Là nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa với sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị, khu công nghiệp thì ý định đến thành phố làm việc và sinh sống của phần nhiều bộ phận người dân hiện nay là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính quy luật, là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, nhưng đồng thời cũng là biểu hiện của sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền của đất nước. Trước đây vấn đề di dân đến thành phố chịu sự chi phối mạnh mẽ của chế độ tuyển dụng lao động theo kế hoạch, quản lý lao động theo hộ khẩu. Việc di dân tự phát từ nông thôn đến các thành phố ở Việt Nam xuất hiện từ sau những năm đổi mới, theo đó luồng di dân do Nhà nước tổ chức đã giảm dần và luồng di dân tự do tăng lên, nhất là các luồng di dân theo hướng Bắc - Nam và nông thôn - thành thị, tới các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Huế. Khái niệm lên thành phố là đổi đời, lên thành phố để lập nghiệp đã phổ biến trong xã hội ngày nay, nhất là những vùng đặt biệt khó khăn, những vùng khó phát triển,... thì nhu cầu thay đổi cuộc sống của họ càng lớn. Các thành phố chịu sức ép mạnh mẽ từ các bộ phận người dân ồ ạc lên thành thị thay vì làm nông ở nông thôn. Các yếu tố mà khiến họ quyết định thay đổi nơi làm việc và sinh sống, để lên thành phố tác nghiệp là vấn đề đáng được nghiên cứu hiện nay, phân tích những yếu tố ấy, đưa ra các phương pháp, thực tiễn, chính sách phù hợp để hoàn thành vấn đề nghiên cứu của nhóm. Đề tài sẽ góp phần tìm ra những then chốt mà các nghiên cứu trước chưa giải đáp được hết. Góp phần biết được ý định mà cân bằng lại được luồng di chuyển ồ ạc của người dân vào thành phố, cân bằng được nhu cầu việc làm ở cả nông thôn và thành thị. Nhu cầu lao động của từng vùng sẽ được đảm bảo và phân bố hợp lí. Ngày nay, đã có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu về hiện tượng di dân. Di dân, hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Hiểu theo nghĩa hẹp di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Tìm ra được các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến những yếu tố tác động đến việc di dân từ nông thôn lên thành thị ở Việt Nam. Từ đó đưa ra các nhận xét, đanh giá cũng như các biện pháp để khắc phục vấn đề người dân chỉ tập trung sống ở các thành phố lớn. 2.2 Mục tiêu cụ thể Mục tiêu 1: nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định người dân di dân từ nông thôn lên thành thị ở Việt Nam. Mục tiêu 2: đánh giá mức độ tác động của các yếu tố liên quan đến quyết định người dân di dân từ nông thôn lên thành thị ở Việt Nam. Mục tiêu 3: đề xuất các giả pháp khắc phục vấn đề người dân chỉ tập trung sống ở các thành phố lớn giúp cho việc quản lý, điều hành, thực hiện dự án một cách có hiệu quả. 3. Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1: Những yếu tố nào tác động đến quyết định di cư từ các vùng nông thôn lên thành phố? Câu hỏi 2: Việc di dân lên thành thị một cách không kiểm soát như vậy tác động thế nào đến kinh tế khu cực thành thị ? Câu hỏi 3: Giải pháp để khắc phục vấn đề người dân chỉ tập trung sống ở các thành phố lớn? 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài xoay quanh các vấn đề về việc di dân ở các vùng nông thôn lên thành thị cụ thể như sau: - Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến quyết định di dân từ nông thôn lên thành thị. - Đối tượng khảo sát: Những người có quê quán ở các vùng nông thôn đang sinh sông và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh ( Bao gồm cả những người lao động và học sinh, sinh viên). - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Nghiên cứu sử dụng các bài báo và các nghiên cứu trước đó cũng như các bảng số liệu về thực trạng di dân từ các nguồn tin đáng tin cậy. + Về thời gian: Nghiên cứu sử dụng các số liệu trong 10 năm trở lại đây ( 2010-2020). + Thông tin, dữ liệu thứ cấp được lấy từ các bài báo cáo các bài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực di dân từ các vùng quê lên thành thị + Thông tin dữ liệu sơ cấp thu thập được thông qua khảo sát trực tiếp các người lao động xa quê vầ các bạn sinh viên lên thành phố Hồ Chí Minh để học tập. 5. Cơ sở lý thuyết