nhân trên 18 tuổi

(3) Nghiên cứu báo cáo chất lượng cuộc sống được đo lường ở bệnh nhân

(4) Nghiên cứu can thiệp, nghiên cứu quan sát ( bao gồm các nghiên cứu cắt ngang

và nghiên cứu thuần tập)

(5) Nghiên cứu đã được công bố và bài báo được viết bằng tiếng Anh

(6) Thời gian xuất bản của bài báo công bố nghiên cứu trong thời gian từ năm 2015-2020

1.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ

(1) Bệnh nhân UTBMTBG không được báo cáo độc lập trong nghiên cứu

(2) Các nghiên cứu không có trọng tâm nghiên cứu về chất lượng cuộc sống* (3) Các nghiên cứu không báo cáo đủ các số liệu cần thiết

(4) Các nghiên cứu chỉ trình bày quy trình nghiên cứu

(5) Các nghiên cứu không tìm được bài báo đầy đủ

(6) Bài báo bị trùng lặp

* Các nghiên cứu không có trọng tâm nghiên cứu về CLCS là: Nghiên cứu dù có báo cáo kết quả đánh giá CLCS nhưng CLCS không phải là kết quả chính (primary outcome) Nghiên cứu đánh giá chi phí hiệu quả, nghiên cứu đánh giá chi phí thỏa dụng Nghiên cứu có phương pháp luận dựa trên kết quả những khía cạnh triệu chứng nhỏ lẻ được báo cáo từ bệnh nhân chẳng hạn như giảm khả năng hoạt động, mệt mỏi, suy giảm nhận thức, vấn đề tâm lý và suy giảm đời sống tình dục,… nhưng không phải chất lượng cuộc sống Nghiên cứu sử dụng các bộ công cụ không phải do bệnh nhân tự báo cáo Nghiên cứu thẩm định, đánh giá tính xác thực và độ tin cậy của bộ công cụ đo lường CLCS

1.4 Các bước tiến hành nghiên cứu

Trang 27

Đề tài được tiến hành theo phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống Đây là quá trình xác định, lựa chọn, đánh giá và phê bình nghiên cứu để trả lời câu hỏi nghiên cứu Tổng quan hệ thống là tìm kiếm toàn diện, minh bạch trên nhiều cơ sở dữ liệu và tài liệu, cũng như xác định loại thông tin được tìm kiếm và báo cáo trong các khoảng thời gian xác định bởi nhà nghiên cứu Tất cả các thuật ngữ tìm kiếm, chiến lược tìm kiếm và các giới hạn đều được đưa vào đánh giá

Các bài tổng quan hệ thống có thể dựa trên tất cả các loại thông tin có trong các tạp chí khoa học, sách, luận văn học thuật, cơ sở dữ liệu điện tử và các nền tảng khác trên internet Trong phạm vi tổng quan này, do giới hạn về nguồn lực, đề tài chỉ tiếp cận các bài báo khoa học được xuất bản bằng tiếng Anh trên hai cơ sở dữ liệu phổ biến hiện nay là Pubmed và Cochrane Library

Quy trình của tổng quan tài liệu hệ thống như sau: (1) Xác định câu hỏi nghiên cứu; (2) Tìm kiếm tài liệu; (3) Lựa chọn nghiên cứu và thu thập dữ liệu; (4) Đánh giá chất lượng bằng chứng; (5) Phân tích và xử lý số liệu

1.4.1 Thiết lập câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu được xác định ở nghiên cứu này là: Bệnh nhân ung thư biểu

mô tế bào gan có chất lượng cuộc sống được đánh giá như thế nào?

1.4.2 Tìm kiếm tài liệu

1.4.2.1 Nguồn cơ sở dữ liệu

Đề tài sử dụng hệ thống tìm kiếm dữ liệu Pubmed và Cochrane Library

PubMed là một tài nguyên miễn phí hỗ trợ việc tìm kiếm và truy xuất các tài liệu y sinh và khoa học đời sống với mục đích cải thiện sức khỏe - cả trên phương diện toàn cầu và cá nhân Cơ sở dữ liệu PubMed chứa hơn 32 triệu trích dẫn và tóm tắt tài liệu y sinh Thêm vào đó, PubMed còn cung cấp đường dẫn đến bản toàn văn của các bài báo khoa học Các bản toàn văn này thường được công bố trên trang web của nhà xuất bản hoặc trên PubMed Central (PMC)

Cochrane Library- Thư viện Cochrane là một tập hợp các cơ sở dữ liệu về y học

và các chuyên ngành chăm sóc sức khỏe khác do Cochrane và các tổ chức khác cung cấp Thư viện Cochrane là một nguồn cơ sở dữ liệu quan trọng trong y học dựa trên bằng chứng

