Việc ban hành và thực hiện các quy định về chế độ BHXH là một vấn đề cấp thiết và phù hợp với nguyện vọng của đại đa số người lao động.. Nhiệm vụ của đề tài - Tiểu luận làm rõ một số v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
————————
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Học phần: Pháp luật an sinh xã hội Giảng viên: TS Nguyễn Thanh Huyền
Đề tài
Pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện và
thực tiễn thực hiện
Sinh viên thực hiện:
Họ và tên :
Mã số sinh viên : Lớp : VBK11 – Luật học
Hà Nội – 11/2021
Trang 2THÔNG TIN SINH VIÊN
Họ và tên sinh viên:
Ngày sinh
Mã sinh viên:
Số điện thoại:
Địa chỉ email:
Khoá đào tạo: QH-2019-K11 – Luật học (Văn bằng kép 11)
Độ dài tiểu luận:
Điểm (bằng số): ……… Điểm (bằng chữ): ………
Trang 3Mở đầu
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là 1 trong những chính sách an sinh xã hội hữu ích nhất đối với người lao động Con người muốn tồn tại và phát triển thì phải có quá trình lao động, từ đó dẫn đến mối quan hệ giữa người lao động
và người, đơn vị sử dụng lao động Bảo hiểm xã hội tự nguyện là phương thức dự phòng để khắc phục các hậu quả của những rủi do xã hội, đảm bảo
an toàn xã hội, tạo nền tảng để phát triển kinh tế Bảo hiểm xã hội tự nguyện
là công cụ giúp Nhà nước điều tiết xã hội trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo sự công bằng, tiến bộ và văn minh và phát triển xã hội bền vững
1 Lý do chọn đề tài
Chính sách về BHXH tự nguyện là chính sách cơ bản nhất của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia Việc ban hành và thực hiện các quy định về chế độ BHXH là một vấn đề cấp thiết và phù hợp với nguyện vọng của đại
đa số người lao động Đây là nhu cầu chính đáng và thiết thực cần được Nhà nước và xã hội quan tâm thực hiện Việc nghiên cứu đề tài về thực trạng pháp luật của chế độ BHXH tự nguyện để từ đó hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan đến BHXH là hết sức cần thiết
2 Mục đích của đề tài
Qua bài tiểu luận này, tôi hướng tới mong muốn làm rõ những cơ sở lý luận
về BHXH tự nguyện ở Việt Nam và những quy định của chế độ BHXH tự nguyện Việt nam Từ đó, đánh giá tới việc áp dụng vào thực tiễn của các quy phạm pháp luật về BHXH ở Việt nam và sau đó là đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ BHXH tự nguyện ở Việt Nam
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Tiểu luận làm rõ một số vấn đề lý luận BHXH tự nguyện và chế độ BHXH
tự nguyện ở nước ta hiện nay được quy định trong pháp luật
Trang 4- Đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật về chế độ BHXH tự nguyện vào thực tiễn, những thành tựu đạt được và những thiếu sót cần hoàn thiện để đảm bảo chế độ BHXH tự nguyện là công cụ hữu hiệu nhất của an sinh xã hội ở nước ta trong tương lai
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật
về chế độ BHXH tự nguyện; đóng góp những ý kiến đề xuất cho việc hoàn thiện pháp luật BHXH để phù hợp thực tế cuộc sống và sự phát triển của nước ta trong thời tương lai
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Tiểu luận tập trung nghiên cứu những quy phạm pháp luật của pháp luật về chế độ BHXH tự nguyện được quy định trong các văn bản pháp luật ở nước
ta hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu.
Tiểu luận tập trung vào các vấn đề lý luận pháp luật về chế BHXH tự nguyện đối với người lao động đang được quy định trong Luật BHXH năm
2014, Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh đó, tiểu luận còn chú ý nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật về chế độ BHXh tự nguyện ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh
6 Kết cấu tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN.
1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội.