về di cư nông thôn- thành thị 5.1. khái niệm di cư V.I. Xtapoverop (1957) đưa ra khái niệm về di cư như là sự thay đổi vị trí con người về mặt địa lý do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ một cộng đồng KT-XH này sang một cộng đồng KT-XH khác, hoặc có sự thay đổi vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung. Tương tự, Liên Hợp Quốc (1958) cho rằng di cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính này và một đơn vị hành chính khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong khoảng thời gian nhất định (Phạm Tấn Nhật & Huỳnh Hiếu Hải, 2014). Trong khi đó, Baranov & Breev (1969) đưa ra khái niệm di cư liên quan đến
Trang 1KHOA KINH TẾ
TÊN TIỂU LUẬN:
NGHIÊN CỨU NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
DI DÂN TỪ NÔNG THÔN LÊN THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ THỊ TUYẾT
THANH NHÓM THỰC HIỆN: STAR
Ngày nộp:…… Tháng:….….Năm:……
Trang 2Nhận xét của giáo viên:
Trang 3Mục lục
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu tổng quát 4
2.2 Mục tiêu cụ thể 4
3 Câu hỏi nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý thuyết về di cư nông thôn- thành thị 5
5.1 khái niệm di cư 6
5.2 Phân loại di cư 6
5.3 Các lý thuyết có liên quan trong nghiên cứu: 7
6 Các nghiên cứu có liên quan 9
6.1 Nghiên cứu ngoài nước 9
6.2 các nghiên cứu trong nước 11
7 Mô hình hình nghiên cứu đề xuất 15
7.1 Mô hình nghiên cứu 15
7.2 Giả thuyết nghiên cứu 17
8 Phương pháp nghiên cứu 19
8.1 Quy trình nghiên cứu 19
8.2 Nghiên cứu định tính 19
8.3 Nghiên cứu định lượng 21
8.4 Tổng thể mẫu và mẫu nghiên cứu 21
8.4.1 Tổng thể mẫu 21
8.4.2 Thu thập dữ liệu 21
9 Ý nghĩa 22
9.1 Về lý luận 22
9.2 Về thực tiễn 22
10 Điểm mới của đề tài 22
11.Bố cục dự kiến 23
Trang 41 Lý do chọn đề tài
Là nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa với sự pháttriển mạnh mẽ của các đô thị, khu công nghiệp thì ý định đến thành phố làm việc và sinh sống của phần nhiều bộ phận người dân hiện nay là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính quy luật, là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường,nhưng đồng thời cũng là biểu hiện của sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền của đất nước Trước đây vấn đề di dân đến thành phố chịu sự chi phối mạnh mẽ của chế độ tuyển dụng lao động theo kế hoạch, quản lý lao động theo hộ khẩu Việc didân tự phát từ nông thôn đến các thành phố ở Việt Nam xuất hiện từ sau những năm đổi mới, theo đó luồng di dân do Nhà nước tổ chức đã giảm dần và luồng di dân tự dotăng lên, nhất là các luồng di dân theo hướng Bắc - Nam và nông thôn - thành thị, tới các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Huế Khái niệmlên thành phố là đổi đời, lên thành phố để lập nghiệp đã phổ biến trong xã hội ngày nay, nhất là những vùng đặt biệt khó khăn, những vùng khó phát triển, thì nhu cầu thay đổi cuộc sống của họ càng lớn Các thành phố chịu sức ép mạnh mẽ từ các bộ phận người dân ồ ạc lên thành thị thay vì làm nông ở nông thôn Các yếu tố mà khiến
họ quyết định thay đổi nơi làm việc và sinh sống, để lên thành phố tác nghiệp là vấn
đề đáng được nghiên cứu hiện nay, phân tích những yếu tố ấy, đưa ra các phương pháp, thực tiễn, chính sách phù hợp để hoàn thành vấn đề nghiên cứu của nhóm Đề tài sẽ góp phần tìm ra những then chốt mà các nghiên cứu trước chưa giải đáp được hết Góp phần biết được ý định mà cân bằng lại được luồng di chuyển ồ ạc của người dân vào thành phố, cân bằng được nhu cầu việc làm ở cả nông thôn và thành thị Nhu cầu lao động của từng vùng sẽ được đảm bảo và phân bố hợp lí Ngày nay, đã có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu về hiện tượng di dân Di dân, hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Hiểu theo nghĩa hẹp di dân là sự dichuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Tìm ra được các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến những yếu tố tác động đến việc di dân từ nông thôn lên thành thị ở Việt Nam Từ đó đưa ra các nhận xét, đanhgiá cũng như các biện pháp để khắc phục vấn đề người dân chỉ tập trung sống ở cácthành phố lớn
2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định người dân di dân từ nông thôn lên thành thị ở Việt Nam.