1.4.2.2 Chiến lược tìm kiếm

Trang 28

Việc tiến hành tìm kiếm các nghiên cứu một cách hệ thống trên cơ sở dữ liệu PubMed và Cochrane vào ngày 17/3/2021 với các nhóm từ khóa được xác định bằng phương pháp PICOT

Bảng 1.2: Tiêu chí PICOT lựa chọn nghiên cứu

P- Bệnh nhân (Patients) Bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan

I- Can thiệp (Intervention)

C- So sánh (Comparison)

O- Đầu ra (Outcomes) Chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống liên quan

sức khỏe T- Thời gian (Time) 2015-2020

Nghiên cứu lựa chọn khoảng thời gian nghiên cứu chỉ trong những năm gần đây, cụ thể là từ năm 2015 đến năm 2020 bởi vì chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào nhiều yếu tố và thay đổi liên tục theo thời gian cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội Hơn nữa, trong những năm qua, đã có nhiều sự thay đổi trong chẩn đoán,

điều trị và phòng ngừa ung thư biểu mô tế bào gan [44] Do đó đề tài lựa chọn dữ liệu

được xuất bản trong khoảng thời gian trên để hạn chế sai lệch giữa các nghiên cứu cũng như đảm bảo tính cập nhật của nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các từ khóa cùng dấu ngoặc kép kết hợp với kí tự đại diện, tìm kiếm trường dữ liệu, các MeSH (Tiêu đề y khoa), các toán tử, bộ lọc để tìm kiếm

bài báo Chi tiết về chiến lược tìm kiếm có ở Phụ lục 1

1.4.3 Lựa chọn nghiên cứu và thu thập số liệu

Các bài báo sau khi tìm kiếm từ các cơ sở dữ liệu sẽ được đánh giá và loại trừ theo các tiêu chuẩn đã nêu

Quá trình này được tiến hành độc lập bởi hai người nghiên cứu qua các bước như sau:

Bước 1: Đưa các bài báo tìm được trên hai cơ sở dữ liệu đã nêu vào phần mềm Endnote X9 Sử dụng chức năng “Tìm kiếm trùng lặp” Lọc thủ công, loại bỏ bài báo khi bài báo trùng lặp với một bài báo khác ở cả ba tiêu chí sau: Năm phát hành, tên bài báo, tên tác giả Một số bài báo trùng lặp sẽ được loại bỏ ở bước này

Bước 2: Lựa chọn các bài báo qua tiêu đề và tóm tắt Các bài báo sẽ được đánh giá qua các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ

Trang 29

Bước 3: Các bài báo lựa chọn qua được bước 2 sẽ được lựa chọn tiếp bằng cách đọc nội dung chi tiết các bài báo (đọc full-text) và sẽ được đánh giá qua các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ Sau bước này các bài báo còn trùng lặp sẽ bị loại bỏ hết

Bước 4: Các bài báo được lựa chọn sau khi kết thúc Bước 3 sẽ chính thức được đưa chiết xuất dữ liệu và phân tích kết quả

Quy trình lựa chọn nghiên cứu được tóm tắt bằng sơ đồ dưới đây:

Hình 1.3: Sơ đồ quy trình lựa chọn nghiên cứu

Kết quả sau khi kết thúc Bước 2 và Bước 3 của hai nghiên cứu viên sẽ được so sánh Nếu xảy ra mâu thuẫn, hai nghiên cứu viên sẽ trao đổi cùng nhau và đưa ra kết quả cuối cùng Nếu mâu thuẫn không được giải quyết sau trao đổi, một người thứ ba là chuyên gia trong lĩnh vực sẽ được hỏi ý kiến và là người đưa ra kết luận cuối cùng để giải quyết mâu thuẫn Nghiên cứu đã sử dụng bảng kiểm đánh giá PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses) như một hướng dẫn để đảm bảo các tiêu chuẩn hiện hành về phương pháp tổng quan hệ thống

1.4.4 Đánh giá chất lượng bằng chứng

Sau khi đọc chi tiết các bài báo được chọn, người nghiên cứu sẽ tiến hành đánh giá chất lượng bằng chứng Quá trình này sẽ được đánh giá và rà soát lại bởi một người nghiên cứu khác Mâu thuẫn được giải quyết thông qua thảo luận nhóm 2 người

Chất lượng bằng chứng của các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên được đánh giá dựa trên thang điểm Jadad [41] Đối với các nghiên cứu đánh giá trước sau không đối chứng, và nghiên cứu quan sát chúng tôi sử dụng công cụ đánh giá chất lượng National