Theo ILO: “Bảo hiểm xã hội được thiết lập trên cơ sở nguyên tắc cùng nhau chia sẻ rủi ro đòi hỏi mỗi người tham gia và được bảo vệ phải đóng góp tài chính vào một quỹ chung Khi gặp phải những rủi ro với những điều kiện quy định cho hưởng thì nhu cầu của người đó (hoặc một phần nhu cầu) sẽ được quỹ bảo hiểm xã hội thoả mãn”1
Theo khoản 1 điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, khái niệm bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
“Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”2
Dưới góc độ pháp lý: “Bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của nhà nước , quy định các hình thức đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần cho người lao động và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động”3
1 ILO (1999), “Social security principles”, ISBN 92-2-110734-5, tr.10
2 Khoản 1 điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014
3 Giáo trình Pháp Luật An Sinh Xã Hội 2019, Nxb ĐHQGHN, tr.108.
Trang 61.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà đối tượng tham gia được lựa chọn mức đóng, hình thức đóng sao cho phù hợp với mức thu nhập của mình
Theo giáo trình Pháp Luật An Sinh Xã Hội 2019, Nxb ĐHQGHN thì: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà trong đó người lao động
có quyền tự quyết định tham gia bảo hiểm trên tinh thần tự nguyện Các nội dung có liên quan như: đối tượng áp dụng (người tham gia bảo hiểm xã hội), mức đóng bảo hiểm, phương thức đóng bảo hiểm, đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, thủ tục thực hiện, mức hưởng, thời gian hưởng chỉ mang tính hướng dẫn để người lao động tự lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng và nguyện vọng của mình”4
Hiện nay ở nước ta chỉ thực hiện chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trong bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.3 Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Về phương diện kinh tế: giúp thay thế, bù đắp thu nhập của người lao động bị giảm hay bị mất khả năng lao động nhằm đảm bảo an toàn kinh tế cho bản thân
và gia đình người lao động
Về phương diện xã hội: giúp san sẻ rủi ro, chia sẻ, bù đắp cho người lao động, người lao động chỉ cần phải đóng một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ bảo hiểm xã hội nhưng xã hội sẽ có nhưng vật chất đủ lớn để trang trải những rủi ro này xảy ra
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở NƯỚC TA.
Các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam
2.1 Chế độ hưu trí
Hiện nay, chế độ hưu trí của đối tượng tham gia BHXH tự nguyện có ba hình thức:
4 Giáo trình Pháp Luật An Sinh Xã Hội 2019, Nxb ĐHQGHN, tr.111.
Trang 7i) Hưởng lương hưu hàng tháng
ii) Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
iii) BHXH một lần với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng
tháng
Chế độ lương hưu hàng tháng Điều kiện hưởng, người lao động muốn hưởng chế
độ hưu trí tự nguyện hàng tháng cần phải có đủ hai điều kiện là tuổi đời và thời gian tham gia bảo hiểm, cụ thể: Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;
Và đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên
Thủ tục giải quyết chế độ hưu trí: Hồ sơ giải quyết chế độ hưu trí của BHXH tự nguyện hưởng lương hưu, hưởng BHXH một lần bao gồm: Sổ bảo hiểm xã hội; Tờ khai cá nhân theo mẫu do BHXH Việt Nam quy định Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ,
tổ chức BHXH có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu; 10 ngày đối với trường hợp hưởng BHXH một lần Trường hợp không giải quyết, cơ quan BHXH phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
2.2 Chế độ tử tuất
Chế độ tử tuất là chế độ BHXH đối với thân nhân của người đang tham gia BHXH hoặc đã tham gia BHXH này đang hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm mà