Trang 5Mục tiêu 2: đánh giá mức độ tác động của các yếu tố liên quan đến quyết định người dân di dân từ nông thôn lên thành thị ở Việt Nam.
Mục tiêu 3: đề xuất các giả pháp khắc phục vấn đề người dân chỉ tập trung sống ở các thành phố lớn giúp cho việc quản lý, điều hành, thực hiện dự án một cách có hiệu quả.
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Những yếu tố nào tác động đến quyết định di cư từ các vùng nôngthôn lên thành phố?
Câu hỏi 2: Việc di dân lên thành thị một cách không kiểm soát như vậy tác động thế nào đến kinh tế khu cực thành thị ?
Câu hỏi 3: Giải pháp để khắc phục vấn đề người dân chỉ tập trung sống ở cácthành phố lớn?
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài xoay quanh các vấn đề về việc di dân
ở các vùng nông thôn lên thành thị cụ thể như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến quyết định di dân từ nông
thôn lên thành thị
- Đối tượng khảo sát: Những người có quê quán ở các vùng nông thôn đang
sinh sông và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh ( Bao gồm cả những ngườilao động và học sinh, sinh viên)
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu sử dụng các bài báo và các nghiên cứu trước đó
cũng như các bảng số liệu về thực trạng di dân từ các nguồn tin đáng tin cậy
+ Về thời gian: Nghiên cứu sử dụng các số liệu trong 10 năm trở lại đây
5 Cơ sở lý thuyết về di cư nông thôn- thành thị
5.1 khái niệm di cư
Trang 6V.I Xtapoverop (1957) đưa ra khái niệm về di cư như là sự thay đổi vị trícon người về mặt địa lý do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ mộtcộng đồng KT-XH này sang một cộng đồng KT-XH khác, hoặc có sự thay đổi vị tríkhông gian của toàn bộ cộng đồng nói chung Tương tự, Liên Hợp Quốc (1958) chorằng di cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vịđịa lý hành chính này và một đơn vị hành chính khác nhằm thiết lập một nơi cư trúmới trong khoảng thời gian nhất định (Phạm Tấn Nhật & Huỳnh Hiếu Hải, 2014).