Trang 30

Institutes of Health (NIH) [58, 59] của Viện Sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ Đối với các nghiên cứu tiến hành theo phương pháp định tính, chất lượng nghiên cứu được đánh giá bằng công cụ do Hawker và cộng sự phát triển [36] Nội dung chi tiết của các

thang đánh giá được trình bày ở phần Phụ lục 9

1.4.5 Phân tích và xử lý số liệu

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, phần mềm Endnote X9 được sử dụng để lưu trữ và quản lý tất cả các bài báo Phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để chiết xuất và tổng hợp dữ liệu từ các bài báo nghiên cứu Dữ liệu của các nghiên cứu được chiết xuất bao gồm:

Các đặc điểm của nghiên cứu, bao gồm: tên nghiên cứu, tác giả, năm xuất bản, nơi tiến hành (quốc gia); loại thiết kế nghiên cứu

Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu, bao gồm: cỡ mẫu, nhân khẩu học, giai đoạn bệnh, chức năng gan, can thiệp được sử dụng

Các vấn đề liên quan đến chất lượng cuộc sống: Định nghĩa chất lượng cuộc sống, công cụ đo lường chất lượng cuộc sống, các khía cạnh của chất lượng cuộc sống

Các kết quả chính của nghiên cứu: Kết quả của nghiên cứu được phân tích thành các phần nhỏ và sắp xếp thành các nhóm cùng chủ đề và được trình bày dưới dạng bảng tóm tắt Phân tích kết quả theo từng nhóm cụ thể; nhận xét và tổng hợp kết quả của mỗi nhóm

Trang 31

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 Lựa chọn nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống

Sau khi tìm kiếm trên các nguồn cơ sở dữ liệu Pubmed và Cochrane Library, nghiên cứu tìm được 756 bài báo, trong đó có 491 bài trên cơ sở dữ liệu Pubmed và

265 bài trên cơ sở dữ liệu The Cochrane Library Dữ liệu 756 bài báo được quản lý trên phần mềm Endnote X9 Sử dụng chức năng tìm bài báo trùng lặp trên phần mềm

và tiến hành lọc thủ công, nghiên cứu đã loại được 23 bài báo cùng có ở hai nguồn cơ

sở dữ liệu trên Như vậy, còn 733 bài báo sẽ được đưa vào quá trình lựa chọn tiếp theo

Hai nghiên cứu viên tiến hành đọc tiêu đề và tóm tắt của 733 bài báo một cách độc lập với nhau Dựa trên các tiêu chí lựa chọn và loại trừ đã xác định, sau khi thống nhất ý kiến của các nghiên cứu viên, 83 bài báo bài báo đủ tiêu chí để đọc toàn văn

Hai nghiên cứu viên tiến hành đọc toàn văn của 83 bài báo một cách độc lập với nhau Dựa trên các tiêu chí lựa chọn và loại trừ đã xác định, sau khi thống nhất ý kiến của các nghiên cứu viên, 32 bài báo được đưa vào phân tích trong bài tổng quan hệ thống này

Chi tiết nguyên nhân loại trừ bài báo được trình bày trong Phụ lục 2

Trang 32

Hình 2.1: Kết quả tìm kiếm và sàng lọc

2.2 Đánh giá chất lƣợng nghiên cứu

Trước khi chiết xuất dữ liệu, chúng tôi tiến hành đánh giá chất lượng các nghiên cứu được lựa chọn Với các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, chúng tôi đánh giá theo thang Jadad; với các nghiên cứu đánh giá trước sau không đối chứng và nghiên cứu quan sát (thuần tập, cắt ngang), chúng tôi sử dụng thang NIH; với các nghiên cứu định tính, thang Hawker sẽ được sử dụng để đánh giá chất lượng

Đối với các nghiên cứu RCT đánh giá theo thang Jadad, cả 5/5 nghiên cứu có tổng điểm trên 3 điểm trở lên và được đánh giá chất lượng tốt Đối với nghiên cứu trước sau không đối chứng đánh giá theo thang NIH, 6/14 nghiên cứu được đánh giá

có chất lượng tốt, 8/14 nghiên cứu được đánh giá có chất lượng trung bình Đối với nghiên cứu quan sát cắt ngang đánh giá theo thang NIH, 8/9 nghiên cứu được đánh giá

có chất lượng trung bình, 1/9 nghiên cứu được đánh giá có chất lượng kém Đối với

Trang 33

nghiên cứu quan sát thuần tập đánh giá theo thang NIH, 2/3 nghiên cứu được đánh giá

có chất lượng tốt, 1/3 nghiên cứu được đánh giá có chất lượng trung bình Một nghiên cứu định tính được đánh giá chất lượng trung bình

