1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kỹ năng thụ lý tranh chấp về ly hôn, bình luận những sai sót, vướng mắc, bất cập trong thực hiện kỹ năng này của toà án

16 73 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 112,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng

Trang 1

Tiểu luận cuối kỳ

Học phần: Kĩ năng giải quyết tranh chấp về dân sự Giảng viên: TS Ngô Thanh Hương

Đề tài

Kỹ năng thụ lý tranh chấp về ly hôn, bình luận những sai sót, vướng mắc, bất cập trong thực hiện kỹ năng này của

Toà án.

Sinh viên thực hiện:

Họ và tên:

MSSV:

Lớp: VBK11 – Luật học

Hà Nội – 11/2021

Trang 2

1 Khái niệm

- Thụ lý vụ án dân sự là việc toà án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án dân để giải quyết

- Là thủ tục để xác định yêu cầu khởi kiện có làm phát sinh vụ án dân sự hay không là việc toà án xác định các điều kiện khởi kiện và tiến hành vào sổ thụ lý

- Thụ lý vụ án dân sự là căn cứ để xác định thời hạn tố tụng dân sự

- Thực hiện đúng quy định về thụ lý sẽ loại trừ tối đa việc thụ lý nhầm vụ án giúp toà

án giảm tải những việc không cần thiết, tiết kiệm được thời gian xét xử, giảm bớt những hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ

2 Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ

án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động) Các kỹ năng bao gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS 2015; điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác); Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…

Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể Dưới đây là kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Nộp đơn khởi kiện

Trang 3

Trường hợp nộp đơn trực tiếp tại Tòa án

Khi nhận được đơn, Bộ phận tiếp nhận đơn phải ghi vào sổ nhận đơn Sau đó, Tòa án

có trách nhiệm phải cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện

Trường hợp nộp đơn thông qua dịch vụ bưu chính

Khi nhận được đơn, Bộ phận tiếp nhận đơn phải ghi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn

02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện

Trường hợp nộp đơn thông qua hình thức điện tử

Khi nhận được đơn, Bộ phận tiếp nhận đơn phải in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn

Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa

án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của BLTTDS 2015;

- Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Trang 4

Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

 Khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xác định rõ yêu cầu của đương sự thể hiện trong đơn yều cầu, kiểm tra các điều kiện kết hôn như giấy đăng kí kết hôn, giấy chứng nhận sở hữu tài sản chung của vợ hoặc chồng hoặc sở hữu riêng của từng người…, thủ tục kết hôn để xác định quan hệ hôn nhân của đương sự là hợp pháp, hôn nhân trái pháp luật hay không phải là quan hệ hôn nhân Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, Thẩm phán phải làm rõ trong trường hợp nào họ được coi là

vợ chồng, trường hợp nào không được coi là vợ chồng để xác định quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng (việc hôn nhân gia đình hay án hôn nhân gia đình)

để vào sổ thụ lý giải quyết

 Khi xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán cần phải xác định các vấn đề về hôn nhân, tài sản và con cái có được các đương sự thỏa thuận giải quyết không, thỏa thuận cụ thể của đương sự là gì, vấn đề gì đương sự không thỏa thuận được Việc khởi kiện vụ án ly hôn phải do chính các đương sự khởi kiện không được ủy quyền cho người khác thay mình, trừ các vấn đề tranh chấp về tài sản

và con (khoản 3 Điều 73 BLTTDS);

 Thẩm phán cần căn cứ theo yêu cầu của đương sự và các chứng cứ mà đương

sự xuất trình để áp dụng các căn cứ pháp lý sau khi xác định quan hệ pháp luật:

 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

 Thẩm phán cần kiểm tra các giấy cần cần thiết kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn: Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh

Trang 5

của con, các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; giấy vay, nợ (nếu có) …

 Thẩm phán cần tiến hành kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện Xác định người khởi kiện có thuộc trường hợp hạn chế quyền khởi kiện đối với trường hợp người chồng xin ly hôn mà vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng (căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS);