Trong khi đó, Baranov & Breev (1969) đưa ra khái niệm di cư liên quan đếnlao động, khi cho rằng bất cứ một sự di chuyển nào của con người giữa các vùng lãnhthổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động và ngành có sử dụng lao động Henry
S Shryock (1980) thì định nghĩa di cư liên quan đến thới gian cư trú, tác giả cho rằng
di cư là một hình thức di chuyển về địa lý hay không gian kèm theo sự thay đổi nơi ởthường xuyên giữa các đơn vị hành chính Theo ông những thay đổi nơi ở tạm thời,không mang tính lâu dài như thăm viếng, du lịch, buôn bán làm ăn, kể cả qua lại biêngiới không nên phân loại là di cư
Trong các cuộc điều tra di cư trong nước như Điều tra di cư nội địa quốc gia2015: các kết quả chủ yếu (GSO & UNFPA, 2016) Di cư được hiểu là người dichuyển từ huyện/quận này sang huyện/quận khác trong vòng 5 năm trước thời điểmđiều tra và thỏa mãn một trong ba điều kiện: đã cư trú ở nơi điều tra từ 1 tháng trở lên;
cư trú ở nơi điều tra dưới 1 tháng nhưng có ý định ở từ 1 tháng trở lên; cư trú ở nơiđiều tra mới dưới 1 tháng nhưng trong vòng 1 năm qua đã rời khỏi nơi thường trú đến
ở một quận/huyện khác với thời gian tích lũy từ 1 tháng trở lên để lao động
Như vậy, mặc dù có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về di cư, nhưng có một
số điểm có thể thống nhất lại như sau: Di cư là hoạt động di chuyển của con người từnơi này đến nơi khác để sinh sống Trong đó, nơi đi và nơi đến phải được xác định làmột vùng lãnh thổ hay đơn vị hành chính, có nhiều mục đích và nguyên nhân khácnhau có thể là dưới những tác động yếu tố kinh tế hay phi kinh tế nào đó, dẫn đến việc
di cư và thời gian di cư
5.2 Phân loại di cư
Theo Ellis (2003) trước khi tìm hiểu về các vai trò của hoạt động di cư, chúng
ta cần phân biệt một số loại di cư khác nhau, lưu ý rằng các định nghĩa có thể trùng
Trang 7lặp và các thành viên khác nhau của một đơn vị xã hội thường trú có thể tham gia vàomột số loại di chuyển khác nhau đồng thời hoặc tuần tự trong vòng đời cá nhân của
họ Các loại di chuyển chính và các loại phụ được xác định: Di cư nội bộ (di cư trongbiên giới quốc gia): Phong trào cưỡng chế và tái định cư (ví dụ: đối với đập và cáccông trình công cộng khác); dịch chuyển do các trường hợp khẩn cấp dân sự phức tạp
và xung đột bạo lực (người tị nạn); di cư theo mùa (chủ yếu là nông thôn-nông thôn,nhưng cũng có thể là nông thôn-thành thị hoặc thành thị); di cư theo vòng tròn(thường là nông thôn-thành thị và trở về, khoảng thời gian khác nhau); di cư theobước (thuật ngữ được một số tác giả sử dụng để mô tả các chuyển động tuần tự củacác cá nhân bắt đầu với một thị trấn gần đó và tiến dần theo thời gian đến các điểmđến đô thị lớn hơn và xa hơn); di cư nông thôn-thành thị (với nơi cư trú trong thị trấn)
Về di cư quốc tế (di cư qua biên giới quốc gia): Di dời do xung đột sắc tộc và chiếntranh (người tị nạn và người xin tị nạn); di chuyển đến các nước lân cận; phong tràosang các nước công nghiệp hóa; các loại theo mùa, tròn hoặc dài hơn ở biên giới trướchoặc các phong trào quốc tế
Còn theo Anh (2007) thì các hình thức di cư có thể được phân loại như sau:Theo loại hình địa bàn nơi cư trú: sự xác định về khoảng cách nơi đi và nơi đếntheo thứ tự từng cặp là nông thôn – thành thị, nông thôn – nông thôn, thành thị - thànhthị và thành thị - nông thôn Đây là phân loại quan trọng, được sử dụng phổ biến trongcác nghiên cứu về di cư
Theo tính chất di cư: di cư tự nguyện và di cư không tự
nguyện Theo độ dài thời gian cư trú: di cư theo mùa vụ
Theo đặc trưng di cư: di cư có tổ chức và di cư tự phát
Nói chung, các hình thức di cư được phân loại theo nhiều hình thức khác nhau tùymục đích nghiên cứu Nhưng sự phân loại này mang tính chất tương đối Ở nghiêncứu này sẽ tiếp cận di cư nội bộ tại Việt Nam dưới hình thức di cư tự do, dưới nhiều lý
do, luồng di cư khác nhau (nông thôn hay thành thị) đến với vùng ĐNB
5.3 Các lý thuyết có liên quan trong nghiên cứu:
Trang 8Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến lýthuyết di cư của Lee, của Stark & Bloom và lý thuyết về mạng lưới xã hội.