Chi tiết đánh giá chất lượng các nghiên cứu được trình bày trong Phụ lục 8

Hình 2.2: Đánh giá chất lượng nghiên cứu đưa vào tổng quan

2.3 Chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG trong các nghiên cứu

2.3.1 Đặc điểm các nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống

Đặc điểm của 32 nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống này được trình bày

trong Phụ lục 3

Trong số 32 nghiên cứu, số lượng nghiên cứu được thực hiện ở Trung Quốc là

12 nghiên cứu, chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,5% tổng số các nghiên cứu Tiếp theo là Đức với 5 nghiên cứu, chiếm 15,6% tổng số các nghiên cứu Các quốc gia khác gồm: Hoa Kỳ, Ca-na-da, Bra-xin, Thụy Sĩ, Ý, Nhật Bản đóng góp tổng cộng là 9 nghiên cứu, chiếm 28,1% tổng số nghiên cứu 6 nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia (đa quốc gia), tương ứng với 18,8% các nghiên cứu

Trang 34

Hình 2.3: Tổng số các nghiên cứu và số nghiên cứu ở mỗi châu lục theo năm công bố Hầu hết các nghiên cứu đánh giá CLCS bằng phương pháp định lượng (31 nghiên cứu), chỉ có 1 nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính

Trong 31 nghiên cứu định lượng, có 5 nghiên cứu được thiết kế thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT), 12 nghiên cứu quan sát, 14 nghiên cứu đánh giá trước-sau không nhóm chứng Trong số 12 nghiên cứu quan sát, có 9 nghiên cứu thiết

kế cắt ngang và 3 nghiên cứu thiết kế thuần tập Nghiên cứu định tính duy nhất được thiết kế bằng các buổi phỏng vấn sâu nhiều lần trên mỗi khách thể

Trong 32 nghiên cứu, 17 nghiên cứu báo cáo là họ có nhận tài trợ từ các cơ quan, tổ chức chính phủ hoặc các công ty dược phẩm 15 nghiên cứu báo cáo trong bài báo rằng họ không nhận tài trợ hoặc không đề cập đến vấn đề này

2.3.2 Đặc điểm bệnh nhân UTBMTBG

Thông tin chi tiết về đặc điểm của bệnh nhân UTBMTBG được trình bày trong

Phụ lục 3.

Tổng số bệnh nhân tham gia các nghiên cứu là 7.032 bệnh nhân UTBMTBG Trong số đó, tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu dao động thấp nhất là 47 tuổi [49] và cao nhất là 73 tuổi [46] Bệnh nhân là nam giới có số lượng là 5.469 bệnh nhân, chiếm 77,8% tổng số bệnh nhân

05101520253035

Đa quốc gia Tổng (trong năm) Tổng

Trang 35

22 nghiên cứu có báo cáo chức năng gan của bệnh nhân theo phân loại điểm Child-Pubg Trong đó, 13 nghiên cứu chỉ ghi nhận bệnh nhân có điểm Child-pubg là A hoặc Child-pubg B

13 nghiên cứu đề cập đến phân loại giai đoạn bệnh của bệnh nhân theo BCLC, bao gồm 5 giai đoạn bệnh 0, A, B, C, D Trong đó, bệnh nhân giai đoạn 0 được báo cáo duy nhất trong 1 nghiên cứu, bệnh nhân giai đoạn A được báo cáo trong 9 nghiên cứu, bệnh nhân giai đoạn B được báo cáo trong 10 nghiên cứu, bệnh nhân giai đoạn C được báo cáo trong 9 nghiên cứu và bệnh nhân giai đoạn D được báo cáo trong 5 nghiên cứu

Thêm vào đó, cách phân loại UTBMTBG thành 5 giai đoạn bệnh: rất sớm, sớm, trung gian, tiến triển, cuối được đề cập đến trong 10 nghiên cứu Trong đó, 2 nghiên cứu lựa chọn bệnh nhân UTBMTBG giai đoạn sớm, 1 nghiên cứu lựa chọn bệnh nhân giai đoạn trung gian, 6 nghiên cứu lựa chọn bệnh nhân giai đoạn tiến triển và 1 nghiên cứu lựa chọn bệnh nhân giai đoạn cuối

2.3.3 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống

Bảng mô tả các công cụ đo lường CLCS được sử dụng trong các bài báo này và

phân tích chúng theo mô hình CLCS của Ferrell được trình bày trong Phụ lục 4

Trong số 32 nghiên cứu, có 30 nghiên cứu sử dụng các bộ công cụ đã được xác thực để đo lường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 1 nghiên cứu tự thiết kế bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống 1 nghiên cứu tiếp cận chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG bằng phương pháp định tính, cụ thể là phỏng vấn sâu bệnh nhân