 Khi người vợ đang thuộc một trong các trong các trường hợp đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (không phân biệt có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), người chồng có yêu cầu xin ly hôn Tòa án trả lại đơn kiện cho người nộp đơn (mục 6 hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000/ NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) [1]

Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng

cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp

Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn thì đương sự không được kiện lại trong thời hạn 1 năm Sau một năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn

có hiệu lực pháp luật, người có đơn xin ly hôn mà bị Tòa án bác đơn xin ly hôn mới được quyền kiện lại (mục c, điểm 10 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Thẩm quyền theo vụ việc được xác định theo ý chí của các đương sự (thuận tình hay

ly hôn do một bên yêu cầu…) thể hiện trong đơn và tính chất của quan hệ hôn nhân Nếu việc ly hôn do một bên yêu cầu thì đó là vụ án dân sự, được thụ lý theo khoản 1 Điều 27 BLTTDS 2015 Nếu thuận tình ly hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật thì đó là việc dân sự, được thụ lý theo khoản 2, khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015

Trang 6

Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án tương tự như các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình khác Vẫn xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp toà án, theo lãnh thổ Lưu ý trong vụ án ly hôn tranh chấp về quyền sử dụng đất, chia tài chung của vợ chồng sau khi ly hôn không áp dụng nguyên tắc nơi có bất động sản xảy ra tranh chấp tại khoản c, Điều 39 BLTTDS 2015

Đối với yêu cầu giải quyết việc ly hôn, giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam (khoản 3 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình 2014);

Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ nguyên tắc chung được xác định theo nơi cư trú hoặc làm việc của bị đơn (điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015)

Khi kiểm tra điều kiện về thẩm quyền, Thẩm phán cần lưu ý về thẩm quyền của Tòa

án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:

- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc cuối cùng (điểm a, khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2015);

- Nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam (điểm c, khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2015;

Về việc nộp tạm ứng án phí, về nguyên tắc, khi đương sự có yêu cầu ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu), đương sự chỉ phải nộp tạm ứng án phí của vụ án không có giá ngạch là 200.000 đồng theo nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Điều 130 BLTTDS 2015) Trường hợp có tranh chấp về tài sản thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo tỷ lệ của giá trị tài sản tranh chấp (nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí tòa án; Điều 130 BLTTDS 2015) Nếu các bên có thỏa thuận được về tài sản thì tạm ứng án phí chỉ là 50.000 đồng (Công văn số 81/2002/TANDTC ngày

Trang 7

10/6/2002 về việc giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng…)

2 Các sai sót, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện kĩ năng này của Toà án.

Đối với trường hợp Toà án thụ lý vụ án ly hôn (các đương sự thật sự tự nguyện ly hôn nhưng lại có tranh chấp về việc chia tài sản, và việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái) khi Toà án hoà giải thì các đương sự vẫn kiên quyết ly hôn và Toà án hoà giải không thành nhưng Toà án hoà giải thành các tranh chấp về việc chia tài sản và việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái thì Toà án phải lập “biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành” Hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận thì Toà án ra quyết định “công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự” Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay

Giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn.

Do đặc trưng của việc dân sự là chỉ có yêu cầu chứ không có tranh chấp, nên BLTTDS không quy định trình tự hòa giải trong phần thủ tục giải quyết việc dân sự, khi đã đủ điều kiện theo luật định, Tòa án có trách nhiệm mở phiên họp xét đơn yêu cầu, quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của các đương sự và đó chính

là vướng mắc trong giải quyết việc Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn Điều 88 Luật Hôn nhân - gia đình quy định: “Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự” Điều 10 BLTTDS quy định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.” Theo các quy định trên, việc giải quyết Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của các Toà án địa phương có sự không thống nhất Một số Tòa án địa phương khi giải quyết việc Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn đã tiến hành mở phiên họp