Lấy cảm hứng từ “Ravenstein’s Laws”, Lee (1966) đề xuất một lý thuyết di
cư nổi tiếng, tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến việc di cư, bao gồm: thứ nhất,các yếu tố liên quan đến khu vực xuất xứ; thứ hai, các yếu tố liên quan đến khu vựcđiểm đến; thứ ba, những trở ngại can thiệp; và cuối cùng, các yếu tố cá nhân, là nềntảng của các nghiên cứu về các yếu tố kéo - đẩy Lee đề xuất rằng, trong mọi lĩnh vực,
có một số yếu tố thu hút mọi người và một số yếu tố đẩy lùi mọi người Ông phân loạicác yếu tố này thành ba loại, đó là các yếu tố thu hút mọi người, các yếu tố đẩy lùimọi người và một số yếu tố khác về cơ bản là không quan tâm Trong một số trườnghợp, định nghĩa về thu hút và đẩy lùi đối với những người di cư khác nhau có thể khácnhau ở cả nguồn gốc và điểm đến Ví dụ, một hệ thống trường học tốt được coi là mộtyếu tố thu hút bởi những người di cư có con, trong khi một người di cư chưa lập giađình có thể không coi hệ thống trường học tốt là thu hút Do đó, cùng một yếu tố cóthể có những hậu quả khác nhau đối với những người di cư khác nhau Đối với các trởngại can thiệp, khó khăn để vượt qua chúng là tối thiểu đối với một số người Tuynhiên, nó có thể là một trở ngại rất lớn cho những người khác để vượt qua những trởngại tương tự Nhiều giả thuyết của Lee đã cung cấp những đóng góp lớn cho tài liệu
về các nghiên cứu di cư, đặc biệt là liên quan đến sự chọn lọc của người di cư và cácyếu tố kéo - đẩy Ở hầu hết các nước đang phát triển, các học giả đã tìm thấy nhữngngười lao động nhập cư hầu hết là những người trẻ tuổi có trình độ học vấn tương đốicao ở nơi họ xuất phát
Lý thuyết kinh tế mới về di cư lao động của Stark & Bloom (1985) việc dichuyển được hộ coi giống như là một chiến lược đối phó với những cú sốc và hành vichia sẻ rủi ro của hộ Thông qua hoạt động di cư này giúp hộ đa dạng nguồn lực nhưlao động để khắc phục tổn thất thu nhập và giảm thiểu rủi ro thu nhập Hơn nữa, dichuyển cũng được coi như là một chiến lược để vượt qua khó khăn của các thị trườngkhác nhau, bao gồm cả các tín dụng hoàn hảo (vốn) và rủi ro thị trường (bảo hiểm)đang tồn tại ở các nước đang phát triển Kết quả là, các hộ có đủ khả năng để đầu tưvào các hoạt động sản xuất nhằm cải thiện phúc lợi của họ
Trang 9Nói chung, để xác định các yếu tố dẫn đến quyết định di cư và những trạng tháihoạt động của hộ như thái độ, cách ứng phó với những sự ảnh hưởng của tình hìnhkinh tế - chính trị - xã hội, môi trường và chính sách tại nơi đến, nơi đi dưới sau di cư
có thể được đúc kết thành các nhóm yếu tố sau:
Các yếu tố đẩy: tìm sinh kế, điều kiện việc làm, môi trường sống thay đổi, tìnhhình kinh tế - chính trị - xã hội
Các yếu tố hút: mạng lưới di cư, điều kiện việc làm, môi trường sống, tình hìnhkinh tế - chính trị - xã hội
Các yếu tố giữ ở lại: sinh kế, các quyền lợi, môi trường sống, tình hình kinh tế– chính trị - xã hội tốt hơn nhiều so với nơi ở
Các yếu tố trở về: sinh kế, các quyền lợi, môi trường sống, tình hình kinh tế –chính trị - xã hội xấu hơn nhiều so với nơi ở