Các bộ công cụ được sử dụng là bộ công cụ dành cho dân số chung gồm có

SF-36, SF-12, EQ-5D-3L hoặc bộ công cụ dành cho bệnh nhân ung thư gồm có EORTC QLQ-C30, FACT-G hoặc bộ công cụ bộ dành riêng cho đối tượng bệnh nhân ung thư gan gồm có EORTC-HCC18, FACT-Hep, FHSI-8 Các bộ công cụ dành cho dân số chung và bộ công cụ đánh giá trên bệnh nhân ung thư, sau đây gọi tắt là bộ công cụ chung Trong đó, bộ công cụ chung được sử dụng nhiều nhất là EORTC QLQ-C30, nó được sử dụng trong 15 nghiên cứu hay 50% các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ 11 nghiên cứu (36,7%) đã sử dụng bộ công cụ SF-36 là một công cụ chung để đo lường CLCS 5 nghiên cứu (16,7%) đã sử dụng bộ công cụ FACT-G để đo lường CLCS bệnh nhân Đối với bộ công cụ EQ-5D-3L và SF-12, mỗi bộ công cụ chỉ được sử dụng trong

Trang 36

1 nghiên cứu Đặc biệt, có 3 nghiên cứu sử dụng cùng lúc 2 bộ công cụ chung để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTBMTBG [9, 17, 18]

Hình 2.4: Tỷ lệ sử dụng bộ công cụ chung

trong các nghiên cứu

Hình 2.5: Tỷ lệ sử dụng bộ công cụ riêng

trong các nghiên cứu

Ngoài ra, người trưởng thành mắc UTBMTBG có một loạt các triệu chứng rất

cụ thể Một cách để đánh giá các triệu chứng này là thông qua bộ câu hỏi dành riêng cho bệnh ung thư gan Các công cụ dành riêng cho bệnh nhân ung thư gan, sau đây gọi tắt là bộ công cụ riêng, bao gồm: EORTC-HCC18, FACT-Hep, FHSI-8 16 nghiên cứu trong tổng số 32 nghiên cứu (chiếm 50%) có sử dụng một trong các bộ công cụ này

Cả bộ công cụ EORTC và FACT đều có các phân vùng bệnh cụ thể phù hợp với quần thể UTBMTBG, đó là EORTC-HCC18 và FACT-Hep Tuy nhiên, không có bộ câu hỏi riêng nào được thiết kế để đi cùng với bộ công cụ SF-36, SF-12 hay EQ-5D-3L Các bộ công cụ riêng thường được sử dụng nhất là EORTC-HCC18 (10 nghiên cứu), tiếp đó là bộ công cụ FACT-Hep (5 nghiên cứu) và FHSI-8 (1 nghiên cứu)

Đối với nghiên cứu của Gill năm 2018 [33], bộ công cụ thu thập dữ liệu được nhà nghiên cứu tự thiết kế, bộ công cụ này bao gồm cả các câu hỏi mở và các câu hỏi đóng Tuy nhiên kết quả của nghiên cứu không đề cập cụ thể về giá trị của CLCS mà chỉ cung cấp giá trị % số lượng từng đáp án được phản hồi cho mỗi câu hỏi Đối với nghiên cứu của Hansen 2015 [34], tác giả sử dụng bộ công cụ để phỏng vấn sâu bệnh nhân UTBMTBG, điều này đã đem lại góc nhìn chi tiết hơn về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

2.3.4 Các khía cạnh của chất lượng cuộc sống

Định nghĩa rõ ràng về CLCS chỉ được cung cấp trong 7 (22%) nghiên cứu Các

định nghĩa từ các bài báo được tổng hợp trong Phụ lục 5 Khía cạnh thể chất và khía

Trang 37

EORTC-cạnh tâm lý của chất lượng cuộc sống được đề cập đến trong định nghĩa về chất lượng cuộc sống của cả 7 nghiên cứu kể trên Khía cạnh xã hội của chất lượng cuộc sống được đề cập đến trong định nghĩa về chất lượng cuộc sống của 4 nghiên cứu Chỉ có 2 nghiên cứu mà tác giả đề cập về khía cạnh tinh thần của CLCS trong định nghĩa họ đưa ra Ngoài ra, 2 nghiên cứu của Shomaru năm 2016 [70] và Palmieri năm 2015 [61]

có đề cập tới khía cạnh khác của CLCS, đó là các triệu chứng cụ thể của bệnh tật hoặc các ảnh hưởng từ phương pháp điều trị Ở 25 bài báo còn lại, tác giả không đưa ra định nghĩa cho thuật ngữ CLCS

Mô hình CLCS của Ferrell được sử dụng cho tổng quan này bao gồm bốn khía cạnh của CLCS, đó là: thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần Mô hình này đã được trình bày ở các phần trên

Khía cạnh thể chất và khía cạnh tâm lý của chất lượng cuộc sống được đánh giá trong tất cả 32 nghiên cứu Khía cạnh xã hội của CLCS được đề cập đến trong 31 nghiên cứu Khía cạnh tinh thần của CLCS chỉ được đề cập đến trong 1 nghiên cứu duy nhất

Các khía cạnh chất lượng cuộc sống trong các nghiên cứu được trình bày chi

Các điểm số đánh giá CLCS trong các nghiên cứu được tính toán theo hướng dẫn của các bộ công cụ Mỗi điểm số đại diện cho một hoặc nhiều khía cạnh chất lượng cuộc sống mà bộ câu hỏi đề cập Thông tin chi tiết về các điểm số được trình

bày trong Phụ lục 7.