bị chết Đây là chế độ nhằm hỗ trợ một phần chi phí tang lễ và góp phần ổn định đời sống kinh tế cho thân nhân của người qua đời Đồng thời nó cũng chính là khoản thanh toán cho gia đình người lao động tổng số tiền đã đóng vào quỹ BHXH, cộng với phần lợi nhuận thu được từ đầu tư, trừ đi chi phí quản lý theo quy định của Nhà nước mà họ chưa được hưởng hoặc chưa hưởng hết tính đến thời điểm khi chết Theo quy định của pháp luật hiện hành, chế độ tử tuất trong BHXH
tự nguyện bao gồm: trợ cấp mai táng và trợ cấp tuất một lần
2.3 Đánh giá pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
Trang 8Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20-11-2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2016 Luật Bảo hiểm xã hội bao gồm 9 Chương và 125 Điều Có thể khái quát nhận định Luật Bảo hiểm xã hội năm
2014 đã khắc phục cơ bản những hạn chế, bất cập về chính sách, chế độ bảo hiểm
xã hội thực thi trong thời gian trước đó, tiếp cận một cách đầy đủ hơn BHXH của khu vực và thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế và đáp ứng tốt hơn quyền được tham gia và quyền được thụ hưởng BHXH của người dân vì mục tiêu an sinh
xã hội của mọi công dân theo Hiến định
Thứ nhất, mở rộng độ bao phủ BHXH tự nguyện theo nhiều hướng tiếp cận nhằm
gia tăng hơn nữa tỷ lệ số người tham gia BHXH tự nguyện theo một cách ổn định
và bền vững
Thứ hai là, cải thiện tốt hơn tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm xã hội trong dài hạn
với nhiều giải pháp khả thi theo lộ trình phù hợp
Thứ ba là, thể hiện rõ các nguyên tắc bình đẳng giới trong các quy định của Luật
Bảo hiểm xã hội
Thứ tư là, từng bước tiếp cận và luật hóa một số nội dung đáp ứng các yêu cầu của
hội nhập quốc tế trong lĩnh vực BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng
2.4 Thực tiễn thực hiện pháp luật về các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam
Tính đến ngày 31/5/2021, tổng số người tham gia BHXH trên toàn quốc là trên 16,17 triệu người (đạt 32,49% lực lượng lao động) Nhưng BHXH tự nguyện là trên 1,12 triệu người, còn số tham gia BHXH bắt buộc là trên 15 triệu người Bảng 2.1: Số người tham gia BHXH giai đoạn 2010- 2014
Đơn vị tính: người
Trang 9Số người
tham gia
BHXH tự
nguyện
Bảng 2.2: Số người tham gia BHXH giai đoạn 2013- 2017
Đơn vị tính: Người
Số người tham
gia BHXH tự
nguyện
Dựa trên số liệu này ta thấy, số lượng người tham gia BHXH tự nguyện qua các năm không ngừng tăng lên Năm 2010 số người tham gia là 81,319 người Đến năm 2017 số người tham gia BHXH tự nguyện là 227,506
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)5
giai đoạn 2018-2021
- “i) năm 2018 số người tham gia là 277 nghìn người
ii) năm 2019 số người tham gia là 574 nghìn người
iii) năm 2020, mới có khoảng 1.068 nghìn người”6
5 https://www.baohiemxahoi.gov.vn/congkhai/Pages/so-lieu-thong-ke-nganh.aspx?
CateID=130&ItemID=8837
Trang 10-“Tính đến ngày 31/5/2021, BHXH tự nguyện là trên 1,12 triệu người, giảm 13.060 người”7
Năm 2010 số người tham gia là 81,319 người Có thể thấy rằng, đây là một con số khá khiêm tốn so với gần 1,12 triệu người lao động thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện thời điểm 31/5/2021 Đa số người tham gia loại hình BHXH tự nguyện ở thời điểm 2010 là cán bộ không chuyên trách cấp xã được chính quyền địa phương hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện, người lao động tham gia BHXH bắt buộc đã nghỉ việc nhưng chưa đủ điều kiện hưởng hưu trí hoặc trợ cấp một lần nên tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện
Bước sang các năm tiếp theo:
- năm 2011: số người tham gia là 96,400 tăng 1,18% so với 2010
- năm 2012: số người tham gia là 133,831 tăng 1,39% so với 2011
- năm 2013: số người tham gia là 168,095 tăng 1,25% so với 2012
- năm 2014: số người tham gia là 193,329 tăng 1,15% so với 2013
- năm 2015: số người tham gia là 217,669 tăng 1,12% so với 2014
- năm 2016: số người tham gia là 203,871 giảm 0,9% so với 2015
- năm 2017: số người tham gia là 227,506 tăng 1,12% so với 2016