Ngoài ra, còn có nhóm yếu tố liên quan đến chi phí di chuyển, cùng những ràocản về chính sách của nơi đến và nơi ở tác động đến quyết định di cư và hoạt động sau
di cư
6 Các nghiên cứu có liên quan
6.1 Nghiên cứu ngoài nước
Chen (2014) nghiên cứu xác định loại hộ gia đình nào sẽ chọn di cư và tácđộng của di cư đến phân phối thu nhập Nói cách khác, bài viết này đang cố gắng giảiquyết hai câu hỏi sau: (1) Các yếu tố quyết định di cư cho các gia đình đánh cá là gì(2) Di cư ảnh hưởng như thế nào đến bất bình đẳng thu nhập ở khu vực nông thôn Sửdụng dữ liệu từ khảo sát kinh tế xã hội cấp hộ gia đình được thực hiện tại Cà Mau vàHuế năm 2012 Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát được thực hiện tại 12 xãđược chọn ngẫu nhiên từ tỉnh Cà Mau và Huế và hầu hết các hộ gia đình trong cuộckhảo sát này đang làm việc đánh bắt và/hoặc nuôi trồng thủy sản Sử dụng mô hìnhLogit để kết luận rằng mối quan hệ tích cực tồn tại giữa một gia đình đánh cá và quyếtđịnh di cư Hơn nữa, tác động của thu nhập hộ gia đình đối với di cư phụ thuộc rất lớnvào chiến lược di cư của hộ gia đình Các gia đình giàu nhất có nhiều khả năng gửi
Trang 10người di cư vì họ muốn tìm hiểu các công nghệ hiện đại để tăng năng suất của cácngành công nghiệp gia đình Ngoài ra, bài báo cũng cho rằng quá trình di chuyển có
xu hướng tăng thu nhập
Coxhead et al (2015) đã tiến hành nghiên cứu điều tra các yếu tố quyết địnhcủa các quyết định di cư cá nhân tại Việt Nam, một quốc gia có mức độ di chuyển laođộng theo vùng miền ngày càng cao Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ Khảo sát mứcsống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2012, và thấy rằng xác suất di cư có liênquan chặt chẽ với các đặc điểm cấp độ cá nhân, hộ gia đình và cấp cộng đồng Xácsuất di cư cao hơn đối với những người trẻ tuổi và những người có trình độ học vấnsau trung học Người di cư có nhiều khả năng là từ các hộ gia đình có chủ hộ đượcgiáo dục tốt hơn, hộ có chủ hộ là nữ và các hộ gia đình có tỷ lệ phụ thuộc thanh niêncao hơn Thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số ít có khả năng di cư hơn Sử dụngcác phương pháp logit đa phương, nghiên cứu phân biệt di cư theo điểm đến rộng vàthấy rằng những người di chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Hà Nội có nhữngđặc điểm và động lực di chuyển tương tự như di chuyển đến những điểm đến khác.Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng VHLSS 2012 kết hợp với VHLSS 2010, cho phépnghiên cứu tập trung vào một nhóm người di cư gần đây có mặt trong gia đình vàonăm 2010, nhưng đã chuyển đi vào năm 2012 Điều này mang lại kết quả chặt chẽ hơnnhiều Đối với giáo dục dưới trung học phổ thông, bằng chứng về lựa chọn tích cựccủa giáo dục là mạnh mẽ hơn nhiều Người dân tộc thiểu số thiếu cơ động di cư, đâycũng có thể là một nguyên nhân chính để giải thích sự nghèo nàn dai dẳng trong cộngđồng dân tộc thiểu số Việt Nam, ngay cả khi nghèo đói quốc gia đã giảm mạnh