Đối với các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ EQ-5D, các điểm số có thể được báo cáo bao gồm: Điểm chỉ số EQ-5D, điểm EQ-5D VAS Đối với các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ SF-36 hoặc SF-12, các điểm số có thể được báo cáo bao gồm: Điểm

Trang 38

hoạt động thể chất (PF), vai trò thể chất (RP), đau đớn thể xác (BP), sức khỏe tổng quát (GH), sức sống (VT), hoạt động xã hội (SF), vai trò cảm xúc (RE), sức khỏe tâm thần (MH), điểm tổng kết cấu phần thể chất (PCS), điểm tổng kết cấu phần tinh thần (MCS)

Đối với các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ EORTC QLQ-C30, các điểm số có thể được báo cáo bao gồm: Điểm chức năng thể chất (PF), chức năng vai trò (RF), chức năng cảm xúc (EF), chức năng nhận thức (CF), chức năng xã hội (SF), tình trạng sức khỏe tổng quát/chất lượng cuộc sống (GHS/QoL), mệt mỏi, buồn nôn/nôn, đau đớn, khó thở, mất ngủ, chán ăn, táo bón, tiêu chảy, khó khăn tài chính, điểm chỉ số C30

Đối với các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ EORTC QLQ-HCC18, các điểm số

có thể được báo cáo bao gồm: Điểm mệt mỏi, hình ảnh cơ thể, vàng da, dinh dưỡng, đau đớn, sốt, đời sống tình dục, chướng bụng, điểm chỉ số HCC18 Đối với các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ FHSI-8, điểm số được báo cáo là tổng điểm FHSI-8

Đối với các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ FACT-Hep hoặc FACT-G, các điểm số có thể được báo cáo bao gồm: Điểm sức khỏe cảm xúc (EWB), sức khỏe chức năng (FWB), sức khỏe thể chất (PWB), sức khỏe xã hội/gia đình (SWB), điểm FACT-

G, điểm các mối quan tâm bổ sung về UTBMTBG (HCS), điểm FACT-Hep, điểm chỉ

số kết quả thử nghiệm (TOI)

2.4.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 2.1: Đặc điểm nhân khẩu học và chất lượng cuộc sống bệnh nhân

Nghiên

cứu

Cỡ mẫu

Trang 39

Điểm đau: ↑ ở BN nữ cao hơn BN nam sau lần đầu

TARE (p<0,05)

Điểm mệt mỏi: ↑ ở BN nữ cao hơn BN nam sau lần

đầu TARE hoặc TACE (p<0,05)

(Hartrumpt

2018) [35]

148 EORTC

QLQ-C30 EORTC QLQ-HCC18

Điểm PF: ↓ ở BN nữ cao hơn BN nam sau lần đầu

TACE (p < 0,01)

Điểm nôn/buồn nôn: ↑ ở BN nữ cao hơn BN nam

sau lần đầu TACE (p = 0,00)

Điểm sốt: ↑ ở BN nữ cao hơn BN nam sau lần đầu

(Kirchner

2019) [46]

QLQ-C30 EORTC QLQ-HCC18

Điểm đau: ↑ cao hơn ở bệnh nhân lớn tuổi sau lần

Trang 40

(Deng

2020) [19]

735 SF-12 Điểm MCS: BN có căn nguyên gây bệnh là do rượu

kết hợp đồng nhiễm HBV/HCV < BN có căn nguyên gây bệnh chỉ do đồng nhiễm HBV/HCV (OR 1,77; 95 % CI 1,10-2,85; p=0,02), xét điểm MCS thấp là điểm <41,3

Điểm EF: BN châu Á > BN châu Âu (p<0,05) Điểm mất ngủ: BN châu Á < BN châu Âu (p<0,05) Điểm đời sống tình dục: BN châu Á < BN châu Âu (p<0,05)

Điểm PF: BN châu Âu đã kết hôn < BN châu Á độc thân (p<0,05)