- năm 2018: số người tham gia là 277 nghìn người tăng 1,21% so với 2017
- năm 2019: số người tham gia là 574 nghìn người tăng 2,07% so với 2018
- năm 2020: số người tham gia là 1.068 nghìn người tăng 1,86% so với 2019
- 31/5/2021: số người tham gia 1,12 triệu người tăng 1,04% so với 2020
6 https://tapchitaichinh.vn/bao-hiem/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-doi-tuong
%C2%A0tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-332209.html
7 http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2021-06-07/so-nguoi-tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-dat-3249-dan-so-105326.aspx
Trang 11Dựa vào phân tích ta thấy, số lượng người tham gia BHXH tự nguyện qua các năm không ngừng tăng lên
2.5 Những mặt tồn tại, hạn chế của thực hiện pháp luật về các chế độ bảo hiểm
xã hội tự nguyện ở Việt Nam
Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của
cơ quan BHXH tự nguyện Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, tồn tại cần khắc phục là:
- Số lượng người tham gia BHXH tự nguyện còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng Sau 13 năm triển khai BHXH tự nguyện, đến hết năm 2020, mới có khoảng 1.068 nghìn người tham gia loại hình bảo hiểm này, chiếm 3,7% so với đối tượng thuộc diện tham gia
- Nhận thức của người lao động về lợi ích của BHXH tự nguyện còn hạn chế, nhiều người chưa có hiểu biết rõ ràng về chính sách BHXH tự nguyện; mặt khác, thói quen phòng ngừa rủi ro chưa được hình thành, người lao động chỉ thực sự thấy cần bảo hiểm khi rủi ro hoặc sự cố xảy ra
Như vậy, những khó khăn mà người lao động tham gia BHXH tự nguyện trước kia gặp phải tạo nên sự kém hấp dẫn thu hút người lao động tham gia trong thời gian trước kia đã cơ bản được tháo gỡ
Bên cạnh đó, do nguồn lực tài chính chưa được định rõ nên khoản 1 Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội có quy định: Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Vấn đề đặt ra thời điểm nào sẽ thực thi chính sách này để người lao động có thể tin rằng chính sách này là khả thi khi thực hiện
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Trang 123.1 Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện luật BHXH năm 2014 và tăng cường quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội tự nguyện
Sau khi Luật BHXH 2014 được ban hành, chính là việc các cơ quan quản lý Nhà nước cần ban hành đầy đủ, đồng bộ và có hệ thống các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật BHXH 2014 Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành được phân công như sau: Bộ LĐ-TB&XH chủ trì, phối hợp với Bộ Nội Vụ, Bộ Tài Chính và các
Bộ, cơ quan liên thực hiện đúng chỉ thị của Thủ Tướng Chính Phủ:
- Ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện
- Ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về thanh tra
- Ban hành Nghị định về chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung Bộ LĐ-TB&XH chủ trì, phối hợp với Bộ Nội Vụ, Bộ Tài Chính và các Bộ, cơ quan liên quan tiếp tục nghiên cứu các giải pháp cải cách BHXH nhằm cân đối Quỹ BXHH về lâu dài
3.2 Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH tự nguyện.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH tự nguyện có thể được coi là mạch nguồn để thay đổi nhận thức, nâng cao nhận thức của người dân về chính sách BHXH tự nguyện Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về BHXH tự nguyện phải luôn được xem là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, được thực hiện dưới nhiều hình thức như: Xây dựng các tiểu phẩm truyền thông về chính sách BHXH tự nguyện; sử dụng các công cụ mạng xã hội; ban hành những
ấn phẩm, tờ rơi tuyên truyền về BHXH tự nguyện, dễ hiểu, có thể minh họa trách nhiệm đóng góp và quyền lợi hưởng cụ thể; tại mỗi điểm nhà văn hóa thôn, xã, phường, thị trấn cần phải có dán các biển hiệu tuyên truyền và nội dung quy định
về BHXH tự nguyện; tăng thời lượng phát thanh, phát hình, phát nhiều lần vào các