Abdulai (2016) nghiên cứu này đưa ra một đánh giá thực nghiệm mới về đặcđiểm kinh tế xã hội của người di cư Ghana và các yếu tố quyết định di chuyển nội bộtại Ghana Dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu này được lấy từ bộ dữ liệu Di cưthoát nghèo do Trung tâm Nghiên cứu Di cư, Đại học Ghana phối hợp với Đại họcSussex, U.K thu thập từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2013 Kĩ thuật lấy mẫu nhiều giaiđoạn để chọn ra 315 hộ gia đình ở khu vực phía Bắc, bao gồm 231 người di cư và 84
hộ không di cư để phỏng vấn kết hợp sử dụng mô hình hồi quy probit Dựa trên môhình nghiên cứu giải thích hành vi của gia đình đối với quyết định di cư Nghiên cứu
Trang 11này chỉ ra lý do chính cho việc di cư từ khu vực phía Bắc là kinh tế Ngoài ra, mạng di
cư cũng là một yếu tố chính trong việc di cư của người dân từ khu vực nghiên cứu Vềvấn đề này, người ta có thể kết luận rằng lý thuyết mạng giải thích việc di cư ở khuvực phía Bắc bởi vì quyết định đi di cư ở mức độ lớn phụ thuộc vào sự sẵn có của bạn
bè hoặc các mối quan hệ (mạng) trong khu vực
6.2 các nghiên cứu trong nước
ThS Mai Quang Hợp, ThS Ngô Phú Thanh (2011) Nghiên cứu những yếu tố tácđộng, ảnh hưởng đến quyết định di cư từ nông thôn ra thành thị của hộ di cư từ
ĐBSCL đến vùng ĐNB mà cụ thể là thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương Dữliệu được lấy từ điều tra sơ cấp được tiến hành thu thập tại các hộ di cư từ khu vực nông thôn thuộc các tỉnh ĐBSCL đến một số tỉnh Đông Nam Bộ (cụ thể gồm Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Ddương Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận và nghiên cứu hoạt động di cư theo quan điểm và cách áp dụng phổ biến trong các cuộc điều tra di cư nội địa của Việt Nam từ các cơ quan điều tra di cư trong nước, các tổ chức nghiên cứu di cư nước ngoài
TS Đinh Văn Thông (2010) nghiên cứu về tình trạng di dân ngoại tỉnh vàothành phố Hà Nội và đưa ra các giải pháp về vấn đề nnà Bài nghiên cứu đã đưa ranhững lý do chính về việc di dân nông thôn-thành thị như sau: Thứ nhất, do nôngnghiệp nước ta có những bước phát triển vượt bậc trong việc tăng năng suất và sảnlượng dẫn tới hiện tượng “dư thừa” lao động, sự khác biệt về tiền lương và thu nhậpgiữa các vùng, đặc biêt giữa nông thôn và thành thị là yếu tố thúc đẩy quá trình di dântới đô thị, có nhiều trường đại học cao đẳng vì thế hàng năm có rất nhiều học sinh sinhviên tập trung, các thành phố lớn là đầu tàu kinh tế của cả nước Bên cạnh đó bàinghiên cứu cũng đưa ra nhiều giải pháp hữu hiệu cho tình trạng thăng dân không kiểmsoát ở các thành phố lớn
ThS.Lê Văn Thành (2015) nghiên cứu về vấn đề đô thị hóa và tình trạng nhập
cư ở thành phố Hồ Chí Minh Bài nghiên cứu đã đưa ra các số liệu chứng minh đượcdân số thành phố tăng một cách chóng mặt qua các năm Bài nghiên cứu còn bổ sungthêm về các đặc điểm của người nhập cư, các động lực nhập cư vào thành phố, khảnăng tiếp cận các dịch vụ đô thị, vấn đề quản lý dân nhập cư và việc đăng ký hộ khẩu
Trang 12thường trú 15 năm tới sẽ có những luồng di dân lớn từ nông thôn ra thành thị Vớichiến lược phát triển đô thị đến năm 2020 thì mục tiêu đề ra là dân số thành thị sẽ lênđến 45% Sự gia tăng mạnh mẽ này sẽ là một vấn đề quan trọng ở các thành phố lớn.