Điểm mệt mỏi: BN châu Âu đã kết hôn > BN châu

Ngày đăng: 10/11/2021, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.714-723 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
2. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, Quyết định số 3129/QĐ-BYT ngày 17 tháng 07 năm 2020, Hà Nội, tr.6-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020
5. Phạm Cẩm Phương, Mai Trọng Khoa, Trần Đình Hà, et al. (2019), "Xét nghiệm AFP, AFP-3 và PIVKA-II huyết thanh ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại bệnh viện Bạch Mai", Tạp chí ung thư học Việt Nam, 05, tr.301-306.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét nghiệm AFP, AFP-3 và PIVKA-II huyết thanh ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Phạm Cẩm Phương, Mai Trọng Khoa, Trần Đình Hà, et al
Năm: 2019
6. Aaronson N. K., Ahmedzai S., Bergman B., et al. (1993), "The European Organization for Research and Treatment of Cancer QLQ-C30: a quality-of-life instrument for use in international clinical trials in oncology", J Natl Cancer Inst. 85(5), pp.365-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The European Organization for Research and Treatment of Cancer QLQ-C30: a quality-of-life instrument for use in international clinical trials in oncology
Tác giả: Aaronson N. K., Ahmedzai S., Bergman B., et al
Năm: 1993
7. Bakas Tamilyn, McLennon Susan M, Carpenter Janet S, et al. (2012), "Systematic review of health-related quality of life models", Health Qual Life Outcomes. 10, pp.134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Systematic review of health-related quality of life models
Tác giả: Bakas Tamilyn, McLennon Susan M, Carpenter Janet S, et al
Năm: 2012
9. Beaton L., Dunne E. M., Yeung R., et al. (2020), "Stereotactic Body Radiotherapy for Large Unresectable Hepatocellular Carcinomas - A Single Institution Phase II Study", Clin Oncol (R Coll Radiol). 32(7), pp.423-432 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stereotactic Body Radiotherapy for Large Unresectable Hepatocellular Carcinomas - A Single Institution Phase II Study
Tác giả: Beaton L., Dunne E. M., Yeung R., et al
Năm: 2020
10. Bloom Joan R., Kang Soo H., Petersen Dana M., et al. (2007), Quality of Life in Long-Term Cancer Survivors, Springer US, Boston, pp.43-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of Life in Long-Term Cancer Survivors
Tác giả: Bloom Joan R., Kang Soo H., Petersen Dana M., et al
Năm: 2007
11. Bosetti C., Turati F., La Vecchia C. (2014), "Hepatocellular carcinoma epidemiology", Best Pract Res Clin Gastroenterol. 28(5), pp.753-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hepatocellular carcinoma epidemiology
Tác giả: Bosetti C., Turati F., La Vecchia C
Năm: 2014
12. Brooks R., Boye K. S., Slaap B. (2020), "EQ-5D: a plea for accurate nomenclature", J Patient Rep Outcomes. 4(1), pp.52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: EQ-5D: a plea for accurate nomenclature
Tác giả: Brooks R., Boye K. S., Slaap B
Năm: 2020
13. Coons S. J., Rao S., Keininger D. L., et al. (2000), "A comparative review of generic quality-of-life instruments", Pharmacoeconomics. 17(1), pp.13-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparative review of generic quality-of-life instruments
Tác giả: Coons S. J., Rao S., Keininger D. L., et al
Năm: 2000
14. Chau I., Peck-Radosavljevic M., Borg C., et al. (2017), "Ramucirumab as second-line treatment in patients with advanced hepatocellular carcinoma following first-line therapy with sorafenib: Patient-focused outcome results from the randomised phase III REACH study", Eur J Cancer. 81, pp.17-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ramucirumab as second-line treatment in patients with advanced hepatocellular carcinoma following first-line therapy with sorafenib: Patient-focused outcome results from the randomised phase III REACH study
Tác giả: Chau I., Peck-Radosavljevic M., Borg C., et al
Năm: 2017
15. Chie W. C., Blazeby J. M., Hsiao C. F., et al. (2017), "Differences in health- related quality of life between European and Asian patients with hepatocellular carcinoma", Asia Pac J Clin Oncol. 13(5), pp.e304-e311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Differences in health-related quality of life between European and Asian patients with hepatocellular carcinoma
Tác giả: Chie W. C., Blazeby J. M., Hsiao C. F., et al
Năm: 2017
16. Chie W. C., Yu F., Li M., et al. (2015), "Quality of life changes in patients undergoing treatment for hepatocellular carcinoma", Qual Life Res. 24(10), pp.2499-506 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life changes in patients undergoing treatment for hepatocellular carcinoma
Tác giả: Chie W. C., Yu F., Li M., et al
Năm: 2015
17. Chiu C. C., Lee K. T., Wang J. J., et al. (2019), "Preoperative Health-Related Quality of Life Predicts Minimal Clinically Important Difference and Survival after Surgical Resection of Hepatocellular Carcinoma", J Clin Med. 8(5), pp.576 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preoperative Health-Related Quality of Life Predicts Minimal Clinically Important Difference and Survival after Surgical Resection of Hepatocellular Carcinoma
Tác giả: Chiu C. C., Lee K. T., Wang J. J., et al