Trang 8

xét đơn yêu cầu mà không cần tiến hành thủ tục hòa giải giữa các đương sự, điều này không trái với các quy định tại Chương XX BLTTDS (quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự) Lý do Thẩm phán không cần tiến hành hòa giải là trình tự giải quyết việc dân sự không quy định thủ tục hòa giải, hơn nữa việc dân sự chỉ có yêu cầu chứ không có tranh chấp, do vậy Thẩm phán không có lý do để tiến hành hòa giải Thế nhưng ở một số địa phương khác, khi giải quyết việc Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Thẩm phán đã tiến hành thủ tục hòa giải trước khi mở phiên họp xét đơn yêu cầu, căn cứ để hòa giải là các quy định về trách nhiệm hoà giải của Tòa án các trường hợp

và hai vợ chồng đã thống nhất ý chí thực sự thuận tình ly hôn mà Toà án vẫn tổ chức hoà giải thì sẽ làm kéo dài thời gian giải quyết vụ việc

Vì vậy, Toà án có thể cân nhắc có nên tổ chức hoà giải trong trường hợp mà hai bên

đã thực sự thống nhất ý chí thuận tình ly hôn hay không, để tiết kiệm thời gian giải quyết vụ việc

Bị đơn yêu cầu chia tài sản chung.

Trong tranh chấp về HNGĐ, nhiều vụ án nguyên đơn (vợ hoặc chồng) khởi kiện chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, phân chia quyền nuôi con, nghĩa vụ, mức cấp dưỡng khi ly hôn mà không yêu cầu phân chia tài sản chung, nhưng trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết thì bên bị đơn có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng Tranh chấp về chia tài sản chung bao gồm nhiều dạng: tài sản mà vợ chồng thống nhất là tài sản chung nhưng không thống nhất được cách chia; tài sản mà họ không thống nhất được với nhau là tài sản chung như: tranh chấp do một bên cho rằng là tài sản chung, bên kia cho rằng tài sản riêng hoặc có tranh chấp cho rằng là tài sản của người thứ ba, hoặc không có tài sản đó…

Vướng mắc trong thủ tục thụ lý: Do pháp luật tố tụng không có quy định nên tên gọi trong các văn bản tố tụng không thống nhất, có Tòa án ra Thông báo thụ lý về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng; có Tòa án Thông báo về việc chia tài sản chung của bị đơn,… Ngoài ra, về đóng tạm ứng án phí, theo quy định tại điều 146 BLTTDS quy định về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí thì chỉ có nguyên đơn, bị đơn

có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn mới phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho

Trang 9

nên nếu yêu cầu của bị đơn không phải là yêu cầu phản tố thì có phải nộp tiền tạm ứng

án phí hay không?

Tài liệu tham khảo

1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

1 Khái niệm

- Thụ lý vụ án dân sự là việc toà án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án dân để giải quyết

- Là thủ tục để xác định yêu cầu khởi kiện có làm phát sinh vụ án dân sự hay không là việc toà án xác định các điều kiện khởi kiện và tiến hành vào sổ thụ lý

- Thụ lý vụ án dân sự là căn cứ để xác định thời hạn tố tụng dân sự

- Thực hiện đúng quy định về thụ lý sẽ loại trừ tối đa việc thụ lý nhầm vụ án giúp toà

án giảm tải những việc không cần thiết, tiết kiệm được thời gian xét xử, giảm bớt những hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ

2 Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ

án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động) Các kỹ năng bao gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, trừ trường

Trang 10

hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS 2015; điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác); Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…

Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể Dưới đây là kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Nộp đơn khởi kiện

Trường hợp nộp đơn trực tiếp tại Tòa án

Khi nhận được đơn, Bộ phận tiếp nhận đơn phải ghi vào sổ nhận đơn Sau đó, Tòa án

có trách nhiệm phải cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện

Trường hợp nộp đơn thông qua dịch vụ bưu chính

Khi nhận được đơn, Bộ phận tiếp nhận đơn phải ghi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn

02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện

Trường hợp nộp đơn thông qua hình thức điện tử

Khi nhận được đơn, Bộ phận tiếp nhận đơn phải in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn

Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa

án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

Ngày đăng: 10/11/2021, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w