Bảng 6.1: Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Tên tác
giả
Mô hìnhnghiên cứu/
lý thuyết
Thành phầnthan đo trong
mô hìnhnghiên cứu lýthuyết
Kết quả nghiên cứu Phương
phápnghiêncứu
ThS Mai Phân tích +Các yếu tố về Những nguyên do dẫn đến PhươngQuang các yếu tố thiên nhiên việc di cư: pháp địnhHợp, ThS ảnh hưởng (thiên tai,đất + Mùa màng thất bát lượng
Ngô Phú đến quyết đai ,…) +Đất đai không đủ để thống kêThanh định di cư từ +Người sống ở canh tác mô tả
(2011) đồng bằng nông thôn +Hệ thống y tế không đáp
Sông Cửu + học sinh, ứng
Long đến sinh viên +Thu hoặch không ổn
vùng Đông + Cơ sở vật định
Nam Bộ chất +Trường học không đủ
điều kiện+Thất nghiệp ở nơi cũ
+Sống bấp bênh, thu nhậpkhông ổn định
TS Đinh Nghiên cứu + Người nông Giải pháp cho việc di PhươngVăn về vấn đề di dân dân : pháp địnhThông dân ở Hà + Các chính + Cần phải có chiến lược lượng
(2010) Nội và đưa sách quy hoạch quy hoạch mở rộng thành thống kê
ra giả pháp của nhà nước phố Hà Nội, phát triển các mô tả
+ Hệ thống khu đô thị vệ tinhtuyê truyền + Chủ động thu hút vàgiáo dục ý thức quản lý luồng di dân vào
Trang 13các ngành nghề phù hợp+ Hoàn thiện chính sáchquản lý nhân khẩu, hộkhẩu
+ Cần phải quy hoạch nơi
ở và nơi giao dịch việclàm cho người di dân theomùa vụ
+ Giáo dục, tuyên truyềnnhằm nâng cao ý thứccộng đồng, xây dựng nếpsống văn minh đô thị chongười di cư
+ Các chínhsách về hộ khẩu+ Các chưng trình cấp quốcgia
Nghiên cứu đã đưa ranhững kết luận như sau:
+ Di dân là một vấn đềlớn trong phát triển kinh
tế đất nước+ Các chính sách về hộkhẩu không đủ súc để giảiquyết hết các vần đề vềnhập cư
+ Di dân đến thành phố làmột trong những vấn đềtất yếu của quá trình đôthị hóa
+ Để có các giải phápquản lý hiệu quả dân nhập
cư cần có các chươngtrình cấp quốc gia, nghiêncứu đồng bộ về di dân
Phương pháp địnhlượng thống kê
mô tả
Trang 14trong cả nước trong đó cócác chính sách ở tầm vĩ
mô cho đối tượng ngườinhập cư
Nghiên cứu đã đưa ranhững kết luận:
+ Xác suất di cư cao hơnđối với những người trẻtuổi và những người cótrình độ học vấn sau trunghọc
+ Người di cư có nhiềukhả năng là từ các hộ giađình có chủ hộ được giáodục tốt hơn, hộ có chủ hộ
là nữ và các hộ gia đình
có tỷ lệ phụ thuộc thanhniên cao hơn
Phân tíchnhân tố
và phântích hồiquy đabội
+ Tình trạngthu nhập củangười dân nông thôn
Nhiên cứu đưa ra các kếtluận:
+ Các gia đình giàu nhất
có nhiều khả năng gửingười di cư vì họ muốntìm hiểu các công nghệhiện đại để tăng năng suấtcủa các ngành côngnghiệp gia đình
+ Di cư gây ra tình trạngmất bình đẳng trong thunhập ở nông thôn
+ Các công việc ở vùng
Phân tíchnhân tố
và phântích hồiquy đabội