Năm: 2019
18. Chiu C. C., Lee K. T., Wang J. J., et al. (2018), "Health-Related Quality of Life before and after Surgical Resection of Hepatocellular Carcinoma: AProspective Study", Asian Pac J Cancer Prev. 19(1), pp.65-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-Related Quality of Life before and after Surgical Resection of Hepatocellular Carcinoma: A Prospective Study
Tác giả: Chiu C. C., Lee K. T., Wang J. J., et al
Năm: 2018
19. Deng Y., Zhu J., Liu Z., et al. (2020), "Elevated systemic inflammatory responses, factors associated with physical and mental quality of life, and prognosis of hepatocellular carcinoma", Aging (Albany NY). 12(5), pp.4357- 4370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Elevated systemic inflammatory responses, factors associated with physical and mental quality of life, and prognosis of hepatocellular carcinoma
Tác giả: Deng Y., Zhu J., Liu Z., et al
Năm: 2020
20. European Association for the Study of the Liver. Electronic address easloffice easloffice eu, European Association for the Study of the Liver (2018), "EASL Clinical Practice Guidelines: Management of hepatocellular carcinoma", J Hepatol. 69(1), pp.182-236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: EASL Clinical Practice Guidelines: Management of hepatocellular carcinoma
Tác giả: European Association for the Study of the Liver. Electronic address easloffice easloffice eu, European Association for the Study of the Liver
Năm: 2018
21. Fan S. Y., Eiser C., Ho M. C. (2010), "Health-related quality of life in patients with hepatocellular carcinoma: a systematic review", Clin Gastroenterol Hepatol. 8(7), pp.559-64 e1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-related quality of life in patients with hepatocellular carcinoma: a systematic review
Tác giả: Fan S. Y., Eiser C., Ho M. C
Năm: 2010
22. Felce D., Perry J. (1995), "Quality of life: its definition and measurement", Res Dev Disabil. 16(1), pp.51-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life: its definition and measurement
Tác giả: Felce D., Perry J
Năm: 1995
23. Ferrans C. E. (1990), "Quality of life: conceptual issues", Semin Oncol Nurs. 6(4), pp.248-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life: conceptual issues
Tác giả: Ferrans C. E
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Hình 1.1 Mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư (Trang 19)
Bảng 1.1: Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về cùng chủ đề đã được tiến hành. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 1.1 Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về cùng chủ đề đã được tiến hành (Trang 24)
Bảng 1.2: Tiêu chí PICOT lựa chọn nghiên cứu. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 1.2 Tiêu chí PICOT lựa chọn nghiên cứu (Trang 28)
Hình 2.1: Kết quả tìm kiếm và sàng lọc. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Hình 2.1 Kết quả tìm kiếm và sàng lọc (Trang 32)
Hình 2.2: Đánh giá chất lượng nghiên cứu đưa vào tổng quan - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Hình 2.2 Đánh giá chất lượng nghiên cứu đưa vào tổng quan (Trang 33)
Hình 2.3: Tổng số các nghiên cứu và số nghiên cứu ở mỗi châu lục theo năm công bố.  Hầu  hết  các  nghiên  cứu  đánh  giá  CLCS  bằng  phương  pháp  định  lượng  (31  nghiên cứu), chỉ có 1 nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Hình 2.3 Tổng số các nghiên cứu và số nghiên cứu ở mỗi châu lục theo năm công bố. Hầu hết các nghiên cứu đánh giá CLCS bằng phương pháp định lượng (31 nghiên cứu), chỉ có 1 nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính (Trang 34)
Hình 2.4: Tỷ lệ sử dụng bộ công cụ chung - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Hình 2.4 Tỷ lệ sử dụng bộ công cụ chung (Trang 36)
Bảng 2.1: Đặc điểm nhân khẩu học và chất lượng cuộc sống bệnh nhân. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học và chất lượng cuộc sống bệnh nhân (Trang 38)
Bảng 2.2: Tình trạng lâm sàng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 2.2 Tình trạng lâm sàng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (Trang 42)
Bảng 2.4: Các yếu tố thuộc về tâm lý và chất lượng cuộc sống bệnh nhân. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 2.4 Các yếu tố thuộc về tâm lý và chất lượng cuộc sống bệnh nhân (Trang 50)
Bảng 2.5: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân cắt bỏ một phần gan. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 2.5 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân cắt bỏ một phần gan (Trang 52)
Bảng 2.6: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân nút mạch gan. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 2.6 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân nút mạch gan (Trang 53)
Bảng 2.7: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân ghép gan. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 2.7 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân ghép gan (Trang 57)
Bảng 2.8: Chất lượng cuộc sống bệnh nhân hủy u tại chỗ. - Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan
Bảng 2.8 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân hủy u tại chỗ (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w